Giáo triều Roma tĩnh tâm Mùa Chay năm 2022

Bài IV: SỰ HIỆN DIỆN ĐÍCH THỰC CỦA CHÚA GIÊSU TRONG BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Đức Hồng y Raniero Cantalamessa,
Giảng thuyết viên của Phủ Giáo hoàng
Thứ Sáu, ngày 1.4.2022

Sau những bài giáo lý giải thích về ba phần chính của Thánh lễ - đó là Phụng vụ Lời Chúa, Truyền phépHiệp lễ - hôm nay chúng ta cùng nhau suy niệm về Bí tích Thánh Thể, sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô trong Hội thánh.

Thử hỏi rằng, làm sao chúng ta có thể đối diện với một mầu nhiệm quá cao vời và quá khó hiểu như thế? Ngay lập tức, những ký ức đưa chúng ta về với vô số những lý thuyết và những cuộc thảo luận, về những sự khác biệt giữa Công giáo và Tin lành, giữa Công giáo Rôma và Chính thống giáo, vốn chứa đầy các sách thần học, mà đối với chúng ta, những người đã có một độ tuổi nhất định nào đó, đã từng nghiên cứu thần học, và chúng ta bị cám dỗ để nghĩ rằng, sẽ Không thể nói thêm bất cứ điều gì về mầu nhiệm này, hầu có thể xây dựng đức tin và sưởi ấm tâm hồn của chúng ta, mà lại không tránh khỏi việc sa vào những cuộc luận chiến giữa các hệ phái khác nhau trong Kitô giáo.

Nhưng đó lại là công trình kỳ diệu mà Chúa Thánh Linh đang thực hiện giữa tất cả các Kitô hữu ngay trong thời đại chúng ta hôm nay. Chúa Thánh Thần thúc giục chúng ta phần nào nhận ra rằng, trong những cuộc tranh luận của chúng ta về bí tích Thánh Thể, con người tự mãn của chúng ta cho rằng, có thể giam hãm mầu nhiệm cao vời này vào một mớ lý thuyết, hoặc thậm chí, vào trong một vài từ ngữ nào đó, cũng như vào tính háo thắng của mình trước đối phương. Nhưng chính Thần Khí thúc giục chúng ta cần phải sám hối ăn năn, vì đã biến bảo chứng tối cao của tình yêu thương và sự hiệp nhất mà Chúa đã để lại cho chúng ta, trở thành một đối tượng đặc quyền cho những cuộc cãi vã của chúng ta.

Phương cách để tiến tới trên con đường đại kết này về Thánh Thể, đó chính là con đường bác ái [agape] Kitô giáo, là cách thức nhìn nhận lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, hay là “những khác biệt cần được hòa giảidiferencias reconciliadas”, như lời Đức Thánh cha Phanxicô đã nói. Vấn đề không phải là bỏ qua những khác biệt thực sự, hoặc làm giảm đi học thuyết Công giáo đích thực theo một cách nào đó. Nhưng đúng hơn, đó là việc tập hợp những khía cạnh tích cực và những giá trị đích thực, vốn hiện hữu trong mỗi truyền thống lớn của Kitô giáo, để chúng ta có thể xây dựng “toàn bộ” chân lý chung, và bắt đầu lôi kéo chúng ta hướng tới sự hiệp nhất vĩnh viễn và viên mãn hơn.

Thật khó tin rằng, làm sao mà một số quan điểm Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành, xoay quanh chủ đề “sự hiện diện đích thực”, lại trở nên khác biệt giữa chúng và mang tính phá hoại nhau, khi chủ đề đó bị đặt ra đối lập với nhau và bị coi như những lựa chọn để thay thế cho nhau; trong khi chúng lại có vẻ như hội tụ với nhau một cách tuyệt vời, nếu được tổ chức cùng nhau ở trạng thái cân bằng. Chúng ta cần phải bắt đầu thực hiện một sự tổng hợp mới; chúng ta cần phải chắt lọc nơi các truyền thống lớn của Kitô giáo, để giữ lại “điều gì là tốt” trong mỗi truyền thống, như lời thánh Tông đồ đã khuyên nhủ chúng ta (x. 1Tx 5,21). Đây chính là cách duy nhất chúng ta có thể hy vọng rằng, một ngày nào đó tất cả chúng ta sẽ ngồi đồng bàn trong bữa Tiệc Thánh.

