TÔNG THƯ 

VẼ NÊN NHỮNG BẢN ĐỒ MỚI CỦA NIỀM HY VỌNG

của Đức Giáo hoàng Lêô XIV

Nhân dịp Kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo Gravissimum educationis

Quảng trường Thánh Phêrô

(Thứ Hai ngày 27 tháng 10 năm 2025)

[Đa phương tiện]

1. Nhập đề

2. Một lịch sử năng động

3. Một truyền thống sống động

4. Kim chỉ nam của Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo [Gravissimum educationis]

5. Trung tâm là con người

6. Căn tính và tính bổ trợ

7. Chiêm ngắm Thụ tạo

8. Một chòm sao giáo dục

9. Định hướng những không gian mới

10. Ngôi sao Bắc Đẩu của Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu

11. Những bản đồ mới của niềm hy vọng


1. Nhập đề

1.1. Vẽ nên những bản đồ mới của niềm hy vọng. Ngày 28 tháng 10 năm 2025 đánh dấu ngày kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Gravissimum educationis của Công đồng Vaticano II về tầm quan trọng đặc biệt và tính thời sự sâu sắc của giáo dục trong đời sống con người. Với Tuyên ngôn này, Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhở Giáo hội rằng, giáo dục không phải là một hoạt động phụ trợ, nhưng tạo nên chính nền tảng của việc loan báo Tin mừng: đó là cách thức cụ thể để Tin mừng trở thành một cử chỉ giáo dục, một mối tương giao, một nền văn hóa. Ngày nay, trước những thay đổi nhanh chóng và những bất định khó định hướng, di sản này đang cho thấy sức bật đáng kinh ngạc. Nơi nào các cộng đồng giáo dục để mình được lời Chúa Kitô hướng dẫn, họ không thoái lui, nhưng được hồi sinh; họ không xây dựng những bức tường, nhưng những cây cầu. Họ đáp lại bằng sự sáng tạo, mở ra những khả năng mới cho việc truyền tải kiến thức và ý nghĩa trong các trường học, các đại học, đào tạo chuyên môn và dân sự, trong mục vụ học đường và giới trẻ, và trong nghiên cứu, bởi vì Tin mừng không làm cho già cỗi, nhưng làm “mới mọi sự” (Kh 21,5). Mỗi thế hệ lắng nghe Tin mừng như một điều mới mẻ có sức làm tái sinh. Mỗi thế hệ đều có trách nhiệm đối với Tin mừng, đồng thời khám phá sức mạnh sâu xa và lan tỏa của Tin mừng.

1.2. Chúng ta đang sống trong một môi trường giáo dục phức tạp, bị phân mảnh và số hóa. Chính vì lý do này, thật khôn ngoan khi dừng lại và hướng ánh nhìn của chúng ta về “vũ trụ quan của nền giáo dục Kitô giáo” - một tầm nhìn có thể tự đổi mới qua nhiều thế kỷ và khơi dậy nguồn cảm hứng tích cực cho mọi chiều kích đa dạng của giáo dục. Ngay từ khởi thủy, Tin mừng đã làm nảy sinh những “chòm sao giáo dục”: những trải nghiệm vừa khiêm nhường vừa mạnh mẽ, có khả năng giải nghĩa các dấu chỉ thời đại, gìn giữ sự hiệp nhất giữa đức tin và lý trí, giữa tư tưởng và cuộc sống, giữa kiến thức và công lý. Trong cơn giông bão, chúng là mỏ neo cứu rỗi; và trong lúc bình lặng, chúng là một cánh buồm căng gió. Một ngọn hải đăng trong đêm tối dẫn đường cho chúng ta.

1.3. Tuyên ngôn Giáo dục Kitô giáo (Gravissimum Educationis) vẫn không hề mất đi sức mạnh nội tại của nó. Từ khi được công bố và đón nhận, văn kiện này đã khơi dậy một “chòm sao” những công trình và đặc sủng, vẫn đang tiếp tục soi sáng và định hướng con đường giáo dục cho đến hôm nay: các trường học và các đại học, các phong trào và các học viện, các hiệp hội giáo dân, các dòng tu, và các mạng lưới quốc gia cũng như quốc tế. Cùng nhau, những thực thể sống động này đã củng cố một di sản tinh thần và sư phạm có khả năng vượt qua thế kỷ 21 và ứng phó với những thách thức cấp bách nhất. Di sản này không phải là bất di bất dịch: nó là một la bàn tiếp tục chỉ đường và nói về vẻ đẹp của cuộc hành trình. Những kỳ vọng ngày nay không hề kém cạnh những thách đố mà Giáo hội đã phải đối mặt sáu mươi năm trước. Ngược lại, chúng thậm chí còn rộng lớn hơn và trở nên phức tạp hơn. Đối diện với hàng triệu trẻ em trên khắp thế giới vẫn chưa được tiếp cận giáo dục tiểu học, làm sao chúng ta có thể không hành động? Đối mặt với những tình trạng khẩn cấp nghiêm trọng về giáo dục do chiến tranh, di dân, bất bình đẳng và các hình thức nghèo đói khác nhau gây ra, làm sao chúng ta không cảm thấy cần phải nhanh chóng canh tân sự dấn thân của mình? Như tôi đã nhắc lại trong Tông huấn Dilexi te: “Giáo dục luôn là một trong những biểu hiện cao nhất của đức ái Kitô giáo.”[1] Thế giới cần hình thức hy vọng này

2. Một lịch sử năng động

2.1. Lịch sử giáo dục công giáo là lịch sử hoạt động của Chúa Thánh Thần. Giáo hội là “hiền mẫu và tôn sư”[2] không phải bằng uy quyền, nhưng bằng phục vụ: Giáo hội đồng hành với sự phát triển của tự do, đảm nhận sứ mạng của Thầy Chí Thánh, để tất cả mọi người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Những phương thế giáo dục nối tiếp nhau đều biểu lộ một cái nhìn về con người như hình ảnh của Thiên Chúa, được kêu gọi hướng đến chân lý và sự thiện, và vô số phương pháp phục vụ cho ơn gọi này. Các đặc sủng giáo dục không phải là những công thức cố định, cứng nhắc nhưng là những đáp ứng độc đáo cho nhu cầu của mỗi thời đại.

2.2. Trong những thế kỷ đầu, các ẩn phụ sa mạc đã dạy sự khôn ngoan bằng dụ ngôn và châm ngôn; các ngài đã tái khám phá lộ trình dẫn đến điều cốt yếu, đến sự rèn luyện của miệng lưỡi và sự canh giữ trái tim; các ngài đã truyền đạt một phương pháp sư phạm về nhận thức, để nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện ở khắp nơi. Thánh Augustinô, khi lồng ghép trí tuệ Kinh thánh vào truyền thống văn hóa La Hy, đã hiểu rằng người thầy đích thực khơi dậy khát vọng chân lý, giáo dục sự tự do để đọc các dấu chỉ và lắng nghe tiếng nói nội tâm. Đời sống đan tu đã duy trì truyền thống này ở những nơi khó tiếp cận nhất, nơi trong nhiều thập niên, các tác phẩm kinh điển được nghiên cứu, chú giải và giảng dạy, đến mức, nếu không có công việc thầm lặng phục vụ văn hóa này, thì nhiều kiệt tác đã không thể tồn tại cho đến ngày nay. Rồi từ “con tim của Giáo hội”, những đại học đầu tiên đã được khai sinh, và ngay từ khởi đầu, các trường ấy đã được biết đến là “một trung tâm ưu việt về sáng tạo và truyền bá tri thức vì lợi ích của toàn thể nhân loại.”[3] Chính trong những giảng đường đó, tư tưởng suy luận đã tìm được khả năng tự hình thành một hình thái vững chắc và can đảm vươn mình đến tận biên cương của khoa học, nhờ trung gian của các Dòng Hành khất. Nhiều Hội dòng đã đi tiên phong trong các lãnh vực tri thức này, làm phong phú thêm nền giáo dục theo cách đổi mới về mặt sư phạm và có tầm nhìn xã hội.

2.3. Điều này đã được thể hiện theo nhiều phương cách khác nhau. Trong Quy tắc Nghiên cứu [Ratio Studiorum], sự phong phú của truyền thống Kinh viện hòa quyện với linh đạo Inhaxiô, điều chỉnh một chương trình giảng dạy vừa mạch lạc vừa liên ngành và mở ra với các thử nghiệm. Vào thế kỷ XVII tại Rôma, thánh Giuse Calasanz đã mở những trường học miễn phí cho người nghèo, với nhận thức sâu sắc rằng việc biết đọc, biết viết và tính toán là một vấn đề của phẩm giá con người, trước khi là vấn đề của năng lực. Tại Pháp, thánh Gioan Lasan, “nhận ra sự bất công do việc loại trừ con em giới thợ thuyền và người bình dân khỏi hệ thống giáo dục,”[4] nên đã thành lập Dòng Anh Em Trường Kitô (thường được gọi là Dòng La San). Vào đầu thế kỷ XIX, cũng tại Pháp, thánh Marcellinô Champagnat đã tận tụy “hiến thân trọn vẹn cho sứ mạng giáo dục và loan báo Tin mừng, cho trẻ em và thanh thiếu niên, nhất là những em thiếu thốn nhất, trong giai đoạn mà việc tiếp cận giáo dục vẫn còn là đặc quyền của một số ít người”.[5] Tương tự như vậy, thánh Gioan Bosco, với “phương pháp phòng ngừa”, đã biến kỷ luật thành sự hợp lý và gần gũi. Những người phụ nữ can đảm như Vicenta María López y Vicuña, Francesca Cabrini, Josephine Bakhita, Maria Montessori, Katharine Drexel và Elizabeth Ann Seton đã mở ra cánh cửa cho các thiếu nữ, người di cư và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Tôi xin nhắc lại điều tôi đã nêu rõ trong Tông huấn Dilexi te: “Đối với đức tin Kitô giáo, việc giáo dục người nghèo không phải là việc thi ân, nhưng là một bổn phận.”[6] Dòng chảy lịch sử của những hành động cụ thể ấy minh chứng rằng, trong Giáo hội, việc giáo dục không bao giờ chỉ là lý thuyết trừu tượng, mà là một thực tại sống động, mang hơi thở con người, đầy nhiệt huyết và gắn liền với lịch sử.

3. Một truyền thống sống động

3.1. Giáo dục Kitô giáo là một công trình tập thể: không ai giáo dục một mình. Cộng đồng giáo dục là một “chúng ta”, trong đó giáo viên, học sinh, gia đình, nhân viên hành chính và đội ngũ dịch vụ, các vị mục tử và xã hội dân sự cùng nhau gieo mầm và nuôi dưỡng sự sống.[7] Chính “chúng ta” ấy ngăn cản không để cho dòng nước giáo dục tù đọng trong vũng lầy của thói quen “xưa nay vẫn thế”, nhưng thúc đẩy nó chảy đi, nuôi dưỡng và làm trổ sinh hoa trái. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26), tự bản chất, con người có khả năng tiếp nhận chân lý và tương quan. Do đó, vấn nạn về mối liên hệ giữa đức tin và lý trí không phải là một chương sách tùy chọn: “Chân lý tôn giáo không chỉ là một phần, mà còn là một điều kiện của kiến thức phổ quát.”[8] Những lời này của thánh Gioan Henry Newman – mà trong bối cảnh Đại lễ Kỷ niệm của Thế giới Giáo dục này, tôi rất vui mừng long trọng được tuyên bố, ngài là đồng bổn mạng sứ vụ giáo dục của Giáo hội, cùng với thánh Tôma Aquinô – là một lời mời gọi chúng ta hãy canh tân sự dấn thân đối với một kiến thức, vừa có trách nhiệm về mặt trí tuệ, vừa nghiêm ngặt, nhưng vẫn mang tính nhân văn sâu sắc. Chúng ta cũng phải thận trọng để không sa vào cạm bẫy của thứ “khai sáng” chỉ dựa trên một đức tin (fides) vốn bị bó hẹp trong phạm vi lý trí (ratio) mà thôi. Chúng ta cần phải vượt qua bế tắc này, bằng cách khôi phục một tầm nhìn mang tính đồng cảm và cởi mở, để ngày càng hiểu rõ hơn cách con người ngày nay tự nhìn nhận bản thân họ, và để phát triển và đào sâu việc giáo dục của chúng ta. Do đó, chúng ta không được tách rời khát vọng và trái tim khỏi kiến thức: điều này đồng nghĩa với việc phân mảnh con người. Các đại học và các trường công giáo là nơi mà những vấn nạn không bị rơi vào im lặng, và những nghi ngờ không bị loại trừ, nhưng được đồng hành cùng chúng ta. Ở đó, trái tim đối thoại với trái tim, và phương pháp chính là chăm chú lắng nghe, nhận ra rằng, người khác là một điều tốt đẹp, chứ không phải là một mối đe dọa. Từ trái tim đối thoại với trái tim [cor ad cor loquitur] chính là châm ngôn sống của thánh Gioan Henry Newman, được trích lại từ một bức thư của thánh Phanxicô Salêsiô: “Chính lòng chân thành mới làm lay động trái tim con người, chứ không phải chỉ bằng những lời hoa mỹ mà thôi.”

3.2. Giáo dục là hành động của niềm hy vọng và sự đam mê được đổi mới vì nó hé lộ lời hứa mà chúng ta nhìn thấy ở tương lai của nhân loại.[9] Tính đặc thù, chiều sâu và phạm vi của hành động giáo dục là một công trình– vừa huyền nhiệm vừa thực tiễn – của việc “làm cho hữu thể phát triển mạnh mẽ [...] chính là chăm sóc linh hồn”, như chúng ta đọc được trong tác phẩm “Socrates tự biện”, được triết gia Platon ghi lại (30a-b). Giáo dục là “một sứ mạng của những lời hứa”: nó hứa trao thời gian, niềm tin và kỹ năng; nó hứa ban công lý và lòng thương xót; nó trao ban can đảm để sống sự thật và mang lại dầu thơm của niềm an ủi. Giáo dục là một công trình của tình yêu, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, hàn gắn những rạn nứt trong các mối tương giao và trả lại cho lời nói sức nặng của lời hứa: “Mọi người đều có khả năng tìm kiếm chân lý, nhưng lộ trình sẽ trở nên dễ dàng hơn khi có người đồng hành.”[10] Chân lý được tìm kiếm trong cộng đồng.

4. Kim chỉ nam của Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo [Gravissimum educationis]

4.1. Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo của Công đồng Vaticanô II tái khẳng định quyền được giáo dục của mọi con người, và xác định gia đình chính là trường học đầu tiên của nhân loại này. Cộng đồng Giáo hội được kêu gọi hỗ trợ các môi trường hội nhập đức tin và văn hóa, tôn trọng phẩm giá của mọi người, và tham gia đối thoại với xã hội. Văn kiện cảnh báo, không nên giản lược giáo dục thành một chức năng đào tạo hay một công cụ kinh tế: con người không phải là “một hồ sơ các kỹ năng” và không thể bị giản lược thành một thuật toán có thể dự đoán được, mà là một dung mạo, một lịch sử, và một ơn gọi.

4.2. Đào tạo Kitô giáo bao gồm toàn bộ con người [trong mọi lãnh vực]: gồm tinh thần, trí tuệ, tình cảm, xã hội và thể chất. Đào tạo Kitô giáo không đặt việc thực hành đối đầu với lý thuyết, khoa học đối đầu với chủ nghĩa nhân văn, công nghệ đối đầu với ý thức lương tâm; thay vào đó, nó đòi hỏi tính chuyên nghiệp phải dựa trên luân lý đạo đức, và đạo đức không phải là một khái niệm trừu tượng, nhưng là một thực hành hằng ngày. Giáo dục không đo lường giá trị chỉ bằng hiệu quả: mà giáo dục đo lường giá trị đó bằng phẩm giá, công lý và khả năng phục vụ lợi ích chung. Viễn tượng nhân học toàn diện này phải luôn là nền tảng của khoa sư phạm công giáo. Tiếp nối tư tưởng của thánh Gioan Henry Newman, điều này đi ngược lại cách tiếp cận thuần túy thương mại, vốn thường áp đặt giáo dục ngày nay, phải được đánh giá dựa trên chức năng và tính hữu dụng thực tiễn.[11]

4.3. Những nguyên tắc này không phải là ký ức từ quá khứ. Chúng là những vì sao dẫn đường. Chúng khẳng định rằng chân lý phải được cùng nhau tìm kiếm; rằng tự do không phải là sự tùy hứng nhất thời, nhưng là một sự đáp trả; rằng quyền bính không phải là thống trị, nhưng là phục vụ. Trong bối cảnh giáo dục, người ta không bao giờ được “tuyên bố mình độc quyền thủ đắc chân lý, dù là trong việc phân tích vấn đề hay đề xuất các giải pháp cụ thể”.[12] Ngược lại, “điều quan trọng nhất, là biết cách tiếp cận chúng hơn là đưa ra câu trả lời vội vàng về nguyên nhân của một sự kiện hoặc cách giải quyết nó. Mục đích là học cách đối diện với các vấn đề, vốn luôn khác biệt, bởi vì mỗi thế hệ đều mới mẻ, với những thách thức mới, những ước mơ mới, những vấn nạn mới.”[13] Giáo dục công giáo có nhiệm vụ xây dựng lại niềm tin trong một thế giới đầy những xung đột và sợ hãi, nhắc nhớ rằng chúng ta là con cái Chúa, chứ không phải là trẻ mồ côi; chính từ nhận thức này nảy sinh tình huynh đệ chân thành.

5. Trung tâm là con người

5.1. Đặt con người ở vị trí trung tâm có nghĩa là giáo dục họ biết nhìn xa trông rộng như tổ phụ Ápraham (St 15,5): giúp họ khám phá ý nghĩa của cuộc sống, nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của mình và ý thức trách nhiệm đối với tha nhân. Giáo dục không chỉ là việc truyền đạt kiến thức, nhưng còn là học hỏi và rèn luyện các nhân đức. Giáo dục giúp đào luyện các công dân biết phục vụ và những tín hữu biết làm chứng cho đức tin, những người nam người nữ được tự do hơn, không còn đơn độc. Và việc đào luyện ấy không thể được thực hiện một cách ngẫu hứng. Tôi nhớ mãi những năm tháng sống tại Giáo phận Chiclayo thân yêu, khi đến thăm Đại học công giáo San Toribio de Mogrovejo, tôi đã có cơ hội nói chuyện với cộng đồng học thuật rằng: “Chúng ta không phải sinh ra đã là một chuyên gia; mỗi lộ trình học thuật đều được xây dựng từ bước này qua bước khác, từ cuốn sách này sang cuốn sách khác, từ năm này sang năm khác và, từng hy sinh nối tiếp hy sinh.”[14]

5.2. Trường công giáo là môi trường nơi mà đức tin, văn hóa và cuộc sống hòa quyện vào nhau. Đó không chỉ là một cơ sở giáo dục, nhưng còn là một môi trường sống, trong đó viễn tượng Kitô giáo thấm nhập vào mọi môn học và mọi tương tác. Người làm công tác giáo dục được mời gọi đảm nhận một trách nhiệm vượt lên trên cả khuôn khổ của hợp đồng lao động ; chứng tá của họ cũng có giá trị như những bài giảng của họ. Vì lý do đó, việc đào tạo các nhà giáo dục –khoa học, sư phạm, văn hóa và thiêng liêng – rất quan trọng và mang tính cách quyết định. Chia sẻ một sứ mạng giáo dục chung cũng đòi hỏi một lộ trình đào tạo chung, “một chương trình đào tạo khởi đầu và liên tục, có khả năng nắm bắt những thách đố giáo dục của thời đại hôm nay và cung cấp những công cụ hữu hiệu nhất để đối phó với chúng [...]. Điều này có nghĩa là các nhà giáo dục phải sẵn sàng học hỏi và phát triển kiến thức, cởi mở với việc đổi mới và cập nhật các phương pháp sư phạm, nhưng đồng thời cũng cần mở lòng với việc đào luyện và chia sẻ đời sống thiêng liêng, tôn giáo.”[15] Những cập nhật kỹ thuật thôi thì chưa đủ: cần phải biết nuôi dưỡng một con tim biết lắng nghe, một ánh nhìn biết khích lệ và một trí tuệ biết phân định.

5.3. Gia đình vẫn luôn là môi trường giáo dục đầu tiên. Các trường công giáo cộng tác với các bậc phụ huynh, chứ không thay thế họ, bởi vì “bổn phận giáo dục, nhất là về phương diện tôn giáo, trước hết thuộc về họ.”[16] Sự cộng tác giáo dục đòi hỏi sự chủ tâm, biết lắng nghe và tinh thần đồng trách nhiệm. Nền giáo dục ấy được xây dựng nhờ những tiến trình, phương thế và việc lượng giá chung. Đó vừa là một nỗ lực đầy gian khó, vừa là một ân ban: khi vận hành tốt, nó khơi dậy niềm tín nhiệm; nhưng khi thất bại, thì mọi sự trở nên mong manh hơn.

6. Căn tính và tính bổ trợ

6.1. Tuyên ngôn Gravissimum educationis đã dành một tầm quan trọng đặc biệt cho nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), đồng thời nhìn nhận rằng những hoàn cảnh cụ thể nơi các Giáo hội địa phương có thể rất khác nhau. Tuy nhiên, Công đồng Vaticanô II vẫn khẳng định rằng quyền được giáo dục và các nguyên tắc nền tảng của nó mang giá trị phổ quát. Tuyên ngôn ấy nhấn mạnh trách nhiệm của cả phụ huynh lẫn xã hội. Văn kiện xem việc cung cấp một nền giáo dục giúp học sinh “biết đánh giá các giá trị luân lý với lương tâm ngay chính”[17] là “một quyền thánh thiêng”, và kêu gọi các nhà cầm quyền dân sự tôn trọng quyền này. Đồng thời, Tuyên ngôn cũng cảnh báo không được đặt nền giáo dục dưới sự chi phối của thị trường lao động hay của những quy luật tài chính khắc nghiệt và phi nhân.

6.2. Nền giáo dục Kitô giáo được ví như một vũ đạo được dàn dựng cách hài hòa. Phát biểu trước các học giả tại Ngày Giới trẻ Thế giới ở Lisbon, vị tiền nhiệm quá cố của tôi, Đức Giáo hoàng Phanxicô, đã nói: “Hãy nỗ lực kiến tạo một ‘vũ đạo mới’, một ‘vũ đạo’ tôn trọng vũ điệu của cuộc sống bằng cách đặt con người ở trung tâm.”[18] Việc đào luyện con người “toàn diện” đòi hỏi tránh xa sự phân mảnh trong giáo dục. Khi đức tin là chân thực, nó không hiện diện như một “môn học” được thêm vào, nhưng như luồng sinh khí thấm nhuần và làm sinh động mọi lĩnh vực tri thức khác. Như thế, nền giáo dục công giáo trở nên men trong cộng đồng nhân loại: nó khơi dậy sự tương tác hỗ tương, vượt qua lối nhìn giản lược, và mở ra với tinh thần trách nhiệm xã hội. Sứ vụ hôm nay là can đảm dấn bước theo đuổi một nền nhân bản toàn diện, biết đối diện với những vấn đề của thời đại mà không đánh mất cội nguồn của nền nhân bản này.

7. Chiêm ngắm Thụ tạo

7.1. Nhân học Kitô giáo là nền tảng cho một phong cách giáo dục cổ võ sự tôn trọng, đồng hành cá vị, sự phân định và sự phát triển mọi chiều kích của con người. Trong số đó, nguồn cảm hứng thiêng liêng không phải là yếu tố thứ yếu; trái lại, nó được kiện toàn và củng cố qua việc chiêm ngắm thụ tạo. Khía cạnh này không phải là điều mới mẻ trong truyền thống triết học và thần học Kitô giáo, trong đó việc nghiên cứu thiên nhiên cũng nhằm mục đích nhận ra những dấu vết của Thiên Chúa (vestigia Dei) trong thế giới chúng ta. Trong tác phẩm Collationes in Hexaemeron, thánh Bônaventura thành Bagnoregio viết rằng: “Toàn bộ thế giới là một cái bóng, một con đường, một dấu vết. Nó là một cuốn sách được viết từ bên ngoài (Ed 2,9), bởi vì trong mỗi thụ tạo đều có sự phản chiếu của mô hình thần linh, nhưng pha trộn với bóng tối. Do đó, thế giới là một hành trình, tương tự như sự mờ đục pha trộn với ánh sáng; theo nghĩa này, thế giới chính là một con đường. Cũng như bạn thấy một tia sáng chiếu qua cửa sổ lấp lánh với nhiều màu sắc khác nhau, tùy thuộc vào các phần khác nhau của tấm kính, thì tia sáng thần linh cũng được phản chiếu khác nhau trong mỗi thụ tạo, và mang những đặc tính khác nhau.”[19] Điều này cũng áp dụng cho tính linh hoạt của việc giảng dạy, được điều chỉnh cho phù hợp với các đặc điểm khác nhau, trong mọi trường hợp, đều quy hướng về vẻ đẹp của thụ tạo và sự bảo tồn của nó. Điều này đòi hỏi các dự án giáo dục “liên ngành và xuyên ngành… được thực hiện với sự khôn ngoan và sáng tạo.”[20]

7.2. Việc quên đi tính nhân bản chung của chúng ta đã gây ra chia rẽ và bạo lực; và khi trái đất bị tàn phá, người nghèo chính là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Nền giáo dục công giáo không thể im lặng: nền giáo dục ấy phải kết hợp công bằng xã hội với công bằng môi sinh, thúc đẩy lối sống tiết độ và bền vững, đồng thời đào luyện lương tâm biết lựa chọn những điều đúng đắn chứ không chỉ là điều tiện lợi. Mỗi cử chỉ nhỏ – như tránh lãng phí, lựa chọn có trách nhiệm, bảo vệ lợi ích chung – đều góp phần vào việc giáo dục về văn hóa và luân lý, đạo đức.

7.3. Trách nhiệm sinh thái không chỉ giới hạn trong dữ liệu kỹ thuật. Những dữ liệu này tuy cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ. Điều cần thiết là một nền giáo dục vận dụng trí óc, trái tim và đôi tay: hình thành những thói quen mới, lối sống cộng đoàn và các thực hành đạo đức. Bình an không phải là sự vắng bóng xung đột: đó là sức mạnh hiền hòa biết từ chối bạo lực. Một nền giáo dục vì hòa bình “phi vũ trang và giải trừ vũ khí”[21] dạy chúng ta từ bỏ vũ khí của những ngôn từ công kích và ánh nhìn phán xét, để học ngôn ngữ của lòng xót thương và công lý được hòa giải.

8. Một chòm sao giáo dục

8.1. Tôi nói về một “chòm sao”, bởi vì mạng lưới giáo dục công giáo là một hệ thống sống động và đa dạng: các trường học của các giáo xứ và các trường cao đẳng, các đại học và học viện giáo dục chuyên sâu, các trung tâm đào tạo nghề, các phong trào, nền tảng kỹ thuật số, các sáng kiến học tập gắn với phục vụ và các chương trình mục vụ học đường, đại học và văn hóa. Mỗi “ngôi sao” đều có ánh sáng riêng, nhưng khi cùng nhau, chúng vẽ nên một lộ trình chung. Nếu trước đây còn có sự cạnh tranh, thì ngày nay chúng ta kêu gọi các tổ chức cùng nhau hợp tác: sự hiệp nhất chính là sức mạnh mang tính ngôn sứ lớn lao nhất của chúng ta.

8.2. Những khác biệt về phương pháp và cấu trúc không phải là gánh nặng, nhưng là nguồn lực. Sự đa dạng của các đặc sủng, nếu được phối hợp hài hòa, sẽ tạo nên một tổng thể thống nhất và phong nhiêu. Trong một thế giới được kết nối bởi một mạng lưới các mối liên hệ, cuộc chơi được diễn ra ở hai bình diện: địa phương và toàn cầu. Việc trao đổi giáo viên và học viên, các dự án chung giữa các châu lục, sự công nhận lẫn nhau về các thực hành tốt nhất, sự hợp tác truyền giáo và học thuật là điều thiết yếu. Tương lai đòi hỏi chúng ta phải học cách hợp tác chặt chẽ hơn và cùng nhau phát triển.

8.3. Các chòm sao phản chiếu ánh sáng riêng của chúng trong một vũ trụ vô tận. Giống như kính vạn hoa, màu sắc của chúng hòa quyện vào nhau, tạo ra những biến thể màu sắc khác nhau. Điều này đúng trong các cơ sở giáo dục công giáo, nơi luôn cởi mở để gặp gỡ và lắng nghe xã hội dân sự, các cơ quan chính trị và hành chính, cũng như đại diện của các lĩnh vực sản xuất và các ngành nghề chuyên môn. Các cơ sở giáo dục công giáo được mời gọi cộng tác tích cực hơn nữa với những đối tác ấy, nhằm chia sẻ và hoàn thiện các lộ trình giáo dục, để lý thuyết được củng cố bởi kinh nghiệm và thực tiễn. Lịch sử cũng dạy chúng ta rằng các cơ sở giáo dục của chúng ta chào đón những học sinh và gia đình không theo tín ngưỡng nào hoặc theo các tôn giáo khác, nhưng vẫn khao khát một nền giáo dục mang tính nhân bản thực sự. Do đó, như thực tế đã diễn ra, chúng ta phải tiếp tục thúc đẩy các cộng đồng giáo dục có sự tham gia của các đối tượng, trong đó giáo dân, tu sĩ, gia đình và học sinh cùng chia sẻ trách nhiệm về sứ mạng giáo dục với các cơ sở công lập và tư thục.

9. Định hướng những không gian mới

9.1. Sáu mươi năm trước, Tuyên ngôn Gravissimum Educationis về giáo dục đã mở ra một thời kỳ của tin tưởng: bản Tuyên ngôn này khuyến khích việc cập nhật các phương pháp và thuật ngữ. Ngày nay, lòng tin tưởng này phải đối diện với môi trường kỹ thuật số. Công nghệ phải phục vụ con người, chứ không phải thay thế con người; phải làm phong phú quá trình học tập, chứ không phải làm nghèo nàn các mối tương quan và cộng đồng. Một đại học hay một trường học công giáo mà không có viễn tượng của mình thì sẽ có nguy rơi vào tính hiệu năng vô hồn, một tiêu chuẩn kiến thức thông thường, và cuối cùng dẫn đến sự nghèo nàn về tinh thần.

9.2. Để hiện diện sống động trên những không gian này, cần có sự sáng tạo mục vụ: tăng cường việc đào tạo giáo viên, kể cả trong lãnh vực kỹ thuật số; coi trọng phương pháp giảng dạy tích cực; thúc đẩy việc học tập gắn liền với việc phục vụ, và tinh thần công dân có trách nhiệm; tránh mọi thái độ sợ hãi công nghệ. Thái độ của chúng ta đối với công nghệ không bao giờ được phép thù nghịch, bởi vì “tiến bộ công nghệ chính là một phần trong kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa”.[22] Nhưng nó đòi hỏi sự phân định trong việc lập kế hoạch giảng dạy, đánh giá, lựa chọn nền tảng, bảo vệ dữ liệu và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng. Trong mọi trường hợp, không thuật toán nào có thể thay thế những gì làm nên tính nhân bản của giáo dục: như thi ca, châm biếm trào phúng, tình yêu thương, nghệ thuật, trí tưởng tượng, niềm vui khám phá, và thậm chí học hỏi từ chính những sai lầm như một cơ hội để trưởng thành.

9.3. Vấn đề cốt yếu không phải là bản chất của công nghệ, mà là cách chúng ta sử dụng công nghệ. Trí tuệ nhân tạo và môi trường kỹ thuật số phải hướng đến việc bảo vệ phẩm giá, công lý và lao động; chúng phải được quản lý bởi các tiêu chí về đạo đức cộng đồng và tinh thần tham gia; và chúng phải đi kèm với một suy tư thần học và triết học tương ứng. Các đại học công giáo có một sứ mạng quan trọng: đó là thực thi “một thừa tác vụ phục vụ văn hóa”, bớt bục giảng, mà nhiều bàn tròn hơn, nơi người ta có thể ngồi lại với nhau, không cần những thứ bậc không cần thiết, để chạm đến những vết thương của lịch sử và trong Chúa Thánh Thần, tìm kiếm sự khôn ngoan nảy sinh từ đời sống của các dân tộc.

10. Ngôi sao Bắc Đẩu của Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu

10.1. Trong số những ngôi sao dẫn đường, có Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu. Tôi đón nhận với lòng tri ân di sản mang tính ngôn sứ này mà Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã trao phó cho chúng ta. Đây là lời mời gọi hình thành một liên minh và mạng lưới để giáo dục trong tình huynh đệ phổ quát. Bảy lộ trình của Hiệp ước sẽ là nền tảng cho chúng ta tiến bước: đặt con người ở vị trí trung tâm; lắng nghe trẻ em và giới trẻ; thúc đẩy phẩm giá và vai trò của phụ nữ; công nhận gia đình như nhà giáo dục đầu tiên; mở lòng đón nhận và hội nhập; đổi mới nền kinh tế và chính trị để phục vụ nhân loại; và cuối cùng là chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Những “ngôi sao” này đã truyền cảm hứng cho các trường học, đại học và cộng đồng giáo dục trên khắp thế giới, khơi dậy những tiến trình cụ thể nhằm nhân bản hóa đời sống con người.

10.2. Sáu mươi năm sau Tuyên ngôn về vai trò quan trọng của giáo dục [Gravissimum educationis] và năm năm sau Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu, lịch sử kêu gọi chúng ta với sự khẩn cấp mới. Những thay đổi một cách sâu sắc và nhanh chóng đã và đang đặt trẻ em, thanh thiếu niên và giới trẻ vào những nguy cơ bị tổn thương chưa từng có. Bảo tồn thôi thì chưa đủ: chúng ta cần phải tái khởi động. Tôi kêu gọi tất cả các cơ sở giáo dục hãy mở ra một thời kỳ mới, một thời kỳ chạm đến trái tim của các thế hệ mới, dung hòa kiến thức và ý nghĩa, năng lực và trách nhiệm, đức tin và cuộc sống. Hiệp ước này là một phần của Chòm sao Giáo dục Toàn cầu rộng lớn hơn: các đặc sủng và tổ chức, tuy đa dạng, nhưng tạo thành một dự án thống nhất và sáng ngời, dẫn dắt bước chân chúng ta giữa bóng tối của thời đại hôm nay.

10.3. Tôi xin bổ sung thêm ba ưu tiên nữa vào bảy con đường của Hiệp ước Giáo dục Toàn cầu. Ưu tiên thứ nhất liên quan đến đời sống nội tâm: Người trẻ khao khát chiều sâu; họ cần không gian cho sự tĩnh lặng, phân định và đối thoại với lương tâm cũng như với Thiên Chúa. Ưu tiên thứ hai liên quan đến con người kỹ thuật số: chúng ta hãy giáo dục về việc sử dụng công nghệ và trí tuệ nhân tạo một cách khôn ngoan, đặt con người lên trên thuật toán và hài hòa trí tuệ kỹ thuật, cảm xúc, xã hội, tâm linh và sinh thái. Ưu tiên thứ ba là hòa bình không có vũ trang và giải trừ vũ khí: chúng ta hãy giáo dục tiến tới ngôn ngữ bất bạo động, hòa giải, xây những cây chứ không phải những bức tường. Câu Lời Chúa “Phúc thay ai xây dựng hòa bình” (Mt 5,9) phải trở thành cả phương pháp lẫn nội dung của việc học hành.

10.4. Chúng ta ý thức rằng mạng lưới giáo dục công giáo có một hệ thống chi ly độc đáo. Đó là một chòm sao trải rộng khắp các châu lục, với sự hiện diện đặc biệt nơi các vùng có thu nhập thấp: một lời hứa cụ thể về khả năng thăng tiến trong giáo dục và công bằng xã hội.[23] Chòm sao này đòi hỏi chất lượng và can đảm: chất lượng trong việc lập kế hoạch giáo dục, đào tạo giáo viên và quản trị; can đảm trong việc đảm bảo quyền tiếp cận cho những người nghèo nhất, hỗ trợ các gia đình đang gặp khó khăn, thúc đẩy học bổng và các chính sách hòa nhập. Tính nhưng không Tin Mừng không phải là lời nói suông: đó là lối sống tương giao, một phương pháp và một mục tiêu. Ở những nơi việc tiếp cận giáo dục vẫn còn là một đặc quyền, thì Giáo hội phải nỗ lực mở ra những cánh cửa và sáng tạo ra những lộ trình mới, bởi vì “mất đi người nghèo” cũng đồng nghĩa với việc mất đi chính ngôi trường. Điều này cũng đúng với đại học: một cái nhìn đón nhận và sự chăm sóc tâm hồn sẽ ngăn ngừa sự đồng nhất tiêu chuẩn; tinh thần phục vụ khơi dậy trí tưởng tượng và thắp sáng tình yêu thương.

11. Những bản đồ mới của niềm hy vọng

11.1. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Gravissimum educationis, Giáo hội kỷ niệm một lịch sử giáo dục phong phú, nhưng cũng đối mặt với yêu cầu cấp thiết phải cập nhật các hoạt động của mình dưới ánh sáng của những dấu chỉ thời đại. Các chòm sao giáo dục công giáo là một hình ảnh đầy cảm hứng về phương cách truyền thống và tương lai có thể đan xen mà không mâu thuẫn: một truyền thống sống động mở rộng hướng tới những hình thức hiện diện và phục vụ mới. Các chòm sao không bị giản lược thành những chuỗi liên kết trung lập và vô hồn của những kinh nghiệm khác nhau. Thay vì những chuỗi mắt xích liên kết khô cứng, chúng ta dám nghĩ đến các chòm sao, sự đan xen của chúng đầy ắp sự kỳ diệu và thức tỉnh. Trong đó ẩn chứa khả năng định hướng giúp vượt qua những thách thức với niềm hy vọng, cùng với sự đổi mới đầy can đảm, mà không đánh mất lòng trung thành với Tin mừng. Chúng ta nhận thức rõ những khó khăn: siêu số hóa có thể phân mảnh sự chú ý; cuộc khủng hoảng về các mối tương quan có thể làm tổn thương tâm lý; bất an xã hội và bất bình đẳng có thể dập tắt khát vọng. Tuy nhiên, chính ở đây, giáo dục công giáo có thể trở nên một ngọn hải đăng: không phải là nơi trú ẩn hoài niệm, mà là một không gian thực nghiệm của sự phân định, đổi mới sư phạm và chứng tá ngôn sứ. Vẽ nên những bản đồ mới của niềm hy vọng: đây chính là tính cấp thiết của sứ mệnh.

11.2. Tôi yêu cầu các cộng đồng giáo dục: hãy giải trừ vũ khí ngôn từ công kích, hãy hướng mắt lên cao và gìn giữ tâm hồn mình. Hãy giải trừ ngôn từ công kích, bởi vì giáo dục không tiến triển bằng những cuộc tranh luận, nhưng bằng sự hiền lành biết lắng nghe. Hãy hướng mắt lên cao. Như Thiên Chúa đã phán với Ápraham: “Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao” (St 15,5): hãy biết tự hỏi mình đang đi đâu và tại sao. Hãy canh giữ trái tim mình: các mối tương quan thì quan trọng hơn ý kiến, nhân vị thì quan trọng hơn chương trình. Đừng lãng phí thời gian và cơ hội; xin mượn câu nói của thánh Augustinô: “Hiện tại của chúng ta là một trực giác, một thời gian mà chúng ta đang sống và chúng ta phải tận dụng trước khi nó vuột khỏi tầm tay.”[24] Cuối cùng, anh chị em thân mến, tôi xin lấy lời khuyên của thánh Phaolô làm của riêng mình: anh chị em “phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ Lời ban sự sống” (Pl 2,15-16).

11.3. Tôi xin phó thác hành trình này cho Đức Trinh Nữ Maria, là Tòa đấng Khôn ngoan, và cho tất cả các nhà giáo dục thánh thiện. Tôi kêu gọi các vị mục tử, các tu sĩ nam nữ, anh chị em giáo dân, những người phụ trách các cơ sở giáo dục, các giáo viên và học viên: hãy là những người phục vụ cho thế giới giáo dục, những đoàn vũ công của niềm hy vọng, những người không ngừng tìm kiếm sự khôn ngoan, những người sáng tạo đáng tin cậy của những biểu hiện của cái đẹp. Hãy bớt đi những nhãn hiệu, nhưng thêm nhiều câu chuyện; hãy bớt đi những đối kháng vô bổ, nhưng hãy gia tăng những bản hòa tấu trong Thánh Thần. Khi đó, chòm sao của chúng ta không chỉ tỏa sáng mà còn dẫn đến chân lý giải thoát (x. Ga 8,32), hướng đến tình huynh đệ củng cố công lý (x. Mt 23,8), hướng đến niềm hy vọng không bao giờ làm chúng ta thất vọng (x. Rm 5,5).

Ban hành tại Vương cung thánh đường thánh Phêrô, ngày 27 tháng 10 năm 2025

Đêm canh thức kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Gravissimum Educationis

Giáo hoàng Lêô XIV

*******

Chuyển ngữ: Giuse Phan Văn Phi, O.Cist. & Maria Đào Phượng, Đaminh Rosa Lima

Ban Dịch thuật Học viện Công giáo Việt Nam

Hiệu đính: Gm. Giuse Đinh Đức Đạo

------------------------

[1] Đức Lêo XIV, Tông huấn Dilexi te (04.10.2025), số 68.

[2] x. Thánh Gioan XXIII, Thông điệp Mater et Magistra (15.5.1961).

[3] Thánh Gioan Phaolô II, Tông hiến Ex corde Ecclesiae (15.8.1990), số 1.

[4] Đức Lêo XIV, Tông huấn Dilexi te (4.10.2025), số 69.

[5] Đức Lêo XIV, Tông huấn Dilexi te (4.10.2025), số 70.

[6] Đức Lêo XIV, Tông huấn Dilexi te (4.10.2025), số 72.

[7] Bộ Giáo dục Công giáo, Huấn thị “Bản sắc của Trường Công giáo đối với Văn hóa Đối thoại” (25.1.2022), số 32.

[8] Thánh Gioan Henry Newman, Ý tưởng về một trường đại học (2005), tr. 76.

[9] x. Bộ Giáo dục Công giáo, Instrumentum laboris Giáo dục hôm nay và ngày mai: Một niềm say mê canh tân (7.4.2014), Lời giới thiệu.

[10] ĐGM Robert F. Prevost, O.S.A., Bài giảng tại Nhà thờ Công giáo Santo Toribio de Mogrovejo (2018).

[11] x. Thánh Gioan Henry Newman, Những bài viết về trường đại học (2001).

[12] Đức Lêo XIV, Buổi tiếp kiến các thành viên của Quỹ Centesimus Annus Pro Pontifice Foundation (17.5.2025).

[13] Ivi.

[14] ĐGM Robert F. Prevost, O.S.A., Bài giảng tại Đại học Công giáo Santo Toribio de Mogrovejo (tháng 12.2016).

[15] Bộ Giáo dục Công giáo, Thư Luân Lưu Cùng Nhau Giáo Dục trong các Trường Công giáo (8.9.2007), số 20.

[16] Công đồng chung Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Đương đại, Gaudium et spes (29.6.1966), số 48.

[17] Công đồng chung Vaticanô II, Tuyên ngôn Gravissimum educationis (28.10.1965), số 1.

[18] Đức Phanxicô, Diễn văn gửi sinh viên đại học nhân Ngày Giới trẻ Thế giới (3.8.2023).

[19] Thánh Bônaventura thành Bagnoregio, Collationes in Hexaemeron, XII, in Opera Omnia (do Peltier biên tập), Vivès, Paris, t. IX (1867), tr. 87-88.

[20] Đức Phanxicô, Tông Hiến Veritatis gaudium (8.12.2017), số. 4c.

[21] LEO XIV, Lời chào từ Bao lơn Trung tâm của Vương cung thánh đường thánh Phêrô sau khi được bầu chọn (8.5.2025).

[22] Bộ Giáo lý Đức tin Và Bộ Văn hóa và Giáo dục, NoteAntiqua et nova (28.1.2025), no. 117.

[23] x. Niên giám Thống kê của Giáo hội (cập nhật, 31.12.2022).

[24] ĐGM Robert F. Prevost, O.S.A., Sứ điệp gửi Đại học Công giáo Santo Toribio de Mogrovejo nhân dịp kỷ niệm 28 năm thành lập (2016).