Đức Lêô XIV, Bài giảng Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (19/4/2026) - Cần kể cho nhau những gì đã trải qua
Anh chị em thân mến,
Với lòng đầy biết ơn, tôi cử hành Thánh Thể giữa anh chị em. Tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân này và cảm ơn anh chị em vì sự đón tiếp nồng hậu mà anh chị em đã dành cho tôi.
Trong Chúa nhật III Phục Sinh này, Chúa đã nói với chúng ta qua Tin Mừng về các môn đệ trên đường Emmau (x. Lc 24,13-35). Chúng ta hãy để mình được soi sáng bởi Lời ban sự sống này.
Hai môn đệ của Chúa, với tâm hồn bị tổn thương và buồn bã, rời Giêrusalem để trở về Emmau, làng của họ. Họ đã chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu, Đấng mà họ đã tin tưởng và đi theo, và giờ đây, thất vọng và thất bại, họ trở về nhà. “Dọc đường họ nói với nhau về tất cả những gì đã xảy ra” (c. 14). Họ cần nói về điều đó, cần kể lại cho nhau những gì họ đã thấy, chia sẻ điều họ đã trải qua, dù có nguy cơ bị mắc kẹt trong đau khổ, và khép kín trước hy vọng.
Anh chị em thân mến, trong cảnh đầu tiên này của Tin Mừng, tôi thấy phản chiếu lịch sử của Angola, của đất nước rất đẹp nhưng đầy thương tích này, một đất nước đang khao khát hy vọng, hòa bình và tình huynh đệ. Thật vậy, cuộc trò chuyện của hai môn đệ khi họ bước đi, nhớ lại với nỗi buồn những gì đã xảy ra với Thầy của họ, gợi nhớ đến nỗi đau đã in dấu trên đất nước của anh chị em: một cuộc nội chiến kéo dài với những hệ quả là hận thù và chia rẽ, lãng phí tài nguyên và nghèo đói.
Khi sống quá lâu trong một lịch sử bị đánh dấu bởi đau khổ như vậy, người ta có nguy cơ chịu cùng số phận như hai môn đệ Emmau: đánh mất hy vọng và bị tê liệt vì chán nản. Họ bước đi, nhưng vẫn bị dừng lại ở những biến cố xảy ra ba ngày trước đó, khi họ thấy Chúa Giêsu chết; họ nói chuyện với nhau, nhưng không hy vọng tìm được lối thoát; họ tiếp tục nói về những gì đã xảy ra, với nỗi lo âu của những người không biết làm thế nào để bắt đầu lại, hay liệu có thể làm được hay không.
Anh chị em thân mến, Tin Mừng của Chúa, hôm nay cũng dành cho chúng ta, chính là điều này: Người đang sống, Người đã sống lại và Người bước đi bên cạnh chúng ta khi chúng ta đi qua con đường đau khổ và cay đắng, mở mắt chúng ta để nhận ra công trình của Người và ban cho chúng ta ân sủng để bắt đầu lại và xây dựng tương lai.
Chúa đến gần hai môn đệ đang nản lòng và tuyệt vọng, và khi trở thành người bạn đồng hành của họ, Người giúp họ ghép lại những mảnh vỡ của câu chuyện ấy, giúp họ nhìn xa hơn nỗi đau, cho họ thấy rằng họ không đơn độc trên hành trình và rằng một tương lai đang chờ đợi họ, trong đó Thiên Chúa tình yêu vẫn hiện diện. Và khi Người dừng lại dùng bữa với họ, khi Người ngồi vào bàn và bẻ bánh, thì “mắt họ mở ra và họ nhận ra Người” (c. 31).
Đối với chúng ta, anh chị em Angola thân mến, con đường để bắt đầu lại đã được vạch ra: một mặt là sự chắc chắn rằng Chúa đồng hành với chúng ta và cảm thương chúng ta; mặt khác là sự dấn thân mà Người đòi hỏi nơi chúng ta.
Chúng ta cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa đặc biệt trong tương quan với Người, trong cầu nguyện, trong việc lắng nghe Lời của Người, Lời làm cho lòng chúng ta bừng cháy như hai môn đệ, và nhất là trong việc cử hành Thánh Thể. Chính tại đây chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa. Vì thế, cần luôn cảnh giác trước những hình thức đạo đức dân gian, vốn chắc chắn thuộc về căn cội văn hóa của anh chị em, nhưng đồng thời có nguy cơ pha trộn những yếu tố ma thuật và mê tín không giúp ích cho đời sống thiêng liêng. Anh chị em hãy trung thành với giáo huấn của Hội Thánh, tin tưởng nơi các mục tử của mình và luôn hướng nhìn về Chúa Giêsu, Đấng tỏ mình cách đặc biệt trong Lời và trong Thánh Thể. Nơi cả hai, chúng ta cảm nhận rằng Chúa Phục Sinh đang bước đi bên cạnh chúng ta và, hiệp nhất với Người, chúng ta cũng chiến thắng cái chết đang đe dọa chúng ta và sống như những người đã được phục sinh.
Với xác tín rằng chúng ta không đơn độc trên hành trình, còn có thêm một sự dấn thân quảng đại, có khả năng chữa lành các vết thương và khơi dậy hy vọng. Thật vậy, nếu hai môn đệ Emmau nhận ra Chúa Giêsu khi Người bẻ bánh cho họ, thì điều đó cũng có nghĩa là chúng ta cũng phải nhận ra Người như thế: không chỉ trong Thánh Thể, nhưng còn ở bất cứ nơi nào mà một cuộc sống trở thành tấm bánh được bẻ ra, bất cứ nơi nào có người trở thành quà tặng của lòng thương xót như Người.
