Năm 2025 đánh dấu kỷ niệm 60 năm ban hành nhiều văn kiện của Công đồng Vaticanô II. Trong khi Lumen Gentium, Gaudium et Spes và Dei Verbum (thậm chí cả Dignitatis Humanae) vì những lý do chính đáng, thường được chú ý nhiều hơn trong việc nghiên cứu những văn kiện sau cùng của Công đồng[1], thì cũng rất đáng suy nghĩ về sự phát triển của các tư tưởng được khơi gợi từ Gravissimum Educationis, Tuyên ngôn ngắn gọn nhưng quan trọng của Công đồng về giáo dục Kitô giáo[2]. Không như các văn kiện khác của Công đồng, bản văn này đặc biệt mở ra khả năng cho những công trình tương lai được thực hiện; thực vậy, phần dẫn nhập của Tuyên ngôn kết thúc bằng lời tuyên bố sau: “Một ủy ban đặc biệt sau Công đồng sẽ giải thích cặn kẽ những nguyên tắc ấy và các hội đồng giám mục sẽ từ đó thích nghi tuỳ theo hoàn cảnh khác biệt tại mỗi địa phương.”[3] Ở mức độ bao quát hơn, sự giải thích này là nhiệm vụ của Bộ Giáo dục Công giáo khi đã kiện toàn Tuyên ngôn của Công đồng bằng nhiều văn kiện quan trọng. Lần theo diễn tiến suy tư của những văn kiện hậu Công đồng đó không chỉ hữu ích cho các thầy cô và nhà giáo dục, mà còn cho tất cả những ai ngày nay đang tìm cách rao giảng đức tin; từ đó, chúng ta có thể bắt đầu nhận ra cách thức Giáo hội đã và đang phát triển giáo huấn về việc giảng dạy, cũng như tự nhận thức về “chức năng giảng dạy” của mình trong thế giới hiện đại.[4]
Bài tiểu luận này chỉ tập trung đào sâu vào một khía cạnh của sự canh tân sư phạm ấy: Nếu phải chọn một nhân tố trong Gravissimum Educationis đã được khai triển nhiều nhất (và thậm chí xét theo mặt nào đó, tự nó vẫn đang mang sức sống thức thời), tôi sẽ chọn từ “chứng tá”. Hiếm có từ nào khác mang một sức mạnh, khả năng biến hoá và hình ảnh biểu trưng cho động lực mới của việc giảng dạy của Giáo hội trong thế giới hiện đại như từ này; hơn nữa, dõi theo sự hình thành nền giáo dục dựa trên chứng tá phát sinh từ Gravissimum không chỉ mang tính hướng dẫn cho giới giáo dục, mà còn cho toàn thể tín hữu đang khao khát hiểu biết và loan truyền đức tin.[5]
Tuy nhiên, khi bắt đầu xem xét dự phóng của Công đồng và ảnh hưởng của nó, sẽ thật cần thiết để nhìn lại những nhân tố lịch sử có trước Tuyên ngôn này. Mặc dù Gravissimum Educationis mở ra cho những giải thích chi tiết sau đó, văn kiện này vẫn mang ảnh hưởng của thông điệp Divini Illius Magistri (1929) của Đức Piô XI, và cho thấy sự lệ thuộc vào thông điệp này qua những trích dẫn. Đối với các thầy cô trường Công giáo, trích dẫn quan trọng nhất là lời khẳng định của Đức Piô XI rằng:
Những trường học hoàn hảo không là thành quả chính yếu từ các phương pháp tốt cho bằng từ những người thầy tốt, những người thầy được đào tạo kỹ lưỡng và vững vàng trong lĩnh vực mình giảng dạy; hội đủ những phẩm chất tri thức và luân lý cần thiết cho sứ vụ cao cả của mình; nuôi dưỡng một tình yêu trong sáng và thánh thiện đối với những người trẻ được trao phó cho họ, bởi vì họ yêu mến Đức Giêsu Kitô và Hội thánh của Người, nơi mà những người trẻ luôn được ưu ái; và như vậy họ là những người thật lòng quan tâm đến thiện ích đích thực của gia đình và quê hương mình.[6]
Gravissimum Educationis lại mang âm hưởng của đoạn văn này như sau:
Tuy nhiên, các nhà giáo nên nhớ rằng họ là những nhân vật chính giúp cho trường Công giáo thực hiện được những mục tiêu và dự án của mình. Vì thế, họ phải được chuẩn bị hết sức chu đáo để lãnh hội những khoa học đạo đời được chứng thực bằng các văn bằng tương xứng, và có được nhiều kiến thức sư phạm phù hợp với những phát minh của thời đại tiến bộ. Chờ gì các giáo viên, khi liên kết với các bạn đồng nghiệp và với các học sinh trong tình bác ái, và được thấm nhuần tinh thần tông đồ, sẽ làm chứng cho vị Tôn sư duy nhất là Chúa Kitô bằng đời sống cũng như bằng lời giảng dạy.[7]
Cả hai đoạn văn đều nhấn mạnh rằng người thầy cần vừa phải có năng lực chuyên môn vừa phải có đời sống thánh thiện và tốt lành; mối quan hệ của họ với học sinh phải được thấm đẫm trong đức ái.
