Đúng một tháng trước, lúc 4g30 chiều thứ Sáu 17 tháng 11 năm 2017, Đức ông Phanxicô Borgia Trần Văn Khả qua đời tại Sài Gòn, thọ 79 tuổi, và chỉ còn một tháng nữa, vào ngày 21/12/2017, sẽ tròn 50 năm linh mục.
Vài giờ đồng hồ sau, nhiều trang thông tin điện tử nhanh chóng đưa tin Đức ông qua đời. Việc mau mắn đưa tin giúp nhiều người khắp nơi được biết một sự kiện đau buồn và mất mát: Đức ông Phanxicô Borgia Trần Văn Khả, một chuyên viên phụng vụ (nguyên Chánh văn phòng Bộ Phụng tự & Kỷ luật bí tích giai đoạn 2002- 2008), giáo sư và linh hướng Chủng viện (Tiểu Chủng viện Sài Gòn, 1967-1974), tác giả nhiều bài viết về phụng vụ (trong đó có bài về Nhà thờ Phát Diệm, đã đăng trên Hiệp Thông số 77, tr. 94-137: “Nhà thờ chính tòa Phát Diệm, một công trình thích nghi phụng vụ về phương diện nghệ thuật đi trước Công đồng chung Vatican II”)...
Việc đưa tin mau mắn đầy “sốt sắng” này đã bỏ sót giai đoạn 7 năm đầu đời linh mục của Đức ông, 1967-1974, phục vụ tại Tiểu chủng viện Sài Gòn, trên cương vị giáo sư và linh hướng.
Đức ông Phanxicô Borgia Khả, vị linh hướng chủng viện khả ái và mô phạm
Sau khi chịu chức linh mục ngày 21/12/1967, tân linh mục P.B. Trần Văn Khả được Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình (1910-1995) bổ nhiệm về Tiểu chủng viện Sài Gòn làm giáo sư và linh hướng.
Ngài nhận nhiệm vụ vào đầu năm học 1968-1969, giữa lúc Sài Gòn vẫn còn hoảng hốt và lo sợ vì chiến sự đã diễn ra ngay trong thành phố. Chiến cuộc Tết Mậu Thân bùng nổ ngay trong dịp Tết, lúc chủng sinh được nghỉ, về nhà ăn Tết, và còn tiếp diễn trong nhiều tháng sau đó. Đêm 18 rạng sáng 19 tháng Năm 1968, ngay trước lễ phong chức phó tế cho các đại chủng sinh lớp Thần học 3 của Đại chủng viện Sài Gòn, một trận pháo kích làm rung chuyển Sài Gòn. Chiến sự đã khiến thầy và trò ở chủng viện lo âu: liệu có tiếp tục học hành được không?
Giữa lúc ấy, linh mục trẻ Phanxicô B. Khả về chủng viện, làm linh hướng lớp Đệ thất, lớp nhỏ nhất của chủng viện, vừa tựu trường, học năm đầu tiên 1968-1969 (lớp của Đức cha phụ tá TGP Sài Gòn hiện nay: Giuse Đỗ Mạnh Hùng).
Cha nhỏ người, lái một chiếc xe nhỏ, gọn - chiếc Mini Vespa màu xanh dương- nói năng chậm rãi và nhỏ nhẹ. Tuy nhỏ người, nói năng nhỏ nhẹ, như mất hút giữa các cha cao to khác: cha Phêrô Nguyễn Minh Cảnh (1920-1998, phó Giám đốc), cha Nicôla Vũ Gia Đệ (1924-2005); hoặc cao ráo: cha Inhaxiô Mai Xuân Hậu (1923- 2008), cha Alexis Lai Chư Khanh, cha Giuse Vũ Minh Nghiệp..., vậy mà ngài không lạc lõng, hoặc “tan biến” trước tầm cỡ ngoại hình của các vị đồng nghiệp.
Ngài vẫn cao ráo.
Con người nhỏ nhắn ấy vẫn toát lên sự cao ráo về nội tâm, tính cách. Một sức hút lạ lùng toát lên từ vị linh mục này.