Lịch sử của đất nước anh chị em, những hậu quả khó khăn mà anh chị em vẫn phải gánh chịu, các vấn đề xã hội và kinh tế và nhiều hình thức nghèo đói khác nhau đòi hỏi sự hiện diện của một Hội Thánh biết đồng hành với anh chị em mình trên hành trình và lắng nghe tiếng kêu than của con cái. Một Hội Thánh, với ánh sáng của Lời và của ăn là Thánh Thể, biết khơi dậy niềm hy vọng đã mất. Một Hội Thánh được hình thành bởi những con người như anh chị em, những người biết trao ban chính mình như Đức Giêsu đã bẻ bánh cho hai môn đệ Emmau. Angola cần các giám mục, linh mục, nhà truyền giáo, tu sĩ nam nữ, giáo dân nam nữ có trong lòng ước muốn hiến dâng chính cuộc đời mình và trao tặng cho nhau, dấn thân trong tình yêu và sự tha thứ lẫn nhau, xây dựng những không gian của tình huynh đệ và hòa bình, thực hiện những cử chỉ cảm thương và liên đới đối với những người cần giúp đỡ nhất.
Với ân sủng của Đức Kitô Phục Sinh, chúng ta có thể trở thành tấm bánh được bẻ ra, biến đổi thực tại. Và cũng như Thánh Thể nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta là một thân thể và một thần khí duy nhất, hiệp nhất với một Chúa duy nhất, thì chúng ta cũng có thể và muốn xây dựng một đất nước trong đó những chia rẽ cũ được vượt qua mãi mãi, nơi hận thù và bạo lực biến mất, nơi tệ nạn tham nhũng được chữa lành nhờ một nền văn hóa mới của công lý và chia sẻ. Chỉ như thế mới có thể có một tương lai của hy vọng, đặc biệt cho nhiều người trẻ đã đánh mất hy vọng ấy.
Anh chị em thân mến, hôm nay cần nhìn về tương lai với niềm hy vọng và xây dựng niềm hy vọng cho tương lai. Đừng sợ làm điều đó. Đức Giêsu Phục Sinh, Đấng đang bước đi cùng anh chị em và hiến mình như tấm bánh được bẻ ra, khích lệ anh chị em trở thành chứng nhân cho sự phục sinh của Người và là những nhân vật chính của một nhân loại mới và một xã hội mới.
Anh chị em thân mến, trên hành trình này, anh chị em biết rằng Đức Giáo Hoàng gần gũi và cầu nguyện cho anh chị em. Và tôi cũng cậy nhờ vào anh chị em, và xin cảm ơn anh chị em vì điều đó. Tôi phó thác anh chị em cho sự bảo trợ và chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Đức Mẹ Muxima, để Mẹ luôn nâng đỡ anh chị em trong đức tin, đức cậy và đức mến.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (23/4/2023) - Cùng Chúa đọc lại câu chuyện đời mình
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Vào Chúa Nhật 3 Phục Sinh này, Tin Mừng thuật lại cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu Phục Sinh với các môn đệ trên đường Emmau (x. Lc 24:13-35). Đây là hai môn đệ, đau khổ vì cái chết của Thầy, vào ngày Phục sinh đã quyết định rời Giêrusalem để về nhà. Có lẽ họ có chút xao xuyến, bởi vì họ đã nghe các phụ nữ từ mộ trở về và kể về ngôi mộ trống… nhưng họ vẫn ra đi. Và khi họ buồn bã nói về những gì đã xảy ra, Chúa Giê-su đã cùng đi với họ, nhưng họ không nhận ra Người. Người hỏi họ tại sao lại buồn như vậy, và họ trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” (câu 18). Và Chúa Giêsu hỏi lại: “Chuyện gì vậy?” (câu 19). Họ đã kể cho Người tất cả câu chuyện. Chúa Giê-su đã làm cho họ kể về câu chuyện. Sau đó, khi cùng họ bước đi, Người giúp họ đọc lại các sự kiện theo một cách khác, dưới ánh sáng của các ngôn sứ, của Lời Chúa, của tất cả những lời loan báo cho dân Israel. Đọc lại: đó là điều Chúa Giêsu đã làm với họ, giúp họ đọc lại. Chúng ta dừng lại ở điểm này.
Thật vậy, điều quan trọng đối với chúng ta là đọc lại câu chuyện của chúng ta cùng với Chúa Giêsu: câu chuyện về cuộc đời chúng ta, về một giai đoạn nhất định, về những ngày của chúng ta, với những thất vọng và hy vọng của chúng ta. Mặt khác, chúng ta cũng giống như các môn đệ đó, trước những gì xảy đến với chúng ta, chúng ta có thể thấy mình lạc lõng trước các biến cố, cô đơn và bấp bênh, với nhiều thắc mắc và lo lắng. Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta nói với Chúa Giêsu mọi sự một cách chân thành, không sợ làm phiền Người, không sợ nói những điều sai, không xấu hổ về những uẩn khúc khó hiểu của chúng ta. Chúa vui khi chúng ta mở lòng mình ra với Người; chỉ bằng cách này, Người mới có thể nắm lấy tay chúng ta, đồng hành với chúng ta và làm cho trái tim của chúng ta bừng cháy trở lại (x. c. 32). Rồi chúng ta, cũng như các môn đệ Emmau, được mời gọi nài nỉ Người, để khi chiều đến, Người ở lại với chúng ta (x. c. 29).
Có một cách hay để làm điều này, và hôm nay tôi muốn đề xuất với anh chị em: đó là dành một chút thời gian, vào mỗi buổi tối, để làm phút hồi tâm ngắn. Điều gì xảy ra trong tôi? Đây là câu hỏi. Là đọc lại ngày sống của mình với Chúa Giêsu, đọc lại ngày sống của tôi: mở lòng ra với Người, mang đến với Người những con người, những chọn lựa, sợ hãi, sa ngã và hy vọng, tất cả những điều xảy ra; để dần dần học cách nhìn mọi thứ bằng con mắt khác, bằng con mắt của Người chứ không chỉ của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta có thể sống lại kinh nghiệm của hai môn đệ Emmau đó. Trước tình yêu của Chúa Kitô, ngay cả những gì có vẻ mệt mỏi và không thành công cũng có thể xuất hiện dưới một ánh sáng khác: một thập giá khó khăn không ôm nỗi, sự lựa chọn tha thứ khi đối diện với sự xúc phạm, một cuộc trả thù còn đó, sự mệt mỏi trong công việc, sự chân thành phải trả giá đắt, những thử thách của đời sống gia đình sẽ có thể mở ra trước mắt chúng ta dưới một ánh sáng mới, ánh sáng của Đấng Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh, Đấng biết cách làm cho mỗi lần vấp ngã lại tiến lên một bước. Nhưng để làm được điều này, điều quan trọng là phải loại bỏ sự phòng thủ: dành thời gian và không gian cho Chúa Giêsu, không giấu giếm Người bất cứ điều gì, mang những đau khổ đến với Người, để cho mình bị tổn thương bởi sự thật của Người, để cho trái tim rung động trước hơi thở Lời Người.
