SỰ PHỤC SINH CỦA ĐỨC KITÔ THEO THÁNH PHAOLÔ

Gerald O’Collins SJ
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính dịch từ
thinkingfaith.org

Là văn sĩ Kitô giáo sớm nhất hay ít ra cũng là một văn sĩ Kitô giáo đầu tiên mà văn bản còn lưu lại cho đến thời chúng ta, Thánh Phaolô mở toang cánh cửa để nhờ đó ta có thể thấy được những Kitô hữu đầu tiên đã tin và thực hành những gì. Qua các thư của ngài, chúng ta có thể thoáng thấy họ rao giảng và tuyên xưng những gì cũng như thờ phượng như thế nào.

Đặc biệt Phaolô đã hé cánh cửa sổ về đức tin của họ vào sự phục sinh của Đức Giêsu chịu đóng đinh. Đồng thời vị đại tông đồ cũng đã tham gia đóng góp thêm chứng từ về Đức Giêsu phục sinh và giải thích chân lý phục sinh. Để hình dung nhiệm vụ kép này của Phaolô, xin được đưa ra bốn chủ đề riêng biệt về sự phục sinh: (1) những cuộc hiện ra thời hậu-phục sinh của Đức Kitô sống lại; (2) Căn tính của Thiên Chúa như là Chúa của sự phục sinh; (3) Mối liên kết giữa Thánh Thể và sự phục sinh; và (4) triển vọng của vũ trụ nơi sự phục sinh của Đức Kitô.

Những cuộc hiện ra thời hậu-phục sinh của Đức Kitô sống lại

Trong một bức thư viết năm 54 AD, Phaolô trích dẫn một công thức ngắn gọn về sự phục sinh mà ngài đã lãnh nhận khi gia nhập cộng đoàn Kitô giáo vào khoảng năm 35 AD. Ngài nhắc lại cho các tín hữu Côrintô về chứng từ chung này đã có từ thời nguyên thuỷ của phong trào Kitô giáo: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai” (1Cr 15,3-5). Hai động từ tạo nên tâm điểm của công thức cổ xưa này: “đã chết” và “đã trỗi dậy”. Công thức tập trung vào cái chết và phục sinh của đức Kitô và trình bày những biến cố này như những biến cố đã được xác nhận với những bằng chứng trong lịch sử và Kinh Thánh. Xét theo lịch sử, cuộc táng xác Đức Kitô là một thực tại minh chứng cho cái chết của ngài: Ngài thực sự “đã chết và chịu táng xác”. Những cuộc hiện ra với Phêrô và rồi với nhóm hạt nhân gồm các môn đệ nguyên thuỷ của Đức Giêsu (nhóm mười hai) đã tạo nên chân lý về sự phục sinh. Hơn nữa, cái chết và sự phục sinh xảy ra “theo như lời Kinh Thánh”. Những ai nghiền ngẫm kỷ lưỡng Kinh Thánh được linh hứng mà họ thừa hưởng từ Do Thái giáo (Cựu Ước của chúng ta) sẽ dẫn đưa đến việc chấp nhận sự phục sinh của Đức Giêsu chịu đóng đinh. Công thức không trích dẫn bất kỳ bản văn Kinh Thánh đặc biệt nào, nhưng chúng ta nên nghĩ về những đoạn mà ta biết rằng những Kitô hữu đầu tiên rất coi trọng, chẳng hạn như đoạn về cái chết của người tôi tớ Chúa (Is 52,13 – 53,12) và đoạn về “Chúa tôi” được hiển dương bên hữu Thiên Chúa (Tv 110,1).

Sau khi nhắc lại công thức chủ yếu này về sự phục sinh của Đức Kitô từ cõi chết mà ngài đã nhận lãnh, Phaolô vội vã đi đến những câu tiếp theo (1 Cr 15,6-7) để liệt kê những cuộc hiện ra khác của Đức Kitô sống lại mà ngài đã biết đến. Cuối cùng, ngài thêm những chứng từ của riêng mình: “Sau cùng, ngài đã hiện ra với chính tôi” (1 Cr 15,8). Cuộc gặp gỡ với đức Giêsu sống lại đó đã biến đổi cách mà Phaolô suy nghĩ về Thiên Chúa và về chính mình. Đó chính là giây phút ân sủng mà vị tông đồ đã trân trọng trong suốt cả cuộc đời mình. Thế nhưng cuộc gặp gỡ này giống như thế nào?

Trong Tông Đồ Công Vụ, Luca đã ba lần nói đến cuộc gặp gỡ của Phaolô với Đức Giêsu trên đường Đamát. Thế nhưng chính Phaolô vẫn kín đáo và kiệm lời. Ngài nói rất ít khi phải đề cập đến kinh nghiệm về Đức Giêsu sống lại đã thay đổi cuộc đời mình.

Chúng tôi chỉ trích một câu ngắn, “Ngài (Đức Giêsu) cũng đã hiện ra với tôi”. Ở phần đầu của chính bức thư này, thay vì diễn đạt vấn đề bằng những từ ngữ như Đức Kitô sống lại “tỏ mình ra” hoặc “để cho mình được nhìn thấy”, Phaolô nhắc lại cuộc gặp gỡ đã biến ngài thành tông đồ rằng: “Tôi đã nhìn thấy Thiên Chúa” (1 Cr 9,1). Thế nhưng “thấy” Chúa sống lại thì thấy như thế nào? Trong một bức thư khác, vị tông đồ cũng rất kiệm lời khi quả quyết rằng Thiên Chúa đã “mạc khải” Người Con của ngài “cho tôi” (Gl 1,16). Một lần nữa, câu chuyện mà Phaolô kể về kinh nghiệm trên đường Đamát của mình không đi xa hơn lối diễn tả chung chung về Người Con đã được “tỏ bày” cho ngài. Chúng ta vẫn còn một vấn vương một câu hỏi: sự mạc khải của Con Thiên Chúa giống như thế nào?

Thế nhưng trong một bức thư khác, Phaolô đã để chúng ta đi vào bên trong kinh nghiệm của mình về Đức Giêsu sống lại khi ngài viết: “Quả thật, xưa Thiên Chúa đã phán: ‘Ánh sáng hãy bừng lên từ nơi tối tăm!’ Người cũng làm cho ánh sáng chiếu soi lòng trí chúng tôi, để tỏ bày cho thiên hạ được biết vinh quang của Thiên Chúa rạng ngời trên gương mặt Đức Kitô” (2 Cr 4,6). Hãy nhớ lại rằng, trong Kinh Thánh, “vinh quang” thường lẫn với “cái đẹp”, nên chúng ta có thể nói rằng trong một hành động sáng tạo mới, gợi lên việc sáng tạo nên ánh sáng của thời sáng thế, Thiên Chúa đã để cho Phaolô thấy được vẻ đẹp của Thiên Chúa trên khuôn mặt của Đức Kitô. Đức Kitô tuyệt mỹ đã chiếm lĩnh sự hiện hữu của Phaolô, đã trở thành tình yêu vĩ đại của ngài, và mãi mãi biến đổi sự hiện hữu của ngài. Sau cuộc diện kiến với vị Thiên Chúa sống lại và đẹp ngời ấy, Phaolô đã bị thúc đẩy bởi một ước muốn duy nhất: loan truyền khắp nơi tin mừng về Đức Giêsu chịu đóng đinh và đã sống lại.

