|
4.2. Cùng nhau, quanh bếp than hồng |
1. DẪN NHẬP
Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng về tính hiệp hành khẳng định:
“Ngay từ đầu, Giáo hội đã nhìn nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống của những người nam nữ đã chọn bước theo Chúa Kitô trên con đường của những lời khuyên Phúc âm, tận hiến mình để phục vụ Thiên Chúa trong việc chiêm niệm và trong nhiều hình thức phục vụ khác nhau. Đời sống thánh hiến được kêu gọi để chất vấn Giáo hội và xã hội bằng tiếng nói ngôn sứ của mình. Trong suốt lịch sử kéo dài qua nhiều thế kỷ, các hình thức đời sống thánh hiến khác nhau đã phát triển những gì mà ngày nay chúng ta nhìn nhận là những thực hành của lối sống hiệp hành. Những thực hành này bao gồm cách thực hiện phân định chung, và cách hài hòa các đặc sủng cá nhân với nhau, cũng như cách theo đuổi sứ vụ chung. Các dòng tu, các tu đoàn đời sống tông đồ, các tu hội đời cũng như các hiệp hội, các phong trào và các cộng đoàn mới có sự đóng góp đặc biệt vào việc phát triển tính hiệp hành trong Giáo hội. Ngày nay, nhiều cộng đoàn đời sống thánh hiến là một phòng thí nghiệm về đời sống liên văn hóa, đó là lời ngôn sứ cho Giáo hội và thế giới”[1]
Đoạn văn này của Văn kiện Chung kết đã gợi mở nhiều trực giác quan trọng về đời sống thánh hiến có thể trở thành một dấu chỉ của hy vọng như thế nào trong bối cảnh hôm nay. Văn kiện đề cập đến tính ngôn sứ, tính hiệp hành, việc phân định cộng đoàn, sự hòa hợp giữa các ân huệ cá nhân với sứ mạng chung, cũng như chiều kích liên văn hóa.
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau trở lại một số lộ trình của hy vọng trong đời sống thánh hiến. Chúng ta sẽ thực hiện điều này không theo lối diễn đạt thuần khái niệm, mà theo một nhịp điệu mang tính gợi mở hơn, lấy cảm hứng từ các hình ảnh, các trình thuật Kinh thánh và những biểu tượng mang tính hiện sinh.
2. THỜI KHẮC CỦA MẶT TRĂNG
Với tư cách là một nhà thừa sai, với xác tín rằng sứ mạng không chỉ là gieo vãi mà còn, và trên hết, là gặt hái sự sống mà Thiên Chúa làm cho lớn lên nơi con người và giữa các dân tộc, tôi xin được khởi đầu suy tư này bằng việc lấy cảm hứng từ một hai câu tục ngữ của dân tộc Makua tại Mozambique:
Thiên Chúa không giống như mặt trời du hành đơn độc qua thế giới, nhưng giống như mặt trăng đồng hành với các vì sao.
Nếu mặt trăng có một trái tim xấu, chúng ta sẽ không thấy được các vì sao.
Đối với người Makua, mặt trăng là ngôi sao khiêm hạ soi sáng đêm đen, làm cho màn đêm trở nên huyền diệu và cuốn hút. Mặt trăng được gọi là ngôi sao khiêm hạ bởi vì, theo lối diễn đạt của sự khôn ngoan dân gian, trong khi mặt trời rực cháy trên bầu trời ban ngày và làm lu mờ ánh sáng của các vì sao khác, thì mặt trăng lại chọn cùng tồn tại với ánh sáng của các vì sao và hành tinh trong bầu trời đêm. Với người Makua, mặt trời du hành đơn độc, là vị vua và là chúa tể duy nhất của ban ngày. Trái lại, mặt trăng di chuyển trong sự đồng hành, cư ngụ trong chân trời của hiệp thông và chia sẻ, nơi mà đêm tối, như thời khắc của sự thân mật, tìm được cách biểu đạt ưu tuyển của mình.
Khi mặt trời mọc, nó làm tắt ánh sao. Ngược lại, mặt trăng tỏa sáng trong đêm, và ánh sáng của nó, phản chiếu nơi các vì sao, làm cho vẻ huy hoàng của bầu trời càng thêm rực rỡ. Mặt trời chói lọi đến mức không thể nhìn thẳng vào nó. Còn mặt trăng thì có thể chiêm ngắm; con người có thể thưởng ngoạn bầu trời đầy sao và tìm được nguồn cảm hứng nơi ánh sáng dịu dàng của nó.
Hình ảnh bầu trời đầy sao mà sự khôn ngoan Makua gợi lên cho chúng ta có thể trở thành một tấm gương phản chiếu bối cảnh mang tính xã hội và Giáo hội hiện nay, vốn được đặc trưng bởi sự đa dạng về tư tưởng, phong trào, chủ thể, và những cách thế hiểu và sống sứ mạng khác nhau. Trong vũ điệu của vũ trụ, nơi cư ngụ của một sự đa dạng đáng kinh ngạc của các vì sao, là những người nam nữ thánh hiến, chúng ta cảm nhận được lời mời gọi bước vào một tiến trình rà soát lành mạnh và một hành trình hoán cải hướng về căn tính sâu xa nhất của mình. Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng về tính hiệp hành xác định hoán cải như sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ văn kiện: hoán cải của con tim, của các mối tương quan, của các tiến trình và của các mối liên kết.
Chúng ta nhận ra rằng, trong suốt lịch sử của mình, phần nào giống như mặt trời trong các tục ngữ Makua, chúng ta đã không ít lần rơi vào cám dỗ đo lường hiệu quả Tin mừng bằng thước đo của “ánh sáng riêng mình”, thứ ánh sáng rực rỡ đến mức làm lu mờ ánh sáng của các vì sao khác, một sự tự mãn phát sáng. Bối cảnh đa sắc hiện nay, cùng với ý thức ngày càng sắc nét về sự nhỏ bé của mình – được nuôi dưỡng bởi sự suy giảm về số lượng và tình trạng lão hóa – thúc đẩy chúng ta đón nhận một phong cách hiện diện hiệp hành, trong đó cách biểu đạt “mang tính mặt trăng” tìm được vị trí thích hợp: những ngôi sao khiêm hạ được mời gọi cùng với các vì sao và hành tinh khác chiếu sáng bầu trời đêm của thời đại chúng ta.
Tài liệu làm việc (Instrumentum Laboris) cho Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng lần thứ XVI đã gợi lên hình ảnh mặt trăng một cách sâu sắc qua những lời sau đây:
“Đức Kitô là Ánh sáng của muôn dân” (LG, số 1), và ánh sáng này chiếu trên khuôn mặt của Giáo hội, vốn “ở trong Đức Kitô như một Bí tích hay một dấu chỉ khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (sđd). Giống như mặt trăng, Giáo hội tỏa sáng với ánh sáng phản chiếu: do đó, Giáo hội không thể hiểu sứ mệnh của mình một cách tự quy chiếu nhưng nhận trách nhiệm trở thành Bí tích của những mối dây, những mối tương giao và hiệp thông để phục vụ sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại. Chúng ta gánh trách nhiệm này trong thời đại hiện đang bị thống trị bởi cuộc khủng hoảng về sự tham gia, sự thiếu vắng ý thức rằng chúng ta có một số phận chung, và một quan niệm quá thường mang tính cá nhân chủ nghĩa về hạnh phúc và do đó, về sự cứu rỗi. Khi thực hiện sứ mạng này, Giáo hội truyền đạt kế hoạch của Thiên Chúa nhằm hiệp nhất toàn thể nhân loại với chính Người trong ơn cứu độ. Khi làm như vậy, nó không tự tuyên bố “nhưng là Đức Giêsu Kitô” (2Cr 4,5). Nếu không như vậy, nó sẽ mất đi sự hiện hữu của nó trong Đức Kitô “như một Bí tích” (x. LG, số 1) và do đó, mất đi căn tính và lý do tồn tại của chính nó. Trên đường tới sự viên mãn, Giáo hội là Bí tích của Nước Thiên Chúa trên trần gian.[2]
“Uống nước từ mạch suối đang vọt lên và tuôn chảy… dù là ban đêm”: Đây là chủ đề của Đại hội Toàn thể năm 2010 của Liên hiệp Quốc tế các Bề trên Tổng quyền. Thật vậy, thời đại của chúng ta có thể được xem như một đêm tối: mặt trời đã lặn, và đây là thời khắc của mặt trăng. Ánh sáng trực tiếp nhường chỗ cho ánh sáng phản chiếu. Chính đây là thời điểm mà các đường nét của thực tại không còn sắc nét. Đồng thời, đây cũng là lúc những “bóng ma” đang ngủ yên thức dậy trong chúng ta và giữa chúng ta, mang hình hài của muôn vàn câu hỏi, của sự bất định và nỗi sợ: Chúng ta là ai? Chúng ta đang đi về đâu? Chúng ta sẽ trở thành điều gì? Chúng ta sẽ kết thúc ở đâu? … Liệu chúng ta có đi đến hồi kết không?
Đêm tối có thể đáng sợ. Nhưng đêm cũng là thời khắc thuận lợi nhất cho sự sáng tạo. Ánh sáng mờ ảo của mặt trăng mở ra một không gian của tự do, cho phép những người tìm kiếm không chỉ nhìn bằng đôi mắt, mà còn tưởng tượng, cảm nhận và trực giác. Mặt trăng phục hồi thị giác nội tâm. Mặt trăng dẫn chúng ta đến với điều vô hình. Đến thời khắc của những giấc mơ. Đến thời khắc của sự thân mật. Đến thời khắc của việc trở về với những câu hỏi nền tảng. Một thời khắc của sự sống và cái chết, của thụ thai và hạ sinh, của hy vọng, chờ đợi và biến đổi. Chúng ta cảm nhận thách đố này tận trong xương cốt mỗi ngày: Thách đố đọc ra các dấu chỉ của thời khắc đêm tối này và diễn giải chúng dưới ánh sáng của Tin mừng.
Đây là “giờ của chúng ta”. Không phải là giờ của mặt trời chói lòa và cô độc, nhưng là giờ của ngôi sao khiêm hạ tỏa sáng trong sự đồng hành. Là đêm tối trong đó chúng ta được mời gọi phục hồi thị giác nội tâm để nhận ra điều cốt yếu, và giải thoát mình khỏi những ánh sáng phù du của tất cả những gì không phải là Tin mừng. Là đêm tối trong đó chúng ta cảm thức sâu xa nhu cầu tái khám phá những giá trị đích thực của sự thánh hiến. Một đêm tối trong đó, với tư cách là cá nhân, là cộng đoàn, là các tu hội và là toàn thể đời sống thánh hiến, chúng ta cảm thấy một sự trỗi dậy từ sâu thẳm, đôi khi một cách đau đớn và mãnh liệt, sự cuốn hút để “trở về với trung tâm”, được hiểu như ngọn lửa cốt lõi làm sinh động ơn gọi của chúng ta.
Đây là giờ của chúng ta: Hãy nắm bắt giờ khắc này như một thời gian lao nhọc trong đêm, như khúc dạo đầu cho tiếng khóc chào đời của một sự sống mới, tất yếu là nhỏ bé và không vũ trang. Chính đêm tối. Một đêm hồng phúc. Đêm Vọng. Đêm Phục sinh. Đêm tái sinh.
