GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐOÀN KITÔ NHỎ

Gm. Luy Nguyễn Anh Tuấn

WHĐ (08.10.2021) - Bài viết này sẽ xem xét tầm quan trọng của các gia đình trong cuộc sống của các Cộng đoàn Kitô Nhỏ (CĐKN) và các CĐKN củng cố gia đình như thế nào để gia đình hoàn tất vai trò của mình như “Hội Thánh tại gia”.

Mục lục

1. Gia đình trong bối cảnh ngày nay. 1

2. Sứ mệnh của Gia đình. 3

3. Gia đình và Thánh Thể. 7

4. Gia đình và Cộng Đoàn Kitô Nhỏ. 9

5. Gia đình và Lời Chúa. 10

6. Vai trò của Gia đình trong công trình Phúc Âm hóa. 11

7. Sứ mạng của Gia đình trong CĐKN. 12

Kết luận


1. Gia đình trong bối cảnh ngày nay

Hội Thánh tại Á châu và tại Việt Nam đã tăng trưởng qua bao tháng năm và chạm chân đến bao ngõ ngách các vùng sâu vùng xa nhờ hàng ngàn linh mục, hàng vạn nam nữ tu sĩ, và hàng triệu Kitô hữu giáo dân làm việc không mệt mỏi và âm thầm loan báo Tin mừng và phục vụ anh chị em thuộc các tín ngưỡng khác nhau. Chúng ta cảm tạ Chúa vì họ, càng cảm tạ Chúa hơn nữa vì các bậc cha mẹ và gia đình đã động viên và nâng đỡ những người con mình đi sâu hơn vào ơn gọi phục vụ Thiên Chúa.

Chúng ta thừa nhận các gia đình ở châu Á và nhất là tại Việt Nam biết quí trọng cuộc sống gia đình và các giá trị gia đình bởi các thành viên trong gia đình và họ hàng thường xuyên tụ họp với nhau, dùng bữa với nhau và đôi khi còn dành thời gian quý báu hiện diện và sống quây quần bên nhau, đối thoại cuộc sống với những người anh chị em khác tín ngưỡng trong khoan dung và đơn sơ chân thành. Các gia đình biết quí trọng các giá trị văn hóa và tôn giáo của mình như: yêu quí sự thinh lặng và chiêm niệm, lòng đơn sơ, sự hài hòa, tinh thần siêu thoát, bất bạo động, tinh thần làm việc chăm chỉ, kỉ luật, sống đạm bạc, hiếu học và truy tầm triết lí khôn ngoan. Các gia đình á đông còn biết kính trọng sự sống, có lòng từ bi trắc ẩn đối với mọi sinh vật, sống gần gũi với thiên nhiên, thảo kính cha mẹ, người già cả, ông bà tổ tiên, với một ý thức đời sống cộng đồng rất cao. Đặc biệt, người dân Việt coi gia đình là một nguồn trợ lực rất quan trọng, một cộng đoàn gắn bó mật thiết với ý thức mạnh mẽ đoàn kết yêu thương nhau. Tâm hồn người Việt Nam có sẵn một trực giác tâm linh và một sự khôn ngoan đạo đức, không coi sự đối đầu và đối kháng là yếu tố cốt yếu của căn tính của mình, nhưng là sự bổ túc và sự hài hòa. Phần nhiều các gia đình công giáo truyền thống sùng đạo và đạo giáo là thành phần quan trọng trong cuộc sống gia đình. Chúng ta cũng biết ơn nhiều gia đình thường xuyên cùng nhau cầu nguyện và qua đó thông truyền đức tin cho con cháu, nhiều gia đình tiên phong trong mặt trận bảo vệ sự sống, hi sinh tham dự các cuộc tĩnh tâm và học hỏi để đào sâu giáo lý đức tin, biểu lộ lòng thành tín qua tham dự các cử hành và hành hương. Chúng ta cũng nhận thấy ngày càng có nhiều gia đình tham gia tích cực trong các hiệp hội, phong trào của Hội Thánh, trong các Cộng đoàn Hội Thánh Cơ bản.

Thế nhưng, ngày nay chúng ta cũng chứng kiến những biến chuyển, bi kịch cho các gia đình. Nhiều nơi trên thế giới đòi định nghĩa lại hôn nhân, gia đình. Chúng ta bắt đầu nghe quen những đòi hỏi về mặt lập pháp, hành pháp, chuyện kết hôn đồng tính (giữa hai người đồng giới) hoặc chuyện sống chung thực tế của hai người đòi được xã hội và luật pháp nhìn nhận và công nhận như là một gia đình. Tuy nhiên, Hội Thánh có quan điểm và lập trường rất rõ gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ để yêu thương hỗ trợ nâng đỡ nhau suốt hành trình cuộc sống, và nhằm sinh sản và giáo dục con cái.[1]