Chúng ta có thể bắt đầu ngay hôm nay, dành một chút cầu nguyện vào buổi tối, nơi đó chúng ta tự hỏi: ngày hôm nay của tôi thế nào? Đâu là những viên ngọc, có lẽ được giấu kín, để tạ ơn? Đâu là một chút yêu thương tôi đã làm? Và đâu là những vấp ngã, buồn phiền, nghi ngờ và sợ hãi mà tôi cần mang đến với Chúa Giêsu để Người mở ra cho tôi những con đường mới, nâng tôi dậy và khích lệ tôi? Xin Mẹ Maria, Trinh Nữ khôn ngoan, giúp chúng ta nhận ra Chúa Giêsu, Đấng đồng hành với chúng ta và đọc lại mỗi ngày sống của chúng ta trước mặt Người.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (26/4/2020) - Đời thay đổi khi gặp Chúa Giêsu
Chào anh chị em,
Chúc anh chị em buổi sáng tốt đẹp!
Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu Phục Sinh với hai môn đệ trên đường Emmaus (x. Lc 24, 13-35). Đây là một câu chuyện bắt đầu và kết thúc khi đang đi “trên đường”.
Hai hành trình
Trong hành trình dài khoảng 11km rời khỏi Giêrusalem để trở về nhà, trở về Emmaus, hai môn đệ buồn rầu vì phần kết câu chuyện của thầy Giêsu. Đó là một hành trình diễn ra vào ban ngày, một đoạn đường dễ đi với những con dốc đi xuống. Còn trong hành trình trở lại Giêrusalem, một đoạn đường 11km khác, lại diễn ra vào lúc trời tối, với những đoạn dốc đi lên. Hai chuyến hành trình: một hành trình với đoạn đường dễ và diễn ra vào ban ngày, và một hành trình với đoạn đường khó, lại diễn ra vào ban đêm. Tuy nhiên, ở đoạn đường thứ nhất, họ bước đi trong buồn bã; ở đoạn đường thứ hai, họ bước đi trong niềm vui. Ở đoạn đường thứ nhất, Chúa đi bên cạnh họ, nhưng họ không nhận ra Người. Còn ở đoạn đường thứ hai, họ không còn nhìn thấy Người, nhưng họ cảm thấy Người ở thật gần bên. Ở đoạn đường đầu tiên, họ chán nản và thất vọng; còn ở lần thứ hai, họ vội vã trở về loan báo Tin Mừng về cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Phục Sinh cho những người khác.
Bước ngoặt của hai hành trình
Hai hành trình của những môn đệ đầu tiên cũng nói với chúng ta, những môn đệ của Chúa Giêsu ngày nay, rằng: trong cuộc sống của mình, chúng ta cũng có hai hướng đi đối lập. Đó là hành trình của những ai giống như hai môn đệ lúc ra đi, họ để mình bị những thất vọng của cuộc sống làm cho tê liệt và bước đi với sự buồn bã; Trái lại, đó cũng có thể là con đường của những ai không đặt chính mình và những vấn đề của mình lên hàng đầu, nhưng là Chúa Giêsu, Đấng đến viếng thăm chúng ta, và những anh chị em đang chờ chúng ta đến thăm viếng. Bước ngoặt ở đây là: đừng chỉ quanh quẩn nơi chính mình, với những thất vọng của quá khứ, với những lý tưởng và ước mơ chưa thành hiện thực, nhưng tiến bước và nhìn vào thực tại lớn lao hơn và chân thực hơn của cuộc sống: Chúa Giêsu vẫn sống và yêu tôi.
Từ “nếu” đến “vâng”
Việc đảo ngược của cuộc hành trình chính là: chuyển từ việc suy nghĩ về cái tôi của mình sang những thực tại về Thiên Chúa của mình; từ chuyển (tiếng Ý là passare) – một cách chơi chữ - có nghĩa là từ “nếu” đến “vâng”. Từ chữ nếu: “nếu Người là Đấng giải thoát chúng ta, nếu Thiên Chúa nghe tiếng tôi kêu cầu, nếu cuộc sống diễn ra như tôi muốn, nếu điều này, nếu điều kia…” Đây chính là những cái nếu của chúng ta, giống như những cái nếu của hai môn đệ năm xưa. Nhưng rồi, những cái nếu ấy được chuyển thành những tiếng vâng: “vâng, Người vẫn sống, và bước đi cùng chúng tôi. Vâng, bây giờ, chứ không phải ngày mai, chúng ta quay lại để loan báo về Người.”
Ba bước của cuộc biến đổi
Nhưng làm thế nào để có thể có bước chuyển từ tôi đến Chúa, từ nếu đến vâng? Đó là nhờ gặp Chúa Giêsu. Trước hết, hai môn đệ Emmaus đã mở lòng mình ra với Người, và họ nghe Người giải thích về Kinh Thánh, rồi họ mời Người vào nhà. Đó chính là ba bước mà chính chúng ta cũng có thể thực hiện trong ngôi nhà của mình. Trước hết, mở lòng với Chúa Giêsu, trao phó nơi Người những gánh nặng, những mệt nhọc, những thất vọng của cuộc sống. Thứ hai, lắng nghe Chúa Giêsu, cầm lấy cuốn Tin Mừng và đọc đoạn Tin Mừng hôm nay. Thứ ba, cầu nguyện với Chúa Giêsu, bằng chính những lời mà các môn đệ đã nói: “Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con” (c.29), ở lại với tất cả chúng con, vì chúng con cần Chúa để tìm ra con đường.