Đồng thời, văn kiện Công đồng mở ra một cách diễn đạt mới về việc giảng dạy trong trường Công giáo: người thầy phải “làm chứng tá cho Đức Kitô”. Từ ngữ này không phải là ngẫu nhiên. Ngay từ số 7, Gravissimum đã ghi nhận rằng các giáo viên Công giáo trong các trường học không Công giáo có thể truyền dạy đức tin “bằng đời sống chứng tá của những người giảng dạy”.[8]
Đáng chú ý là từ “chứng tá” (tiếng Latinh: testimonium) chỉ xuất hiện một lần trong thông điệp của Đức Piô XI, và chỉ với ý nghĩa “lịch sử làm chứng”.[9] Chứng tá theo như cách diễn đạt sư phạm hầu như chưa xuất hiện trong các suy tư về giáo dục tiền Công đồng.
Ngược lại, chứng tá lại có tầm quan trọng lớn lao đối với Công đồng Vaticanô II; trong một văn kiện khác vào năm 1965 là Ad Gentes, Công đồng đã suy tư về đời sống truyền giáo, dành trọn một phần để nói về chứng tá trong công cuộc loan báo Tin mừng. Trong văn kiện này, Công đồng khẳng định:
Tất cả các Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải dùng chứng tá và gương mẫu đời sống để thể hiện con người mới mà họ đã mặc lấy nhờ Bí tích Thánh tẩy, đồng thời biểu dương sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã củng cố họ qua Bí tích Thêm sức, để những người chung quanh nhìn thấy các việc lành của họ mà ngợi khen Chúa Cha (x. Mt 5,16), và nhận thức đầy đủ hơn ý nghĩa đích thực của đời sống con người và mối dây liên kết toàn thể cộng đồng nhân loại.[10]
Như vậy, chứng tá Kitô giáo, khi được hiểu là lời tuyên xưng đức tin được diễn tả bằng một đời sống tốt lành và thánh thiện, chính là trung tâm của hoạt động truyền giáo.
Ít có văn kiện nào vừa tóm kết sự chuyển dịch của khái niệm chứng tá, vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của nó, hơn câu nói nổi tiếng của Đức Phaolô VI trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi. Ngài nói: “Con người thời nay sẵn sàng lắng nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy; và nếu họ có lắng nghe các thầy dạy, thì là vì các thầy dạy ấy cũng là những chứng nhân.”[11] Tiếp đến, ngài còn định nghĩa “chứng tá” dựa trên cách sống: “Như thế, trước hết chính bằng cách hành xử và bằng đời sống của mình mà Giáo hội sẽ loan báo Tin mừng cho thế giới.”[12] Nhờ vậy, chỉ mười năm sau khi Công đồng kết thúc, chứng tá đã được hiểu là sự tổng hoà toàn diện giữa lời nói và hành động, hướng đến một đời sống thánh thiện theo gương Đức Kitô. Tiếp nối ý nghĩa đó, có thể hiểu làm chứng cho Đức Kitô không chỉ là việc tuyên xưng niềm tin của một người vào Chúa, mà còn là sống một đời sống thánh thiện phản ánh sự dấn thân trọn vẹn dành cho Người.