Ở châu Á cũng như ở Việt Nam, các gia đình ngày nay phải đối diện với nhiều thách đố, phải chịu nhiều tác động do thay đổi các giá trị vốn bảo vệ và nâng đỡ sự sống và văn hóa gia đình. Kỹ nghệ phát triển, di dân ngày càng đông vì nghèo đói, thất nghiệp hoặc đi tìm một cuộc sống kinh tế tốt hơn; các phương tiện truyền thông xã hội phát triển nhanh ảnh hưởng mạnh trên các gia đình. Đàng khác, tình trạng đó dẫn đến gia đình chịu cảnh ly tán, nảy sinh các vấn đề, về kinh tế cũng như tinh thần, cho các gia đình còn ở lại quê nhà. Trong nhiều trường hợp, những tấn công, ngấm ngầm hay công khai, nhằm vào Giáo hội và các Kitô hữu đây đó đã làm tả tơi các gia đình và cuộc sống gia đình, khiến người ta không thể thực hành đức tin và chính qua đó Giáo hội qua các gia đình sống chứng tá trong âm thầm. Hơn nữa, gia đình còn phải đối diện với một xã hội với nguy cơ ngày càng vô cảm và tự động hóa, phi ngã vị và phi nhân, phát sinh lối sống tiêu cực dưới nhiều hình thái đào thoát tự hủy diệt như nghiện ngập rượu chè, ma túy và khủng bố. Còn có những sức mạnh khác làm cho các gia đình ngày nay co rút chỉ còn như gia đình hạt nhân, con người sống qui vào bản thân nhiều hơn và hôn ước không còn tính chất thánh thiêng nữa. Trong các đô thị, tình trạng ly dị và sống chung không kết hôn trở nên phổ biến. Chủ nghĩa cá nhân, tìm kiếm lạc thú, chủ nghĩa duy vật, thói hưởng thụ, sự kiện nhà nước can thiệp vào đời sống gia đình, não trạng chống thụ thai và lối sống lệ thuộc kĩ thuật, tất cả đang ảnh hưởng bất lợi lên trên đời sống hôn nhân và gia đình ổn định, làm nguy hại đến sự bền vững của xã hội chúng ta và các giá trị của nó.

Một vấn đề nữa, đó là sự thay đổi vai trò của người phụ nữ, dần dần xảy ra trong hầu hết các nước đang phát triển. Trước đây, chỗ đứng của người phụ nữ là ở trong gia đình nhưng nay các chị em còn đi ra ngoài xã hội, theo đuổi một sự nghiệp và đòi hỏi người chồng phải chia sẻ việc nhà. Hậu quả  của việc cả cha và mẹ phải đi làm, không còn thời gian nhiều ở với con cái. Nếu họ có con nhỏ, chúng chẳng bao lâu trở thành những đứa bé bị giam hãm trong nhà phải tự xoay sở phục vụ cho mọi nhu cầu của bản thân và như thế dễ làm mồi cho những mối nguy hiểm cheo leo, cả về thể xác cũng như tinh thần.

Trong các nền văn hóa toàn cầu hóa và đô thị hóa ngày nay, bởi phương tiện truyền thông xã hội, những người trẻ dễ bị cuốn hút chạy theo các diễn viên điện ảnh và các ngôi sao, xem họ như những người mẫu thần tượng. Đời sống của những “sao” ấy thường không tương hợp với Kitô giáo, dễ ảnh hưởng trên người trẻ, làm họ bắt chước theo đôi khi cách mù quáng. Quan niệm của họ về hôn nhân gia đình xa với chuẩn mực Kitô giáo. Những đổi thay văn hóa nhanh chóng này, phát triển về khoa học và kĩ thuật kéo theo cả về mặt kinh tế và chính trị, đã và đang ảnh hưởng nặng nề trên các gia đình.[2]

Chính bối cảnh hôm nay như thế đó là một thách đố cho Hội thánh để trợ lực, đồng hành với các gia đình, giúp khám phá lại sứ mệnh của gia đình và trách nhiệm của gia đình để xây dựng một xã hội công bằng và tốt đẹp. Xây dựng một Linh đạo truyền giáo của Hội thánh có tầm quan trọng hàng đầu bởi vì “Gia đình Kitô hữu, cách đặc biệt, mạc khải và đồng thời thực hiện sự hiệp thông trong Hội thánh, vì thế gia đình có thể và phải được gọi là Hội thánh tại gia.[3]” Vì được gọi như thế, sứ mệnh của gia đình trước hết phải là tế bào đầu tiên và sống động của xã hội[4], và góp phần xây dựng nên Dân Thiên Chúa bằng cuộc sống thánh thiện theo đuổi ơn gọi hôn nhân và gia đình[5], và như thế góp phần vào sứ vụ chung của Hội thánh qua việc tham dự tích cực vào đời sống và sứ vụ của giáo hội địa phương, của giáo xứ và xã hội.[6]

Vì phúc lợi của xã hội và thiện ích của Giáo hội được kết hợp chặt chẽ với thiện ích của gia đình, nên xét như là Hội thánh tại gia, gia đình phải được xem cách nghiêm túc như là một thực tại giáo hội. Sở dĩ thế là vì gia đình là hình thái cộng đoàn cơ bản nhất của Giáo hội và là tế bào quan trọng nhất của Giáo hội và xã hội. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói “tương lai của thế giới và Hội thánh đi qua gia đình”[7]. Bởi thế gia đình phải là thành phần của toàn thể thực tại Giáo hội tại địa phương, giáo xứ và giáo hội địa phương.

Sứ mệnh của gia đình là “bảo vệ, mạc khải, và thông truyền tình yêu, đây là một phản ánh sinh động và đồng thời là sự tham dự thực sự vào tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại và tình yêu của Đức Kitô đối với Hội thánh, Hiền Thê Người” (Thánh Gh. Gioan Phaolô II, Về Gia Đình). Sứ mệnh này không khác gì sứ mệnh của Hội Thánh.

2. Sứ mệnh của Gia đình

Nói đến sứ vụ truyền giáo người ta hay nghĩ ngay đến hình ảnh các nhà thừa sai rời bỏ quê hương mình để ra đi đến những miền đất xa lạ để loan báo tin mừng. Tuy nhiên, truyền giáo còn là gì hơn thế. Sứ vụ và “Hoạt động truyền giáo không gì khác hơn, cũng không gì đơn giản hơn là sự biểu lộ hay nói cách khác là sự hiển linh ý định của Thiên Chúa và hoàn tất ý định đó nơi trần gian và trong lịch sử nhân loại, trong đó rõ ràng Thiên Chúa đang hoàn thành lịch sử cứu độ nhờ việc truyền giáo. Qua lời rao giảng và cử hành các bí tích, mà trung tâm và tột đỉnh là bí tích Thánh Thể, hoạt động truyền giáo tỏ bày sự hiện diện Đấng tác thành công trình cứu rỗi là chính Đức Kitô”[8].