Cuộc sống là một cuộc hành trình và chúng ta trở thành điều mà chúng ta hướng tới. Chúng ta chọn con đường của Thiên Chúa, chứ không phải của chúng ta, con đường của tiếng “vâng”, chứ không phải là “nếu”. Chúng ta khám phá ra rằng không có biến cố nào, không có dốc đèo nào, không có đêm tối nào mà chúng ta không thể gặp gỡ Thiên Chúa. Xin Mẹ Maria, Mẹ của những hành trình, Đấng đã đón nhận Ngôi Lời, Đấng đã làm cho cả cuộc đời mình trở thành một tiếng “vâng” với Chúa, chỉ đường dẫn lối cho chúng ta.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (30/4/2017) - Chết, Phục sinh và Sự sống
Bình an cho anh chị em!
Hôm nay Phúc Âm Chúa Nhật thứ III mùa Phục Sinh nói với chúng ta về lộ trình của hai môn đệ làng Emmaus rời bỏ Giêrusalem. Một Tin Mừng có thể được tóm gọn trong ba từ: chết, phục sinh và sự sống.
Truớc hết là từ chết. Hai môn đệ trở về cuộc sống thường ngày của họ, tràn đầy vỡ mộng và tuyệt vọng. Vị Thầy đã chết, và vì thế hy vọng thật là vô ích. Họ bị mất hướng, vỡ mộng và thất vọng. Con đường của họ là một việc trở lại đàng sau; nó là một xa rời kinh nghiệm đớn đau của Đấng Bị Đóng Đanh. Cuộc khủng hoảng của Thập Giá, còn tệ hơn thế nữa “gương mù” và “sự điên dại” của Thập Giá (x. 1 Cr 1,18; 2,2) xem ra đã chôn vùi mọi hy vọng của họ, đem mọi khát vọng của họ vào mồ.
Họ không thể tin rằng Thầy và Đấng Cứu Thế, Đấng đã cho các kẻ chết sống lại và chữa lành người bệnh tật, lại có thể kết thúc bị treo trên thập giá hổ nhục. Họ đã không thể hiểu rằng Thiên Chúa Toàn Năng đã không thể cứu Người khỏi một cái chết hổ nhục như vậy. Thập giá Chúa Kitô đã là thập giá của các tư tưởng của họ về Thiên Chúa; cái chết của Chúa Kitô đã là một cái chết của những gì họ đã tưởng tượng là Thiên Chúa. Thật vậy, họ đã là những người đã chết trong sự hiểu biết hạn hẹp của họ.
Biết bao lần con người tự đủ cho chính mình, khước từ thắng vượt tư tưởng cuả họ về Thiên Chúa, về một vì thiên chúa được tạo dựng theo hình ảnh và giống con người! Biết bao lần ta thất vọng, khước từ tin rằng sự toàn năng của Thiên Chúa không phải là sự toàn năng của sức mạnh, của quyền bính, nhưng chỉ là sự toàn năng của tình yêu, của tha thứ và sự sống!
Các môn đệ đã nhận biết Chúa Giêsu “trong việc bẻ bánh”, trong Thánh Thể. Nếu chúng ta không để cho bức màn che mờ đôi mắt chúng ta bị xé ra, nếu chúng ta không để cho con tim chai cứng và các thành kiến của chúng ta bị bẻ gẫy, thì chúng ta sẽ không bao giờ có thể nhận ra gương mặt của Thiên Chúa.
Thứ hai là từ Sống lại. Trong cái tối tăm của đêm đen nhất, trong sự tuyệt vọng đảo lộn nhất, Chúa Giêsu đến gần các ông và bước đi trên con đường của họ để họ có thể khám phá ra rằng Ngài là “đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chúa Giêsu biến đổi nỗi thất vọng của họ thành sự sống, để khi niềm hy vong của con người biến mất, bắt đầu sáng lên niềm hy vọng của Thiên Chúa : “Điều không thể trước mắt loài người , thì có thể đối với Thiên Chúa” (x. Lc 18, 27 ; 1,37).
Khi con người đụng tới tận đáy của thất bại và sự bất lực, khi nó lột bỏ sự vỡ mộng là người tốt nhất, là tự đủ, là trung tâm thế giới, thì khi đó Thiên Chúa giơ tay ra cho nó để biến đổi đêm đen của nó thành rạng đông, sự buồn sầu của nó thành niềm vui, cái chết của nó thành sự sống lại, con đường đi tháo lui của nó thành việc trở lại Giêrusalem, nghĩa là trở lại với sự sống và chiến thắng của Thập Giá (x. Dt 11,34).
Thật vậy, sau khi gặp gỡ Đấng Phục Sinh hai môn đệ trở lại tràn đầy niềm vui, lòng tin tưởng và hăng say, sẵn sàng làm chứng. Đấng Phục Sinh đã khiến cho họ sống lại từ trong nấm mồ của sự không tin và buồn sầu của họ. Khi gặp Đấng Bị Đóng Đanh Phục Sinh họ đã tìm thấy lời giải thích và sự thành toàn của Thánh Kinh, Lề Luật và các Ngôn Sứ ; họ đã tìm ra ý nghĩa sự thất bại bề ngoài của Thập Giá.
Ai không đi qua kinh nghiệm của Thập Giá cho tới sự thật của Sự Sống Lại, thì tự kết án mình sống tuyệt vọng. Thật thế chúng ta không thể gặp gỡ Thiên Chúa mà không truớc hết đóng đinh các tư tưởng hạn hẹp về một vì thiên chúa phản ánh sự hiểu biết của chúng ta về sự toàn năng và quyền bính của Ngài.