Hiển nhiên, các văn kiện hậu Công đồng nhằm triển khai Tuyên ngôn về giáo dục này đều được xây dựng trên nguyên lý ấy. Năm 1977, Bộ Giáo dục Công giáo giải thích rằng: “Sự cao quý của nhiệm vụ mà các thầy cô được mời gọi đảm nhận đòi hỏi họ, theo gương Đức Kitô là vị Tôn sư duy nhất, phải trình bày sứ điệp Kitô giáo không chỉ bằng lời nói mà còn bằng mọi cử chỉ trong cách ứng xử của mình.”[13] Đến năm 1982, khi nói về vai trò của người giáo dân, Bộ nhấn mạnh rõ ràng rằng các thầy cô trước hết và trên hết là những “chứng tá của đức tin.”[14] Bộ Giáo dục Công giáo còn phân biệt khái niệm này với việc công bố Lời, nhằm nhấn mạnh hơn nữa việc sống đời sống chứng tá một cách nhiệt thành! “Để đạt được sự hiện diện của toàn thể Giáo hội và của Đấng Cứu Độ mà Giáo hội loan báo, người tín hữu phải sẵn sàng công bố sứ điệp bằng lời nói, và làm chứng cho sứ điệp ấy bằng việc làm.”[15]
Cho đến tận năm 2023, Bộ Giáo dục Công giáo vẫn tiếp tục khẳng định nguyên lý này đối với giáo viên: “Trong số tất cả các thành viên của cộng đồng học đường, các thầy cô giáo trổi vượt hơn hết khi mang trách nhiệm đặc biệt trong việc giáo dục. Qua những kỹ năng sư phạm-giảng dạy, cũng như qua việc làm chứng bằng chính đời sống, họ giúp cho trường học Công giáo hiện thực công trình huấn luyện của mình.”[16]
Lúc khởi đầu, làm chứng cho Đức Kitô có nghĩa là lời tuyên xưng đức tin cùng với sự kiên trì tận hiến đến mức đổ máu. Vì thế, từ “chứng tá” – trong tiếng Hy Lạp là martyr – đã trở thành nguồn gốc của từ “tử đạo” ngày nay. Và dưới ánh sáng các suy tư Kitô học của Công đồng, Giáo hội ngày nay cũng lại nhấn mạnh rằng chính việc sống một đời sống thánh thiện là cốt lõi của chứng tá Kitô giáo. Do đó, sáu mươi năm sau Gravissimum, chúng ta có thể kết luận rằng các thầy cô, những người mà thành công của các trường học phần lớn tuỳ thuộc vào họ, trước hết không phải cố gắng để trở thành thầy dạy, mà phải cố gắng trở thành những chứng nhân.[17]
Nếu việc giảng dạy bao gồm cả lời nói và hành động được nhấn mạnh, trong đó hành động thậm chí được chú trọng hơn, thì người thầy ngày nay được mời gọi trở nên hiện thân cho nhiều nguyên lý chính yếu của Công đồng Vaticanô II. Nỗ lực trở thành chứng nhân Kitô giáo có nghĩa là đón nhận ơn gọi nên thánh phổ quát,[18] là tiếp cận mọi người của thế giới hiện tại ngay cả khi lời nói bất lực,[19] và là phản chiếu nền sư phạm thần linh, nơi chính Thiên Chúa nới với chúng ta bằng lời nói và hành động.[20]
Điều này gợi lại chân lý nhân học về bản chất mô phỏng của con người, một thực tại bị bỏ sót nghiêm trọng trong các trào lưu Tân lãng mạn của thời hiện đại; nó đòi hỏi con người phải nhớ rằng chúng ta được thúc đẩy không chỉ bởi khao khát về những ý tưởng hướng đến chân-thiện-mỹ. Quan trọng hơn hết là chúng ta noi gương bắt chước những con người thu hút chúng ta bằng một nét rõ ràng của Hữu thể thần linh mà chúng ta ao ước được thủ đắc.[21] Những bài giảng đơn thuần sẽ không còn lay động được đám đông; chính con người mới chạm tới trái tim con người. Ngày nay, ý tưởng không còn là nhân tố gây ảnh hưởng; chính con người mới là người ảnh hưởng.
Từ những tiến triển của suy tư này, người thầy hôm nay khi nhìn lại Gravissimum Educationis có thể đón nhận sự phong nhiêu của khái niệm “chứng tá” không chỉ trong các văn kiện giáo dục của Rôma mà còn trong các tài liệu Huấn quyền về Tân Phúc âm hoá. Thật vậy, Đức Thánh cha Phanxicô, trong văn kiện nền tảng của triều đại giáo hoàng của ngài, đã xác định rõ rằng khi các khái niệm trừu tượng của trí thức không còn thuyết phục thì chứng tá sẽ là sức mạnh có sức ảnh hưởng:
Chúng ta sẽ không bao giờ có thể làm cho giáo huấn của Hội thánh được mọi người hiểu một cách dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận. Đức tin mãi mãi vẫn là một thứ thập giá; nó luôn luôn hàm chứa một mảng mờ tối bất chấp sự ưng thuận vững vàng. Một số điều chỉ có thể được hiểu và chấp nhận từ cơ sở của sự ưng thuận này, vốn là chị em với đức ái, vượt lên trên các lý do hay lập luận rõ ràng. Chúng ta cần nhớ rằng mọi lời giảng dạy tôn giáo rốt cuộc đều phải được phản chiếu nơi cách sống của người giảng dạy, chính cách sống này đánh thức sự ưng thuận của quả tim bằng sự gần gũi, yêu thương và chứng tá của nó.[22]
Trong ánh sáng ấy, ánh sáng của toàn thể “đường hướng mục vụ” của Công đồng Vaticanô II, đời sống và công việc của người thầy cũng phải chiếu sáng như một chứng nhân. Theo tinh thần của Công đồng, người giảng dạy phải trở thành một biểu tượng sống động cho chính mục tiêu mà Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã nêu lên khi triệu tập Công đồng:
Nội dung của kho tàng đức tin cổ xưa là một chuyện, còn cách thức trình bày nội dung ấy lại là một chuyện khác. Và chính cách thức trình bày này cần được đặc biệt lưu tâm với sự kiên nhẫn cần thiết, sao cho mọi người được lượng giá theo hình thức và mức độ của một huấn quyền đề cao tính mục vụ.[23]
Công đồng đã đặt câu hỏi: Làm thế nào để mang kho tàng đức tin đến với con người thời đại hôm nay? Một trong những câu trả lời căn bản phải được tìm thấy nơi những người thầy vĩ đại của con người ngày nay. Thật hợp lý khi chúng ta tìm thấy bóng dáng họ trong các trường Công giáo, và rộng hơn nơi các lớp giáo lý, nơi công cuộc truyền giáo hay những hoạt động tông đồng loàn báo Tin mừng khác.
Vì thế, để kết luận, có thể mượn một ý niệm mới xuất hiện từ câu nói rút ra trong Gravissimum: “Ước gì các thầy cô, bằng chính đời sống cũng như bằng lời giảng dạy của mình, làm chứng cho Đức Kitô, vị Tôn sư duy nhất.” Người làm công việc giảng dạy trong Giáo hội không chỉ hiện thân cho mục tiêu và tầm nhìn của Công đồng, mà còn phản chiếu một khía cạnh đặc biệt của chính Đức Kitô, “vị Tôn sư duy nhất”. Theo Đức Kitô khởi đầu bằng việc bước theo những vị thầy cao cả mà Người đã sai đến.
Điều chính yếu khi trở lại với Gravissimum sau sáu mươi năm là nhận ra rằng chúng ta phải không ngừng cầu nguyện và tìm kiếm những người thầy, giáo lý viên, nhà truyền giáo và trên hết là hàng giáo sĩ có thể trở nên những chứng tá; đồng thời, khi tìm gặp được họ, chúng ta có thể nhận ra nơi họ là hiện thân của trái tim sứ mệnh của Công đồng Vaticanô II. Và rồi, nhờ bước theo họ, chúng ta có thể theo Đức Kitô cách trọn vẹn hơn, Đấng mà Maria Mađalêna đã gặp vào sáng Chúa nhật Phục sinh và đã gọi Rabbi: Thưa Thầy.
Lm. Titô Trần Nguyên Lãm
Chuyển ngữ từ: hprweb.com (29/12/2025)
_____________
[1] Chính xác thì Lumen Gentium là văn kiện được công bố vào tháng 11 năm 1964.
[2] Khi nộp bài viết này để xuất bản vào tháng 8 năm 2025, tôi đã không biết trước được rằng Đức Thánh cha Lêô XIV sẽ có một khảo luận sâu rộng nhân dịp kỷ niệm 60 năm. Nếu biết trước văn kiện Drawing New Path of Hope (Tông thư Vẽ nên những bản đồ mới của niềm hy vọng), tôi hẳn đã trích dẫn và nhiệt thành giới thiệu, như hiện tôi đang làm qua đoạn trích sau đây (một trong nhiều viên ngọc quý của Đức Thánh Cha): “Trường Công giáo là môi trường nơi mà đức tin, văn hoá và cuộc sống hoà quyện vào nhau. Đó không chỉ là một cơ sở giáo dục, nhưng còn là một môi trường sống, trong đó viễn tưởng Kitô giáo thấm nhập vào mọi môn học và mọi tương tác. Người làm công tác giáo dục được mời gọi đảm nhận một trách nhiệm vượt lên trên cả khuôn khổ của hợp đồng lao động: chứng tá của họ cũng có giá trị như những bài giảng của họ. Vì lý do đó, việc đào tạo các nhà giáo dục – khoa học, sư phạm, văn hoá và thiêng liêng – rất quan trọng và mang tính cách quyết định” (5,2).
[3] Công đồng Vaticanô II, Gravissimum Educationis, vatican.va, ngày 28 tháng 10 năm 1965, phần Dẫn nhập.
[4] Bộ Giáo luật, các điều 747-755.
[5] Một số khía cạnh của phân tích này đã được trình bày trong chương ba của cuốn sách của tôi, Modeling the Master.
[6] Đức Piô XI, Divini Illius Magistri, vatican. va, ngày 31 tháng 12 năm 1929, số 88.
[7] Gravissimum Educationis, số 8.
[8] Gravissimum Educationis, các số 7-8, chữ nghiêng do tác giả thêm vào.
[9] Đức Piô XVI, Divini Illius Magistri, số 38.
[10] Công đồng Vaticanô II, Ad Gentes, vatican.va, ngày 07 tháng 12 năm 1965, số 11.
[11] Đức Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, vatican.va, ngày 08 tháng 12 năm 1975, số 41.
[12] Đức Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, số 41.
[13] Bộ Giáo dục Công giáo, The Catholic School, vatican.va, ngày 19 tháng 3 năm 1977, số 43.
[14] Thật vậy, điều này còn được thể hiện ngay trong tựa đề của văn kiện của Thánh Bộ: Lay Catholics in Schools: Witnesses to Faith.
[15] Bộ Giáo dục Công giáo, Lay Catholics in Schools: Witnesses to Faith, vatican.va, ngày 15 tháng 10 năm 1982, số 9.
[16] Bộ Giáo dục Công giáo, The identity of the Catholic School for a Culture of Dialogue, vatican.va, ngày 25 tháng 01 năm 2022.
[17] Và hơn thế nữa, mục tiêu của việc làm chứng trong giảng dạy không chỉ giúp học sinh nắm vũng nội dung hay thâm chí “đạt tới cùng đích tối hậu” theo nghĩa chung. Mục tiêu là để chính họ trở thành những chứng nhân (GE số 2).
[18] Công đồng Vaticanô II, Lumen Gentium, vatican.va, ngày 21 tháng 11 năm 1964, số 39.
[19] Công đồng Vaticanô II, Gaudium et Spes, vatican.va, ngày 07 tháng 12 năm 1965, các số 1-2.
[20] Công đồng Vaticanô II, Dei Verbum, vatican.va, ngày 18 tháng 11 năm 1965, các số 4, 14.
[21] Điều này dựa trên nguyên lý chính yếu của thuyết mô phỏng của Girard. Tôi đã triển khai những hệ quả mục vụ và sư phạm của ý tưởng này trong nhiều bài viết trên HPR cũng như trong cuốn sách đã đề cập ở trên. Xem đặc biệt bài Pope Francis and the Girardian Moment, xuất bản ngày 25 tháng 12 năm 2021. www.hprweb.com/2021/02/pope-francis-and-the-girardian-moment/.
[22] Đức Phanxicô, Evangelii Gaudium, ngày 24 tháng 11 năm 2013, số 43.
[23] Công đồng Vaticanô II – Tiếng nói của Giáo hội, https://vatican2voice.org/91docs/opening_speech.htm. Trang web chính thức của Vatican hiện chưa có bản dịch tiếng Anh.