Truyền thống Công giáo Latinh: một sự hiện diện đích thực nhưng kín ẩn

Với tinh thần này, chúng ta hãy dành thời gian để xem xét kỹ hơn về ba truyền thống Thánh Thể chính yếu: Công giáo Latinh, Chính Thống giáo và Tin Lành, để khuyến khích chúng ta xây dựng những sự phong phú của mỗi truyền thống, và kết hợp tất cả những phong phú đó trong kho tàng chung của Hội thánh. Cuối cùng, ý tưởng mà chúng ta có được về mầu nhiệm hiện diện đích thực sẽ trở nên phong phú hơn và sống động hơn.

Theo nhãn quan của thần học và phụng vụ Công giáo Latinh, thời điểm truyền phép là trọng tâm không thể chối cãi của việc cử hành Bí tích Thánh Thể, từ đó chúng ta có sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô. Trong đó, chính Chúa Giêsu cử hành và truyền lệnh ở ngôi thứ nhất. Chẳng hạn như thánh Ambrôsiô đã nói rằng: “Trước khi được truyền phép thì bánh này vẫn là bánh; nhưng ngay khi lời truyền phép được thực hiện, thì bánh đã biến bản thể, trở thành Mình Chúa Kitô… Vậy việc truyền phép này được thực hiện bằng những lời nào? và những lời ấy là của ai? Thưa, đó là những lời của chính Chúa Giêsu! Tất cả những lời nguyện được đọc trước giây phút đó đều là do vị linh mục thưa lên để ngợi khen Thiên Chúa, để cầu nguyện cho dân chúng, cho các nhà lãnh đạo và cho những người khác; nhưng khi đến thời điểm truyền phép Thánh Thể, thì vị linh mục không còn dùng lời của mình nữa, mà dùng lời của chính Đức Kitô. Do đó, chính những lời của Chúa Kitô đã làm nên (conficit) bí tích này... Bạn có biết rằng những lời truyền phép của Chúa Giêsu Kitô có hiệu quả (operatorius) như thế nào không? Trước khi truyền phép thì chưa phải là Mình Chúa Kitô, nhưng sau khi truyền phép, tôi nói với bạn rằng, từ lúc đó chính là Mình Chúa Kitô. ‘Vì Người đã phán, và muôn loài xuất hiện, Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nên’ (Tv 33,9)” (thánh Ambrôsiô, Các Bí tích – De Sacramentis, IV, 14-16 (PL 16,439tt).

Từ quan điểm Công giáo Latinh, chúng ta có thể nói về tính hiện thực Kitô học. Sở dĩ nói tới “Kitô học”, là bởi vì mọi sự chú ý ở đây đều quy hướng về Chúa Kitô, được nhận thấy cả trong lịch sử và sự hiện hữu nhập thể của Người, cũng như trong đời sống của Đấng Phục Sinh; Đức Kitô vừa là đối tượng vừa là chủ thể của Bí tích Thánh Thể, nghĩa là Đấng được thực hiện trong Bí tích Thánh Thể và cũng chính là Đấng thực hiện Bí tích Thánh Thể. “Tính hiện thực” là bởi vì không những được nhìn thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu trên bàn thờ, trong một dấu chỉ hoặc biểu tượng, mà còn trong sự thật và với thực tại riêng của Người nữa. Để có thể thấy rõ được tính hiện thực Kitô học này, chúng ta đưa ra một ví dụ, trong bài thánh ca “Kính Mừng Thân Thể Thật Ave Verum Corpus”, trong đó Thánh Thể Chúa Kitô được ca ngợi là “thân xác thật, sinh ra từ Đức Trinh Nữ Maria, Người đã bị sát tế trên thập giá, và cạnh sườn Người đã bị đâm thâu, để máu cùng nước chảy ra...”