Sau giờ cơm tối, chủng viện dành 30 phút thư giãn đi bách bộ trên các sân chơi, trước giờ kinh tối. Hầu như tối nào cũng vậy, chủng sinh cũng kéo đến rất đông để cùng đi dạo và trò chuyện với vị linh mục trẻ này.
Ngài thường hỏi thăm từng người: việc học, gia cảnh, sở thích...; hoặc giải thích đủ mọi chuyện: về thời sự đất nước, Giáo hội, chủng viện. Ngài ít nói về mình, về gia đình. Có người gạn hỏi về Cha Luca Trần Văn Huy, anh ruột ngài, lúc đó đang dạy tại Đại chủng viện Sài Gòn (ngay bên cạnh Tiểu chủng viện), ngài cũng chỉ ậm ừ cho xong (hẳn biết thế nào cũng phải trả lời một câu không giải thích được: vì sao Cha nhỏ người, còn Cha Luca lại cao lớn vậy?!).
Chủng sinh rất mến ngài, vì tính cách hiền lành, lại thêm rất quý trọng, vì vẻ khả ái, nhân từ, và mực thước của ngài.
Những hình ảnh đó, có lẽ, đã in vào tâm khảm, và không chỉ thành một hoài niệm, mà còn như một mẫu gương cho lớp chủng sinh được thụ huấn với ngài trong giai đoạn 1968-1974.
Mừng Kim khánh linh mục bằng Thánh lễ An táng
Trong số chủng sinh Tiểu chủng viện Sài Gòn thời Đức ông Khả làm giáo sư, có linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Sài Gòn. Ngài cũng là nghĩa tử của Đức ông.
Trong bài giảng Thánh lễ An táng Đức ông Khả tại nhà thờ giáo xứ Vườn Xoài vào sáng ngày 21/11/2017, đúng một tháng trước ngày kỷ niệm 50 năm Đức ông chịu chức linh mục, cha Phêrô Hiền đã xúc động thuật lại chi tiết “áo lễ màu tím” được Đức ông dự trù cho lễ Kim Khánh của mình, theo chương trình được tổ chức vào ngày 21/12, tức Thứ Năm Tuần III Mùa Vọng, lễ phục tím (color violaceus):
“Thánh lễ an táng hôm nay cũng chính là lễ kỷ niệm Kim Khánh Linh mục của Đức ông bởi lẽ Đức ông quyết định chọn Thánh lễ Kim khánh bằng lễ phục tím thay cho lễ phục vàng. Màu tím của phụng vụ mùa Vọng”.
Như vậy, dự định lễ phục tím “color violaceus” trong lễ mừng Kim khánh của Đức ông đã được thực thi! Thực thi trong một tình thế bất ngờ: Đức ông đột ngột ra đi 33 ngày trước lễ mừng Kim khánh linh mục.
Và như thế, Thánh lễ an táng ngài, theo ý của ban tổ chức tang lễ: “Cũng chính là lễ kỷ niệm Kim khánh linh mục của Đức ông” (Bài giảng Thánh lễ an táng, Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hiền).
Một Thánh lễ tạ ơn, kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục, có lẽ thuộc loại chưa từng có, vô tiền khoáng hậu!
Nhưng chính vì thế, Thánh lễ An táng-Tạ ơn Kim khánh Linh mục này lại trở thành dịp suy gẫm về ý nghĩa của cử hành Thánh lễ - “Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn”- mà Đức ông tha thiết mời gọi mọi người đến với ngài trong dịp mừng Kim khánh, hãy cùng chia sẻ, tham dự vào “hành động tưởng nhớ” với ngài.
Trong Lời mở đầu quyển “Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn”, quyển sách “tâm huyết” (chữ của Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hiền trong Bài giảng Thánh lễ An táng), Đức ông Trần Văn Khả viết:
“Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Đây là Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ sau khi đọc lời trên bánh: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Lời nói này “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, được Thánh Luca và công thức Truyền Phép Máu Thánh trong Sách Lễ Rôma ghi lại, linh mục đọc lên nhiều lần trong cuộc đời của ngài mỗi khi cử hành Thánh lễ.
Vì thế, khi kỷ niệm mừng Kim khánh Linh mục, tôi đọc lại lời này trong tâm tình tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi tham dự vào chức linh mục của Đức Kitô và giúp thêm xác tín về ơn cao trọng được đọc lời có sức biến đổi kỳ diệu.
Dịp kỷ niệm này được coi như là một hành động “tưởng nhớ” nhắc cho tôi ơn chức linh mục đã lãnh nhận cách nay 50 năm; nhắc lại hành trình đã qua trong đời sống cá nhân, mục vụ, linh hướng, giảng huấn và phục vụ tại Giáo triều Rôma.
Việc tưởng nhớ này được cụ thể hóa qua các bài trình bày về Thánh lễ mà hôm nay tôi muốn góp lại và gửi tới mọi người, như một bày tỏ lời tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Giáo hội, tạ ơn Giáo phận và tạ ơn từng người có liên hệ”.
Lời mở đầu thật ngắn nhưng chan chứa tâm tình khi nhìn lại 50 năm linh mục, 50 năm được “tham dự vào chức linh mục của Đức Kitô”.
Vì thế Đức ông Trần Văn Khả đã đưa tác phẩm “Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn” vào chương trình mừng Kim khánh Linh mục của ngài. Tác phẩm sẽ nói thay ngài lời cảm ơn. Và hơn nữa. Một lời mời gọi. Mời mọi bạn đọc cùng ngài suy gẫm về cử hành Phụng vụ Thánh Thể mà ngài đã gắn bó trọn đời. Sự gắn bó trên hai bình diện: chuyên viên Phụng vụ và Linh mục.
Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn
Quyển Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn gồm ba phần: (1) Giáo huấn của các vị giáo hoàng về đời sống linh mục; (2) Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn; (3) Nhà thờ chính tòa Phát Diệm, một công trình thích nghi phụng vụ về phương diện nghệ thuật đi trước Công đồng chung Vatican II.
Phần (2) “Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn” có thể coi là phần chứa đựng tâm huyết của tác giả.
Trong phần này, tác giả trình bày 17 “bài”: (1) Lịch sử nghi thức cử hành Thánh lễ; (2) Nghi thức mở đầu; (3) Kinh Vinh danh Thiên Chúa; (4) Các lời nguyện trong Thánh lễ; (5) Lời Chúa trong Thánh lễ; (6) Sách Các bài đọc: thành hình và ý nghĩa; (7) Thừa tác viên đọc sách thánh (8) Kinh Tin kính các Thánh Tông đồ; (9) Phần chuẩn bị lễ vật; (10) Kinh nguyện Thánh Thể; (11) Nghi thức truyền phép và việc tưởng niệm Hy tế Thánh giá; (12) Kinh nguyện Thánh Thể: các lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần; (13) Nghi thức hiệp lễ; (14) Thánh lễ đã xong, chúc anh chị em ra về bình an; (15) Các hình thức tôn sùng Thánh Thể ngoài Thánh lễ; (16) Thừa tác viên giúp lễ; (17) Việc đồng tế.
Trình tự các bài cho thấy tác giả muốn hướng độc giả vào việc học hỏi trình tự nghi thức cử hành Thánh lễ. Việc học hỏi này không chỉ mang lại hiểu biết, mà còn giúp tham dự cử hành Thánh Thể một cách có ý thức và sốt sắng.
Hướng tới mục đích-yêu cầu như thế, tác giả đã sử dụng phương pháp tiếp cận nội dung một cách nhất quán, trong cả 17 bài: trình bày lịch sử và phân tích ý nghĩa của cử hành. Từ đó, cuối mỗi bài, tác giả nêu gợi ý về những áp dụng trong việc tham dự cử hành Thánh Thể, kể cả đời sống cầu nguyện và sống đạo của người tín hữu.
* Trình bày lịch sử các nghi thức
Đọc Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn, độc giả cảm thấy mình được lôi cuốn vào việc tìm hiểu cử hành phụng vụ của Giáo hội. Sức cuốn hút của tác phẩm-giáo trình này, trước hết, là do phương pháp tiếp cận đề tài từ góc độ lịch sử.
Thật vậy, nhiệt tâm và niềm say mê môn Phụng vụ, đặc biệt với kinh nghiệm 30 năm phục vụ tại Bộ Phụng tự và Kỷ luật bí tích (1978-2008), Đức ông Trần Văn Khả nhận thấy việc trình bày cử hành Phụng vụ cần phải xuất phát từ khía cạnh lịch sử.