Thứ ba là từ sự sống: Việc gặp gỡ Chúa Giêsu phục sinh đã biến đổi cuộc sống của hai môn đệ, bởi vì sự găp gỡ Đấng Phục Sinh biến đổi mọi cuộc sống và khiến cho mọi khô cằn được phong phú. Thật vậy, sự Phục Sinh không phải là một niềm tin nảy sinh trong Giáo Hội, nhưng Giáo Hội đã nảy sinh từ niềm tin vào Sự Phục Sinh. Thánh Phaolô nói : “Nếu Chúa Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15,14). Đấng Phục Sinh biến mất khỏi mắt họ, để dậy chúng ta rằng chúng ta không thể giữ Chúa Giêsu trong sự hữu hình lịch sử của Ngài : “Phúc cho những ai đã không thấy mà đã tin !” (Ga 20,29 ; x. 20,17) Giáo Hội phải biết và tin rằng Ngài sống với mình và làm cho mình sinh động trong Thánh Thể, trong Thánh Kinh và trong các Bí Tích. Các môn đệ làng Emmaus đã hiểu điều này và họ trở lại Giêrusalem để chia sẻ kinh nghiệm của họ với những người khác : “Chúng tôi đã trông thấy Chúa… Phải, Ngài đã sống lại thật !” (x. Lc 24,43). Rút tiả từ kinh nghiệm của hai môn đệ làng Emmaus ĐTC nói : Kinh nghiệm của hai môn đệ làng Emmaus dậy chúng ta rằng làm đầy các nơi thờ tự thật vô ích, nếu con tim chúng ta trống rỗng sự kính sợ Thiên Chúa và sự hiện diện của Ngài ; cầu nguyện thật vô ích, nếu lời cầu hướng tới Chúa của chúng ta không biến thành tình yêu thương đôi với người anh em ; thật vô ích biết bao nhiêu đạo hạnh, nếu nó không được linh hoạt bởi đức tin và tình bác ái ; thật vô ích lo lắng cho vẻ bề ngoài, bởi vì Thiên Chúa nhìn linh hồn và trái tim con người (1 Sm 16,17) và Ngài ghét sự giả hình (x. Lc 11,37-54 ; Cv 5,3-4). Đối với Thiên Chúa, không tin tốt hơn là một tín hữu giả, một người giả hình ! ĐTC định nghĩa niềm tin đích thực như sau : Đức tin đích thật là đức tin khiến cho chúng ta bác ái hơn, thương xót hơn, liêm chính hơn và nhân bản hơn ; chính nó linh hoạt trái tim và đưa nó tới chỗ yêu thương hết mọi người, không phân biệt và không thiên tư ; nó là đức tin đưa chúng ta tới chỗ trông thấy nơi người khác, không phải một kẻ thù cần đánh bại, nhưng một người anh em cần yêu thương, phục vụ và trợ giúp ; nó là đức tin đưa chúng ta tới chỗ phổ biến, bảo vệ và sống nền văn hoá gặp gỡ, đối thoại, tôn trọng và huynh đệ ; nó đưa chúng ta tới sự can đảm tha thứ cho ai xúc phạm tới chúng ta, giơ tay ra cho một người bị ngã ; cho kẻ trần truồng mặc, cho kẻ đói ăn, thăm viếng người bị tù, trợ giúp trẻ mồi côi, cho kẻ khát uống, cứu giúp người già cả và cần dược trợ giúp (Mt 25,31-45). Lòng tin đích thực là lòng tin đưa chúng ta tới chỗ bảo vệ các quyền của người khác, với cùng sức mạnh và lòng hăng say mà chúng ta dùng để bảo vệ các quyền của chúng ta. Thật ra, càng lớn lên trong đức tin và sự hiểu biết bao nhiêu, thì lại càng lớn lên trong sự khiêm nhường và ý thức mình bé nhỏ bấy nhiêu.
Anh chị em thân mến, Thiên Chúa chỉ ưa thích đức tin được tuyên xưng với cuộc sống, bởi vì sự triệt để duy nhất được chấp nhận đối với các tín hữu là sự triệt để của tình bác ái ! Bất cứ loại triệt để nào không đến từ Thiên Chúa thì không đẹp lòng Ngài !.
Giờ đây, như các môn đệ làng Emmaus anh chị em hãy trở lại Giêrusalem của anh chị em, là cuộc sống thường ngày, các gia đình, công việc làm và quê hương yêu dấu của anh chị em, tràn đầy tươi vui, can đảm và niềm tin. Đừng sợ hãi mở rộng con tim cho ánh sáng của Chúa Phục Sinh và hãy để cho Ngài biến đổi sự không chắc chắn của anh chị em thành sức mạnh tích cực cho anh chị em và cho người khác. Đừng sợ hãi yêu thương tất cả mọi người, bạn cũng như thù, bởi vì sức mạnh và kho tàng của tín hữu là trong tình yêu sống động. Xin Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Gia đã sống trong vùng đất được chúc phúc này, soi sáng con tim và chúc lành cho anh chị em và đất nước Ai Cập thân yêu, là quốc gia, từ bình minh của Kitô giáo, đã tiếp nhận việc rao truyền Tin Mừng của thánh sử Mạccô và tạo thành lịch sử của nhiều vị tử đạo và một đoàn ngũ các thánh nam nữ ! Al Massih Kam Bilhakika kam ! Chúa Kitô đã phục sinh Ngài đã sống lại thật !
Nguồn: archivioradiovaticana.va (29.04.2017)
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (04/5/2014) - Lời Chúa và Thánh Thể
Anh chị em thân mến,
Chào buổi sáng!
Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay, Chúa Nhật III Phục Sinh, là Tin Mừng về các môn đệ Emmaus (x. Lc 24:13-35). Họ là hai môn đệ của Chúa Giêsu, sau khi Người chết và ngày Sabát đã qua, họ rời Giêrusalem và trở về làng Emmaus, họ buồn bã và chán nản. Dọc đường Chúa Giêsu Phục Sinh đến gần họ, nhưng họ không nhận ra Người. Khi trông thấy họ buồn sầu như thế, trước hết Người giúp họ hiểu rằng cuộc khổ nạn và cái chết của Đấng Cứu Thế đã được thấy trước trong chương trình của Thiên chúa và được loan báo trước trong Thánh Kinh. Như thế Người đốt cháy lên một ngọn lửa hy vọng trong con tim họ.
Khi đó hai môn đệ cảm thấy một sức thu hút ngoại thường nơi con người bí mật ấy và mời người ở lại với họ chiều hôm đó. Chúa Giêsu chấp nhận và cùng họ vào nhà. Và khi ngồi vào bản Người làm phép và bẻ bánh, thì họ nhận ra Người, nhưng Người đã biến khỏi cái nhìn của họ, để họ lại đầy kinh ngạc. Sau khi được soi sáng bởi Lời Chúa, họ đã nhận ra Chúa Giêsu phục sinh trong việc bẻ bánh, dấu chỉ mới sự hiện diện của Người. Và ngay lập tức họ cảm thấy cần phải trở về Giêrusalem, để kể lại cho các môn đệ khác kinh nghiệm này của họ, rằng họ đã gặp Chúa Giêsu sống và đã nhận ra Người trong cử chỉ bẻ bánh.