Sau đó, Công đồng Trentô đã làm sáng tỏ cách thức này tốt hơn về quan niệm của sự hiện diện đích thực, bằng cách sử dụng ba trạng từ: chân chính, thực tại, bản thể – vere, realiter, substantialiter. Chúa Giêsu hiện diện thực sự, không chỉ bằng hình ảnh, hay hình bóng; Người thực sự hiện diện, không chỉ về mặt chủ quan, đối với đức tin của các tín hữu; nhưng Người hiện diện theo bản thể, nghĩa là theo thực tại sâu sắc, là điều không thể nhìn thấy được đối với các giác quan, chứ không phải theo những vẻ bề ngoài vẫn còn là hình bánh và rượu.

Đúng là có một mối nguy cơ có thể xảy ra, đó là rơi vào một chủ nghĩa hiện thực “thô thiển”, hoặc một chủ nghĩa hiện thực cường điệu quá mức, nhưng mối nguy cơ này đã tìm thấy phương pháp khắc phục ngay trong chính bản thân truyền thống. Thánh Augustinô đã làm sáng tỏ vấn đề, một lần và vĩnh viễn, rằng sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể diễn ra “trong bí tích – in sacramento”. Nói cách khác, đó không phải là sự hiện diện về mặt thể lý, mà là một sự hiện diện bí tích, qua các dấu chỉ, chính xác là dấu chỉ bánh và rượu. Tuy nhiên, trong trường hợp này, dấu chỉ không loại trừ thực tại, nhưng làm cho thực tại hiện hữu, theo cách độc đáo duy nhất mà Đức Kitô Phục sinh “sống trong Thần Khí” (1Pr 3,18) có thể hiện diện với chúng ta, bao lâu chúng ta vẫn còn sống trên cuộc đời này.

Thánh Tôma Aquinô – “một kiến ​​trúc sư vĩ đại” khác về linh đạo Thánh Thể tại Tây phương, cùng với thánh Ambrôsiô và thánh Augustinô – cũng nói như vậy, khi nói về sự hiện diện của Chúa Kitô “theo bản thể” dưới hình bánh và hình rượu (x. thánh Tôma Aquinô, Tổng luận Thần học, III, q.75, a.4). Thật vậy, nói rằng Chúa Giêsu làm cho mình hiện diện trong Bí tích Thánh Thể với bản thể của Người, nghĩa là nói rằng, Người hiện diện với thực tại chân chính và sâu xa của Người, mà chỉ có thể đạt được nhờ đức tin. Trong bài thánh ca Adoro Te devote, phản ánh chặt chẽ tư tưởng của thánh Tôma Aquinô về Thánh Thể, và đã phục vụ hơn nhiều cuốn sách để định hình lòng đạo đức Thánh Thể trong Hội thánh Latinh, người ta nói: “Thị giác, xúc giác và vị giác, mọi thứ đều thất bại ở đây. Chỉ còn đức tin vào Lời Chúa mà thôi” – “Visus tactus gustus in te fallitur - sed Auditui solo tutorial creditur”.

Do đó, Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể một cách độc nhất vô nhị, không có ở nơi nào khác. Không một tính từ nào là đủ để mô tả sự hiện diện này; thậm chí không phải là tính từ “đích thực”. Từ ngữ hiện diện “đích thực” xuất phát từ res (sự việc) và có nghĩa là: bởi một sự việc hoặc một sự vật; nhưng Chúa Giêsu không hiện diện trong Bí tích Thánh Thể như một “sự việc” hay một sự vật, song chính là một con người. Nếu bạn thực sự muốn đặt tên cho sự hiện diện này, thì tốt hơn là chỉ nên gọi đó là sự hiện diện “Thánh Thể”, bởi vì điều này chỉ được thực hiện trong Bí tích Thánh Thể mà thôi.

Hành động của Chúa Thánh Thần: Truyền thống Chính thống giáo

Thần học Công giáo Latinh trình bày nhiều nét phong phú, nhưng không thể khai thác hết mầu nhiệm, cũng như không thể thực hiện được điều đó. Ít nhất là trong quá khứ, nền thần học này đã thiếu sự chú trọng đúng mức vào Chúa Thánh Thần, Đấng cũng rất cần thiết để hiểu về Bí tích Thánh Thể. Ở đây, chúng ta hãy nhìn sang các Hội thánh tại Đông phương, để đặt câu hỏi về truyền thống Chính thống, tuy nhiên, với một tinh thần rất khác so với trước đây: chúng ta không còn lo lắng về sự khác biệt, nhưng vui mừng vì sự hoàn thiện mà nó mang lại cho nhãn quan Công giáo Latinh của chúng ta.