3. THỜI KHẮC CỦA NGÔN SỨ
Simêon và Anna (Lc 2,22–38)
Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Môsê, bà Maria và ông Giuse đem con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, (23) như đã chép trong Luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa", (24) và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. (25) Và này đây, tại Giêrusalem, có một người tên là Simêon. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. (26) Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Ðấng Kitô của Ðức Chúa. (27) Ðược Thần Khí dun dủi, ông lên Ðền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giêsu đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người, (28) thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:
(29) Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
(30) Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
(31) Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
(32) Ðó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ítraen Dân Ngài.
(33) Cha mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Simêon vừa nói về Người. (34) Ông Simêon chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Maria, mẹ của Hài Nhi: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng (35) còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra.
(36) Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là Anna, con ông Pơnuen, thuộc chi tộc Ase. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, (37) rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Ðền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa. (38) Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ gặp ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giêrusalem.
Ông Simêon và bà Anna giới thiệu cho chúng ta một lộ trình hy vọng khác: lộ trình của ngôn sứ. Trong Kinh thánh, ngôn sứ
là sứ giả của Thiên Chúa theo nghĩa trọn vẹn nhất: vừa siêu việt vừa mang chiều kích cá vị. (…) Các thuật ngữ dùng để chỉ ngôn sứ rất phong phú. Thuật ngữ nabî’ xuất hiện 315 lần, có lẽ mang nghĩa “người được kêu gọi”, tức là người được thúc đẩy bởi một can thiệp thần linh trong chính cuộc đời mình. Ngôn sứ Amốt (thế kỷ VIII trước Công nguyên) đã nhắc lại: “"Tôi không phải là ngôn sứ, cũng chẳng phải là người thuộc nhóm ngôn sứ. Tôi chỉ là người chăn nuôi súc vật và chăm sóc cây sung. 15 Chính Ðức Chúa đã bắt lấy tôi khi tôi đi theo sau đàn vật, và Ðức Chúa đã truyền cho tôi: "Hãy đi tuyên sấm cho Ítrael dân Ta" (Am 7,14–15). Một cách gọi khác là “người của Thiên Chúa”, được lặp lại 76 lần, đặc biệt dành cho Êlia và Êlisa, những ngôn sứ đầu tiên theo nghĩa chặt, dù các tác phẩm của các ngài không được lưu truyền đến chúng ta. Chúng ta chỉ có những trình thuật tiểu sử, đầy những chi tiết sinh động (“fioretti”), được ghi lại trong các sách Các vua. Còn có thuật ngữ hôzeh, nghĩa là “người thị kiến” (xuất hiện 16 lần), liên kết với ro’eh, “thị nhân” (11 lần), điểm nổi bật ở đây là sự hiện diện của một thị kiến siêu việt, qua đó sứ điệp thần linh được mặc khải. Tuy nhiên, bản Kinh thánh Hy Lạp cổ, tức bản Bảy mươi (Septuaginta), cũng như Tân ước, đã sử dụng từ Hy Lạp profētēs, bao hàm động từ phēmí (“nói”) và giới từ pró, mang 3 ý nghĩa quan trọng để định nghĩa sứ mạng ngôn sứ: “thay cho, trước, trước mặt”. Ý nghĩa thứ nhất có tính quyết định: ngôn sứ nói “nhân danh Thiên Chúa”; là phát ngôn viên của Thiên Chúa trước dân chúng. Chính vì chức năng này, ngôn sứ là con người của hiện tại hơn là của một tương lai mù mờ; ngôn sứ dấn thân vào lịch sử, vào xã hội, và vào những bi kịch của thời đại mình.[3]
Ông Simêon và bà Anna là hai dung mạo ngôn sứ xuất hiện như những tia sáng trong Tin mừng Luca, nơi trình thuật Chúa Giêsu được dâng vào Đền thờ, rồi lập tức biến mất, tựa như ngôi sao trong Tin mừng Mátthêu đã dẫn đường cho các đạo sĩ đến Bêlem. Chúng ta hãy thử hòa mình vào vệt ánh sáng ấm áp và hiền hòa mà các ngài để lại. Khung cảnh Tin mừng được đánh dấu bởi một chuỗi những chuyển động. Trước hết là chuyển động của sự chờ đợi, nơi ông Simêon biểu lộ sự tỉnh thức và nhạy bén đầy yêu mến đối với Thánh Thần. Thánh Thần chạm đến ông, ngụ trong ông và thúc đẩy ông. Thánh Thần lay động thân xác, trí tuệ, con tim, giác quan bên ngoài và cảm thức nội tâm của ông - tất cả đều mở ra, sống động trọn vẹn, được tinh luyện bởi một khát vọng yêu mến.
Đức Giáo hoàng Phanxicô, trong một bài giáo lý về hình ảnh ông Simêon, đã diễn tả như sau:
Chúng ta học được rằng sự trung tín trong chờ đợi làm sắc bén các giác quan. Hơn nữa, như chúng ta biết, chính Chúa Thánh Thần thực hiện điều này: Người soi sáng các giác quan. Trong thánh thi cổ Veni Creator Spiritus, mà ngày nay chúng ta vẫn dùng để khẩn cầu Chúa Thánh Thần, chúng ta thưa: “Accende lumen sensibus”, (hướng dẫn tâm can chúng con), soi sáng các giác quan của chúng con. Chúa Thánh Thần có khả năng thực hiện điều này: làm cho các giác quan của linh hồn trở nên nhạy bén.[4]
Cũng theo lời Đức Thánh Cha,
Chúa Thánh Thần là nhân vật chính trong khung cảnh này. Chính Thánh Thần làm cho con tim ông Simêon bừng cháy khát vọng tìm kiếm Thiên Chúa. Ngài giữ cho niềm mong đợi luôn sống động trong lòng ông; Ngài thúc đẩy ông đến Đền thờ và ban cho đôi mắt ông khả năng nhận ra Đấng Mêsia, ngay cả trong hình hài của một trẻ thơ nghèo hèn. Đó chính là điều Chúa Thánh Thần thực hiện: Ngài giúp chúng ta phân định sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa không phải trong những điều vĩ đại, trong vẻ bề ngoài huy hoàng hay biểu dương sức mạnh, mà trong sự bé nhỏ và mong manh. Hãy nghĩ đến Thập giá. Tại đó cũng có sự bé nhỏ và mong manh, nhưng đồng thời cũng có điều kịch tính: quyền năng của Thiên Chúa. (…)
Đôi mắt chúng ta nhìn thấy điều gì? Được Thánh Thần thúc đẩy, ông Simêon nhìn và nhận ra Đức Kitô. Và ông cầu nguyện rằng: “Chính mắt con đã thấy ơn cứu độ của Ngài” (Lc 2,30). Đây là phép lạ lớn lao của đức tin: đức tin mở mắt, biến đổi cái nhìn, thay đổi viễn tượng. Như chúng ta biết qua nhiều cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu trong Tin mừng, đức tin phát sinh từ ánh nhìn trắc ẩn mà Thiên Chúa dành cho chúng ta, ánh nhìn làm mềm lòng chai đá, chữa lành những thương tích và ban cho chúng ta đôi mắt mới để nhìn chính mình và thế giới. Những cách nhìn mới về bản thân, về người khác và về mọi hoàn cảnh chúng ta trải qua, kể cả những hoàn cảnh đau đớn nhất. Ánh nhìn này không phải là ngây thơ, nhưng là khôn ngoan. Cái nhìn ngây thơ trốn chạy thực tại và từ chối nhìn thấy vấn đề. Trong khi đó, ánh nhìn khôn ngoan có thể “nhìn vào bên trong” và “nhìn vượt lên trên”. Đó là ánh nhìn không dừng lại ở vẻ bề ngoài, hưng có thể đi vào tận những vết nứt của sự yếu đuối và thất bại của chúng ta, để nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa ngay cả ở đó. Đôi mắt của cụ già Simêon, dù đã mờ theo năm tháng, vẫn nhìn thấy Chúa. Vẫn nhìn thấy ơn cứu độ.[5]
Anna là một phụ nữ, góa bụa và cao niên - một nhân vật mong manh, không quyền lực, cũng chẳng vinh quang. Thế nhưng, bà được gọi là nữ ngôn sứ, và tính ngôn sứ đi ngang qua chính sự mong manh của thụ tạo này. Bà Anna gợi nhớ đến những phụ nữ Kinh thánh khác như bà Êlisabét và bà Nôêmi: những người phụ nữ già yếu, nhưng được trao ban sức mạnh và được biến đổi bởi quyền năng từ Trời cao.
Bà không rời khỏi Đền thờ: bà Anna ở lại trong nhà Thiên Chúa, cư ngụ nơi Thiên Chúa ngự trị. Bà ở trong Thiên Chúa, và từ viễn tượng ấy, bà chiêm ngắm, thấu hiểu và diễn giải thực tại.
Bà phụng thờ Thiên Chúa đêm ngày bằng chay tịnh và cầu nguyện: bà Anna ăn chay. Bà ăn chay khỏi tất cả những gì không phải là Thiên Chúa và không thuộc về Thiên Chúa. Bà Anna, vị nữ ngôn sứ, được nuôi dưỡng bởi chính Thiên Chúa. Bà sống và chuyển động trong Thiên Chúa, và trong không gian yêu thương của mối tương quan thân mật và thiết yếu ấy, bà học cách nhìn thực tại bằng ánh nhìn của Thiên Chúa, để nhận ra Ơn Cứu độ, Sự sống và Ơn Giải thoát nơi những dấu chỉ mong manh.
Trong bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ, nhân ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến lần thứ XXVIII ngày 02/02/2024, Đức Phanxicô một lần nữa đã trình bày cho chúng ta hình ảnh của ông Simêon và bà Anna:
Thật tuyệt vời cho chúng ta khi nhìn vào hai vị lão thành này, những người đang kiên nhẫn chờ đợi, tỉnh thức trong tinh thần và kiên trì cầu nguyện. Tâm hồn họ luôn tỉnh thức, như ngọn đuốc luôn cháy sáng. Dù tuổi đã cao nhưng tâm hồn họ vẫn trẻ trung. Họ không để mình bị thời gian làm tiêu hao, vì mắt họ luôn hướng về Thiên Chúa trong niềm mong đợi (x. Tv 145,15). Họ gắn bó với Chúa trong sự chờ đợi, luôn luôn chờ đợi. Trên hành trình cuộc đời, họ đã trải qua những khó khăn và thất vọng, nhưng họ không nhượng bộ trước thất bại: họ không “dập tắt” hy vọng. Và vì thế, khi chiêm ngưỡng Hài nhi, họ nhận ra rằng thời gian đã viên mãn, lời tiên tri đã được ứng nghiệm, Đấng mà họ tìm kiếm và mong đợi, Đấng Messia của muôn dân, đã đến. Bằng việc tỉnh thức chờ đợi Chúa, họ có khả năng chào đón Người trong sự xuất hiện mới mẻ của Người.