Các văn kiện hậu Công Đồng đều nói rõ sứ vụ truyền giáo là thuộc về mọi người như là thành phần của Hội Thánh, và thuộc về chính bản chất của đời sống Kitô hữu[9]. Hoạt động truyền giáo thật sự gắn liền mật thiết với bản tính của Hội Thánh[10]. Qua các thế kỉ Hội Thánh đã được nhận biết bởi các hoạt động truyền giáo của mình, và hoạt động này đã là dấu chỉ của sức sống của Hội Thánh và khi hoạt động này suy yếu đi đó là dấu chỉ của sự khủng hoảng đức tin[11].

Xưa kia việc truyền giáo này được xem trước hết như là sự ra đi đến những nơi xa xôi để rửa tội và Kitô hóa các dân tộc khác niềm tin. Nhưng thực ra truyền giáo còn là hơn thế nữa, vì: “vâng lệnh Chúa Kitô đồng thời được ân sủng và tình yêu Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Giáo hội thực thi sứ mệnh, khi thực sự hiện diện giữa mọi người và mọi dân tộc, bằng cách hoạt động để nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy, các bí tích và những phương thế trao ban ân sủng khác, dẫn đưa tất cả đến với đức tin, đón nhận ơn giải thoát và bình an của Chúa Kitô, nhờ đó mở ra con đường thông suốt và vững chắc giúp họ thông dự trọn vẹn vào mầu nhiệm Chúa Kitô”[12].

Dấn thân truyền giáo thực sự đòi hỏi phải đầu tư thời gian, sức lực, tài năng, và điều quan trọng nhất là tạo lập quan hệ cá nhân với người dân, hầu trở nên một chứng từ hiển lộ sự hiện diện của Thiên Chúa đang ở giữa họ. Trước khi dấn thân và bắt đầu một hoạt động nào, tất cả đều cần phải nhận biết rằng truyền giáo có nghĩa là làm chứng và sống một đời sống gương mẫu tỏa sáng cho người khác[13], hầu chính chứng từ của đời Kitô hữu, và những công việc tốt đã làm trong tinh thần siêu nhiên, lôi kéo cách hiệu quả người ta đến với đức tin và gặp gỡ Thiên Chúa; và để thực thi điều Chúa đã nói: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt người ta để họ thấy được những việc tốt lành anh em làm mà ngợi khen Cha anh em ở trên trời” (Mt 5,16).[14]

Hình thức làm chứng đầu tiên là chính cuộc sống của người thi hành sứ vụ, của gia đình Kitô hữu và cộng đoàn hội thánh, biểu lộ một lối sống mới. Bởi vì nó dẫn đưa người ta vào một cách sống trong toàn thể các tập quán, nền văn hóa và môi trường xã hội – kinh tế – chính trị; chúng ta cần nhận biết rằng do bản chất của nó hoạt động truyền giáo nối kết thâm sâu với bản tính con người và khát vọng của con người. Khi bày tỏ Đức Kitô, Hội Thánh đồng thời cũng khai mở cho con người nhận biết chân lý đích thực liên quan đến thân phận và ơn gọi thực sự của họ, vì Đức Kitô chính là nguyên khởi và khuôn mẫu của nhân loại mới, thấm đẫm tình yêu huynh đệ, sự chân tình và tinh thần hòa bình, vốn là những điều mọi người hằng khao khát.[15]

Do hoàn cảnh sống đặc thù sống của mình, ở trong lòng và giữa lương dân, gia đình cần phải dấn mình vào hoạt động truyền giáo vì mục đích của truyền giáo là tiếp tục công trình của Đức Giêsu loan báo Nước Thiên Chúa và mang ơn cứu độ đến cho nhân loại. Bởi đó, “Sứ mệnh của Hội Thánh liên quan đến ơn cứu độ con người, ơn cứu độ nhờ ân sủng của Chúa Kitô và bởi tin vào Người. Như vậy, hoạt động tông đồ của Hội Thánh và của tất cả các tín hữu trước tiên nhằm loan báo sứ điệp của Chúa Kitô bằng lời nói và việc làm, đồng thời chuyển thông ân sủng của Người cho trần gian”[16].

Lệnh truyền của Chúa Giêsu “hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy” cũng nói với chúng ta ngày hôm nay trong khi thế giới, dẫu phát triển và tiến bộ nhiều, cũng vẫn khao khát tìm kiếm bình an và niềm vui. Như là Kitô hữu đây là thời đại để chúng ta làm chứng nhân. Đối với chúng ta, ngày nay sứ vụ truyền giáo là trực tiếp loan báo Tin mừng, lôi kéo người ta đến để được chia sẻ sự sống của cộng đoàn Thánh Thể.

Để thực hiện cho có hiệu quả chúng ta cần trở nên một dân có một kinh nghiệm thiêng liêng sâu xa về Thiên Chúa, dấn thân trọn vẹn và để cho Thần Khí hướng dẫn vì chỉ trong ánh sáng đức tin và nhờ suy gẫm Lời Chúa mà chúng ta có thể nhận ra được Chúa ở mọi nơi và trong mọi lúc, “trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện hữu” (Cv 17,28). Chỉ trong khi tìm kiếm thánh ý Chúa trong mọi biến cố cuộc sống và nhận ra Chúa Kitô nơi mọi người, chúng ta mới có thể thẩm định đúng đắn về ý nghĩa thật và giá trị của các thực tại trần thế, trong bản chất của chúng cũng như trong mối quan hệ với cứu cánh của con người.[17]