Trên thực tế, trong truyền thống Chính thống giáo, hoạt động của Chúa Thánh Thần trong việc cử hành Thánh Thể rất được đề cao. Sau Công đồng Vaticanô II, những đối chiếu này đã đơm hoa kết trái. Cho tới thời điểm Công đồng Vaticanô II, trong Lễ Quy Rôma về Thánh lễ, chỉ đề cập đến Chúa Thánh Thần, như một lời xen vào vinh tụng ca kết thúc rằng: “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, và trong Đức Kitô ... trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần... Per ipsum, et cum ipso et in ipso… in unitate Spiritus Sancti…”. Tuy nhiên, cho đến nay, tất cả mọi Kinh Nguyện Thánh Thể mới đều mang một lời khẩn cầu kép về Chúa Thánh Thần: một lời cầu nguyện trên lễ vật, trước khi truyền phép, và một một lời cầu nguyện cho Hội thánh, sau khi truyền phép.

Các phụng vụ Đông phương luôn cho rằng việc nhận biết sự hiện diện thực sự của Đức Kitô trên bàn thờ là một hoạt động đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Trong Lời Nguyện Thượng Tiến [anaphore] của thánh Giacôbê, được sử dụng trong Hội thánh tại Antiôkia, Chúa Thánh Thần được cầu khẩn với những lời sau: “Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến trên chúng con, và trên những lễ vật dâng tiến Chúa đây, Thần Khí thánh của Chúa và là Đấng hằng sống, và hiển trị cùng với Chúa Cha, cùng với Chúa Con, Con Một duy nhất của Chúa Cha. Người hằng hiển trị và đồng bản thể; Người đã nói qua Lề luật, qua các ngôn sứ và trong Tân Ước; dưới hình chim bồ câu, Đấng đã xuống trên Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, tại sông Giô-đan, và đã đậu xuống trên Người; vào ngày Lễ Ngũ Tuần, dưới hình lưỡi lửa, Người giáng xuống trên các Tông đồ. Lạy Chúa, xin sai Thánh Linh rất thánh của Chúa xuống trên chúng con và trên những lễ vật dâng tiến Chúa đây, để nhờ Người đến, trong sự thánh thiện, tốt lành và vinh hiển, xin Người thánh hóa bánh này và làm cho trở nên Mình Thánh của Đức Kitô (A-men), để Người thánh hóa chén này và làm cho trở nên máu châu báu của Đức Kitô (Amen)”.

Ở đây, còn nhiều điều hơn là sự bổ sung đơn giản của việc cầu khẩn Chúa Thánh Thần. Có một cái nhìn bao quát và xuyên suốt vào toàn bộ lịch sử cứu độ giúp khám phá một chiều kích mới của mầu nhiệm Thánh Thể. Khởi đi từ những lời Kinh Tin Kính Nicê-Constantinopoli định nghĩa Chúa Thánh Thần là “Chúa” và là “Đấng ban sự sống”, “Đấng đã dùng các tiên tri mà phán dạy”, viễn cảnh được mở rộng để hướng theo một “lịch sử” thực sự về hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Bí tích Thánh Thể hoàn thành chuỗi can thiệp phi thường này. Chúa Thánh Thần, Đấng vào ngày lễ Phục sinh, đã ùa vào trong mồ trống và “chạm vào” thân xác bất động của Đức Giêsu, làm cho thân xác ấy sống lại, Chúa Thánh Thần lặp lại sự kỳ diệu này trong Bí tích Thánh Thể. Người xuống trên bánh và rượu là những yếu tố không có sinh khí và ban cho sự sống, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu của Đấng Cứu Thế. Quả thật - như chính Chúa Giêsu đã nói về Bí tích Thánh Thể - “chính Thần Khí là Đấng ban sự sống” (Ga 6,63). Một đại diện lớn của truyền thống Thánh Thể Đông phương, thánh Theôđôrê Antiôkia đã viết:

“Nhờ cử hành phụng vụ, Chúa chúng ta, Đấng đã sống lại từ cõi chết, và tuôn đổ hồng ân của Người trên tất cả chúng ta, nhờ Chúa Thánh Thần hiện xuống ... Khi vị chủ tế tuyên bố rằng bánh này và rượu này là Mình và Máu Đức Kitô, thì ngài khẳng định rằng bánh rượu đã trở nên Mình Máu Chúa nhờ ơn tác động của Chúa Thánh Thần. Điều đã xảy ra như vậy với thân thể tự nhiên của Đức Kitô, khi Người nhận được Thần Khí và sự xức dầu của Thánh Thần. Vào thời điểm đó, khi Thánh Thần ngự đến, chúng ta tin rằng bánh và rượu nhận được một loại xức dầu của ân sủng. Và kể từ đó, chúng ta tin rằng bánh này và rượu này trở thành Mình và Máu Chúa Kitô, từ bản chất, Thánh Thể trở thành bất tử, bất hoại, bất khả thụ nạn [không thể đau khổ] và bất biến về bản thể nữa, trở nên giống như chính thân thể phục sinh của Đức Kitô” (thánh Theôđôrô Antiôkia, Omelie catechetiche, XVI,11tt (Studi e Testi 145, tr. 551tt).

Tuy nhiên, điều quan trọng cần ghi nhớ, cho phép chúng ta thấy rằng, ngay cả truyền thống Latinh cũng có một điều gì đó để cung cấp cho các anh em Chính thống giáo. Chúa Thánh Thần không hành động riêng rẽ với Chúa Giêsu, nhưng hành động trong chính lời của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nói về Thần Khí như sau: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, ... Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,13-14). Đây là lý do tại sao chúng ta không được tách những lời của Chúa Giêsu (“Này là Mình Thầy”) với những lời nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần - Epiclesis (“Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho bánh này trở nên Mình Chúa Kitô”).

Lời kêu gọi hiệp nhất, đối với anh em Công giáo và Chính thống giáo, dấy lên từ sâu thẳm của mầu nhiệm Thánh Thể. Tuy nhiên, ngay cả khi, ngoài sự cần thiết, việc tưởng niệm cử hành bí tích Thánh Thể và sự cầu khẩn Chúa Thánh Thần diễn ra trong những thời điểm riêng biệt (con người không thể diễn tả mầu nhiệm chỉ trong một khoảnh khắc), thì hành động của Đức Kitô và Thần Khí vẫn liên kết với nhau. Hiệu quả chắc chắn đến từ Thánh Linh (chứ không phải từ linh mục, cũng không phải từ Hội thánh), nhưng hiệu quả này được thực hiện trong lời của Đức Kitô và qua lời ấy. - Tôi nói - hiệu quả khiến Chúa Giêsu hiện diện trên bàn thờ không đến từ Hội thánh, nhưng - tôi nói thêm rằng - điều đó sẽ không xảy ra nếu không có Hội thánh. Bởi Hội thánh là khí cụ sống động mà Chúa Thánh Thần hoạt động, ngang qua Hội thánh và cùng với Hội thánh. Điều đó xảy ra, đối với sự hiện hiện của Chúa Giêsu trên bàn thờ, cũng như Người sẽ ngự đến trong vinh quang vào ngày chung thẩm: “Thần Khí và Tân Nương” (là Hội thánh!) “hãy nói” với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Kh 22,17.20). Và Người ngự đến.

Tầm quan trọng của đức tin: Linh đạo của Tin lành

Truyền thống Công giáo Latinh đã nêu bật “ai” hiện diện trong Bí tích Thánh Thể: đó chính là Đức Kitô; còn truyền thống Chính thống đã nêu bật Đức Kitô hiện diện bởi “ai”: thưa, bởi Chúa Thánh Thần; Thần học Tin lành làm nổi bật sự hiện diện này hoạt động trên “ai”: nói cách khác, bí tích hoạt động trong những điều kiện nào, trên thực tế, bí tích hoạt động trên người lãnh nhận. Những điều kiện này khác nhau, nhưng chúng có thể được tóm gọn trong một từ: đó là đức tin.