Thưa anh chị em, việc chờ đợi Thiên Chúa cũng rất quan trọng đối với chúng ta, và đối với hành trình đức tin của chúng ta. Mỗi ngày Chúa đến thăm chúng ta, nói với chúng ta, tỏ mình ra theo những cách bất ngờ, và vào lúc cuối cuộc đời và thời gian, Người sẽ đến. Đây là lý do tại sao chính Người khuyên chúng ta hãy tỉnh thức, cảnh giác, và kiên trì chờ đợi. Thật vậy, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với chúng ta là rơi vào “giấc ngủ của tinh thần”, để trái tim ngủ quên, làm tê liệt tâm hồn, khóa chặt niềm hy vọng trong những góc tối của thất vọng và buông xuôi.
Tôi nghĩ đến các anh chị em được thánh hiến và hồng ân mà anh chị em là; Tôi nghĩ đến mỗi chúng ta, những Kitô hữu ngày nay: Liệu chúng ta có còn khả năng sống trong sự chờ đợi không? Chẳng phải đôi khi chúng ta quá chú tâm vào chính mình, vào sự vật, và vào nhịp sống mãnh liệt của cuộc sống hằng ngày đến mức quên mất Thiên Chúa là Đấng luôn đến sao? Chẳng phải chúng ta quá mê mẩn những việc lành của mình, thậm chí có nguy cơ biến đời sống tu trì và Kitô hữu thành “nhiều việc phải làm” và xao nhãng việc tìm kiếm Chúa hàng ngày sao? Chẳng phải đôi khi chúng ta lại chẳng mạo hiểm hoạch định cho đời sống cá nhân và cộng đoàn bằng việc tính toán cơ hội thành công, thay vì vun trồng hạt giống nhỏ được giao phó cho chúng ta với niềm vui và khiêm tốn, với sự kiên nhẫn của những người gieo hạt mà không đòi hỏi gì, và của những người biết chờ đợi thời điểm và những điều bất ngờ của Thiên Chúa sao?[6]
Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta sự khôn ngoan của việc chờ đợi tỉnh thức và đầy hy vọng. Nguyện xin Người ban cho chúng ta tính ngôn sứ khiêm hạ của sự bé nhỏ được Thiên Chúa ngự trị. Nguyện xin Người ban cho chúng ta cái nhìn như của ông Simêon và bà Anna, có khả năng nhận ra, với niềm kinh ngạc và xúc động, sức mạnh vừa khiêm hạ vừa vương giả, vừa mạnh mẽ vừa dịu dàng của Tình Yêu Thiên Chúa, được mặc khải trong những dấu chỉ nghèo hèn, mong manh và yếu đuối: như một trẻ thơ trong vòng tay mẹ, như hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi để sinh nhiều hoa trái, như tấm bánh được bẻ ra cho sự sống của muôn người.
4. NGỌN LỬA THAN HỒNG
Đoạn Kinh thánh đồng hành với công việc của Khóa họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng, đồng thời làm nền tảng cho Văn kiện Chung kết, là trình thuật về ‘Mẻ cá lạ sau Phục sinh’ (Ga 21,1-14). Đoạn Tin mừng này đã được Cha Timothy Radcliffe trình bày và khai triển cách sâu sắc trong kỳ tĩnh tâm khai mạc cũng như trong nhiều thời điểm khác của tiến trình nghị sự. Đây là lần hiện ra thứ ba và cũng là lần cuối cùng của Chúa Giêsu Phục Sinh với các môn đệ, bên bờ biển hồ Galilê. Trình thuật này phong phú về hình ảnh. Ở đây, tôi chỉ dừng lại ở một khung cảnh rất đơn sơ nhưng hết sức sâu lắng, mở ra cho chúng ta một lộ trình khác của hy vọng.
Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. (10) Ðức Giêsu bảo các ông: "Ðem ít cá mới bắt được tới đây!" (11) Ông Simon Phêrô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. (12) Ðức Giêsu nói: "Anh em đến mà ăn!" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "ông là ai?", vì các ông biết rằng đó là Chúa. (13) Ðức Giêsu đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. (14) Ðó là lần thứ ba Ðức Giêsu tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi chỗi dậy từ cõi chết. (Ga 21,9-14)
Lửa là một hình ảnh mạnh mẽ và sống động mà Thánh Kinh rất yêu thích sử dụng. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã đào sâu hình ảnh này trong nhiều bài huấn dụ của ngài. Trong một bài huấn dụ này, ngài đặc biệt nhấn mạnh đến hình ảnh ngọn lửa than hồng trong đoạn Tin mừng vừa được trích dẫn:
“Đó là một bếp lửa nhỏ do chính Chúa Giêsu nhóm lên gần bờ biển, trong khi các môn đệ trên thuyền đang kéo mẻ lưới đầy cá một cách lạ lùng. Ông Simon Phêrô là người đầu tiên tới nơi, nhảy xuống nước với niềm vui tràn đầy (x. c.7). Ngọn lửa than ấy êm dịu và hiền hòa, nhưng bền bỉ và được dùng để nấu ăn. Trên bờ biển, nó tạo nên một khung cảnh thân quen, nơi các môn đệ, vừa ngỡ ngàng vừa xúc động, cảm nhận sự gần gũi của Chúa mình”[7].
Ngọn lửa than hồng là ngọn lửa của ‘mái ấm’, của gia đình. Đó là ngọn lửa của đức ái, của tình huynh đệ/tỷ muội, của hơi ấm nơi những mối dây liên kết vừa mạnh mẽ vừa tinh tế, làm bừng cháy con tim và mở ra cho con người trải nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa, về sự gần gũi của Chúa. Biết bao lần, khi lắng nghe những người nam/nữ sống đời thánh hiến, khi cùng nhau đối thoại, ta nhận ra khát vọng và nhu cầu được lớn lên trong việc dệt nên những mối dây như thế: những mối dây bằng lửa, được nuôi dưỡng bằng đức ái, lời chúc lành, thiện chí, sự chăm sóc, tinh tế, ân cần và tôn trọng! Chúng ta khao khát biết bao ngọn lửa than hồng ấy!
Trong Ga 21,9-14, Chúa Giêsu xuất hiện với một dáng vẻ có phần khác thường: Người đang nấu ăn, chuẩn bị bữa ăn cho các môn đệ. Chúng ta hãy để cho hình ảnh này chất vấn và cuốn hút mình, bởi chính trong sự đơn sơ và đời thường, hình ảnh này chuyên chở những ý nghĩa sâu xa và gợi lên nhiều suy tư mạnh mẽ.
4.1. Người canh giữ ngọn lửa
Chúa Giêsu, Đấng nhóm lửa, chăm sóc ngọn lửa than và chuẩn bị bữa ăn cho những người thuộc về Người, là hình ảnh tuyệt đẹp của quyền bính như là phục vụ, nghĩa là quyền bính của người nam hay người nữ biết gìn giữ và nuôi dưỡng sự lớn lên của anh chị em mình. Thuật ngữ auctoritas trong tiếng Latinh xuất phát từ động từ augere, có nghĩa là “làm cho lớn lên”. Có một mối liên hệ từ nguyên không thể tách rời, qua cùng một gốc từ, giữa thuật ngữ này và từ “tác giả”. Trong tiếng Latinh, auctor không chỉ có nghĩa là “người làm cho tăng trưởng”, mà còn là “người đem lại thành quả” hay “người dẫn đến một kết cục tốt đẹp, viên mãn”.[8] Quyền bính tìm thấy ý nghĩa đích thực của mình khi khiêm tốn phục vụ “sự thành công” của người khác, tức là phục vụ sự lớn lên và nở hoa của họ với tư cách là con người, là Kitô hữu, là người sống đời thánh hiến, là người được kêu gọi để yêu thương. Huấn thị của Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Tu đoàn Tông đồ về Quyền bính và Vâng phục, ban hành năm 2008, nhấn mạnh rằng:
Trong đời sống thánh hiến, quyền bính trước hết là một quyền bính thiêng liêng. Những người thi hành quyền bính ý thức rằng họ được gọi để phục vụ một lý tưởng lớn hơn chính mình, một lý tưởng chỉ có thể được tiếp cận trong bầu khí cầu nguyện và tìm kiếm khiêm tốn, vốn cho phép họ nhận ra hoạt động của cùng một Thánh Thần trong tâm hồn mỗi anh chị em. Những người thi hành quyền bính là ‘những con người thiêng liêng’ khi họ đặt mình phục vụ điều mà Thánh Thần muốn thực hiện qua các ân huệ Người phân phát cho từng thành viên của cộng đoàn, trong dự phóng đặc sủng của Tu hội”.[9]
Cũng trong cùng chiều hướng này,
Những người thi hành quyền bính được mời gọi thăng tiến phẩm giá của mỗi cá vị, quan tâm đến từng thành viên trong cộng đoàn và đến sự tăng trưởng của mỗi người, dành cho mỗi người sự trân trọng và đánh giá tích cực thích hợp, nuôi dưỡng tình cảm chân thành đối với mọi người, và giữ kín những điều được trao phó trong sự cẩn mật.[10]
Trong tiến trình Thượng Hội đồng, nhu cầu hoán cải các tiến trình ra quyết định và việc thi hành quyền bính trong các lãnh vực khác nhau của đời sống Giáo hội đã được nhấn mạnh nhiều lần, nhằm thúc đẩy một cái nhìn toàn diện, giải thoát khỏi những khuynh hướng tự quy chiếu hoặc giáo sĩ trị, cũng như khỏi bất cứ điều gì có thể làm lệch hướng khỏi Tin mừng.
Trong cầu nguyện và đối thoại huynh đệ, chúng ta đã nhận ra rằng sự phân định của Giáo hội, sự chăm chút các tiến trình đưa ra quyết định, cùng với sự cam kết giải trình và đánh giá kết quả của các quyết định, là những thực hành qua đó chúng ta đáp lại Lời Chúa, vốn chỉ cho chúng ta thấy những lộ trình của sứ vụ. Ba thực hành này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các tiến trình đưa ra quyết định cần sự phân định của Giáo hội, sự phân định của Giáo hội đòi hỏi việc lắng nghe trong bầu khí tin tưởng, việc lắng nghe trong bầu khí tin tưởng được hỗ trợ bởi sự minh bạch và giải trình. Sự tin tưởng phải có tính hỗ tương: những người đưa ra quyết định phải có khả năng tin tưởng và lắng nghe Dân Thiên Chúa, Dân Thiên Chúa phải có khả năng tin tưởng những người thực thi thẩm quyền. Tầm nhìn toàn diện này có ý nhấn mạnh rằng mỗi thực hành kể trên đều phụ thuộc và hỗ trợ những thực hành khác, nhờ đó Giáo hội có khả năng hoàn thành sứ vụ. Việc tham gia vào các tiến trình đưa ra quyết định dựa trên sự phân định của Giáo hội cùng với việc áp dụng một văn hóa minh bạch, giải trình và có đánh giá lại đòi hỏi một sự đào tạo đầy đủ không chỉ về mặt chuyên môn mà còn về khả năng khám phá các nền tảng thần học, Kinh thánh và linh đạo. Mọi người đã được rửa tội đều cần được đào tạo về chứng tá, sứ vụ, sự thánh thiện và phục vụ, với điểm nhấn là tinh thần đồng trách nhiệm. Sự đào tạo này có những hình thức đặc thù đối với những vị hữu trách hoặc những vị phục vụ trong việc phân định của Giáo hội.[11]
Quyền bính theo tinh thần Tin mừng khơi dậy, gìn giữ và nuôi dưỡng ngọn lửa thánh quy tụ anh chị em quanh Bánh hằng sống, làm cho họ lớn lên với tư cách là Dân Chúa, và đốt nóng họ bằng Tình yêu liên kết những con người khác biệt bằng những mối dây đức ái vừa nồng cháy vừa tinh tế.
4.2. Cùng nhau, quanh bếp than hồng
Hình ảnh Chúa Giêsu chuẩn bị bữa ăn cho các môn đệ bên bờ hồ và mời họ cùng nhau dùng bữa cũng gợi lại trải nghiệm chia sẻ bữa ăn. Được làm phong phú nhờ tư duy Bantu-Makua, tôi thích hình dung các hội dòng hay cộng đoàn của chúng ta như một gian bếp: tất cả chúng ta quây quần bên cùng một bếp lửa và một nồi chung, mỗi người góp vào đó một “nguyên liệu” của đời sống, để nấu nên một nồi bột polenta ngon lành, nuôi dưỡng mọi người. Một câu tục ngữ Makua nói rằng: “Nồi bột thì chỉ có một, nhưng phần bột thì khác nhau”. Trong thế giới quan Bantu-châu Phi, tất cả chúng ta đều xuất phát từ cùng một “nồi”, được làm nên từ cùng một “khối bột”, và được nuôi dưỡng bởi cùng một sự sống. Trong một gia đình, không thể nghĩ đến việc nấu polenta trong nhiều nồi khác nhau: nồi múc ra chỉ có một, bột là một, dù được chia thành những phần khác nhau. Giáo hội, vốn được nuôi dưỡng bởi cùng một và duy nhất Bánh Trường Sinh, không thể không nhận ra chính mình trong hình ảnh này. Giáo hội được mời gọi làm cho viễn tượng này ngày càng trở nên cụ thể và hữu hình, không chỉ ở bình diện phụng vụ và cử hành, mà còn trong các cơ cấu, trong kinh tế, trong các thực hành mục vụ, cũng như trong phong cách sống và tương quan. Điều này cũng đúng đối với các hội dòng / tu hội của chúng ta. Hội nhập văn hóa mang tính Tin mừng và đặc sủng, cũng như tính liên văn hóa, là một đòi hỏi không thể né tránh nếu chúng ta thực sự muốn đón nhận lời mời gọi cùng ăn từ một nồi. Cuộc đối thoại giữa đặc sủng và các nền văn hóa không chỉ là một nhu cầu: đó còn là một cơ hội và một ân huệ, là dịp để khám phá những kho tàng nguyên sơ mà Thiên Chúa đã đặt để nơi mỗi dân tộc, để đón nhận chúng vào nồi đặc sủng và chia sẻ với phần còn lại của nhân loại. Bỏ lỡ cơ hội tiếp xúc với kinh nghiệm mang tính nhân bản và thiêng liêng của một dân tộc cũng đồng nghĩa với việc bỏ lỡ cơ hội gặp gỡ một kinh nghiệm độc đáo và nguyên tuyền về Thiên Chúa, được ban cho dân tộc ấy để được chia sẻ, làm phong phú, gia tăng và biến đổi Sự Sống của tất cả những ai sẵn sàng “ăn từ cùng một nồi”. Đâu là nguyên liệu độc đáo và riêng biệt mà dân tộc này có thể mang đến cho hội dòng? Kinh nghiệm đồng hành với Thiên Chúa của họ soi sáng điều gì cho nhận thức của chúng ta về đặc sủng? Chúng ta đã lãnh nhận được gì từ dân tộc này? Dân tộc này đã loan báo Tin mừng cho chúng ta như thế nào? Họ đã góp phần ra sao vào sức sống của đặc sủng?
5. MẦU NHIỆM CỦA “CHÚNG TA”
Đức Giáo hoàng Phanxicô nhiều lần nói đến lời mời gọi chuyển từ “tôi” sang “chúng ta”, đến nhu cầu “hiệp nhất như một gia đình thì mạnh mẽ hơn tổng số của những cá nhân đơn lẻ”,[12] đến “thách đố trong việc tìm kiếm và chia sẻ một ‘mầu nhiệm’ của đời sống chung”,[13] và “sống cách tự do và có trách nhiệm kinh nghiệm Giáo hội như một ‘mầu nhiệm của sự sống chung”[14]. Tiến trình Thượng Hội đồng đã tiếp nhận, trong số những hình ảnh khác, hình ảnh Phaolô về một thân thể duy nhất,[15] và đã “cho chúng ta ‘nếm trải thiêng liêng’ (Evangelii Gaudium 268) về ý nghĩa của việc trở nên Dân Chúa, được quy tụ từ mọi chi tộc, ngôn ngữ, dân tộc và quốc gia, đang sống trong những bối cảnh và nền văn hóa khác nhau. Dân này không bao giờ chỉ là tổng số những người đã lãnh nhận Phép Rửa tội, nhưng là một chủ thể mang tính cộng đoàn và lịch sử của tính hiệp hành và sứ vụ”.[16]
Tôi muốn dừng lại một chút nơi hình ảnh của thân thể này, vì tôi tin rằng nó mở ra trước mắt chúng ta một lộ trình hy vọng khác, và thử áp dụng nó vào đời sống các dòng tu của chúng ta.
Mỗi tu hội, được sinh động bởi một đặc sủng riêng biệt, phần nào giống như một thân thể, được hoạt hóa bởi một năng lực sống độc đáo và đặc thù… Thật vậy, hội dòng, cộng đoàn, và mọi nhóm đều vận hành theo nhiều cách như một cơ thể sống, được cấu thành bởi những bộ phận khác nhau nhưng được hiệp nhất bởi cùng một sự sống. Trong mỗi tế bào, tuy khác biệt với các tế bào khác, vẫn chứa cùng một ADN, vốn là yếu tố nhận diện và làm cho thân thể ấy trở nên độc nhất.
Lúc này, khi tôi bị đau ở một ngón tay, tôi sẽ làm gì? Điều cuối cùng tôi nghĩ đến chắc chắn không phải là cắt bỏ nó! Trái lại, tôi chăm sóc nó. Sự chú ý của tôi hướng về ngón tay bị thương. Trí óc tôi bắt đầu suy nghĩ để hiểu xem cần làm gì để chữa lành nó. Phần còn lại của thân thể cùng cộng tác: đôi chân đưa tôi đến bác sĩ hoặc nhà thuốc; bàn tay lành lặn cầm lấy thuốc sát trùng và băng gạc để chăm sóc vết thương; đôi mắt chăm chú quan sát nơi tôi đổ thuốc sát trùng và cách băng bó ngón tay; đôi tai lắng nghe những chỉ dẫn của bác sĩ… và cứ thế.
“Mọi sự đều liên hệ với nhau”, “mọi sự đều gắn kết”, “mọi sự đều nối kết”: đó là điệp khúc xuyên suốt Thông điệp Laudato si’ của Đức Phanxicô. Hình ảnh thân thể diễn tả cách sinh động và rõ ràng mối liên hệ đang tồn tại giữa chúng ta: chúng ta, như những thụ tạo; chúng ta, như những con người; chúng ta, như những Kitô hữu; chúng ta, như những chi thể của thân thể một tu hội, được sinh động bởi một đặc sủng độc đáo và nguyên tuyền. Thật vậy, tu hội là một thân thể mang tính đặc sủng. Tất cả chúng ta được liên kết sâu xa với nhau nhờ nhân tính chung, nhờ đức tin, nhờ việc thuộc về Đức Kitô, và nhờ việc cùng thuộc về một đặc sủng làm cho chúng ta trở nên chị em/anh em, biến đổi các mối tương quan của chúng ta thành những mối dây liên kết thánh thiêng, thành những mạch máu và động mạch nuôi dưỡng một thân thể duy nhất, qua đó dòng máu sự sống của đặc sủng được lưu chuyển.
Cũng như trong thân thể sinh học, mỗi bộ phận, mỗi cơ quan, mỗi tế bào đều tác động đến toàn thể. Nếu một tế bào trở nên bất thường, nó có thể trở thành ung thư lan rộng sang các cơ quan khác, đặt toàn bộ cơ thể vào tình trạng nguy hiểm. Nếu phổi khỏe mạnh, chúng cung cấp ôxy cho toàn thân và loại bỏ khí cacbonic, duy trì sức sống cho mọi phần, dù nhỏ hay lớn. Điều xảy ra nơi một phần của thân thể đều ảnh hưởng đến toàn thể. Và điều xảy ra với toàn thân, theo cách nào đó, cũng tác động đến từng bộ phận.
Trong thân thể của tu hội, điều được lưu chuyển chính là những gì các thành viên đưa vào. Mỗi hành động và lời nói, mỗi suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đều là năng lượng chảy qua mạng lưới dày đặc của các mối tương quan, và cuối cùng tác động đến tất cả mọi người, bởi vì chúng ta hiệp nhất trong một thân thể duy nhất, được nuôi dưỡng bởi cùng một dòng máu của đặc sủng sống động. Không có lời nói, cử chỉ, suy nghĩ hay cảm xúc nào là trung tính: mọi biểu hiện của sự sống đều mang theo những hệ quả, tốt hoặc xấu. Không có gì là trung tính, kể cả những gì tôi âm thầm cảm nhận và suy nghĩ, những gì tôi cất giữ trong những góc sâu kín nhất của lòng mình, hay những điều tôi nói sau cánh cửa đóng kín. Một cách mầu nhiệm, bởi vì chúng ta “được nối kết với nhau” ở một bình diện sâu xa của tinh thần và đặc sủng, những gì tôi cảm nhận, suy nghĩ, nói năng, hành động hay ước muốn đều được đưa vào dòng lưu chuyển của thân thể và mang theo những hệ quả của nó, dù là sinh ích hay gây hại. Vì thế, những gì tôi làm và nói, cũng như những gì tôi nghĩ và cảm nhận, không bị giam hãm trong thế giới riêng nhỏ bé của tôi, nhưng được chảy qua các sợi dây của mạng lưới nối kết chúng ta và làm cho chúng ta trở nên anh em và chị em.
Đồng hành với một tu hội như một thân thể, một cơ thể sống, trong việc biểu lộ sự trổ sinh hoa trái, năng lực sinh thành và chính mục đích vì đó mà tu hội được khai trong thế giới, trước hết là đồng hành để tu hội không ngừng nối kết và tái nối kết với nguồn mạch ban sự sống cho mình, là đặc sủng. Đồng thời, điều đó cũng có nghĩa là chăm sóc những gì đang lưu chuyển trong các mối liên kết sống còn ấy.
Đặc sủng không thuộc về tu hội, không phải là tài sản của tu hội. Đặc sủng là ân huệ của Thiên Chúa ban cho thế giới; đó là Thần Khí, là sự sống. Tu hội, và mỗi chị em/anh em thuộc về, lãnh nhận đặc sủng như một hồng ân nhưng không, để sống trong chính mình, như một năng lực sống cần được để cho tuôn chảy cách tự do và sáng tạo qua chúng ta, chứ không phải là điều để được bảo tồn hay trưng bày như một hiện vật bảo tàng. Như Đức Phanxicô nói:
Mỗi đặc sủng đều mang tính sáng tạo. Đặc sủng không phải là một pho tượng trong viện bảo tàng; không, đặc sủng mang tính sáng tạo. Vấn đề là trung thành với nguồn mạch ban đầu, đồng thời nỗ lực suy tư lại và diễn tả đặc sủng ấy trong đối thoại với những hoàn cảnh xã hội và văn hóa mới. Đặc sủng được cắm rễ vững chắc, nhưng cây vẫn lớn lên trong đối thoại với thực tại. Công việc canh tân này càng sinh hoa kết trái khi được thực hiện trong sự hòa hợp giữa tính sáng tạo, sự khôn ngoan, sự nhạy cảm với mọi người và lòng trung thành với Giáo hội.[17]
Năng lượng của đặc sủng chảy qua từng tế bào của thân thể tu hội: mỗi chị em/anh em vừa là người mang, vừa là sự diễn tả của đặc sủng ấy. Nhưng không chỉ thế. Thân thể của tu hội, như một cơ thể sống, còn có những “cảm thức” riêng của mình, và trong số đó có một “cảm thức về đặc sủng”, một trực giác hay “bản năng”, theo cách nói của Đức Phanxicô, cho phép tu hội phân biệt được hương thơm của đặc sủng, cảm nhận giai điệu của đặc sủng, thoáng thấy ánh sáng của đặc sủng, nếm trải hương vị của đặc sủng, nhận ra cái chạm của đặc sủng; và rung động khi tiếp xúc với đặc sủng ấy, bị thu hút bởi đặc sủng và bước theo đặc sủng, như một thân thể, như một cơ thể sống. Vì thế, thật quan trọng biết bao khi người lãnh đạo, giống như vị Mục tử nhân lành, cùng bước đi với đoàn chiên:
đi phía trước để hướng dẫn cộng đoàn; đi giữa để khích lệ và nâng đỡ; và đi phía sau để giữ cho cộng đoàn hiệp nhất, để không ai bị bỏ lại quá xa, để giữ cộng đoàn trong sự hiệp nhất. Còn một lý do nữa: bởi vì dân chúng có “cái mũi” [để ngửi được hương đặc sủng].[18]
Sự rung động và chuyển động của một cơ thể sống khi đáp lại điều mà “bản năng” và toàn bộ các giác quan của nó cảm nhận không đơn thuần là tổng số các rung động và chuyển động của từng bộ phận; đó là điều lớn lao hơn nhiều. Nó giống như điều xảy ra trong một bản giao hưởng do dàn nhạc trình diễn: không chỉ là tổng số các âm thanh riêng lẻ của từng nhạc cụ, nhưng là một thực tại vượt xa hơn thế. Khi ngỏ lời với các Hồng y tân cử trong Công nghị tháng 9 /2023, Đức Phanxicô đã sử dụng chính hình ảnh này, và liên kết nó với thực tại của tính hiệp hành:
Hồng y đoàn được mời gọi trở nên giống như một dàn nhạc giao hưởng, biểu trưng cho sự hài hòa và tính hiệp hành của Giáo Hội. Tôi cũng nói “hiệp hành”, không chỉ vì chúng ta đang ở trước thềm Khóa họp thứ nhất của Thượng Hội đồng với chủ đề này, mà còn vì dường như hình ảnh dàn nhạc có thể soi sáng cách thích hợp đặc tính hiệp hành của Giáo hội. Một bản giao hưởng phát triển nhờ sự phối hợp khéo léo âm sắc của các nhạc cụ khác nhau: mỗi nhạc cụ đều góp phần của mình, có khi độc tấu, có khi hòa cùng nhạc cụ khác, có khi cùng với toàn bộ dàn nhạc. Sự đa dạng là cần thiết, là không thể thiếu. Tuy nhiên, mỗi âm thanh phải góp phần vào tổng thể chung. Vì thế, việc lắng nghe lẫn nhau là điều thiết yếu: mỗi nhạc công phải lắng nghe những người khác. Nếu ai chỉ lắng nghe chính mình, dù âm thanh của họ có tuyệt vời đến đâu, thì cũng không phục vụ cho bản giao hưởng; và điều tương tự sẽ xảy ra nếu một bộ phận của dàn nhạc không lắng nghe những bộ phận khác, nhưng chơi như thể đứng một mình, như thể mình là toàn bộ. Hơn nữa, người chỉ huy dàn nhạc phục vụ cho phép lạ của mỗi buổi trình diễn giao hưởng xảy ra. Người chỉ huy phải lắng nghe nhiều hơn bất cứ ai, đồng thời có nhiệm vụ giúp mỗi từng cá nhân và toàn bộ dàn nhạc phát triển sự trung thành sáng tạo cao nhất: trung thành với tác phẩm được trình diễn, đồng thời vẫn mang tính sáng tạo, có khả năng thổi hồn vào bản nhạc, khiến nó vang lên và sống động trong chính khoảnh khắc hiện tại, theo một cách độc đáo.[19]
Người lãnh đạo được mời gọi tạo điều kiện cho một sự trở về liên lỉ và tái dìm mình vào đặc sủng, vào nguồn năng lực sống động làm sinh khí cho tu hội, vào bản nhạc nâng đỡ tu hội, vào những nguồn mạch sống động và tràn đầy sinh lực mà từ đó luôn có thể bắt đầu lại. Điều này cho phép tu hội được canh tân trong hiện tại nhờ sức sinh hoa kết trái vô tận của nguồn cảm hứng đã khai sinh ra nó. Một năng động liên lỉ như thế, của việc trở về và lại được sai đi, giúp tu hội sống phân định như một lối sống: không ngừng soi chiếu mình trong đặc sủng, không ngừng chìm đắm trong đặc sủng ấy, để tái định hướng sứ vụ dưới ánh sáng của khoảnh khắc hiện tại; để âm nhạc của đặc sủng hôm nay được dàn nhạc diễn tả, mang lại sự sống và linh hồn cho bản nhạc ngay tại đây và lúc này; để dòng chảy sinh động được giải thoát khỏi mọi tầng cấu trúc chồng chất, những địa lý cứng nhắc, các hình học hay khuôn mẫu cố định vốn tìm cách giam hãm vũ điệu của nó. Một tổ chức sống động, tự bản chất, luôn ở trong trạng thái chuyển động, thích nghi và canh tân không ngừng. Khi chuyển động, thích nghi và canh tân chấm dứt, cái chết bắt đầu xuất hiện. Xin mượn lại lời Đức Phanxicô:
Những ai đứng yên tại chỗ thì rốt cuộc sẽ tự làm mình hư hoại. Cũng giống như nước: khi nước tù đọng, muỗi kéo đến, đẻ trứng, và mọi sự đều trở nên mục rữa. Mọi sự.[20]
6. VÁ LẠI NHỮNG TẤM LƯỚI
Trong kỳ tĩnh tâm khai mạc Phiên họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng, tôi đặc biệt bị đánh động bởi bài suy niệm của Cha Timothy Radcliffe về trình thuật “Mẻ cá lạ sau Phục Sinh” (Ga 21,1-11), cùng với một vài nhận định của ngài về những tấm lưới đánh cá. Có lúc, khi nói về lưới như một biểu tượng của Hội thánh, đón nhận sự đa dạng cá nhân và văn hóa, Cha Radcliffe đã chia sẻ:
Chúng ta đang mong đợi một lễ Hiện xuống mới, trong đó mỗi nền văn hóa nói bằng chính ngôn ngữ bản địa của mình và vẫn được thấu hiểu. Đây cũng chính là nhiệm vụ của chúng ta trong Thượng Hội đồng, và là nền tảng cho sứ mạng của chúng ta đối với một thế giới bị xé nát và chia rẽ. Chúng ta cầu xin lời chuyển cầu của Đức Maria, Đấng tháo gỡ những nút thắt, và của thánh Phêrô, người vá lưới![21]
Sau đó, tôi tìm đọc lại đoạn Tin mừng Mc 1,16-20:
Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy ông Simon với người anh là ông Anrê, đang quăng lưới xuống biển, vì họ làm nghề đánh cá. Người bảo họ: "Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá." Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Người. Ði xa hơn một chút, Người thấy ông Giacôbê, con ông Dêbêđê, và người em là ông Gioan. Hai ông này đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Dêbêđê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người.
Đúng vậy, tôi tự nhủ, lưới không chỉ để thả xuống hay kéo lên bờ; lưới còn cần được vá, được sửa chữa. Cha Timothy Radcliffe đã chỉ ra rằng một chiếc lưới đánh cá được cấu thành bởi hai yếu tố: những khoảng trống và những sợi chỉ bao quanh, nối kết các khoảng trống ấy. Chỉ có thế thôi. Nếu các mối liên kết bị đứt, hoặc nếu chúng trở nên quá dày đặc đến mức bít kín các khoảng trống, thì tấm lưới không còn là lưới nữa, và nó sẽ không bắt được gì.
Lưới bị rách, và lưới cần được sửa chữa một cách liên lỉ và trung tín. Vá lại, khâu nối, dệt lại là những công việc mang tính thủ công. Chúng được thực hiện bằng đôi tay, chứ không phải bằng máy móc. Chúng đòi hỏi sự chăm sóc và một độ nhạy cảm rất lớn. Tấm lưới và tấm vải phải được nâng niu trong tay. Đôi mắt tìm kiếm những chỗ thủng, những mối nối bị đứt, những sợi chỉ bị sờn. Các ngón tay chạm vào, mở ra, làm sạch, rồi dò tìm những mối nối còn chắc khoẻ, để từ đó có thể gắn kết những mối nối mới và tái tạo lại tấm lưới.
Tôi xác tín sâu xa rằng một chiều kích mà bất cứ ai được trao phó trách nhiệm lãnh đạo đều phải đặc biệt lưu tâm chính là điều này: việc vá lại những tấm lưới ở nhiều cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, công việc vá lưới không chỉ là trách nhiệm của những người đang thi hành quyền bính. Đó là mối bận tâm của tất cả chúng ta, như một con đường của hy vọng.
Trong Thông điệp Dilexit nos, Đức Phanxicô đã dành một vị trí quan trọng cho ý tưởng sửa chữa này.[22] Có một hình thức sửa chữa liên quan đến các cơ cấu của tội lỗi, khi những tội lỗi lặp đi lặp lại chống lại người khác trở nên cứng nhắc và kết tinh thành những cơ cấu hữu hình hoặc vô hình, tái tạo và duy trì những năng động độc hại và không lành mạnh (x. DN, 183).
Thông thường, đây là một phần của não trạng thống trị vốn coi những gì rõ ràng là sự ích kỷ và sự thờ ơ như điều bình thường hay hợp lý. (DN, 183). Chỉ một chuẩn mực đạo đức thì không giúp chúng ta vạch trần và chống lại được những cấu trúc xã hội tha hóa này, và không hỗ trợ được các nỗ lực trong xã hội nhằm phục hồi và củng cố lợi ích chung. Đúng hơn, chính “sự hoán cải trái tim” của chúng ta mới “đặt ra bổn phận”[196] sửa chữa những cấu trúc này. Sự đáp trả của chúng ta đối với tình yêu của trái tim Chúa Giêsu sẽ dạy ta biết yêu thương (DN, 183).
Tuy nhiên,
Sự đền bù của Kitô giáo không thể hiểu đơn giản như một mớ các công trình bên ngoài, dù chúng có thể cần thiết và đôi khi đáng ngưỡng mộ đến mấy. Những công trình này cần một “bí pháp”, một linh hồn, một ý nghĩa mang lại cho chúng sức mạnh, động lực và sự sáng tạo không mệt mỏi. Chúng cần sức sống, ngọn lửa và ánh sáng tỏa ra từ trái tim của Chúa Kitô. (DN, 184).
Một sự đền bù chỉ bên ngoài thì không đủ, cho thế giới chúng ta hay cho trái tim của Chúa Kitô. Nếu mỗi người chúng ta xem xét tội lỗi của mình và tác động của nó đối với người khác, ta sẽ nhận ra rằng việc sửa chữa những tổn hại đã gây ra cho thế giới này cũng đòi hỏi một mong muốn chữa lành những trái tim bị tổn thương, vì chính đây là nơi xảy ra sự thiệt hại sâu xa nhất, và là nơi mà sự tổn thương gây đau đớn nhất. (DN, 185).
Không phải mọi sự đều có thể được vá lại, cũng không phải mọi sự đều có thể được sửa chữa hoàn toàn. Nhưng chính tiến trình sửa chữa có thể mở ra con đường dẫn tới một sự tái sinh, một cách hiểu mới và một việc tái định nghĩa vết thương, giúp nó bớt đau đớn hơn và mở ra những lộ trình của ánh sáng.
Trong Thông điệp Dilexit nos, Đức Phanxicô nêu bật một số bước trong tiến trình đền bù:
- Ý hướng của con tim (x. DN, 185-186): đó là ước muốn sâu xa hướng tới việc đền bù, là ý định sửa chữa những tổn hại đã gây ra và thực hiện điều đó một cách cụ thể, nghĩa là triển khai những bước cần thiết và thích hợp.
- Nhìn nhận lỗi lầm: thành thật thừa nhận những tổn hại đã gây ra cho anh chị em mình, cảm nhận cách sâu sắc và chân thành rằng tình yêu đã bị tổn thương (x. DN, 187), và để cho nhận thức ấy lay động con tim, dẫn tới một nỗi buồn lành mạnh, chân thực và có sức thanh luyện.
- Xin tha thứ nơi anh chị em mình. Việc xin tha thứ là một phương thế chữa lành các mối tương quan, bởi vì nó “mở lại cuộc đối thoại và thể hiện ý chí thiết lập lại mối dây bác ái huynh đệ… Nó chạm đến trái tim anh chị em mình, mang lại an ủi và thúc đẩy việc chấp nhận tha thứ như được yêu cầu. Ngay cả khi không thể sửa chữa được điều vốn là chuyện đã rồi, thì tình yêu vẫn luôn có thể được tái sinh, làm cho sự tổn thương trở nên dễ chịu hơn” (DN, 189)
Phiên họp thứ hai của Đại hội Thượng Hội đồng khởi đầu bằng hai ngày tĩnh tâm, và kết thúc bằng một Canh thức Sám hối, trong đó,
cảm nhận nỗi hổ thẹn của mình, chúng tôi đã xin tha thứ cho các tội lỗi, và dâng lên lời cầu nguyện cho các nạn nhân của những sự dữ trên thế giới. Chúng tôi đã nhận diện những tội lỗi của mình: chống lại hòa bình, chống lại công trình tạo dựng, chống lại các dân tộc bản địa, người di dân, trẻ em, phụ nữ và người nghèo, trong sự thiếu lắng nghe và thiếu tìm kiếm hiệp thông. Chúng tôi được dẫn tới một xác tín mới: tính hiệp hành đòi hỏi sám hối và hoán cải.[23]
Một cuộc hoán cải hướng về tha thứ biết xin, biết trao ban và biết đón nhận. Một cuộc hoán cải để nhận diện và sửa chữa những cơ cấu và sự năng động của tội lỗi nơi chính mình, giữa chúng ta và chung quanh chúng ta, để hàn gắn những con tim bị tổn thương, để sửa các mối dây, những mạng lưới hiệp thông gắn kết chúng ta như anh chị em.
Giáo hội phải đặc biệt chú ý và nhạy cảm lắng nghe tiếng nói của các nạn nhân và những người sống sót từ các vụ lạm dụng: tình dục, thiêng liêng, kinh tế, cơ chế, quyền lực, và lương tâm bởi các thành viên hàng giáo sĩ hay những người có chức vụ trong Giáo hội. Lắng nghe là yếu tố cơ bản trên lộ trình hướng tới sự chữa lành, sám hối, công lý và hòa giải. Trong một thời đại đang trải qua cuộc khủng hoảng sự tin tưởng trên toàn cầu và đang khuyến khích người ta sống trong sự ngờ vực và nghi kỵ, Giáo hội phải nhìn nhận những khuyết điểm của mình, khiêm tốn cầu xin sự tha thứ, chăm sóc các nạn nhân, trang bị các công cụ phòng ngừa và cố gắng xây dựng lại sự tin tưởng lẫn nhau trong Chúa.[24]
7. NHỮNG NGHỆ NHÂN CỦA HÒA BÌNH
Chúa nhật Phục sinh, ngày 20/4/2025, vào lúc 12 giờ trưa: Đức Phanxicô, từ ban công trung tâm của Đền thờ Thánh Phêrô tại Vatican, đã ban phép lành cho thành Rôma, cho toàn thể nhân loại và cho công trình tạo dựng, đồng thời công bố Sứ điệp Urbi et Orbi gửi đến Giáo hội và toàn thế giới. Ít ai trong chúng ta ngờ rằng đó lại chính là sứ điệp cuối cùng và là phép lành cuối cùng trong cuộc đời dương thế của ngài.
Trong sứ điệp cuối cùng này, Đức Phanxicô muốn nhấn mạnh ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm Phục sinh của Chúa, vốn là nền tảng cho niềm hy vọng của chúng ta:
Tình yêu đã chiến thắng hận thù. Ánh sáng đã chiến thắng bóng tối. Sự thật đã chiến thắng dối trá. Tha thứ đã chiến thắng sự trả thù. Sự dữ chưa biến mất khỏi lịch sử nhân loại, nó sẽ còn đó cho đến ngày tận thế, nhưng nó không còn thống trị, không còn quyền lực trên những ai đón nhận ân sủng của ngày hôm nay.
Anh chị em thân mến, đặc biệt những ai đang đau khổ và lo âu, tiếng kêu thầm lặng của anh chị em đã được lắng nghe, những giọt nước mắt của anh chị em đã được thu lại, không một giọt nào bị mất đi! Trong cuộc Khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã gánh lấy mọi sự dữ của thế giới và bằng lòng thương xót vô biên, Người đã chiến thắng: Người nhổ bỏ tính kiêu ngạo ma quỷ đang đầu độc lòng người và gieo rắc khắp nơi bạo lực cùng tham nhũng. Chiên Thiên Chúa đã chiến thắng! Vì thế, hôm nay chúng ta reo lên: “Đức Kitô, niềm hy vọng của tôi, đã sống lại!” (Bài ca tiếp liên Phục sinh). Sự Phục sinh của Chúa Giêsu thực sự là nền tảng của niềm hy vọng chúng ta. Trong ánh sáng của biến cố này, niềm hy vọng không còn là ảo tưởng. Nhờ Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại từ cõi chết, niềm hy vọng không làm chúng ta thất vọng! Spes non confundit! (x. Rm 5,5). Đó là niềm hy vọng không trốn tránh thực tại, nhưng là một thách đố; không lừa dối, nhưng trao ban sức mạnh.
Tất cả những ai đặt hy vọng nơi Thiên Chúa đều đặt đôi tay yếu ớt của mình vào bàn tay mạnh mẽ và quyền năng của Người; họ để cho mình được nâng dậy và lên đường. Cùng với Đức Giêsu Phục Sinh, họ trở thành những người hành hương của hy vọng, những chứng nhân của sự chiến thắng của tình yêu và của sức mạnh không vũ trang của Sự sống.[25]
Trong cùng sứ điệp này, Đức Thánh Cha một lần nữa đưa ra những lời kêu gọi mạnh mẽ cho hòa bình, khi nhắc đến quá nhiều khu vực trên thế giới đang bị đè nặng bởi xung đột, bạo lực và căng thẳng. Trong số đó có Thánh Địa, Liban, Syria, Yemen, Ukraina, vùng Nam Kavkaz, Sahel, Nam Sudan, Sudan, vùng Sừng châu Phi, Cộng hòa Dân chủ Congo, và khu vực Đại hồ.
Đức Giáo hoàng Lêô XIV, trong những lời đầu tiên sau khi được bầu chọn làm Đấng kế vị Thánh Phêrô vào ngày 8/ 5 /2025, đã tiếp nối lời kêu gọi tha thiết ấy cho hòa bình:
Bình an ở cùng tất cả anh chị em!
Anh chị em thân mến, đây là lời chào đầu tiên của Đức Kitô Phục Sinh, vị Mục tử nhân lành đã hiến mạng sống vì đoàn chiên của Thiên Chúa. Tôi cũng mong muốn lời chào bình an này thấm sâu vào lòng anh chị em, lan tỏa đến gia đình của mỗi người, đến mọi người, ở bất cứ nơi đâu, đến mọi dân tộc, đến khắp mặt đất. Bình an ở cùng anh chị em!
Đây là bình an của Đức Kitô Phục Sinh, một sự bình an không vũ khí và buông vũ khí, khiêm nhường và kiên trì. Bình an này đến từ Thiên Chúa, Đấng yêu thương tất cả chúng ta vô điều kiện.[26]
Chúng ta có thể tự hỏi: đời sống thánh hiến có thể sống và thể hiện lời kêu gọi này – gần như một bản di chúc thiêng liêng – của Đức Giáo hoàng Phanxicô, được Đức Giáo hoàng Lêô XIV lặp lại, như thế nào? Làm sao đời sống thánh hiến có thể mở ra những lộ trình của một niềm hy vọng vừa “thách đố” vừa “trao quyền”? Làm sao đời sống thánh hiến có thể trở thành dấu chỉ của “nền hòa bình không vũ trang nhưng có sức giải trừ, khiêm tốn và bền bỉ vốn phát xuất từ Thiên Chúa”? Làm sao chúng ta thực sự có thể “trở thành những người hành hương của hy vọng, những chứng nhân cho chiến thắng của Tình yêu, cho sức mạnh giải trừ của Sự sống”? Và làm sao chúng ta có thể thật sự trở nên “những nghệ nhân của hòa bình”?[27]
Tôi tin rằng câu trả lời nằm chính ở đây, giữa chúng ta, trong Nước Trời đang đến, hay đúng hơn, đã hiện diện rồi, như hạt cải bé nhỏ lớn lên thành cây và cho chim trời nương náu; như nắm men được vùi trong khối bột; như sự kiên trì và tình yêu của người mục tử không mệt mỏi đi tìm con chiên lạc, và của người phụ nữ cần mẫn quét nhà để tìm lại đồng tiền bị mất. Giống như chính Đức Giêsu, khi gặp các môn đệ sau Phục sinh, không tỏ mình bằng những hiệu ứng ngoạn mục hay phô trương quyền năng, nhưng bằng sức mạnh vừa làm tan chảy vừa gây kinh ngạc của những vết thương đã trở thành những dấu chỉ rạng ngời của sự tha thứ. Với khát vọng cháy bỏng nhưng đầy tôn trọng muốn ở lại với họ, không bao giờ mệt mỏi trao ban, với lòng trung tín và sự dịu hiền, Tình yêu có khả năng trỗi dậy và hồi sinh, ngay cả khi các thế lực đối nghịch tìm cách dập tắt Tình yêu ấy hoặc biến nó thành sự đòi hỏi, oán hận hay trả thù.[28]
Chúng ta hãy nhìn vào biết bao nam nữ tu sĩ đang hiện diện khắp nơi trên thế giới, thường là ở những nơi mà nhân loại bị tổn thương sâu sắc nhất, trong những tầng sâu của lịch sử và của thân phận con người, tại các vùng ngoại biên và biên cương, khiêm tốn và bền bỉ dệt nên những sợi chỉ của nền hòa bình vừa không vũ trang vừa có sức giải trừ. Chúng ta hãy nhìn vào biết bao người sống đời thánh hiến, họ không chỉ tự do tận hiến cuộc đời, mà còn tự do hiến dâng cả cái chết của mình, làm cho mọi mong manh, mọi dễ tổn thương, mọi đau khổ, mọi hành vi phó thác trở nên phong phú và tràn đầy phúc lành. Trong chính thân xác mình, với tư cách cá nhân cũng như cộng đoàn, họ sống đến tận cùng chiều cao của mầu nhiệm Vượt qua.[29] Âm thầm, nhẫn nại, với sự chăm chút của những nghệ nhân, họ trở thành những người gìn giữ sự sống. Họ dệt lại và hàn gắn sự sống ấy, góp phần làm cho thế giới trở nên nhân bản và giàu lòng trắc ẩn hơn, kiên trì và quyết tâm xây dựng một nền văn hóa của sự chăm sóc.
8. NHỮNG DẤU CHỈ MONG MANH CỦA HY VỌNG
Algeria. Rạng sáng ngày 26 và 27/3/1996. Christian de Chergé, Bruno Lemarchand, Célestin Ringeard, Christophe Lebreton, Luc Dochier, Michel Fleury và Paul Favre-Miville: 7 đan sĩ dòng Trappist thuộc Đan viện Đức Mẹ Atlas bị bắt cóc bởi những kẻ mà động cơ cho đến nay vẫn chưa được xác định. Cuối tháng Năm, người ta tìm thấy thủ cấp của các ngài gần Medea, không xa đan viện. Ngày 08/12/2018, các đan sĩ Tibhirine được phong chân phước tại Oran, cùng với 12 vị tử đạo khác của Algeria, bị sát hại trong giai đoạn 1994 -1996. Các ngài đã làm chứng cho lòng trung tín đối với Thiên Chúa, đối với một mảnh đất và đối với một dân tộc, kiên trì đến cùng trong tinh thần huynh đệ.[30]
Một ngày nọ, vào tháng 7/1994, hai năm trước cái kết đẫm máu của 7 đan sĩ Tibhirine, Mohammed, một người Hồi giáo trông coi Đan viện Đức Mẹ Atlas, đã xin thầy Christophe con dao quắm để nhổ khoai trong vườn. Khi nói về công việc họ cùng làm, anh chia sẻ: “Anh biết không, tựa như cùng một dòng máu đang chảy trong chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta cùng nhau”. Christophe, vị đan sĩ trẻ nhất, nhận xét: “Vì thế, đối với Mohammed cũng vậy, máu trước hết nói về sự sống, về sự sống được chia sẻ và được trao ban”.[31]
Bản di chúc thiêng liêng của đan sĩ Christian mở đầu bằng những lời sau đây:
Nếu một ngày nào đó - và điều ấy có thể là ngay hôm nay- tôi trở thành nạn nhân của chủ nghĩa khủng bố, vốn hiện nay dường như sẵn sàng nhấn chìm tất cả những người ngoại quốc đang sống tại Algeria, thì tôi ước mong cộng đoàn của tôi, Giáo hội của tôi và gia đình của tôi nhớ rằng cuộc đời tôi đã được “hiến dâng” cho Thiên Chúa và cho đất nước này. Ngài viết tiếp: “Cái chết của tôi có lẽ sẽ củng cố những ai vội vàng xét đoán tôi là ngây thơ hay duy tâm: ‘Giờ thì hãy để ông ấy nói xem ông nghĩ gì về lý tưởng của mình!’ Nhưng những người ấy cần biết rằng, cuối cùng, niềm khao khát sâu xa nhất của tôi sẽ được giải thoát. Điều mà tôi sẽ có thể làm, nếu Thiên Chúa muốn, là dìm ánh nhìn của tôi vào ánh nhìn của Chúa Cha, để cùng với Người chiêm ngắm con cái Hồi giáo của Người như chính Người nhìn thấy họ: Tất cả đều rạng ngời vinh quang của Đức Kitô, hoa trái của cuộc Thương khó của Người, tràn đầy ân sủng của Thánh Thần, Đấng mà niềm vui thẳm sâu luôn là thiết lập sự hiệp thông và phục hồi hình ảnh nguyên tuyền, bằng cách vui đùa với những khác biệt.
Mogadishu, Somalia, ngày 17/9/2006: Leonella Sgorbati, một nữ tu thừa sai Dòng Consolata, bị sát hại khi vừa rời bệnh viện nhi nơi chị đang phục vụ. Bảy viên đạn đã bắn trúng chị. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, nhận ra kẻ đã nổ súng vào mình, chị thì thầm: “Đừng làm hại cậu ấy, cậu ấy chỉ là một chàng trai đáng thương”. Và chị khép lại cuộc đời mình bằng những lời cao cả nhất của kinh nghiệm Kitô giáo: “Tôi tha thứ, tôi tha thứ, tôi tha thứ…” Sơ Leonella được tuyên phong chân phước năm 2018. Về mặt thiêng liêng, chị rất gần gũi với kinh nghiệm của các đan sĩ Tibhirine.
Kamenge, Burundi, ngày 8/ 9/ 2014: Ba nữ tu Bernardetta, Olga và Lucia thuộc Dòng Truyền giáo Xaviê đã bị sát hại cách dã man trong đêm. Sơ Giordana, Tổng Phụ trách Dòng Truyền giáo Xaviê tại Parma, thuật lại: “Các chị là ba nữ thừa sai cao tuổi, mang trong mình những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, vừa trở lại Burundi vì khao khát được sống giữa dân của mình”[32]. Ngày 01/10/2013, khi rời Parma để trở về Burundi, Sơ Lucia đã nói:
Tôi trở lại Burundi, ở độ tuổi này và với một thân xác yếu đuối, giới hạn, không còn cho phép tôi chạy ngược xuôi ngày đêm như trước kia. Thế nhưng, trong sâu thẳm, tôi tin rằng mình có thể nói: niềm say mê và ước muốn trung thành với tình yêu của Chúa Giêsu dành cho tôi, bằng cách thể hiện tình yêu ấy trong sứ vụ, vẫn luôn sống động.[33]
Danh sách còn có thể kéo dài nữa. Nhưng chúng ta xin dừng lại ở đây. Các đan sĩ Tibhirine đã sống một đời sống hết sức đơn sơ, được dệt nên bởi cầu nguyện, lao động và sự chia sẻ huynh đệ với người dân. Xa rời địa vị nổi bật, xa mọi thứ ồn ào hay quyền lực. Những cuộc đời mãnh liệt nhưng khiêm tốn, thanh đạm mà đầy nhiệt huyết. Sơ Leonella đã 66 tuổi và mang nhiều bệnh tật khi bị sát hại trên một con phố ở Mogadishu. Suốt nhiều năm, cùng với các nữ tu khác tại Somalia, chị sống giữa bom đạn của một cuộc chiến phi lý, được bảo vệ không phải bởi những boong-ke bê tông hay xe bọc thép, mà bởi niềm say mê dành cho Đức Giêsu Kitô, bởi tình huynh đệ gắn kết chị với các thừa sai cùng chia sẻ cuộc sống, và bởi tình yêu dành cho dân chúng. Các sơ Bernardetta, Olga và Lucia lần lượt 79, 83 và 75 tuổi khi cơn cuồng nộ sát nhân đã cướp họ khỏi những người dân mà họ đã chọn quay trở về, bất chấp sự mong manh hiển nhiên do tuổi tác và bệnh tật.
Chúng ta có thể tự hỏi: vì sao hận thù, bạo lực và sự dữ lại trút xuống những con người mong manh, dễ tổn thương, không tự vệ như thế, những người ở rất xa các cấu trúc quyền lực, xa việc tìm kiếm sự nổi bật, sức mạnh, chiến thắng hay danh tiếng? Những cuộc đời như thế có thể đe dọa ai? Có lẽ chính Sự dữ bị quấy nhiễu và khiếp sợ, bởi những con người hoàn toàn mong manh mà lại mạnh mẽ phi thường trong tinh thần. Họ tràn đầy Thiên Chúa, bừng cháy bởi Lửa của Người. Họ quá giống Chiên Thiên Chúa, Đấng hiền lành và không tự vệ, mang lấy nơi mình đau khổ, bệnh tật và tội lỗi của toàn thể vũ trụ, để trao lại niềm an ủi, sự chữa lành, sự tha thứ và ơn cứu độ. Có một dạng mong manh được Thiên Chúa cư ngụ, và chính điều đó làm cho Sự dữ khiếp sợ. Nó làm Sự dữ bối rối, run rẩy. Sự dữ không sợ quyền lực, thành công, chiến thắng, danh vọng, sức mạnh hoặc sự thống trị. Đó chính là những điều mà Sự dữ nuôi dưỡng, bám víu và sống nhờ. Nhưng Sự dữ lại chao đảo trước sự khiêm nhường, trước sự tha thứ, trước sự phó thác yêu thương, trước sự tự hủy mình cách mãnh liệt vì tình yêu, trước sự vâng phục đối với Tình yêu như chính Đức Kitô đã sống. Cho đến cùng. Cho đến Giờ tối cao, khi Tình yêu mạc khải sức mạnh vừa dịu dàng vừa mãnh liệt của mình bằng cách ôm trọn mọi hận thù và bạo lực, và chỉ trao lại lòng thương xót, tha thứ và dịu dàng. Thật vậy, Sự dữ sợ sự mong manh được tràn đầy Thiên Chúa và được hiến trao trọn vẹn cho Tình yêu. Trước điều này, Sự dữ không còn vũ khí và đánh mất quyền kiểm soát.
Vào tháng 4/2018, trong tuần Bát nhật Phục sinh, tôi có mặt tại Kabul, Afghanistan, cùng với một nữ tu khác, để thăm cộng đoàn Liên Dòng nữ tu đang điều hành một ngôi trường nhỏ dành cho trẻ em khuyết tật xuất thân từ những hoàn cảnh xã hội khó khăn. Đáng tiếc thay, dự án này đã buộc phải chấm dứt khi Taliban tiến vào Kabul vào tháng 8/2021. Cùng với hai nữ tu đang hiện diện lúc bấy giờ, thuộc hai hội dòng khác nhau và đến từ hai châu lục khác nhau, chúng tôi đến tham dự lễ Phục sinh tại nhà nguyện Công giáo duy nhất ở Afghanistan, nằm trong khuôn viên Tòa đại sứ Ý. Bề trên giáo quyền chịu trách nhiệm về Missio sui Iuris tại Afghanistan, một linh mục Barnabite cũng cư ngụ tại đây. Để đến được Tòa đại sứ từ khu ngoại ô nơi chúng tôi lưu trú, chúng tôi đi taxi và băng qua thành phố. Khu vực đại sứ quán dĩ nhiên được quân sự hóa nghiêm ngặt. Dù thế, cả binh sĩ Afghanistan lẫn quân đội nước ngoài đều đã quen biết các nữ tu, nên chúng tôi không gặp bất cứ trở ngại nào khi đi qua các chốt kiểm soát. Khi đến Tòa đại sứ Ý, chúng tôi gặp một vài binh sĩ từ căn cứ NATO gần đó, cũng đến tham dự Thánh lễ. Căn cứ chỉ cách tòa đại sứ vài trăm mét và có thể đi bộ. Tôi không khỏi xúc động khi nhận ra sự tương phản rõ rệt giữa sự hiện diện của các binh sĩ và của các nữ tu, ngay từ dáng vẻ bên ngoài. Một bên là những binh sĩ NATO, cao lớn, vạm vỡ, bước đi nặng nề, được trang bị đầy đủ theo quy chuẩn: quân phục rằn ri, áo chống đạn, mũ bảo hộ, kính che mặt, giày ủng nặng, thắt lưng dụng cụ, và súng trường khoác trên vai. Họ phải mất một lúc để tháo bớt những trang bị ấy trước khi bước vào nhà nguyện với dáng vẻ nhẹ nhàng hơn. Ngay bên cạnh họ là các nữ tu, những người phụ nữ vừa rạng ngời vừa mong manh, chỉ khoác trên mình những tấm vải Afghanistan nhẹ nhàng và chiếc khăn trùm đầu kiểu Hồi giáo thanh thoát, đeo thánh giá nơi cổ, được cẩn thận giấu kín dưới lớp áo rộng như một báu vật quý giá. Tôi chợt liên tưởng đến hình ảnh Đavít, chàng thiếu niên đã tháo bỏ bộ áo giáp mà vua Saun trao cho để bảo vệ mình, rồi bước đi tự do, không vướng bận, chỉ mang theo những viên đá và chiếc ná, tiến về phía Gôliát, một gã khổng lồ được bao bọc trong áo giáp và mũ đồng. Cậu không đặt niềm tin nơi bản thân hay vũ khí, nhưng nơi Thiên Chúa của mình (x. 1 Sm 17,1–54). Tôi sẽ không bao giờ quên lời của một sĩ quan NATO: “Hai người phụ nữ này thật phi thường, khiêm tốn và tận tâm, đang làm cho những con người nơi đây nhiều hơn gấp bội so với tất cả chúng tôi, những người lính, cộng lại”.
Chúng ta có thể tự vấn: Điều gì lay động tôi khi chiêm ngắm những “biểu tượng hiện sinh” này, được khắc ghi nơi đời sống của các nam nữ tu sĩ thánh hiến ấy? Họ đang vạch ra những lộ trình hy vọng nào cho chúng ta?
***
Ước chi đời sống thánh hiến luôn thực sự trở nên một lời ngôn sứ khiêm tốn của sự tha thứ, của việc bù đắp và hàn gắn, của việc tái thiết các mối dây huynh đệ và tỷ muội, của hòa bình, tín thác và hiệp thông. Ước chi đời sống thánh hiến trở thành người lính canh với các giác quan được mài giữa và rộng mở, để trong đêm tối có thể cảm nhận hơi thở của Thiên Chúa, ánh sáng dịu hiền của Người, tiếng thì thầm của Người, hương thơm của Người, và hương vị không thể lẫn của Người, hầu đón nhận, chỉ ra, loan báo và cùng nhau bước đi trên những lộ trình của niềm hy vọng không làm thất vọng, bởi những nẻo đường ấy được cắm rễ trong mầu nhiệm Vượt qua, trong chính Trái Tim của Thiên Chúa.
Thưa quý chị em, ước chi Đại hội này trở thành một không gian nuôi dưỡng những tiến trình tăng trưởng trong bình an của Đấng Phục Sinh: trong tâm hồn chúng ta, giữa chúng ta, trong các cộng đoàn của chúng ta, trong các sứ vụ và thừa tác vụ của chúng ta, trong Giáo hội thừa sai mang tính hiệp hành; qua đó củng cố những mạng lưới thiện hảo, những mối liên kết sâu xa, và những tiến trình của sự sống, của việc chăm sóc và của việc bảo vệ lẫn nhau.
Xin chân thành cảm ơn! Xin Thiên Chúa chúc lành cho quý chị em!
Nữ tu Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: lcwr.org
__________
[1] Văn kiện Chung kết Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, Hướng tới một Giáo hội hiệp hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ, ngày 26 tháng 10 năm 2024, số 65, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/van-kien-chung-ket-cua-dai-hoi-thuong-le-lan-thu-xvi-cua-thuong-hoi-dong-giam-muc
[2] Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, Làm thế nào để trở thành một Giáo Hội hiệp hành – thừa sai, Tài liệu làm việc cho Khoá họp thứ hai, tháng 10 năm 2024, số 4, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tai-lieu-lam-viec-instrumentum-laboris-cho-khoa-hop-thu-hai-cua-dai-hoi-thuong-hoi-dong-giam-muc-thang-102024
[3] G. Ravasi, Nabi: ngôn sứ, https://www.famigliacristiana.it/blogpost/nabi-profeta.aspx, ngày 26 tháng 8 năm 2021.
[4] Đức Phanxicô, Tiếp kiến chung, Hội trường Phaolô VI, ngày 30 tháng 3 năm 2022.
[5] Đức Phanxicô, Bài giảng Thánh lễ Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ nhân Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến lần thứ 26, Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 2 tháng 2 năm 2022, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/le-dang-chua-giesu-trong-den-thanh-02-02-2022-trung-tam-cua-moi-thu-la-chua-kito-54391
[6] Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ nhân ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến lần thứ 26, Đền thờ Thánh Phêrô, ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/le-dang-chua-giesu-trong-den-thanh-02-02-2024-tinh-than-cho-doi-chua-54410
[7] Đức Phanxicô, Bài giảng tại Công nghị Hồng y Thường lệ về việc tấn phong các hồng y mới và bỏ phiếu cho một số án phong thánh, Vatican, ngày 27 tháng 8 năm 2022
[8] X. Fr. Fallai, “Quyền bính”: tất cả những bí mật của một từ cổ với nhiều ý nghĩa, ngày 20 tháng 11 năm 2020,
https://www.corriere.it/scuola/20_novembre_25/autorita-tutti-segreti-una-parola-antica-che-ha-tanti-significati-70af4e26-2cde-11eb-a006-0b5f9624cb77.shtml
[9] Bộ Tu sĩ và các Tu hội Đời sống Tông đồ, Việc thi hành quyền bính và đức vâng phục. Faciem tuam, Domine, requiram, Huấn thị, Rôma 2008, số 13a.
[10] Sđd., số 13c.
[11] Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, số 79–80.
[12] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli Tutti, Assisi 2020, số 78. Thông điệp này mang lại nhiều suy tư sâu sắc về chủ đề trên. Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta mơ ước “như một gia đình nhân loại duy nhất, như những người lữ hành cùng chung thân phận, như con cái của cùng một trái đất là ngôi nhà chung của chúng ta” (FT, số 8), và “trở thành một ‘chúng ta’ đang cư ngụ trong Ngôi Nhà Chung” (FT, số 17). Xem thêm cuộc phỏng vấn của Đức Phanxicô dành cho Tg5, ngày 10 tháng 1 năm 2021:
https://www.avvenire.it/chiesa/pagine/intervista-papa-francesco-tg5
[13] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, Rôma 2013, số 87.
[14] Đức Phanxicô, Tông hiến Veritatis Gaudium về các Đại học và Phân khoa Giáo hội, Rôma 2017, số 4.
[15] X. Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, các số 16, 21, 26, 27, 36, 57, 88.
[16] Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, số 17.
[17] Đức Phanxicô, Diễn văn dành cho các tham dự viên Đại hội của Phong trào Focolare, Vatican, ngày 6 tháng 2 năm 2021
[18] Đức Phanxicô, Gặp gỡ hàng giáo sĩ, tu sĩ và các thành viên Hội đồng Mục vụ, Assisi, ngày 04 tháng 10 năm 2013.
[19] Đức Phanxicô, Bài giảng tại Công nghị Công khai Thường lệ về việc tấn phong các Hồng y mới, Vatican, ngày 30 tháng 9 năm 2023.
[20] Đức Phanxicô, Bài giảng tại Nhà nguyện Casa Santa Marta, ngày 2 tháng 10 năm 2018.
https://www.vaticannews.va/it/papa-francesco/messa-santa-marta/2018-10/papa-francesco-santa-marta-02-ottobre-angeli-bambini.html
[21] T. Radcliffe, Resurrection Fishing, Đại hội Thường kỳ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục – Khoá họpthứ hai, Bài suy niệm trong kỳ tĩnh tâm, ngày 1 tháng 10 năm 2024
[22] X. Đức Phanxicô, Dilexit nos -Thông điệp về tình yêu nhân loại và thần linh của Trái Tim Đức Giêsu Kitô, Rôma, ngày 24 tháng 10 năm 2024, đặc biệt các số 181–204.
[23] Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, số 6.
[24] Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, số 55.
[25] Đức Phanxicô, Sứ điệp Urbi et Orbi, Lễ Phục Sinh 2025, Vatican, ngày 20 tháng 4 năm 2025.
[26] Đức Lêô XIV, Phép lành Urbi et Orbi đầu tiên, Vatican, ngày 8 tháng 5 năm 2025.
[27] “Những nghệ nhân của hòa bình” là cụm từ được Đức Giáo hoàng Phanxicô sử dụng nhiều lần; xem Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 53, ngày 1 tháng 1 năm 2020:
https://www.vatican.va/content/francesco/it/messages/peace/documents/papa-francesco_20191208_messaggio-53giornatamondiale-pace2020.html
[28] X. R. Pasolini, Knowing how to rise again, Bài giảng Mùa Chay thứ ba trong chuỗi “Neo chặt trong Đức Kitô. Bén rễ và được xây dựng trên niềm hy vọng của Sự Sống mới”, Vatican, ngày 4 tháng 4 năm 2025.
[29] X. A. Munley (chủ biên), Learnings from the Journey: The LCWR Leadership Team Interviews — Findings, Implications, and the Persistent Call to Transformation, 2025.
[30] X. A. Palermo, Gia sản thiêng liêng của các đan sĩ Tibhirine bị bắt cóc cách đây 25 năm, Vatican News, ngày 26 tháng 3 năm 2021:
https://www.vaticannews.va/it/chiesa/news/2021-03/l-eredita-spirituale-dei-monaci-di-tibhirine-rapiti-25-anni-fa.html
[31] S. Falasca, Algérie. Bài học đơn sơ của các vị tử đạo Tibhirine, Avvenire, ngày 21 tháng 11 năm 2018:
https://www.avvenire.it/agora/pagine/martiri-di-tibhirine-monaci-trappisti-semplicemente-cristiani-lev
[32] Hai nữ tu thừa sai Xaviê bị sát hại tại Burundi, La Repubblica (Parma–Bologna), ngày 7 tháng 9 năm 2014:
https://parma.bologna.repubblica.it/cronaca/2014/09/07/news/due_missionarie_saveriane_uccise_in_burundi-95229424/
[33] Sđd.
