Tĩnh tâm Thượng Hội đồng với cha Timothy Radcliffe, OP: Bài II - Ở nhà trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở nhà trong chúng ta

04/10/2023


TĨNH TÂM THƯỢNG HỘI ĐỒNG VỚI CHA TIMOTHY RADCLIFFE, OP
BÀI II: “Ở NHÀ TRONG THIÊN CHÚA VÀ THIÊN CHÚA Ở NHÀ TRONG CHÚNG TA”

WHĐ (04.10.2023)Sáng Chúa Nhật, ngày mồng 01. 10, Cha Timothy Radcliffe, OP trình bày bài suy niệm thứ II dành cho các tham dự viên Thượng Hội đồng với chủ đề: Ở nhà trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở nhà trong chúng ta.


Anh chị em thân mến,

Chúng ta đến với Thượng Hội đồng này với những hy vọng mâu thuẫn nhau. Nhưng đây không nhất thiết là một trở ngại không thể vượt qua. Chúng ta hiệp nhất trong niềm hy vọng của Thánh Thể, một niềm hy vọng bao trùm và vượt trên tất cả những gì chúng ta mong muốn.

Tuy nhiên, còn có một nguyên nhân gây căng thẳng khác. Nhận thức của chúng ta về Giáo hội như là ngôi nhà đôi khi có sự bất đồng. Mọi sinh vật sống đều cần một ngôi nhà để phát triển. Cá cần nước và chim cần tổ. Không có nhà, chúng ta không thể sống được. Các nền văn hóa khác nhau có quan niệm khác nhau về thế nào là nhà. Tài liệu Làm việc (Instrumentum Laboris) cho chúng ta biết rằng Á Châu đưa ra hình ảnh một người cởi giày để bước qua ngưỡng cửa, như một dấu hiệu của sự khiêm tốn mà chúng ta chuẩn bị để gặp gỡ Thiên Chúa và người thân cận của mình. Châu Đại Dương đề xuất hình ảnh con thuyền và Châu Phi đề xuất hình ảnh Giáo hội như gia đình của Thiên Chúa, có khả năng mang lại sự thuộc về và chào đón tất cả các thành viên của mình trong tất cả sự đa dạng của họ (B 1.2). Nhưng tất cả những hình ảnh này đều cho thấy rằng chúng ta cần một nơi mà ở đó chúng ta vừa được chấp nhận vừa được thử thách. Ở nhà, chúng ta khẳng định mình là ai và được mời gọi trở thành mình nhiều hơn nữa. Nhà là nơi chúng ta được biết đến, được yêu thương, và được an toàn, nhưng cũng là nơi chúng ta được thách thức để dấn thân vào cuộc phiêu lưu đức tin.

Chúng ta cần canh tân Giáo hội được hiểu như ngôi nhà chung nếu chúng ta muốn nói chuyện với một thế giới đang phải chịu cuộc khủng hoảng do tình trạng vô gia cư. Chúng ta đang tàn phá ngôi nhà hành tinh nhỏ bé của mình. Có hơn 350 triệu di dân đang di cư, chạy trốn chiến tranh và bạo lực. Hàng ngàn người chết khi vượt biển để tìm nhà. Chẳng ai trong chúng ta có thể cảm thấy hoàn toàn như ở nhà khi không có nhà. Ngay cả ở những nước giàu, hàng triệu người vẫn phải ngủ ngoài đường. Những người trẻ thường không có đủ tiền mua nhà. Khắp mọi nơi đều có tình trạng vô gia cư khủng khiếp về mặt tinh thần. Chủ nghĩa cá nhân cực đoan, gia đình đổ vỡ, sự bất bình đẳng ngày càng sâu sắc hơn có nghĩa là chúng ta đang phải hứng chịu một cơn sóng thần cô đơn. Tỷ lệ các vụ tự tử ngày càng gia tăng bởi vì không có nhà , vật chất cũng như tinh thần, người ta không thể sống được. Yêu là về nhà với một ai đó.

Vậy cảnh Chúa Biến Hình này dạy chúng ta điều gì về ngôi nhà của chúng ta, cả trong Giáo hội lẫn trong thế giới bị tước đoạt của chúng ta? Chúa Giêsu mời gọi những người bạn thân thiết nhất của Người hãy tách riêng ra với Người và tận hưởng giây phút thân mật này. Các ông cũng sẽ ở với Người trong Vườn Ghết-sê-ma-ni. Đây là nhóm thân cận mà Chúa Giêsu cảm thấy thân thiết nhất. Trên núi, Chúa Giêsu cho các ông chứng kiến vinh quang của Người. Phêrô muốn giữ lấy khoảnh khắc này. "Thưa Thầy, chúng con ở đây, hay quá! Chúng con xin dựng ba cái lều, Thầy một cái, ông Môsê một cái, và ông Êlia một cái". Phêrô đã đến và muốn giây phút thân mật này kéo dài.

Nhưng các ông nghe thấy tiếng Chúa Cha.Hãy vâng nghe lời Người!”. Họ phải xuống núi và đi đến Giêrusalem mà không biết điều gì đang chờ đợi mình. Họ sẽ bị phân tán và sai đi đến tận cùng trái đất để trở thành chứng nhân cho ngôi nhà cuối cùng của chúng ta, Vương quốc. Vì vậy, ở đây chúng ta thấy hai cách hiểu về nhà: nhóm thân cận với Chúa Giêsu trên núi và lời mời gọi về ngôi nhà cuối cùng của chúng ta, Vương quốc, nơi tất cả mọi người sẽ thuộc về.

Tương tự như vậy, những cách hiểu khác nhau về Giáo hội là nhà hiện đang chia rẽ chúng ta. Đối với một số người, điều này được xác định bởi những truyền thống và lòng sùng đạo cổ xưa, bởi những cấu trúc và ngôn ngữ được kế thừa, bởi Giáo hội mà chúng ta lớn lên và yêu mếncho chúng ta một căn tính Kitô rõ ràng. Đối với những người khác, Giáo hội hiện tại dường như không phải là một ngôi nhà an toàn. Giáo hội được trải nghiệm như một sự độc quyền, gạt ra bên lề nhiều người, phụ nữ, những người ly dị và tái hôn. Đối với một số người, Giáo hội quá phương Tây, quá châu Âu. Tài liệu Làm việc cũng đề cập đến những người đồng tính và những người sống trong hôn nhân đa thê. Họ mong muốn một Giáo hội được canh tân, trong đó họ có thể cảm thấy hoàn toàn như ở nhà, được nhìn nhận, khẳng định, và an toàn.

Đối với một số người, ý tưởng về sự chào đón phổ quát, trong đó mọi người đều được chấp nhận bất kể họ là ai, bị cho là phá hoại căn tính của Giáo hội. Như trong một bài hát tiếng Anh thế kỷ XIX, Nếu ai cũng là nhân vật quan trọng, thì chẳng có ai quan trọng cả[1]. Họ tin rằng căn tính đòi phải có ranh giới. Tuy nhiên, đối với những người khác, sự cởi mở chính là trọng tâm của căn tính Giáo hội. Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng, Giáo hội được mời gọi trở thành ngôi nhà của Chúa Cha, với những cánh cửa luôn rộng mở… nơi có chỗ cho mọi người, với tất cả các vấn đề của họ và hướng tới những người cảm thấy cần phải tiếp tục lộ trình đức tin của mình[2].

Sự căng thẳng này luôn là tâm điểm đức tin của chúng ta, kể từ khi Ápraham rời bỏ thành Ur. Cựu Ước có hai điều thường xuyên căng thẳng với nhau: ý tưởng về sự lựa chọn, về dân được Thiên Chúa chọn, và về dân mà Thiên Chúa cùng. Đây là một căn tính được trân trọng. Nhưng cũng có chủ nghĩa phổ quát, sự cởi mở đối với tất cả các quốc gia, một căn tính vẫn chưa được khám phá.

Căn tính Kitô giáo đồng thời được nhận biết và chưa được nhận biết; được ban tặng và được tìm kiếm. Thánh Gioan nói: Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ðức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy (1 Ga 3, 1-2). Chúng ta vừa biết mình là ai nhưng cũng vừa chưa biết mình sẽ là ai.

Đối với một số người trong chúng ta, căn tính Kitô trên hết là được ban tặng, đó là Giáo hội mà chúng ta biết và yêu mến. Đối với những người khác, căn tính Kitô luôn mang tính tạm thời, hướng về phía trước khi chúng ta tiến tới Vương quốc mà trong đó mọi bức tường sẽ sụp đổ. Cả hai đều cần thiết! Nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh rằng căn tính của chúng ta là được ban tặng - đây là ý nghĩa của việc trở thành người Công giáo - chúng ta có nguy cơ trở thành một giáo phái. Nếu chúng ta chỉ nhấn mạnh cuộc phiêu lưu hướng tới một căn tính vẫn chưa được khám phá, chúng ta có nguy cơ trở thành một phong trào Kitô mơ hồ. Nhưng Giáo hội là dấu chỉ và bí tích của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại trong Chúa Kitô (LG. 1) khi là cả hai. Chúng ta hiện đang ở trên núi và nếm trải vinh quang. Nhưng chúng ta hãy tiến về Giêrusalem, Thượng hội đồng đầu tiên của Giáo hội.

Chúng ta phải sống sự căng thẳng cần thiết này như thế nào? Mọi thần học đều bắt nguồn từ sự căng thẳng, uốn cong cái cung để phóng mũi tên. Sự căng thẳng này là trọng tâm của Phúc âm theo thánh Gioan. Thiên Chúa ngự trong chúng ta: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy(14, 23). Nhưng Chúa Giêsu cũng hứa với chúng ta về nơi ở trong Thiên Chúa: Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em? (Ga 14, 2).

Khi chúng ta nghĩ Giáo hội như là nhà, một số người trong chúng ta chủ yếu nghĩ đến việc Thiên Chúa đến với chúng ta, và những người khác trong chúng ta nghĩ đến việc chúng ta về nhà trong Thiên Chúa. Cả hai đều đúng. Chúng ta phải nới rộng tấm lều cảm thông của mình đối với những người có suy nghĩ khác biệt. Chúng ta quý trọng nhóm thân cận trên núi, nhưng chúng ta đi xuống và đi về phía Giêrusalem, những người nay đây mai đó, và vô gia cư. Hãy vâng nghe lời Người.

Vì vậy, trước hết, Thiên Chúa ở với chúng ta. Ngôi Lời trở thành nhục thể nơi một người Do Thái Palestine ở thế kỷ thứ nhất, được nuôi dưỡng theo phong tục và truyền thống của dân tộc mình. Ngôi Lời mặc lấy xác phàm trong mỗi nền văn hóa của chúng ta. Trong những bức tranh về Truyền tin của Ý, chúng ta thấy những ngôi nhà xinh xắn bằng đá cẩm thạch, có cửa sổ mở ra những cây ô liu, vườn hoa hồng và hoa huệ. Các họa sĩ người Hà Lan và Flemish vẽ Đức Maria với một chiếc lò nóng được bọc cẩn thận để chống lạnh. Dù nhà bạn là nhà nào thì Thiên Chúa cũng đến sống trong đó. Trong 30 năm thầm lặng, Thiên Chúa sống ở Nazareth: một vùng nước đọng vô danh. Nathanael khinh thường kêu lên: “Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được” (Ga 1,46)Philip chỉ trả lời: Cứ đến mà xem”.

Tất cả nhà của chúng ta đều là Nazareth, nơi Thiên Chúa ngự trị. Thánh Charles de Foucauld đã nói: Hãy để Nazareth trở thành mẫu mực của bạn, trong tất cả sự đơn sơ và cởi mở của nó... Cuộc sống ở Nazareth có thể được sống ở bất cứ đâu. Hãy sống ở nơi nào có ích nhất cho người lân cận của bạn[3]. Dù chúng ta ở đâu và làm, Thiên Chúa cũng đến thămở lại: Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta(Kh 3, 20).

Do đó, chúng ta hãy quý trọng những nơi chúng ta đã gặp Đấng Emmanuel - “Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúng ta yêu thích những phụng vụ trong đó chúng ta thoáng thấy vẻ đẹp thần linh, những nhà thờ thời thơ ấu, những lòng đạo đức bình dân. Tôi yêu thích Đan viện Benedictine tuyệt vời của trường tôi, nơi lần đầu tiên tôi cảm nhận được cánh cửa thiên đàng đang mở ra. Mỗi người chúng ta đều có Núi Tabor của riêng mình, nơi chúng ta thoáng thấy vinh quang. Chúng ta cần nó. Vì thế, khi Phụng vụ bị thay đổi hoặc khi nhà thờ bị phá hủy, người ta cảm thấy vô cùng đau đớn, như thể ngôi nhà của họ trong Giáo hội đang bị tàn phá. Giống như Phêrô, chúng ta muốn ở lại.

Mỗi Giáo Hội địa phương đều là nhà của Thiên Chúa. Mẹ Maria của chúng ta đã hiện ra tại Walsingham, một đền thờ vĩ đại thời trung cổ Anh quốc, ở Lộ Đức, tại Guadalupe ở Mexico, tại Czestochowa ở Ba Lan, tại La Vang ở Việt Nam, và tại Donglu ở Trung Quốc. Không có sự cạnh tranh về Mẹ Maria. Ở Anh, người ta thường nói: Tin tốt là Thiên Chúa yêu bạn. Tin xấu là Ngài cũng yêu tất cả những người khác. Thánh Augustinô có nói: Thiên Chúa yêu thương mỗi chúng ta như thể mỗi chúng ta là duy nhất[4]. Tại Vương cung Thánh đường Notre Dame d'Afrique ở Algiers có khắc dòng chữ: Priez pour nous et pour les Musulmans” - Hãy cầu nguyện cho chúng con và cho những người Hồi giáo.

Các linh mục thường thấy lộ trình Thượng Hội đồng khó theo đuổi hơn. Chúng tôi, các linh mục, trông nom những nơi thờ phượng này và cử hành các phụng vụ tại đó. Các linh mục cần có một cảm thức mạnh mẽ về căn tính, một tinh thần đoàn thể. Nhưng chúng ta sẽ là ai trong Giáo hội được giải thoát khỏi giáo sĩ trị này? Làm sao hàng giáo sĩ có thể chấp nhận một căn tính không mang tính giáo sĩ? Đây là một thách đố lớn đối với một Giáo hội được canh tân. Chúng ta hãy đón nhận thách đố mà không sợ hãi, một nhận thức huynh đệ mới về chức linh mục thừa tác! Có lẽ chúng ta có thể khám phá ra việc mất đi căn tính này thực sự là một phần cố hữu của căn tính linh mục của chúng ta như thế nào. Đó là một ơn gọi vượt lên trên mọi căn tính, bởi vì chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ(1 Ga 3, 2).

Hiện nay Thiên Chúa xây dựng nhà của Ngài ở những nơi mà thế giới coi thường. Thầy Frei Betto, một anh em Đa Minh của chúng tôi mô tả việc Thiên Chúa đến ở tại một nhà tù ở Brazil như thế nào. Một số tu sĩ Đa Minh bị bỏ tù vì phản đối chế độ độc tài (1964-1985). Thầy Betto viết: Vào ngày Giáng sinh, Lễ Thiên Chúa đến, niềm vui ngập tràn. Đêm Giáng sinh trong tù... Bây giờ cả nhà tù hát vang, như thể bài hát hạnh phúc và tự do của chúng tôi vang vọng khắp thế giới. Những phụ nữ đang hát phần của họ và chúng tôi vỗ tay... Mọi người ở đây đều biết rằng hôm nay là Giáng sinh, ai đó đang được tái sinh. Và bằng tiếng hát của mình, chúng tôi chứng thực rằng chúng tôi cũng đã được tái sinh để đấu tranh cho một thế giới không còn nước mắt, hận thù hoặc áp bức. Thật ấn tượng khi chứng kiến những gương mặt trẻ này bị ép vào song sắt và hát về tình yêu của mình. Không thể nào quên được. Đó không phải là một cảnh tượng dành cho các thẩm phán, các công tố viên hoặc cảnh sát đã bắt giữ chúng tôi. Họ sẽ thấy vẻ đẹp của đêm nay là điều họ không thể chịu nổi. Những kẻ tra tấn sợ một nụ cười, dù chỉ là một nụ cười yếu ớt.

Vì vậy, chúng ta thoáng thấy vẻ đẹp của Chúa trên Núi Tabor của chúng ta, nơi mà, giống như Phêrô, chúng ta muốn dựng lều của mình. Tốt! Nhưng Hãy vâng nghe lời Người!" Chúng ta tận hưởng khoảnh khắc đó rồi xuống núi và tiến về Giêrusalem. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta phải trở thành người vô gia cư. Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu(Lc 9, 58). Các môn đệ đi về phía Giêrusalem, thành thánh nơi thánh danh Thiên Chúa ngự trị, nhưng ở đó, Chúa Giêsu chết bên ngoài tường thành vì lợi ích của tất cả những người sống bên ngoài tường thành, như Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho dân Ngài trong hoang địa bên ngoài trại. James Alison đã viết: Thiên Chúa ở giữa chúng ta như một kẻ bị loại ra ngoài[5]. Vì thế, để thánh hóa dân bằng chính máu mình, Chúa Giêsu cũng phải chịu đau khổ bên ngoài cổng thành. Vậy chúng ta hãy đến gặp Người bên ngoài trại và chịu sự sỉ nhục mà Người đã phải gánh chịu(Dt 12, 12ff).

Đức Tổng Giám mục Carlos Aspiroz da Costa đã viết cho Gia đình Đa Minh khi ngài còn là Bề trên tổng quyền Dòng: ''Bên ngoài trại, trong số tất cả những 'người khác' bị đưa đến một nơi bên ngoài trại, là nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. Hành trình đòi phải rời bỏ thể chế, ra ngoài những nhận thức và niềm tin bị quy định về văn hóa, bởi vì chính ở 'bên ngoài trại' mà chúng ta gặp một vị Thiên Chúa không thể bị kiểm soát. Chính 'bên ngoài trại' là nơi chúng ta gặp Đấng Khác, Đấng khác biệt và khám phá ra chúng ta là ai và chúng ta phải làm gì[6]. Chính khi đi ra ngoài mà chúng ta đến một ngôi nhà mà đó không còn chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Ðức Kitô” (Gal 3, 26).

Vào những năm 1980, khi suy tư về phản ứng của Giáo hội đối với bệnh AIDS, tôi đã đến thăm một bệnh viện ở London. Chuyên gia tư vấn nói với tôi rằng có một thanh niên xin gặp một linh mục tên là Timothy. Nhờ sự quan phòng của Thiên Chúa, tôi đã có thể xức dầu cho anh ngay trước khi anh qua đời. Anh xin được chôn cất tại Nhà thờ chính toà Westminster, trung tâm của đạo Công giáo ở Anh. Xung quanh anh là những người bình thường đến tham dự Thánh lễ ngày thường đó, cũng như các bệnh nhân AIDS, y tá, bác sĩ và những người bạn đồng tính. Người từng ở ngoại biên, vì căn bệnh, vì khuynh hướng tính dục của mình, và trên hết, vì đã chết, lại ở trung tâm. Xung quanh anh ấy là những người mà Giáo hội là nhà và những người thường không bao giờ vào nhà thờ.

Cuộc đời của chúng ta được nuôi dưỡng bởi những truyền thống và lòng mộ đạo yêu quý. Nếu chúng mất đi, chúng ta đau buồn. Nhưng chúng ta cũng phải nhớ đến tất cả những người chưa cảm thấy như ở nhà trong Giáo hội: những người phụ nữ cảm thấy không được công nhận trong chế độ gia trưởng của những ông già da trắng như tôi! Những người cảm thấy Giáo hội quá phương Tây, quá Latinh, quá thuộc địa. Chúng ta phải tiến tới một Giáo hội trong đó họ không còn ở bên lề nữa mà là ở trung tâm.

Khi Thomas Merton trở thành tín hữu Công giáo, ông đã khám phá ra Thiên Chúa, Đấng trung tâm, ở khắp mọi nơi và chu vi của Ngài không ở đâu cả đang tìm đến tôi”. Do đó, canh tân Giáo hội cũng giống như làm bánh. Người ta gom các rìa bột vào giữa và trải phần ở giữa ra các lề, và lấp đầy tất cả bằng oxy. Người ta làm ra ổ bánh bằng cách đảo ngược sự phân biệt giữa các phần rìa và ở giữa, việc làm ổ bánh của Thiên Chúa, Đấngtrung tâm của Ngài ở khắp mọi nơi và chu vi của Ngài không ở đâu cả, đang tìm đến chúng ta.

Một lời cuối cùng rất ngắn gọn. Đã nhiều lần, trong quá trình chuẩn bị cho Thượng Hội đồng này, câu hỏi đã được đặt ra: Nhưng làm sao chúng ta có thể ngồi yên trong Giáo hội với vụ bê bối khủng khiếp về lạm dụng tình dục?" Đối với nhiều người, đây là giọt nước tràn ly. Họ đã thu dọn hành lý và ra đi. Tôi đặt câu hỏi này trong một cuộc họp của các hiệu trưởng Công giáo ở Úc, nơi Giáo hội đã bị biến dạng khủng khiếp vì vụ bê bối này. Họ đã ở lại như thế nào? Làm sao họ vẫn có thể ở nhà được?

Một người trong số họ trích dẫn Carlo Carretto (1910 - 1988), em trai của Charles de Foucauld. Những lời của Carretto tóm tắt sự mơ hồ của Giáo hội, nhà của tôi nhưng chưa phải là nhà của tôi, nơi mạc khải và che giấu Thiên Chúa.

Hỡi Giáo hội của ta, ta phải chỉ trích ngươi rất nhiều, nhưng ta yêu ngươi biết bao! Ngươi đã làm cho ta đau khổ hơn bất cứ ai, nhưng ta lại nợ ngươi nhiều hơn bất kỳ ai. Ta muốn thấy ngươi bị tiêu diệt nhưng ta vẫn cần sự hiện diện của ngươi. Ngươi đã gây cho ta nhiều tai tiếng, nhưng chỉ có ngươi mới khiến ta hiểu được sự thánh thiện của ngươi. … Đã bao lần, ta cảm thấy muốn đóng sầm cánh cửa tâm hồn mình trước mặt ngươi – thế, hàng đêm, ta vẫn cầu nguyện rằng ta có thể được chết trong vòng tay bình yên của ngươi! Không, ta chẳng thể bỏ ngươi, bởi vì ta là một với ngươi, dù không hoàn toàn. Vậy thì – ta sẽ đi đâu? Để xây dựng một Giáo hội khác chăng? Nhưng ta không thể tạo ra một Giáo hội mà không có những khiếm khuyết tương tự, vì đó là những khiếm khuyết của ta.

Ở cuối Tin Mừng Thánh Mátthêu, Chúa Giêsu nói: Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Nếu Chúa ở lại thì làm sao chúng ta có thể bỏ đi được? Thiên Chúa đã đặt mình vào trong nhà chúng ta, với tất cả những hạn chế đáng hổ thẹn của chúng ta, mãi mãi. Thiên Chúa vẫn ở trong Giáo Hội của chúng ta, ngay cả với tất cả những sự tham nhũng và lạm dụng. Do đó, chúng ta phải ở lại. Nhưng Thiên Chúa ở cùng chúng ta để dẫn chúng ta vào những không gian rộng mở hơn của Vương quốc. Chúng ta cần Giáo hội, ngôi nhà hiện tại của chúng ta với tất cả những yếu đuối của nó, nhưng cũng cần hít thở luồng oxy tràn đầy Thánh Thần của ngôi nhà tương lai không biên giới của chúng ta.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: vaticannews.va/en (01. 10. 2023)

(Cập nhật lúc 10g30 ngày 06.10.2023)




[1] W. S. Gilbert, The Gondoliers, 1889

[2] Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, 47

[3] Cathy Wright LSJ St Charles de Foucauld: His Life and Spirituality, p.111

[4] Confessions. Quyển 3

[5] Knowing Jesus p.71

[6] Letter to the Order on Itinerancy

LỊCH PHỤNG VỤ