Con đường về làng Emmaus như thế trở thành con đường lòng tin của chúng ta: Thánh Kinh và Thánh Thể là các yếu tố không thể thiếu được cho cuộc gặp gỡ với Chúa. Cả chúng ta nữa cũng thường đến với Thánh Lễ Chúa Nhật với các lo lắng khó khăn và thất vọng... Đôi khi cuộc sống đả thương chúng ta và chúng ta ra đi buồn sầu hướng về ”làng Emmaus” của chúng ta, quay lưng lại với chương trình của Thiên Chúa. Chúng ta rời xa Thiên Chúa. Nhưng Phụng vụ Lời Chúa tiếp đón chúng ta: Chúa Giêsu giải thích Thánh Kinh cho chúng ta và tái thắp lên trong con tin chúng ta hơi ấm của đức tin và đức cậy, và trong việc rước lễ Người ban cho chúng ta sức mạnh. Lời Chúa, Thánh Thể: mỗi ngày hãy đọc một đoạn Phúc Âm, Xin anh chị em hãy nhớ kỹ điều này: mỗi ngày đọc một đoạn Phúc Âm và hãy rước lễ các ngày Chúa Nhật, hãy nhận lấy Chúa Giêsu. Đã xảy ra như thế với các môn đệ làng Emmaus: họ đã lãnh nhận Lời Chúa, đã chia sẻ việc bẻ bánh, và từ những người buồn sầu và thất bại họ đã trở thành những người tươi vui. Anh chị em thân mến, Lời Chúa và Thánh Thể luôn luôn làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui. Xin anh chị em nhớ kỹ điều đó! Khi bạn buồn sầu, hãy đọc Lời chúa! Khi bạn nản lòng, hãy cầm lấy Lời Chúa, hãy đi tham dự thánh lễ Chúa Nhật và rước lễ, tham dự vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu! Lời Chúa, Thánh Thể làm cho chúng ta tràn ngập niềm vui.
Nhờ lời bầu cử của Đức Maria Rất Thánh, chúng ta hãy cầu nguyện để khi sống kinh nghiệm của các môn đệ làng Emmaus, đặc biệt trong thánh lễ ngày Chúa Nhật, mỗi một kitô hữu tái khám phá ra ơn gặp gỡ biến đổi với Chúa phục sinh, là Đấng luôn ở với chúng ta. Luôn có Lời Chúa định hướng cho chúng ta sau các lạc lối, và qua các mệt nhọc và thất vọng của chúng ta luôn có một Tấm Bánh được bẻ ra giúp chúng ta tiến tới trên con đường cuộc sống.
Nguồn: archivioradiovaticana.va (04.05.2014)
Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (08/5/2011) - Lập tức đứng dậy và quay trở lại
Bài Tin Mừng của Chúa nhật thứ III Phục Sinh thuật cho chúng ta nghe câu chuyện của hai môn đệ Emmaus, một trình thuật không ngừng làm cho chúng ta sửng sốt và cảm động. Đoạn tin Mừng này cho thấy hiệu quả mà Đức Giêsu Phục Sinh thực hiện nơi hai môn đệ Emmaus: đó là sự hoán cải hoàn toàn từ thất vọng đến hy vọng, từ buồn bã đến vui mừng, đó là sự hoán cải trở về với đời sống cộng đoàn. Khi nói đến hoán cải, thường thì chúng ta hay nói đến khía cạnh phải chiến đấu, phải từ khước, phải dứt bỏ. Thế nhưng trên hết tất cả, một cuộc hoán cải Kitô giáo là nguồn mạch của niềm vui, của niềm hy vọng và của tình yêu. Đây luôn là công việc của Đức Kitô Phục Sinh, Chúa của sự sống, Đấng ban cho chúng ta ân sủng này ngang qua cuộc Thương Khó của Người và thông truyền cho chúng ta sức mạnh của sự Phục Sinh của Người.
Trong môi trường sống Kitô giáo của các bạn, đức tin đã đồng hành xuyên suốt hàng bao thế kỷ, trên chuyến hành trình của biết bao dân tộc, ngang qua những bách hại và thử thách hết sức ngặt nghèo. Những diễn đạt hùng hồn và vô số những chứng tá của niềm tin ấy đã được gieo vãi khắp mọi nơi: nơi các ngôi thánh đường, các công trình nghệ thuật, các bệnh viện, thư viện, trường học… Môi trường sống của các bạn, từ thành thị đến nông thôn và cả những vùng đồi núi, tất cả đều quy hướng về Đức Kitô. Thế nhưng, Đức Kitô ấy của ngày hôm nay có nguy cơ bị chúng ta làm mất đi những sự thật và những nội dung sâu xa, có nguy cơ trở nên một khung trời chỉ ôm lấy cuộc sống một cách giả tạo trong giới hạn của cái khung văn hóa xã hội, có nguy cơ bị giản lược vào một loại Kitô giáo mà kinh nghiệm niềm tin vào Đức Giêsu bị đóng đinh và Phục Sinh không thể chiếu dọi ánh sáng trên hành trình sống… như tình trạng mà chúng ta đã nghe trong tường thuật của Tin Mừng hôm nay về hai môn đệ Emmaus. Sau khi Đức Giêsu bị đóng đinh, họ đã quay trở về quê nhà, chìm ngợp trong nỗi niềm hoài nghi, buồn bã và thất vọng. Đáng buồn là thái độ ấy cũng đang lan truyền trên vùng đất của chúng ta: điều này xảy ra khi các môn đệ rời xa thành Giêrusalem, nơi có Đấng Chịu Đóng Đinh và là Đấng Phục Sinh, họ không còn tin tưởng vào quyền năng và sự hiện diện sống động của Đức Chúa. Những vấn đề về sự dữ, đau khổ, bất công, gian dối, nỗi lo sợ những người khác và những kẻ xa lạ… là những điều đã có mặt trên vùng đất của chúng ta, gây tổn hại cho chúng ta và khiến cho chúng ta, những người Kitô hữu hôm nay, phải thốt lên buồn bã như các môn đệ Emmaus rằng: chúng tôi đã hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ giải phóng chúng tôi khỏi sự dữ, đau khổ sợ hãi, bất công…
Thế thì thật cần thiết khi mỗi người chúng ta, như hai môn đệ Emmaus, biết để cho mình được Đức Giêsu dạy dỗ: trước hết là việc lắng nghe và yêu mến Lời Chúa, đọc lời Chúa dưới ánh sáng của Mầu Nhiệm Vượt Qua, để nhờ đó, con tim chúng ta được hun nóng và tâm trí chúng ta được soi sáng, để chúng ta được dạy cho biết cách diễn giải những biến cố xảy ra trong cuộc sống và cho những biến cố ấy một ý nghĩa. Thế rồi chúng ta ngồi lại với Thiên Chúa, trở thành những kẻ chung bàn với Người, để nhờ chính sự hiện diện khiêm hạ của Người trong Bí Tích Mình và Máu Thánh Người khôi phục lại cái nhìn đức tin của chúng ta, để chúng ta có thể nhìn mọi người và mọi sự với cặp mắt của Thiên Chúa, trong ánh sáng của tình yêu. Hãy ở lại với Đức Giêsu, Đấng đã ở lại với chúng ta, hãy đồng hóa mình với cách sống trao ban của Người, hãy cùng Người chọn hướng đi hiệp thông, liên đới và chia sẻ. Bí Tích Thánh Thể, diễn tả trọn hảo nhất của ân sủng trao ban chính mình mà Đức Giêsu đã thực hiện, là một lời mời gọi liên lỉ để chúng ta sống cuộc sống của mình theo hướng đi của Bích Tích Thánh Thể, như một quà tặng trao ban cho Thiên Chúa và cho người khác.