Chúng ta đừng dừng lại ngay lập tức ở những hậu quả tiêu cực, được rút ra, trong những giai đoạn nhất định, từ nguyên tắc của Tin lành, mà theo đó cho rằng, các bí tích không gì khác hơn ngoài “dấu chỉ của đức tin”. Chúng ta hãy vượt ra khỏi những hiểu lầm và tranh cãi, và sau đó, chúng ta thấy rằng lời kêu gọi đức tin tràn đầy năng lượng này là hành động chính xác để cứu bí tích và không làm cho bí tích hết hiệu lực đối với một trong những “việc tốt lành”, hoặc đối với một điều gì đó hoạt động một cách máy móc và mang tính ma thuật, hầu như không được biết đến đối với con người. Về cơ bản, vấn đề đặt ra là khám phá ý nghĩa sâu xa của lời chúc tụng mà phụng vụ vang lên ở cuối lời truyền phép, và một khi chúng ta nhớ lại, thậm chí còn được đưa vào trung tâm của công thức truyền phép, như thể để nhấn mạnh rằng, đức tin đó chính là một phần thiết yếu của mầu nhiệm: Mầu nhiệm đức tin! [Mysterium fidei!].

Đức tin không “làm” nên bí tích mà chỉ “lãnh nhận” bí tích. Chỉ lời của Đức Kitô được Hội thánh lặp lại và được Chúa Thánh Thần thực hiện mới “làm nên” bí tích mà thôi. Nhưng bí tích sẽ có ích lợi gì nếu như bí tích không được chúng ta “lãnh nhận”? Về việc Nhập thể, những người như Ôrigen, thánh Augustinô, thánh Bênađô, đã bày tỏ suy tư này: “Đức Kitô đã được sinh ra một lần bởi Đức Maria, tại Bêlem, nhưng nếu Người không tiếp tục được sinh ra trong tâm hồn tôi, bởi đức tin, thì liệu có ích gì cho tôi chăng?” Điều tương tự cũng phải được nói về Bí tích Thánh Thể như thế; Đức Kitô thực sự hiện diện trên bàn thờ có ích gì cho tôi nếu như không phải là Người hiện diện với tôi và cho tôi? Ngay tại thời điểm Chúa Giêsu hiện diện trần gian, đức tin là cần thiết; Sự hiện diện của Người sẽ chẳng đem lại lợi ích chi đối với những kẻ không tin, ngoại trừ như một lời kết án, như chính Người đã lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng rằng: “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! khốn cho ngươi, hỡi Ca-phác-na-um!” (Mt 11,21-23).

Đức tin là một điều cần thiết để làm cho sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể không chỉ là chắc chắn “đích thực”, mà còn mang tính “riêng tư cá nhân”, nghĩa là một sự hiện diện sống động gặp gỡ giữa hai chủ thể, diện đối diện. “Sự hiện diện” sống động thì khác với việc “ở lại đó” một cách thụ động, vô hồn. Sự hiện diện đặt ra trước một người đang có mặt với người kia, sự hiện diện này giả định rằng phải có một sự tương giao kết nối với nhau, một sự trao đổi giữa hai chủ thể tự do nhận thức và cởi mở đối với nhau. Vì thế, sự hiện diện này mang nhiều ý nghĩa tương tác hơn là chỉ ở lại một nơi nhất định nào đó, mà không đem lại ý nghĩa gì.

Chiều kích chủ quan và hiện sinh như vậy của sự hiện diện Thánh Thể không làm mất đi sự hiện diện khách quan đi trước đức tin của con người, nhưng đúng hơn là giả thiết và nâng cao đức tin ấy. Lutherô, một người rất đề cao vai trò của đức tin, cũng là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ nhất giáo lý về sự hiện diện đích thực của Chúa Kitô trong Thánh Thể. Trong quá trình tranh luận với các nhà cải cách khác về vấn đề này, ông đã tuyên bố một cách mạnh mẽ rằng:

“Tôi không thể hiểu những hạn từ ‘Này là Mình Thầy’, khác với những gì mà hạn từ ấy đã phát ra. Do đó, những người khác phải chứng minh được rằng, khi có lời nói: ‘Này là Mình Thầy’, thì thân thể của Đức Kitô không ở đó. Tôi không muốn nghe những lời cắt nghĩa chỉ dựa trên lý trí. Đối diện với những lời rõ ràng như vậy, tôi không nhìn nhận những thắc mắc; Tôi bác bỏ mọi lý lẽ tầm thường và lý trí lành mạnh của con người. Tôi hoàn toàn bác bỏ những chứng minh thực tế và lập luận phân tích. Bởi vì Thiên Chúa thì cao cả hơn bất kỳ một loại toán học nào, và Lời Chúa phải được tôn thờ và ứng nghiệm một cách đầy kinh ngạc” (x. Atti del colloquio di Marburgo del 1529 (Opere di Lutero, ed. di Weimar, 30, 3, tr. 110tt).

Một cái nhìn thoáng qua mà chúng ta có được về sự phong phú nơi các truyền thống Kitô giáo khác nhau cũng đủ để làm cho chúng ta nhận ra một ân huệ lớn lao, đã được mặc khải cho Hội thánh là như thế nào, khi các hệ phái Kitô khác nhau quyết định chia sẻ di sản thiêng liêng của mình, cũng như các Kitô hữu thời sơ khai, những người mà Sách Thánh nói rằng “họ để mọi sự làm của chung” (Cv 2,44). Đây chính là niềm vui bác ái [agape] cao cả nhất, trong chiều kích của toàn thể Hội thánh, điều mà chính Chúa đã đặt để trong tâm hồn chúng ta, một khát khao được nhìn thấy đức ái đó, như thế, vị Cha chung của tất cả chúng ta sẽ vui mừng, và Hội thánh của Người sẽ được củng cố.

Cảm thức về sự hiện diện

Chúng ta đã đi đến phần kết của cuộc hành hương Thánh Thể ngắn ngủi của mình qua các hệ phái Kitô giáo khác nhau. Chúng ta cũng đã thu lại vào giỏ những mẩu bánh dư thừa còn sót lại từ phép lạ hóa bánh ra nhiều, diễn ra trong Hội thánh. Nhưng chúng ta không thể khép lại việc suy gẫm về mầu nhiệm của sự hiện diện đích thực ở đây. Điều đó sẽ giống như việc thu lại những mẩu bánh vụn và không ăn chúng. Đức tin vào sự hiện diện đích thực chính là một điều tuyệt vời, nhưng điều đó chưa đủ đối với chúng ta; ít nhất là đức tin được hiểu theo một cách nào đó. Ý tưởng cởi mở và hoàn hảo về mặt đại kết, về mặt thần học, về sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể là chưa đủ. Có biết bao trong số các nhà thần học biết mọi điều về mầu nhiệm này; nhưng họ lại không biết tới “sự hiện diện thật”. Bởi vì theo nghĩa Kinh Thánh thì “biết” một điều, chính là những người đã kinh nghiệm về điều đó rồi. Chỉ những ai, ít nhất hơn một lần, đã thực sự chạm vào lửa thì mới biết được lửa là gì...

Thánh Grêgôriô Nadien đã để lại cho chúng ta một biểu hiện tuyệt vời để chỉ ra mức độ đức tin cao nhất này; thánh nhân nói tới “cảm thức về sự hiện diện – aisthesis tes parusias” (Thánh Grêgôriô, Về sách Diễm CaSul Cantico, XI, 5, 2 [PG 44, 1001]). Điều xảy ra khi một người được nắm bắt bởi sự hiện diện của Thiên Chúa, có một nhận thức nhất định (không chỉ là một ý tưởng) rằng Người đang hiện diện. Đây không phải là một nhận thức tự nhiên; đó là kết quả của một ân sủng có tác dụng như một bước đột phá về cấp độ, một bước nhảy vọt về phẩm chất.

Có một sự tương tự rất mạnh mẽ với những gì đã xảy ra khi sau khi Phục sinh, Chúa Giêsu đã để cho một ai đó nhận ra Người. Đó là một điều bất ngờ, đột ngột, làm thay đổi hoàn toàn tâm trạng của một con người.

Một ngày nọ, sau khi phục sinh, các môn đệ đang đánh cá trên biển hồ; một người xuất hiện trên bờ biển. Một cuộc đối thoại từ xa được thiết lập: “Này các chú, không có gì ăn ư?”; các ông trả lời: “Thưa không!” Nhưng kìa, một tia sáng lóe lên trong lòng Gioan, ông bắt đầu kêu lên: “Chúa đó!” Rồi mọi thứ thay đổi, và rồi họ cùng nhau vào bờ (x. Ga 21,4tt). Điều tương tự cũng xảy ra với hai môn đệ trên đường Emmaus; Đức Giêsu cùng đi với họ, “nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người”; cuối cùng, qua hành động bẻ bánh, “mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,13tt). Ở đây, một điều tương tự cũng xảy ra vào ngày mà một người Kitô hữu, sau khi đã nhiều lần lãnh nhận Chúa Giêsu Thánh Thể, nhưng cuối cùng, qua một quà tặng ân sủng, họ đã bất ngờ “nhận ra” Chúa thật.

Từ đức tin, và từ “cảm thức” về sự hiện diện đích thực, lòng sùng kính, và hơn thế nữa, sự dịu dàng đối với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể phải được tự bộc phát ra. Đây là một cảm thức cá nhân và tinh tế, đến mức, bạn có nguy cơ thay đổi cảm thức đó chỉ bằng cách nói về nó. Thánh Phanxicô Assisi đã có tấm lòng đầy ắp những tâm tình như thế đối với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Thánh nhân bị xúc động trước ảnh Thánh Nhan Chúa Giêsu, như ở Greccio; thánh Phanxicô cũng bị xúc động trước Hài Nhi tại Bêlem, thật bất lực, phó thác trong tay nhân loại chúng ta, thật khiêm tốn hèn mọn quá!

Trong Thư gửi toàn thể Dòng, thánh Phanxicô viết những lời đầy lửa mến mà giờ đây chúng ta muốn nghe, như ngài đang nói với chúng ta ngay vào lúc này, khi kết thúc bài suy niệm về sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể:

Hỡi các anh em linh mục, hãy quan tâm tới phẩm giá của anh em, và hãy sống thánh thiện, bởi vì Người là Đấng thánh ... Sẽ là một sự khốn khổ lớn lao, và thật khốn nạn, nếu Người đang hiện diện được cầm trong tay anh em, mà anh em lại chiếm lấy cho mình bằng một điều gì khác trên trần gian này! Toàn thể nhân loại run rẩy, toàn thể vũ trụ rung chuyển, và thiên đàng vui mừng, khi Đức Kitô, Con Đức Chúa Trời hằng sống, ngự trên bàn thờ, trong tay vị chủ tế! Hỡi sự cao cả đáng ngưỡng mộ, sự tốt lành đáng kinh ngạc!

Hỡi sự khiêm nhường siêu phàm! Hỡi sự khiêm nhường thăng hoa! xin Chúa của vũ trụ, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, vì ơn cứu rỗi của chúng ta, đã hạ mình xuống đến độ ẩn mình dưới hình một tấm bánh nhỏ bé!

Hỡi anh em, hãy chiêm ngưỡng sự khiêm nhường của Thiên Chúa, và hãy tôn kính Người trong lòng anh em; hãy hạ mình xuống, để anh em có thể được Người nâng lên. Do đó, đừng giữ cho riêng mình điều gì, để anh em hoàn toàn có thể nhận được Đấng đã tự hiến hoàn toàn cho anh em.

Chuyển ngữ: Giuse Phan Văn Phi, O.Cist.[1]
Dịch từ nguyên tác tiếng Ý tại 
cantalamessa.org
WHĐ (03.4.2022)




1. AMBROGIO, De sacramentis, IV, 14-16 (PL 16, 439 ss).

2. Cf TOMMASO D’AQUINO, Summa theologiae III, q. 75, a. 4.

3. TEODORO DI MOPSUESTIA, Omelie catechetiche, XVI, 11 s (Studi e Testi 145, pp. 551 s).

4. Cf Atti del colloquio di Marburgo del 1529 (Opere di Lutero, ed. di Weimar, 30, 3, p. 110 ss).

5. GREGORIO NISSENO, Sul Cantico, XI, 5, 2 (PG 44, 1001) .



[1] Giuse Phan Văn Phi O.Cist. đã đăng ký bản quyền dịchxuất bản ấn phẩm này tại Việt Nam, theo luật bản quyền và xuất bản.