Người giáo dân, đặc biệt là người kết hôn, sống giữa đời dễ dàng liên lụy với các việc đời và lãnh lấy nhiệm vụ làm chứng cách cá nhân cho sự thánh thiện và thực tế đã nên một chứng từ thụ động bởi lẽ làm chứng tá còn là gì hơn nữa chứ không chỉ là làm việc lành và đọc kinh. Kitô giáo, còn hơn thế nhiều, mời gọi các cặp và gia đình có lối tư duy hoàn toàn mới mẻ, sẵn sàng vượt qua bản thân mình và sống một đời sống theo Tin mừng. Làm thế, họ sẽ nhận ra: “việc tông đồ không chỉ giới hạn trong việc làm chứng bằng đời sống; người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói, hoặc cho những người chưa tin để đưa họ đến với đức tin, hoặc cho những người đã tin để hướng dẫn, củng cố và thúc đẩy họ sống nhiệt thành hơn; quả thật, “tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta” (2Cr 5,14), và hãy để lời Thánh Tông Đồ luôn vang vọng trong tâm trí tất cả chúng ta: Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng (1Cr 9,16)”[18].

Trong bí tích hôn phối, sứ mệnh này không được trao cho cá nhân nhưng cho cả gia đình. Khi chúng ta nói về sứ mệnh của gia đình là chúng ta đang nói đến một điều gì duy chỉ cho gia đình. Không một cá nhân hoặc một tập thể hay nhóm người nào có thể hoàn tất công trình của sứ mệnh này trong Hội Thánh cùng một cung cách như gia đình thực hiện. Thật vậy, gia đình được trang bị một cách độc đáo để cho sứ mệnh được thực thi trong Giáo hội. Để hiểu sứ mệnh của gia đình ta cần đến bí tích hôn phối. Trung tâm sứ mệnh này của gia đình là đôi vợ chồng, kẻ nhận thấy hôn nhân của mình vốn là một ơn gọi của Hội Thánh và cho Hội Thánh. Họ ý thức mình là Tông đồ, và là nhà Loan báo Tin mừng và những chứng nhân Phúc Âm trọn vẹn. Mặc dù họ nhận biết mình luôn là người chồng và là người vợ, luôn là cha là mẹ; nhưng họ cũng được mời gọi luôn là Kitô hữu hiến dâng sự sống mình và cởi mở ra với sự sống mới và phong nhiêu nơi đàn con cái. Bởi thế, ta có thể nói rằng: chìa khóa để mở lối vào bản chất bí tích của hôn nhân là xem hôn nhân như là một quan hệ giữa một người nam và một người nữ hướng đến những con người phối ngẫu hợp nhất và hoàn hảo và là Kitô hữu, để họ sinh hạ và phát triển những con người mới và Kitô hữu mới.

Cơ sở của sứ mệnh gia đình phải khởi đi từ chính các cặp. Đôi bạn không còn chỉ là hai người bạn quyết định sống chung với nhau và cho nhau, nhưng bởi hôn ước họ trở thành một dấu chỉ của tình yêu Chúa Kitô và Hội Thánh và được gọi sống cách phù hợp cuộc đời của họ. Vì tình yêu của Chúa Kitô với sức mạnh cứu chuộc trong hôn nhân Kitô giáo được biểu lộ trong những hoàn cảnh sống của gia đình khác nhau, cho nên mỗi dấu chỉ yêu thương biểu lộ giữa vợ và chồng là một diễn tả ý muốn thông truyền sự sống của Chúa Kitô cho người khác. Tình yêu vợ chồng dành cho nhau đòi hỏi hơn rất nhiều không chỉ là những điều tốt đẹp làm cho nhau. Mục đích không chỉ là sống chung hòa bình nhưng là hợp nhất trong tình yêu thương thân mật vợ chồng, điều đó không chỉ vì hạnh phúc riêng tư của họ, nhưng còn vì Hội Thánh và vì sứ mệnh của Hội Thánh nữa.

Truyền giáo không chỉ thuộc vai trò của giáo sĩ và tu sĩ, nhưng là nhiệm vụ cơ bản của toàn thể gia đình Kitô giáo tham dự tích cực vào đời sống và sứ vụ của Hội Thánh. Điều này thật quan trọng vì gia đình Kitô hữu, như một “Hội Thánh thu nhỏ” được  mời gọi theo hình ảnh của “Hội Thánh lớn”, trở nên một dấu chỉ của sự hiệp nhất cho thế giới và qua đó mà thực thi vai trò tiên tri của mình là làm chứng cho Vương quốc và sự bình an của Đức Kitô, điều mà toàn thế giới đang hướng về.[19]

Sứ mệnh gia đình đòi hỏi các thành viên trong gia đình, cha mẹ và con cái, phải sống yêu thương nhau, và mọi thành viên đều dấn mình vào sứ mệnh vì đó là một sứ mệnh gia đình chứ không chỉ là một sứ mệnh của những kẻ tình cờ là những thành viên của một gia đình. Cứ điểm truyền giáo của gia đình trước hết là ở trong chính gia đình và trong cộng đồng láng giềng nơi ta sống; để rồi mở ra với cộng đồng giáo xứ và đến sở làm. Sứ mệnh đầu tiên của gia đình là mạc khải Hội Thánh cho chính gia đình. Đó không phải là làm một điều gì phục vụ cho Hội Thánh như là gia đình, nhưng là sống ý nghĩa của gia đình không chỉ như là khuôn mẫu mà còn như là men kêu mời dân Chúa sống như là một gia đình của Thiên Chúa. Chính trong môi sinh đó gia đình trở thành như men trong xã hội. Chứng tá gia đình rất đẹp ấy là sứ mệnh ưu tiên số một hơn mọi việc phục vụ trong các bối cảnh khác, cả việc phục vụ trong Giáo hội cơ chế.