Đoạn Tin Mừng cũng ghi nhận rằng: sau khi nhận ra Đức Giêsu khi người bẻ bánh, hai môn đệ “ngay lập tức đứng dậy và quay trở lại Gêrusalem”(Lc 24, 33). Họ thấy cần phải trở lại Gêrusalem để kể lại kinh nghiệm ngoại thường mà họ đã sống: đó là cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh. Cần có một nỗ lực lớn lao để mỗi người Kitô hữu, tại vùng Đông Bắc Ý này, cũng như tại khắp nơi trên thế giới, có thể biến mình thành những chứng nhân, sẵn sang loan báo cái chết và sự Phụ Sinh của Đức Kitô với lòng hăng say và niềm vui mừng.
Tôi nhận thấy mối quan tâm đang đặt ra trong hành trình tìm hiểu lý lẽ trong con tim của con người hiện đại. Tôi gợi nhắc các bạn về những truyền thống Kitô giáo cổ kính của vùng này khi các bạn đang ra công thực hiện những chương trình tái Tin Mừng hóa, đang phải lưu tâm đối mặt với vô số những khóa khăn của thời hiện đại, cũng như đang suy tư về tương lai của vùng này. Với sự hiện diện của mình, tôi ước mong có thể tiếp sức cho những công trình của các bạn, khiến mọi người đặt niềm tin tưởng vào những chương trình mục vụ đã được khởi hành bởi các vị mục tử của chúng ta, mong đợi một sự dấn thân hiệu quả từ tất cả những thành phần trong cộng đoàn Giáo Hội.
Một dân tộc hoàn toàn theo công giáo truyền thống vẫn có nguy bị cơ biến đổi theo hướng tiêu cực, có thể đồng hóa mình một cách vô thức với những ảnh hưởng của một nền văn hóa có xu thế hướng lối suy nghĩ của con người đến với việc từ chối, hoặc gây chướng ngại cách ngấm ngầm, đối với sứ điệp Tin Mừng. Tôi biết rằng đã có và vẫn còn tiếp tục đó những nỗ lực lớn lao của anh chị em trong việc bảo vệ những giá trị vĩnh cữu của đức tin Kitô giáo. Tôi khuyến cáo anh chị em đừng bao giờ tin vào những luồng cám dỗ của nền văn hóa khoái lạc và những mời gọi của chủ nghĩa hưởng thụ vật chất. Hãy đón nhận lời mời gọi của thánh Phêrô, trong Bài Đọc II của phụng vụ ngày hôm nay: “Hãy sống đời lữ hành của mình trên trần gian này với lòng kính sợ Thiên Chúa”(1 Pr 1, 17). Đây là lời mời gọi rằng chúng ta hãy sống hết sức cuộc sống cụ thể của mình trong nơi thế gian này, cùng với ý thức muốn đạt đến một sự hiệp nhất với Thiên Chúa, với Đức Kitô Chịu Đóng Đinh và là Đấng Phục Sinh. Quả thế, Đức tin của chúng ta và niềm hy vọng của chúng ta hướng về Thiên Chúa (1 Pr 1, 21): để chúng ta bén rễ nơi Người, đặt nền nơi tình yêu và sự trung tín của Người. Trong những thế kỷ vừa qua, Giáo hội của anh chị em đã có một truyền thống phong phú về sự nên thánh, về việc phục vụ quảng đại những anh chị em của mình, nhờ vào sự nhiệt tâm của vô số những linh mục tu sĩ nam nữ sống đời dâng hiến và chiêm niệm. Nếu chúng ta muốn đặt mình để nghe những lời giáo huấn thiêng liêng của họ, không có gì khó để chúng ta có thể nhận ra lời kêu gọi rõ ràng mà họ dành cho từng cá nhân chúng ta: Anh chị em hãy là thánh! Hãy đặt Đức Kitô ở trung tâm cuộc sống của anh chị em! Hãy xây dựng nơi người công trình hiện hữu của anh chị em! Trong Đức Giêsu, anh chị em sẽ tìm thấy sức mạnh để mở lòng mình ra cho người khác, và để biến cuộc sống của chính mình thành một quà tặng cho toàn thể nhân loại.