Căn tính của Thiên Chúa như là Chúa của sự phục sinh

Qua các thư của Phaolô, chúng ta thấy được rằng cộng đoàn Kitô giáo đã diễn tả Thiên Chúa theo một lối mới: như là Thiên Chúa Cha đấng đã làm cho đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết (Gl 1,1; Th 1,10). Là người Do Thái, những Kitô hữu đầu tiên đã thừa hưởng nhiều cách nói về Thiên Chúa: chẳng hạn, như Thiên Chúa của “Abraham, Isaac và Giacóp”, như Thiên Chúa đấng đã mang dân mình ra khỏi đất Ai Cập. Sau khi đức Giêsu phục sinh từ cõi chết, họ nhìn Thiên Chúa qua lăng kính của Ngày Phục Sinh đầu tiên và thêm vào đó một “thuộc tính” nữa của Thiên Chúa. Bây giờ họ nói về Thiên Chúa như là Đấng đã cho sống lại và làm vinh quang Đức Giêsu chịu đóng đinh.

Phaolô cũng đã góp phần cho lối nói này bằng cách mạnh mẽ xác quyết rằng niềm tin vào Thiên Chúa đứng vững hay sụp đổ là tùy vào sự phục sinh. Khi vài Kitô hữu ở Côrintô bắt đầu nghi ngờ về sự phục sinh của Đức Giêsu thì Phaolô nhấn mạnh: “Nếu Đức Kitô đã không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Thế ra chúng tôi là những chứng nhân giả của Thiên Chúa” (1 Cr 15, 14-15). Hiển nhiên, thật thảm thương cho những người rao giảng, và cả những thính giả của họ nữa, khi họ phải rao giảng một điều gì đó không thật. Nghi ngờ hoặc từ chối sự phục sinh có nghĩa là nghi ngờ hoặc từ chối Thiên Chúa. Nói cách khác, tin vào Thiên Chúa là Đấng làm trỗi dậy Đức Giêsu đã chết và sẽ làm cho chúng ta cùng trỗi dậy với người, đó không phải là khoảng thêm thắt tuỳ ý của Phaolô. Chính Ngày Phục Sinh đã định hình và tô vẽ nên căn tính của Thiên Chúa.

Vài nhóm Kitô hữu ở Anh Quốc đã phản ứng lại một quảng cáo mới đây về chủ nghĩa vô thần bằng cách trả tiền để trưng biển mang hàng chữ: “Chắc chắn có Thiên Chúa. Vì thế hãy bắt đầu tìm kiếm và vui hưởng đời sống vĩnh cửu”. Thánh Phaolô còn muốn nói rõ ràng hơn nữa: “Chắc chắn có Thiên Chúa của sự phục sinh. Vì thế hãy bắt đầu tìm kiếm và vui hưởng đời sống vĩnh cửu”.

Mối liên kết giữa Thánh Thể và sự phục sinh

Sau khi được rửa tội và gia nhập cộng đoàn Kitô giáo, Phaolô thấy các tín hữu đã cử hành Thánh Thể vào ngày của Chúa (Chúa Nhật) như một hoạt động phụng tự chính yếu của họ. Đến lượt mình, ngài đã đưa thực hành Thánh Thể này vào các cộng đoàn mà ngài thành lập ở Côrintô và các nơi khác. Dưới cái nhìn của Thánh Thể, ngài không chịu đựng được óc bè phái đã làm phân rẽ cộng đoàn Côrintô. Khi tìm cách cứu chữa những sự chia rẽ này, ngài nhắc nhở tín hữu về những gì mà Chúa Giêsu đã làm vào bữa Tiệc Ly.

Trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: "Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." (1 Cr 11,23-25).

Sau khi nhắc lại lời và cử chỉ của Đức Giêsu trong bữa Tiệc Ly, Phaolô rút ra ý nghĩa của Thánh Thể đối với các tín hữu ở Côrintô: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền cái chết của Chúa (đã phục sinh) cho đến khi Ngài đến.” (1 Cr 11,26).

Bằng cách này, Phaolô đã tóm tắt toàn bộ ý nghĩa và sứ điệp của Thánh Thể khi rao giảng cái chết của Đức Kitô – bây giờ là vô hình nhưng thật sự hữu hình trong vinh quang sống lại của ngài – trong niềm hy vọng ngài sẽ trở lại trong vinh quang khi lịch sử nhân loại kết thúc. Có một con đường thẳng đi từ những gì Phaolô đã viết cho đến lời tung hô Thánh Thể: “Khi ăn bánh và uống chén này, chúng con tuyên xưng Chúa chịu chết cho đến khi ngài đến trong vinh quang”.

Chúa Giêsu thiết lập Thánh Thể để diễn tả bằng bí tích những gì mà cái chết và sự phục sinh của ngài sẽ mang lại: có một mối dây huynh đệ thâm sâu giữa những người theo ngài, nhờ mối quan hệ của giao ước mới với Thiên Chúa, và tình huynh đệ này sẽ kéo dài mãi cho đến khi Nước Trời đến. Khi giải quyết những sự chia rẽ đã huỷ hoại cộng đoàn Kitô hữu ở Côrintô, Phaolô đi đến tận tâm điểm của vấn đề. Bằng việc cử hành Thánh Thể, họ đang tuyên xưng với nhau và với thế giới về cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu là Chúa của mình cũng như họ mong chờ ngài sẽ đến trong vinh quang. Vậy thì làm sao có thể dung dưỡng được sự chia rẽ đang làm tổn thương sự hiệp thông của họ trong thân thể của Đức Kitô?

Triển vọng vũ trụ của sự phục sinh nơi Đức Kitô

Khi đọc các thư của Thánh Phaolô, chúng ta có thể thấy một vài khai triển trong tư tưởng của ngài về sự phục sinh của Đức Kitô và tác động của nó. Ngay trong thư đầu tiên của mình, Phaolô suy nghĩ về sự phục sinh trong khuôn khổ mà những kitô hữu đồng bạn chia sẻ với ngài. Khi làm chứng cho niềm hy vọng của họ về việc Đức Kitô đến trong vinh quang, họ và Phaolô chỉ nghĩ về những thiện nam tín nữ trong các cộng đoàn Kitô hữu, những người đã chết và những người vẫn còn đang sống vào lúc Chúa đến (1 Tx 4,13-18). Tất cả mọi tín hữu sẽ cùng được chúc phúc vào lúc cuối cùng và sẽ sống mãi với Chúa phục sinh.

Mười năm hoặc đại loại nhiều năm sau đó, phạm vi tư tưởng của Phaolô về sự phục sinh đã đột nhiên mở rộng ra. Bây giờ ngài hiểu rằng sự phục sinh đang hoạt động để cho cả thế giới đã được sáng tạo này trở nên tốt đẹp hơn, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Một thời đại mới thoát khỏi cảnh suy tàn và sự chết đã bắt đầu rồi, và là sự nếm hưởng trước một vũ trụ tương lai đã được biến đổi. Dầu có ý thức về điều này hay không, tất cả nhân loại và toàn thể vũ trụ thật sự đang sống trong niềm hy vọng về một sự biến đổi vinh quang và chắc chắn sẽ đến (Rm 8,18-25).

Đó là bốn lãnh vực mà Phaolô đã khai sáng cho chúng ta về đức tin Phục Sinh của những tín hữu đầu tiên và những gì mà đức tin ấy mang đến cho cá nhân ngài. Còn nhiều điều nữa về đức tin của Ngày Phục Sinh và suy tư của Phaolô về nó, nhưng ít nhất đây là bốn lãnh vực đáng để khám phá. Nó cho chúng ta thấy Phaolô đã đóng góp những chi tiết quý giá gì vào cuộc hội ngộ của ngài với Chúa sống lại và cái nhìn riêng của ngài về sự phục sinh của Đức Kitô mang lại ý nghĩa gì cho căn tính của Thiên Chúa, cho việc cử hành Thánh Thể và niềm hy vọng Kitô giáo về toàn thể nhân loại và vũ trụ đã được sáng tạo.

Nguồn: gpquinhon.org