3. Gia đình và Thánh Thể

Thánh Thể đã luôn luôn và sẽ mãi là trung tâm điểm của đời sống Hội Thánh bởi vì Thánh Thể vừa có nghĩa vừa thực sự thông dự vào sự sống của Thiên Chúa và hiệp nhất dân Chúa nhờ đó mà Hội Thánh hiện hữu. Thánh Thể là đỉnh cao của việc nhờ đó Thiên Chúa thánh hóa thế giới trong Đức Kitô, và đỉnh cao của việc thờ phượng Chúa Kitô và nhờ Người thờ phượng Thiên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.

Đối với Hội Thánh, Thánh Thể là sự tưởng niệm việc Chúa Giêsu chịu chết và sống lại. Đó là bí tích của tình yêu của Thiên Chúa và cũng là hoàn tất sứ vụ vì đó mà Chúa Giêsu đã đến trần gian. Vì thế, mỗi hoạt động, mỗi việc phục vụ, và mọi bí tích khác đều nối kết với Thánh Thể và hướng đến Thánh Thể, làm Thánh Thể trở nên là trung tâm của đời sống Kitô giáo.

Thánh Thể và Hôn phối rất giống nhau vì cả hai bí tích đều liên hệ đến Giao ước giữa Thiên Chúa và con người. Thế nhưng, trong khi Hôn phối là dấu chỉ của Giao ước Thiên Chúa với con người trong Chúa Giêsu Kitô; thì Thánh Thể là sự làm mới lại Giao ước và làm cho Giao ước thành hiện thực. Trong bí tích Thánh Thể chúng ta tưởng niệm Mầu nhiệm Vượt Qua, còn trong bí tích Hôn phối đôi vợ chồng sống mầu nhiệm ấy trong tình yêu, vì đời sống hôn nhân và gia đình mang những đau khổ không kể xiết và thánh giá là thành phần của cuộc sống ơn gọi ấy để nó trở thành trọn vẹn. Yêu là tự hiến, không thể yêu mà lại muốn chạy trốn thập giá. Chỉ trong tình yêu, giống như mầu nhiệm Thánh Thể, hôn nhân mới trở nên là hiến ban sự sống, và trong hình thức cao cả nhất của nó, hôn nhân mang lấy khuôn mặt của Thập giá và lấy Chúa Kitô Chịu-Đóng-Đinh làm người mẫu cho mình. Nếu hôn nhân gia đình là dấu chỉ của Giao ước, thì nó không thể tách rời khỏi dấu chỉ của Giao ước trung tâm, là Thập Giá. Ở đâu người ta tuyên bố tình yêu mà loại bỏ thập giá, ở đó không có tình yêu con người đích thực.

Vì vậy, có thể nói, hôn nhân Kitô giáo là một cuộc Vượt Qua và đôi bạn là lời nhắc nhở cho nhau, cũng như cho con cái và cho giáo hội cũng như thế giới, về những gì đã xảy ra trên Thập Giá, và một cách thâm sâu họ thông dự vào hành động cứu độ.

“Hôn nhân, như mọi bí tích khác, là một sự tưởng niệm, hiện tại hóa và là lời tiên tri về biến cố cứu độ. Là một sự tưởng niệm, bí tích này ban cho họ ân sủng lẫn bổn phận phải tưởng niệm những kì công của Thiên Chúa và làm chứng về những kì công ấy trước mặt con cái. Là một sự hiện tại hóa, bí tích ban cho họ ân sủng lẫn bổn phận phải thực hành trong hiện tại những đòi hỏi của một tình yêu tha thứ và cứu chuộc, giữa họ với nhau và giữa họ với con cái. Là một lời tiên tri, bí tích ban cho họ ân sủng và bổn phận sống và làm chứng về niềm hi vọng sẽ được gặp gỡ Đức Kitô sau này”[20].

Thánh Thể trong đời sống của đôi bạn và trong đời sống của mọi thành viên trong Hội Thánh rất quan trọng và nền tảng, vì ý muốn của Chúa Giêsu là tất cả chúng ta phải nên một (Ga 17,21) và được quy tụ lại dưới sự hướng dẫn của chỉ một Chủ Chiên (Ga 10,16). Chính nhiệm tích tấm bánh Thánh Thể diễn tả và thực hiện sự hợp nhất các tín hữu, những người kết nên một thân mình trong Đức Kitô[21]. Và vì “khi thực sự thông phần vào Thân Mình của Chúa trong việc bẻ bánh Thánh Thể, chúng ta được đưa vào hiệp thông với Người và với nhau. Vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể. Bằng cách này tất cả chúng ta được trở nên những chi thể của Thân Mình Người, vì mỗi người đều là chi thể của nhau”[22].

Bởi đó, Thánh Thể là bí tích của tình yêu và hiệp thông, xây dựng nên Hội Thánh, bởi vì chính nhờ bí tích Thánh Thể mà Hội Thánh không ngừng sống và tăng trưởng. Hôn nhân cũng là một bí tích của tình yêu và hiệp thông. Nhưng Thánh Thể là nguồn mạch của Bí tích Hôn nhân và chính nhờ tham dự tích cực vào bí tích Thánh Thể mà đôi bạn lớn lên trong tình yêu và hiệp thông; cho họ sức mạnh để hoàn tất mọi trách nhiệm của đời sống hôn nhân. Khi cử hành Thánh Thể đôi bạn và gia đình dâng lên Thiên Chúa Cha nhờ Đức Kitô, mọi công việc, niềm vui đời sống hôn nhân và gia đình, và tất cả những gì họ sống lời thề nguyện hôn phối.