Chung quanh vùng Aquileia này có thể thấy sự hợp nhất nhiều sắc dân với nhiều ngôn ngữ và văn hóa khác nhau, có sự hội nhất không chỉ bởi những nhu cầu chính trị mà trước hết là bởi niềm tin vào Đức Kitô và bởi một nền văn minh được gợi hứng bởi những giáo huấn của Tin Mừng. Những Giáo Hội sinh ra từ Aquileia ngày hôm nay được kêu gọi để cũng cố sự hợp nhất tinh thần cổ kính này, nhất là trước hiện tượng nhập cư và những biến động địa lý-chính trị đang diễn ra. Đức tin Kitô giáo chắc chắn có thể có những đóng góp cụ thể cho những chương trình này, quan tâm đến sự hài hòa và sự phát triển toàn diện của con người và xã hội, nơi mà mình đang sinh sống. Do đó, mong rằng sự hiện diện của tôi giữa anh chị em có thể trở nên một khích lệ sống động cho những nỗ lực đang được thực thi nhằm thắt chặt tình liên đới giữa các Giáo Phận trong vùng Đông Bắc này! Hơn nữa, mong rằng sự hiện diện này cũng có thể là một khích lệ cho những sáng kiến đưa đến việc thoát ra khỏi tình trạng chia rẽ là điều gây chướng ngại cho những khát vọng về công lý và hòa bình!
Thưa anh chị em, đây chính là lời nguyện của tôi dâng lên Thiên Chúa cho anh chị em, tôi cầu xin sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, của tất cả các Thánh và các Chân Phước, trong số đó có Thánh Pio X và chân phước Gioan XXIII cũng như Đấng Đáng Kính Giuseppe Toniolo là người sẽ sớm được phong chân phước. Họ là những chứng nhân sáng ngời của Tin Mừng, là gia sản giàu có lớn lao trên vùng đất của anh chị em: Hãy bước theo gương mẫu và những lời giáo huấn của họ, hội nhất những điều ấy với những nhu cầu thiết thực. Hãy vững tin: Đấng Phục Sinh luôn bước đi cùng anh chị em, hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Amen.
Nguồn: archivioradiovaticana.va (08.05.2011)
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 Phục sinh năm A (06/4/2008) - Cấu trúc thánh lễ
Anh chị em thân mến
Bài Tin mừng chúa nhựt hôm nay, chúa nhựt thứ Ba Phục sinh – là trình thuật nổi tiếng mệnh danh là “hai môn đệ Emmaus” (xc Lc 24,13-35). Tác giả kể lại rằng hai môn đệ của Chúa Giêsu, vào hôm sau ngày sabát, nghĩa là ngày thứ ba từ khi Người chịu chết, trong tâm trạng buồn rầu chán nản đã rời bỏ Giêrusalem, đi về một làng không xa đó, tên là Emmaus. Trên đường đi, Đức Giêsu phục sinh đã đên bên cạnh họ, nhưng họ không nhận ra Người. Thấy họ buồn rầu, Chúa đã giải thích cho họ, dựa theo Kinh thánh, rằng đấng Mêsia phải chịu đau khổ và chết để đi vào vinh quang, Thế rồi, khi cùng vào một nhà với họ, Người đã ngồi vào bàn, đọc lời chúc lành trên bánh, bẻ ra và chính lúc ấy họ đã nhận ra Người, nhưng Người đã mất dạng, để lại cho họ sự ngỡ ngàng trước tấm bánh được bẻ ra, dấu chỉ của sự hiện diện của Người. Lập tức hai người đã trở vê Giêrusalem và họ thuật lại cho các môn đệ điều đã xảy ra.
Không ai có thể xác định địa điểm của làng Emmaus ở đâu. Đã có nhiều giả thuyết đã được đề ra, và điều này gợi ý cho thấy rằng thực sự Emmaus có thể tượng trưng cho bất cứ một nơi nào: con đường dẫn về Emmaus là con đường của hết mọi Kitô hữu, và thậm chí của hết mọi người nữa. Trên mọi nẻo đường của chúng ta, Chúa Giêsu phục sinh trở nên kẻ đồng hành, để hâm lên trong trái tim sức nóng của lòng tin và hy vọng và bẻ tấm bánh của sự sống vĩnh cửu. Trong cuộc đàm đạo giữa các môn đệ với người khách lạ, thánh sứ Luca đã ghi lại tâm trạng của họ như thế này: “Chúng tôi vẫn hy vọng rằng” (24,21). Động từ đặt ở thời quá khứ nói lên tất cả: Chúng tôi đã tin, chúng tôi đã đi theo, chúng tôi đã hy vọng …, thế mà bây giờ mọi sự đã tiêu tan hết. Cả ông Giêsu Nazaret, một kẻ tỏ ra là ngôn sứ oai hùng về lời nói và việc làm, cũng đã thất bại, và chúng tôi đã mất hy vọng. Thử hỏi rằng trên đời này ai mà chẳng có lúc cảm thấy điều đó? Lắm khi chính lòng tin cũng bị khủng hoảng bởi vì những kinh nghiệm tiêu cực khiến cho ta cảm thấy bị bỏ rơi và phản bội ngay cả về phía Thiên Chúa nữa. Vì thế con đường về Emmaus trở nên hành trình để cho lòng tin của chúng ta vào Chúa được thanh luyện và trưởng thành: cuộc gặp gỡ với Chúa Phục sinh mang lại cho ta một lòng tin sâu đậm và chân chính hơn, sau khi đã được rèn luyện nhờ ngọn lửa của biến cố Phục sinh; một lòng tin vững mạnh bởi vì được nuôi dưỡng không phải do những tư tưởng của trần tục nhưng nhờ Lời của Chúa và Thánh Thể.
Bản văn Tin mừng tuyệt vời này đã chứa đựng cấu trúc của Thánh Lễ: trong phần đầu là lắng nghe lời Chúa qua Kinh Thánh; trong phần thứ hai, phụng vụ Thánh Thể và sự thông hiệp với Chúa Kitô hiện diện trong bí tích của Mình và Máu Thánh. Được nuôi dưỡng vào hai bàn tiệc này, Hội thánh được xây đắp liên lỉ và được đổi mới mỗi ngày trong lòng tin, hy vọng và yêu mến. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria chí thánh, chúng ta hãy cầu nguyện để cho mỗi người Kitô hữu và mỗi cộng đoàn, khi sống lại cảm nghiệm của các môn đệ Emmaus, biết tái khám phá ân huệ biến đổi nhờ gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh.