Cần một đối thoại ngôn sứ cho những vấn đề truyền giáo hôm nay

13/07/2020

 

CẦN MỘT ĐỐI THOẠI NGÔN SỨ CHO NHỮNG VẤN ĐỀ TRUYỀN GIÁO HÔM NAY

Lm. Phêrô Đỗ Cao Cương, SVD[1]

WHĐ (13.7.2020) – Năm nay Giáo hội kỷ niệm 100 năm ngày ban hành tông thư truyền giáo Maximum Illud. Nhìn về lại lịch sử chúng ta thấy vào năm 1919, những thập niên đầu của thế kỷ 20, trong hoàn cảnh khủng hoảng đức tin, cũng như nhưng biến cố của đại chiến thế giới thứ nhất (1914-1918), Châu Âu bước vào một cuộc phân cực sâu sắc trong xã hội, tình hình công giáo và đời sống đức tin đang trong tình trạng xáo trộn, khủng hoảng về việc truyền giáo cũng đang được đặt lại, đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ truyền giáo thế kỷ XIX. Vì thế, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XV ban hành tông thư truyền giáo Maximum Illud này với phụ đề về việc truyền bá đức tin Kitô Giáo trên khắp thế giới, là tông thư đầu tiên trong 5 thông điệp về truyền giáo được các giáo hoàng công bố trong suốt 40 năm tiếp theo cho đến công đồng Vaticanô II. Tông thư này không cung cấp một cơ sở thần học cho hoạt động truyền giáo. Các mục tiêu truyền giáo từ tông thư này cho tới công đồng Vaticanô II là chinh phục người ta trở lại đạo (conversio model) và thiết lập các giáo hội địa phương (plantatio ecclesiae model) để củng cố lại và định hướng cho sứ vụ của Giáo hội trong hoàn cảnh khủng hoảng này. Sau tông thư, Giáo hội đã đánh dấu được những khởi hứng mới mang tính quốc tế như việc thành lập Hội Đồng Truyền Giáo Quốc tế (International Missionary Council) năm 1921.[2]

Từ năm 1919 đến nay, 100 năm qua Giáo hội và thế giới chứng kiến nhiều thay đổi, Giáo hội Chính Thống Phương Đông phải đối diện với với những hậu quả của cuộc cách mạng Nga (1917), các nhà truyền giáo đối diện với tình trạng bị bắt bớ, bạo lực và bị trục xuất khỏi những nước xã hội chủ nghĩa và cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam và những nước có chế độ cộng sản nắm quyền. Các Giáo hội Châu Âu chứng kiến sự trỗi dậy của Hitler năm 1933 và Thế Chiến thứ 2 (1939-1945), sự cáo chung của chế độ thuộc địa, sự bùng nổ của nhiều cuộc chiến địa phương, làn sóng di dân, sự trỗi dậy trở lại của Hồi Giáo[3] những cuộc cách mạng về chính trị, kinh tế và truyền thông… những yếu tố đó tác động rất lớn đến thế giới, con người và hoạt động truyền giáo của Giáo hội. Trong bối cảnh thế giới, xã hội và con người đó, Giáo hội đã cố gắng tìm những phương thức định hình cho sứ vụ truyền giáo trong hoàn cảnh của toàn cầu hóa và tục hóa bằng những phương thức hội nhập và đối thoại khác nhau nhằm thăng tiến con người, trong ý thức thông truyền Đức Kitô và hội nhập những giá trị Tin Mừng vào cuộc sống bằng một sứ vụ mang tính ngôn sứ hôm nay.

1. Định Hình Những Hướng Đi Của Truyền Giáo

Dọc suốt thế kỷ 20, ngoài việc đối diện với những cuộc khủng hoảng như trình bày ở trên, người Kitô giáo (bao gồm Công Giáo và Tin Lành) lại phải chống chọi với chủ nghĩa cộng sản vô thần tại các nước Đông Âu và một số nước Á Châu, khi sự trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh xã hội và thế giới đang xáo trộn và định hình lại trật tự, sứ vụ của Giáo hội trong công việc truyền giáo lúc bấy giờ cho đến công đồng Vaticanô II, với 2 mẫu thức truyền giáo như đã nói ở trên là vẫn dựa trên 2 trường phái là cải giáo và xây dựng Giáo hội. Hai mô hình này xoay quanh chủ đề về ý muốn cứu độ của Thiên Chúa [conversio animarum thuộc trường phái Muenster (Đức)] và thiết lập giáo hội địa phương [plantatio ecclesiae thuộc trường phái Louvain (Bỉ và Pháp)]. Tuy nhiên, trong lúc làm sứ vụ và đặc biệt quan tâm đến con người là đối tượng của sứ vụ, khoa nhân chủng học truyền giáo ra đời để hỗ trợ cho sứ vụ truyền giáo. Khoa nhân chủng này được khởi xướng bởi Wilhelm Schmidt, SVD, một nhà ngôn ngữ và nhân chủng học đa tài của Dòng Ngôi Lời, ông sáng lập viện nghiên cứu Anthropos Institute để nghiên cứu về mối phát triển liên kết nhân chủng, văn hóa và tôn giáo để hỗ trợ cho việc thực hành truyền giáo.[4] Bên cạnh đó, có một sự đóng góp rất lớn cho nền thần học truyền giáo và thần học về các tôn giáo của Yves Congar, Karl Rahner và nhiều thần học gia khác đã góp phần hình thành những suy tư thần học cho Công đồng Vaticanô II. Từ đó việc tìm hiểu để biết rõ những gì liên hệ đến con người, văn hóa và các tôn giáo được quan tâm trong sứ vụ truyền giáo của Giáo hội. Để đến Công đồng Vaticanô II, có một bước đột phá trong ý hướng truyền giáo với Sắc lệnh Truyền Giáo Ad Gentes và Tuyên ngôn Tự Do Tín Ngưỡng Nostra Aetate đặt nền tảng thần học và vạch ra nhiều phương thức cho sứ vụ truyền giáo hậu công đồng mà Lumen Gentium số 16 đã định hướng nền tảng tín lý và thần học cho sứ vụ. Hiến chế đã dựa theo nền tảng thần học của thánh Tôma Aquinô và những giáo huấn truyền thống khi khẳng định rằng “những người không nhận biết Phúc âm của Chúa Kitô và Giáo hội Người, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể được cứu rỗi” (LG 16).

Để xác định lại tầm quan trọng của việc truyền giáo và bản chất của mình, Giáo hội qua Công đồng Vaticanô II xác định bản chất của mình là truyền giáo (x. AG 2), theo đó nếu Giáo hội không ý thức và không quan tâm đến sứ vụ truyền giáo của mình là mất bản chất mà mất bản chất thì Giáo hội không còn là mình nữa. Quả vậy, để đem ra một định hướng chung cho việc truyền giáo, công đồng đã dung hòa những trường phái khác nhau trong những phương thức của sứ vụ: cải giáo, xây dựng giáo hội địa phương và quan tâm đến con người trong các nền văn hóa và tôn giáo. Công đồng Vaticanô II dựa trên bối cảnh thần học này, đã cố gắng mô tả ý nghĩa đặc thù của sứ mạng truyền giáo: “(Việc) Truyền giáo là một thuật ngữ thường được dùng để chỉ ‘tất cả những công cuộc đặc biệt trong đó các nhà rao giảng Phúc Âm đã được Giáo hội sai đi khắp thế gian thực hiện nhiệm vụ rao giảng Phúc Âm, và ‘vun trồng’ Giáo hội nơi các dân tộc, cũng như những nhóm người chưa tin Chúa Kitô” (AG 6).

Tuy nhiên, với một định nghĩa cô đọng như vậy nếu không có những hướng dẫn cụ thể, chắc chắn công việc truyền giáo của Giáo hội cũng chỉ dừng lại ở lý thuyết và thần học. Vì thế, cách thức mà Giáo hội muốn và thế giới ngày nay đang cổ võ đó là làm cách nào để tiếp cận với con người. Xem ra các phương thức của đối thoại, hội nhập văn hóa, thăng tiến con người như là những cách tiếp cận của sứ vụ trong thời hiện đại này.

2. Đối Thoại Như Một Cách Tiếp Cận Cho Hướng Đi Của Truyền Giáo

Đối thoại là một thuật ngữ khá phổ biến và là một cách tiếp cận trong tương giao cuộc sống với con người ở mọi thời đại khác nhau.

Con người không thể sống mà không có đối thoại. Khi đối thoại, các đối tác của nhau sẽ hiểu nhau hơn, biết về nhau, thông cảm nhau hơn, có thể đi đến hợp tác với nhau trong nhiều lãnh vực của cuộc sống. Khi đối thoại, chắc chắn chúng ta sẽ giảm bớt được nguy cơ đối đầu, đối kháng, đối lập, đối chọi, đối chất… Mà ý nghĩa đặc thù của đối thoại là cùng khiêm nhường lắng nghe nhau và tôn trọng nhau. Vì thế, khi bàn thảo về sứ vụ truyền giáo tại Á Châu, các giám mục Á Châu đã tìm một “con đường riêng và mới để là Giáo hội tại Á Châu đó là đối thoại” để làm phương tiện cho phục vụ Tin Mừng trong thế giới đa dạng văn hóa và đa nguyên tôn giáo ngày nay, cũng như trong một xã hội phân cực giàu nghèo. Giáo hội cũng muốn tạo những tương quan với thế giới trong tinh thần đối thoại. Thật vậy, trong Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói lên ý thức sứ mạng của Giáo hội với “ước muốn đối thoại không phải chỉ là một chiến lược để chung sống hòa bình giữa các dân tộc; nó còn là một phần thiết yếu của sứ mạng Giáo hội, bởi vì nó có nguồn gốc trong cuộc đối thoại cứu rỗi đầy tình yêu của Chúa Cha với nhân loại qua Chúa Con trong quyền lực Chúa Thánh Thần.”[5] Điều này được Đức Phaolô VI định hướng theo tinh thần đổi mới của Công đồng Vaticanô II, mà thông điệp Ecclesiam Suam giới thiệu như là một phương thức truyền giáo qua đối thoại. Bản thông điệp này vẫn được mệnh danh là bản hiến chương về đối thoại của Giáo Hội. Vì trong Thông Ðiệp Ecclesiam Suam, Ðức Phaolô VI đã tuyên bố về vấn đề liên hệ giữa Giáo Hội và thế giới hiện đại, là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài viết rằng ‘sự hiện hữu của nó và sự cấp bách của nó, như thể tạo nên một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, tạo ra một sự khuyến khích, một ơn gọi’. Kể từ ngày Công đồng, Giáo hội luôn chứng tỏ mình muốn theo đuổi liên hệ đó trong tinh thần đối thoại.[6]

Tuy nhiên, ‘đối thoại cũng không được hiểu như một thủ thuật khôn khéo và tế nhị để loan truyền danh xưng và sứ điệp của Đức Kitô cho các tín hữu.’ Trong bối cảnh toàn cầu hóa hôm nay, chúng ta phải hiểu đối thoại là một chọn lựa ưu tiên trong thế giới phân cực và đa cực. Trong tiến trình đối thoại, nó thực sự và phải bao gồm một khoảnh khắc rao giảng, mỗi người rao giảng cho nhau. Vì thế ‘đối thoại hoàn toàn không thay thế việc rao giảng hay nhu cầu mời gọi sự hoán cải Kitô giáo.’ Nhưng một cách sâu xa nhất, đối thoại ngày nay là ‘quy tắc và cung cách cần thiết của mọi hình thức truyền giáo Kitô giáo.’ Vì việc truyền giáo là tham dự vào sứ vụ của Thiên Chúa, và bản tính và hành động của Thiên Chúa mang tính đối thoại. Việc Thiên Chúa tự mặc khải cho thấy một sự hiệp thông trong đối thoại được diễn tả một cách cụ thể nơi con người của Đức Giêsu, trong Giáo hội nhờ Thánh Thần. Đó là cách Thiên Chúa đối xử tự do và tôn trọng trong đối thoại đối với loài người và toàn thể tạo thành.[7] Quả vậy, Tuyên ngôn Dominus Jesus xác định: “Đối thoại chắc chắn không thể thay thế, nhưng đúng hơn, đi kèm theo sứ vụ truyền giáo, hướng về mầu nhiệm hiệp nhất từ đó mà tất cả người nam và người nữ, những kẻ được cứu chuộc, chia sẻ dù cách khác nhau, cùng một mầu nhiệm cứu độ trong Chúa Giêsu Kitô, nhờ Thần Khí của Người.”[8] Như vậy, trong việc đối thoại, một mặt ta phải luôn trân trọng những gì là chân thiện mỹ nơi các tôn giáo, nhưng mặt khác ta không thể lãng quên hay đánh mất căn tính của mình là đem Tin Mừng cho các dân tộc. Công đồng Vatican II định hướng rõ ràng cho việc đối thoại liên tôn là cùng nhau khám phá và làm triển nở những yếu tố “chân lý và ân sủng do sự hiện diện tiềm ẩn của Thiên Chúa nơi mọi tôn giáo.”[9]

3. Đối Thoại Là Quy Tắc Chung Cần Thiết Cho Mọi Hình Thức Truyền Giáo

Từ những định hướng cụ thể như đã nêu trên, và chúng ta cũng đã biết “đối thoại là quy tắc chung và là cung cách cần thiết của mọi hình thức truyền giáo Kitô giáo,” cũng như của mọi khía cạnh của nó, dù ta hiểu về nó như là một sự hiện diện và chứng tá, phục vụ đơn sơ, hay là rao giảng trực tiếp. Trong mọi hoạt động truyền giáo, dù áp dụng phương thức nào cũng phải luôn đặt trong ý thức rằng mọi ý nghĩa của truyền giáo mà không thấm nhuần một tinh thần đối thoại như thế sẽ là đi ngược lại những đòi hỏi của nhân loại đích thực và đi ngược lại các huấn giáo của Tin Mừng.[10] Khi thấy được những sức năng động của phương thức này, Văn phòng Đối Thoại Liên Tôn đã đem ra những phương cách cụ thể để quá trình đối thoại trong sứ vụ đi theo được những lộ trình nhất định nhằm đạt tới hiệu quả cho từng giai đoạn.

Hoạt động đối thoại được diễn tả trong nhiều cách mà số 42 trong văn kiện “Ðối Thoại và Rao Truyền” đã tóm tắt những hình thức có tính nguyên tắc như sau: 1) Ðối thoại bằng đời sống: Ðây là môi trường mà con người cố gắng sống trong tinh thần cởi mở và thân thiện láng giềng; cùng nhau chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, những khó khăn cũng như những lo toan của con người trong cuộc sống. 2) Ðối thoại bằng hành động: Các Kitô hữu và những người khác cộng tác với nhau trong việc phát triển toàn diện và sự tự do của các dân tộc. 3) Ðối thoại bằng cách trao đổi về thần học: Các chuyên viên đào sâu hơn sự hiểu biết của họ về các di sản của các tôn giáo và đánh giá đúng về những giá trị tinh thần của mỗi tôn giáo. 4) Ðối thoại bằng kinh nghiệm tôn giáo: Các tín đồ của các tôn giáo có thể chia sẻ cho nhau những điều tốt đẹp trong tôn giáo của mình. Chẳng hạn về vấn đề cầu nguyện, chiêm niệm, niềm tin và các cách thế tìm kiếm Thiên Chúa, tìm kiếm Ðấng Tuyệt Ðối.[11] Văn Phòng Đối Thoại Liên Tôn cũng nhấn mạnh tầm quan trọng trong đối thoại là “đừng xem thường tính cách đa dạng này của các hình thức đối thoại.”[12] (DP 43) Từ những định hướng chung đó, qua việc đối thoại, việc truyền giáo của Giáo hội có thể áp dụng cho mọi đối tượng trong sứ vụ. Như việc đối thoại liên tôn, đối thoại đại kết, đối thoại văn hóa, đối thoại với người nghèo, đối thoại với tạo vật…

Thông Điệp Redemptoris Missio số 55 đã nói về khía cạnh đối thoại cách rõràng vàchi tiết. Đối thoại liên tôn là một phần trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo hội. Hiểu như một phương pháp và phương tiện hiểu biết lẫn nhau và làm cho nhau nên phong phú, đối thoại không đối lập với sứ mạng truyền giáo; thực ra, nó liên kết đặc biệt với nhiệm vụ này và là một trong những biểu hiện của nó. Trong ánh sáng của nhiệm cục cứu độ, Giáo hội không thấy có sự xung khắc nào giữa rao giảng về Chúa Kitô và tham gia vào các cuộc đối thoại liên tôn. Thay vào đó, Giáo hội cảm thấy cần thiết phải liên kết cả hai trong bối cảnh truyền giáo. Hai yếu tố này vừa phải duy trì được sự liên kết sâu sắc đồng thời cũng phải giữ được những đặc trưng phân biệt rõ ràng.[13]

Tông huấn Giáo hội tại Á Châu xác định và nhấn mạnh việc không thể loại bỏ các nguyên tắc, cũng không nên chủ trương hòa giải giả tạo, nhưng ngược lại, phải làm chứng lẫn cho nhau để cùng nhau tiến bước trên con đường tìm kiếm và sống kinh nghiệm tôn giáo, và đồng thời loại bỏ những tiên kiến, bất bao dung và hiểu lầm. Chỉ những người có đức tin Kitô giáo trưởng thành và xác tín, mới có tư cách dấn thân vào việc đối thoại liên tôn chân chính. Chỉ những