Chính nhờ tham dự thường xuyên Bí tích Thánh Thể mà đôi bạn và gia đình về mặt thiêng liêng nâng đỡ nhau trong ân sủng qua toàn bộ đời sống tăng trưởng trong tình yêu thương và hiệp thông với nhau. Kinh nghiệm về tình yêu Chúa trong hiến tế Thánh Thể được đôi vợ chồng và gia đình khám phá ra ý nghĩa trong những hi sinh của đời sống gia đình.

Đối với đôi hôn phối và gia đình, sống một đời sống viên mãn bao hàm việc tham dự và chia sẻ tấm bánh cuộc đời mình tại ba cái bàn, Bàn tiệc Thánh Thể, Bàn ăn Gia đình, và Bàn thờ Giường cưới. Việc tham dự và bẻ tấm bánh cuộc đời mình tại ba chiếc bàn này mang lại cho đời sống hôn nhân và gia đình tính Công giáo.

Gia đình còn được củng cố hơn nữa khi dành thời gian để cầu nguyện, riêng và chung cùng nhau vì thật đúng khi người ta nói rằng gia đình cùng cầu nguyện thì cùng sống bên nhau (family that prays together stays together).

4. Gia đình và Cộng Đoàn Kitô Nhỏ

Cộng Đoàn Kitô Nhỏ (CĐKN) còn gọi là Cộng Đoàn Kitô Cơ Bản (CĐKCB) hay Cộng Đoàn Giáo Hội Cơ Bản (CĐGHCB). Việc thiết lập Cộng Đoàn Giáo Hội Cơ Bản trong nhiều Giáo phận đặt trên cơ sở các gia đình sống trong cùng một khu vực hay vùng địa lí tương đối gần nhau. Sự liên đới của làng xóm láng giềng nhất là khi ‘tối lửa tắt đèn’ rất được quí trọng ở miền quê cũng như thành thị Việt Nam. Tục ngữ Việt Nam có câu “bán bà con xa mua láng giềng gần”. Các gia đình lân cận được qui tụ lại với nhau thành các Nhóm được gọi là Cộng Đoàn Kitô Nhỏ như Xóm Đạo Nhỏ. Các CĐKN này làm thành một nhóm các gia đình (liên gia) sống trong cùng một địa phương, nơi đó họ có thể gặp gỡ nhau đều đặn cũng như tương tác với nhau thường xuyên hoặc hằng ngày. Họ có chung những vấn đề, niềm vui nỗi buồn thường nhật và sống kinh nghiệm Hội Thánh tại địa phương.

Thánh Kinh nói với chúng ta các cộng đoàn hội thánh sơ khai hiểu thế nào là Hội Thánh khi “họ chia sẻ mọi sự với nhau và không ai thiếu thốn một điều gì” và làm chứng về Chúa phục sinh với lòng hân hoan vui vẻ, và số tín hữu ngày mỗi gia tang (Cv 2; 4).

Đàng khác, khi các gia đình cùng xóm giềng mà không sống tình liên đới và hiệp thông với nhau, thì đức tin không được thông chuyển và giá trị chứng tá của đời sống đức tin bị thiệt hại. Nhiều người nhận định rằng:

- Dân chúng đói khát Lời Chúa và họ đã không nhận được lương thực thiêng liêng trong cộng đoàn giáo xứ đủ để dưỡng nuôi mình;

- Có một khao khát sâu sắc được chăm sóc mục vụ;

- Mất cảm thức cộng đoàn trong các giáo xứ của chúng ta, vì giáo dân cảm giác mình như lạc lõng trong một đám đông vô danh.

Tình trạng đó là do nhiều nhân tố đang tác động đến gia đình, như chủ nghĩa cá nhân đang trở thành ngày càng thịnh hành, và tôn giáo cũng như ảnh hưởng của tôn giáo trên đời sống con người ngày càng trở nên ít quan trọng, các thứ linh đạo liên hệ tới đời sống ngày càng nhiều bị đặt thành vấn đề.

Giải đáp cho vấn đề của chúng ta ở đây là Các Cộng Đoàn Kitô Nhỏ, những tập thể nhỏ này giúp các tín hữu sống niềm tin, cầu nguyện và yêu mến cộng đoàn giống như các Kitô hữu thời sơ khai (cf. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các Cộng Đoàn nhỏ giúp các thành viên mình sống Phúc âm trong tinh thần huynh đệ yêu thương và phục vụ, và từ đó là một khởi đầu chắc chắn để kiến tạo một xã hội mới, tỏ lộ nền văn minh tình thương[23] và là những tác nhân công cuộc phúc âm hóa[24].

Chính trong bối cảnh đó mà Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) tại Đại hội Toàn Thể lần thứ V tuyên bố rằng Hội Thánh tại Châu Á cần phải là mối hiệp thông của các Cộng Đoàn với những đặc tính mong ước sau đây:

1/ Giáo sĩ, tu sĩ và Giáo dân sống như anh chị em

2/ Lấy Lời Chúa làm trung tâm

3/ Một Giáo hội tham gia.

4/ Cộng đoàn Làm chứng và Loan báo tin mừng.

5/ Một dấu chỉ tiên tri của Nước Chúa giữa môi trường xung quanh.

6/ Lãnh đạo phục vụ với tinh thần phi-thống-trị.

7/ Sống Linh đạo Con Đường (Cách Thế) Mới.

8/ Một cộng đoàn làm việc cho đối thoại liên tôn và sự hài hòa nhân bản.

Từ đó đã thực sự có những bước phát triển tích cực, ý thức hơn về chỗ đứng và vai trò của gia đình trong việc xây dựng các Cộng đoàn cơ bản hội thánh hay dân sự để hướng đến một cách hiện diện mới của Hội Thánh.[25] Gia đình như là Hội Thánh tại gia được mời gọi sống ơn gọi của mình trong ánh sáng của Tin mừng và thực thi sứ mệnh trở thành cộng đoàn sự sống và tình yêu trong Nước Thiên Chúa. Huấn Quyền Hội Thánh gợi ý mỗi giáo xứ phải có Hiệp hội các gia đình nhằm phục vụ các gia đình, có vai trò làm dấy lên một ý thức bén nhạy về tình liên đới, làm chứng tá cho Tin mừng, từ đó giúp củng cố đức tin, huấn luyện lương tâm sống các giá trị Kitô giáo và trở thành một nguồn nâng đỡ lẫn nhau, để các tín hữu trở thành muối men trong xã hội và giáo hội.[26] Để dễ dàng đạt tới mục đích này các gia đình nên quy tụ thành các hội đoàn.[27]

Hiệp hội các gia đình nhằm phục vụ các gia đình xét như là các Cộng Đoàn Kitô Nhỏ đã hiện diện và sống trong hàng ngàn Cộng đoàn nhỏ trên thế giới, đặc biệt tại các Giáo hội tại Á châu. Các Cộng đoàn này được hình thành do cha xứ hoặc được ngài tham vấn. Cộng đoàn nhỏ này được điều hợp bởi chính cha xứ hoặc một người được ngài ủy thác có đời sống đức tin chắc chắn và sâu sắc, nhằm mục đích củng cố đức tin các gia đình qua huấn giáo các gia đình, làm sao để các cha mẹ làm giáo lý viên đầu tiên cho con cái mình, biến gia đình thành nhà cầu nguyện nơi có Chúa Kitô ở giữa trung tâm. Cộng đoàn thực hiện bằng hai khí cụ cốt yếu là Lời Chúa được sống và chia sẻ thường xuyên và sứ vụ tông đồ cùng nhau xem-xét-làm xuất phát từ đức tin.

5. Gia đình và Lời Chúa

Khi Chúa Giêsu nói «nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông,» (Ga 8,31-32) đó là Người nhắc nhở chúng ta rằng việc làm môn đệ Người hệ tại ở sự trung thành sống Lời Chúa. Biết và sống Lời Chúa phải dẫn đưa ta vào quan hệ thâm sâu với Thiên Chúa hơn nhờ Chúa Thánh Thần[28]. Hội Thánh được mời gọi trở thành dấu chỉ bí tích của ơn Cứu độ và các Gia đình trong các CĐKN nhờ đức tin sâu sắc và sự dấn thân nghe và thực hành Lời Chúa xây dựng mình và cộng đoàn trở thành anh em chị em với Đức Giêsu (cf. Lc 8,19-21). Các gia đình trong các CĐKN tại những buổi hội họp chia sẻ Lời Chúa bằng các phương pháp khác nhau, chẳng hạn như ‘Chia sẻ Phúc âm theo 7 bước’, ‘Nhìn, Nghe, Yêu’, ‘các chương trình Amos’, v.v... Gặp gỡ đó với Chúa Phục Sinh dẫn các gia đình trong các CĐKN trở thành các cộng đoàn tiên tri qua việc sống cam kết của bí tích Rửa tội thông dự vào ba chức vụ của Chúa Kitô. Lời Chúa và Bí tích liên kết chặt chẽ với nhau[29] dẫn tới sự sống viên mãn trong Hội Thánh và trong các CĐKN. Các cộng đoàn nhỏ gồm các gia đình cần được tạo lập tại đó các tín hữu cùng nhau thực hành việc cầu nguyện và suy niệm chung những đoạn Kinh Thánh được chọn.[30] Chính khi chia sẻ tấm bánh Lời Chúa và sống Lời Chúa trong bầu khí riêng tư và gia đình như thế mà các gia đình trong các CĐKN tham dự vào đời sống và sứ vụ của Hội Thánh. Ý thức rằng chỉ khi trung thành với Lời trong thực hành ta mới có thể loan báo Lời cách hiệu quả trong cuộc sống, các gia đình trong các CĐKN cố gắng triển nở trong mối thâm tình đó phản chiếu trong cuộc sống như những chứng nhân cho Tin Mừng, vì “con người ngày sẵn sàng nghe các chứng nhân hơn thầy dạy, và nếu như họ nghe các thầy dạy đó là vì các thầy dạy cũng là chứng nhân”[31].

6. Vai trò của Gia đình trong công trình Phúc Âm hóa.

Gia đình được mời gọi tham dự vào sứ vụ của Hội Thánh và thực hiện điều đó theo cung cách riêng của gia đình. Sứ vụ của gia đình phải luôn hòa hợp trong sứ vụ của Hội Thánh, vì sứ vụ và hiệp thông nối kết sâu xa với nhau. Cái này ở trong và bao hàm cái kia đến độ hiệp thông chính vừa là nguồn mạch vừa là kết quả của sứ vụ: hiệp thông tạo nên sứ vụ và sứ vụ hoàn tất hiệp thông.[32]

Gia đình như là thành phần của Hội Thánh chỉ có một sứ vụ là Phúc Âm hóa. Phần lớn trách nhiệm đó ở nơi người giáo dân và các gia đình vì họ chiếm phần đa số và vì tính cách quan trọng của môi trường lao động và thường trú của họ giữa đời, cũng như vô số cơ hội để làm chứng. Các lãnh vực nơi các gia đình có thể làm chứng và phúc âm hóa rất hiệu quả là các lãnh vực của việc tái phúc-âm-hóa, hoạt động truyền giáo và đối thoại liên tôn.

Cách thế hiện diện mới của Hội Thánh ngày nay qua các CĐKN phát triển việc tân phúc-âm-hóa và phúc-âm-hóa dựa trên Lời Chúa. Hoa trái phong phú từ thực tế cho ta hi vọng vì con người ngày nay tin vào chứng từ hơn thầy dạy, tin trải nghiệm hơn các giáo huấn và tin vào đời sống và hành động hơn lí thuyết.[33] Thực tế nhiều nơi cho thấy ở đâu có các cộng đoàn, đời sống của các thành viên tham gia tích cực biến đổi, gia đình của họ hạnh phúc hơn và cầu nguyện nhiều hơn. Đời sống của họ qua một thời gian trở thành đời chứng nhân ảnh hưởng trên các gia đình chung quanh. Họ trở thành là trung tâm của phúc-âm-hóa và tân phúc-âm-hóa, ảnh hưởng của họ như chất men trong bột. Hình thành các CĐKN trong cuộc sống người dân tạo cơ hội rất tốt cho các gia đình tham gia vào đời sống của Giáo hội, họ có thể góp phần tài năng của họ làm cho chính họ được triển nở và làm triển nở người khác. Chính nơi đây gia đình thực sự trở thành trao hiến sự sống và hướng tới sứ vụ.

7. Sứ mạng của Gia đình trong CĐKN

Như một thân thể cấu thành bởi nhiều tế bào và mỗi tế bào được liên kết với nhau trong mối quan hệ với thân thể, cũng vậy gia đình như một tế bào của Hội Thánh chỉ có nghĩa khi liên kết với nhau trong địa phương như là CĐN cũng là Hội Thánh trong vùng đó. Mối quan hệ này và nhu cầu hiệp nhất bắt đầu trước hết từ trong gia đình nơi mà mỗi thành viên như một tế bào liên kết với các thành viên khác và cùng nhau tạo nên thân thể, là gia đình. Chỉ trong các mối liên kết hợp nhất và quan hệ gia đình mới có thể phản ánh tình yêu và quan hệ của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Vì các CĐKN là Hội Thánh ở xóm làng địa phương, nên CĐKN được mời gọi trở thành điều mà Hội Thánh được mời gọi, là hiện hữu cho xứng hợp với căn tính của mình và loan báo tin mừng. Hội Thánh do bản chất mình là truyền giáo[34] vì Hội Thánh chỉ có một sứ vụ là loan báo tin mừng. Hoạt động loan báo tin mừng ban cho Hội Thánh chính căn cước của mình; đó không phải là một tùy chọn nhưng là một bổn phận phát xuất từ lệnh truyền của chính Chúa Giêsu Kitô.

Nhưng để Hội Thánh có thể làm người loan báo tin mừng trước tiên Hội Thánh phải được thanh luyện và được loan báo tin mừng cho chính mình trước khi sai đi các nhà thừa sai. Trước khi được sai đi người môn đệ phải ‘ở với’ Chúa Giêsu và kết mối quan hệ cá nhân với Người trước đã, bởi vì “loan báo tin mừng không gì khác hơn là loan báo điều mình đã kinh nghiệm và lời mời gọi bước vào mối hiệp thông mầu nhiệm với Chúa Kitô” và “một tông đồ là người được sai đi, nhưng trước hết là một ‘chuyên viên về Đức Giêsu’.” (ĐGH Bênêđictô XVI) . Công trình loan báo tin mừng này tuôn trào từ một quan hệ cá nhân thâm sâu với Chúa Giêsu vì hoạt động truyền giáo là một đáp trả tình yêu mà Chúa đã dành cho ta; tình yêu của Người cứu chuộc chúng ta và thúc bách chúng ta ra đi truyền giáo cho muôn dân (missio ad gentes).

Kết luận

Lời Chúa mời gọi chúng ta hướng tới hiệp thông và truyền giáo. Huấn Quyền dạy “Hội Thánh ở Á châu phải là mối hiệp thông của các cộng đoàn, tại đó giáo dân, tu sĩ và linh mục nhận biết và đón nhận nhau như anh chị em”[35]. Từ đó chúng ta kết luận nếu Hội Thánh với tư cách như là Gia đình và các Cộng Đoàn Kitô Nhỏ là thật sự thích đáng cũng như là dấu chỉ bí tích của ơn Cứu độ, thì mọi nguồn lực và nỗ lực của chúng ta phải được tập trung vào việc đào tạo các gia đình cho các CĐKN: Hội Thánh địa phương tại làng xóm chúng ta.

Theo Mr Gordon Morris, Secunderabad, “SCCs and Families” in Breaking Ground

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 91 (Tháng 11 & 12 năm 2015)



[1] Cf. GLGHCG 2202, 2203.

[2] Cf. FABC Đại hội lần thứ 8, Gia đình châu Á hướng về nền Văn hóa sự Sống toàn diện, s.3.

[3] FC 21; cf. LG 11.

[4] Cf. AA 11.

[5] Cf. BGL đ.226.

[6] Cf. FC 49.

[7] FC 75.

[8] AG 9.

[9] Cf. Redemptoris Missio 1.2.

[10] Cf. AG 6.

[11] Cf. Redemptoris Missio 2.2.

[12] AG 5.

[13] Cf. Redemptoris Missio 26.

[14] Cf. AA 6.

[15] Cf. AG 8.

[16] AA 6.

[17] Cf. AA 4.

[18] AA 6.

[19] Cf. FC 48, 49.

[20] FC 13.

[21] Cf. LG 3.

[22] LG 7.

[23] Cf. RM 51.

[24] Cf. EN 58.

[25] Cf. FABC, Đại hội Toàn thể lần thứ VIII, s. 46.

[26] Cf. FC 72.

[27] Cf. AA 11.

[28] Cf. DV 2.

[29] Cf. Verbum Domini (VD) 52-55.

[30] Cf. VD 85.

[31] Evangelii Nuntiandi 41.

[32] FABC, Đại hội Toàn Thể lần thứ VIII, số 46.

[33] Cf. RM 41.

[34] AG 2; 6.

[35] Tuyên bố Chung kết của Đại hội Toàn thể FABC lần thứ V, Bandung 1990, số 8.11.