Vì thế, trong từng “bài”, tác giả đều thuật lại quá trình phát triển của từng nghi thức. Tự thân lịch sử luôn có sức hấp dẫn, bởi đó là những thực tại cụ thể, sinh thành trong thời gian, không phải lý thuyết trừu tượng, chỉ tồn tại trong ý thức hoặc sách vở, nên có sức sống, sinh khí. Mỗi nghi thức đều mang hơi thở, sinh khí đời sống cầu nguyện của Hội thánh hàng ngàn năm.
Ngay trong “bài” đầu tiên “Lịch sử nghi thức cử hành Thánh lễ”, tác giả đưa người đọc trở về “cái nhân đầu tiên của nghi thức”, nghĩa là, thời Giáo hội sơ khai, để thấy những yếu tố tiên khởi của cử hành Thánh lễ:
“Chúng ta biết cộng đoàn tín hữu tiên khởi còn lệ thuộc vào các sinh hoạt của Do Thái giáo, vì thế họ tiếp tục đến Đền thờ để nghe đọc Lời Chúa rồi về nhà tư để bẻ bánh (x. Cv 2,46). Từ đây, chúng ta có những yếu tố của một buổi cử hành Thánh lễ, đó là: Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh Thể, cộng đoàn và các Tông Đồ, và nơi cử hành, ở hai nơi khác nhau, và nghi thức bẻ bánh.
Nghi thức bẻ bánh này đã được dùng để chỉ việc cử hành Thánh Thể: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Lời Chúa đây là Kinh Thánh Cựu Ước, gồm các Sách Luật, Ngôn sứ, Thánh vịnh (x. Lc 24,27); về sau còn thêm Phúc âm và các thư của các Tông Đồ (x. Cv 2,42). Như vậy Sách Kinh Thánh là Sách Phụng vụ đầu tiên.
Còn nghi thức cử hành Thánh Thể, chúng có các yếu tố như được viết trong bài tường thuật trên đây:
- Dâng bánh,
- Đọc lời chúc tụng,
- Bẻ bánh,
- Trao bánh cho các môn đệ,
- Đọc lời truyền phép.
Những cử chỉ này về sau đã trở thành các phần của Phụng vụ Thánh Thể, gồm có:
- Nghi thức dâng lễ vật (cầm lấy bánh)
- Kinh nguyện Thánh Thể (chúc tụng)
- Truyền phép (mà phán: ...)
- Bẻ bánh (bẻ ra)
- Hiệp lễ (trao cho các môn đệ).
Từ cử hành Thánh Thể thời Giáo hội sơ khai, tác giả dẫn độc giả đi qua những chặng đường chính của quá trình phát triển và hoàn thiện các nghi thức, và làm nổi bật cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng Vatican II:
“Công đồng chung Vaticanô II, trong ý muốn canh tân phụng vụ, đã lưu tâm đặc biệt tới việc canh tân Nghi thức cử hành Thánh lễ, như chúng ta nhận thấy ngày nay. Tất cả chương II của Hiến chế về Phụng vụ bàn tới việc canh tân này.
Chúng ta nhắc lại một số điểm sau đây:
Xem lại nghi thức cử hành Thánh lễ để có tính cách đơn sơ dễ hiểu, cơ cấu các yếu tố được xếp đặt hợp lý.
Làm sao để tín hữu có thể tham dự tích cực vào Thánh lễ (tích cực, trọn vẹn, sốt sắng và hữu hiệu).
Làm sao để các bài đọc Sách Thánh được xếp đặt cách dồi dào hơn và thay đổi hơn. Từ đây chúng ta có việc xếp đặt theo chu kỳ ba năm cho Ngày Chúa nhật và chu kỳ hai năm cho ngày thường trong tuần.
Lấy lại truyền thống giảng trong Thánh lễ, nhất là Ngày Chúa nhật cũng như lễ buộc.
Lấy lại truyền thống đọc lời nguyện chung (hay lời nguyện giáo dân) nhất là khi có giáo dân tham dự. Và nguồn của bài giảng là các bài đọc Sách Thánh, các kinh phụng vụ, các biểu hiệu phụng vụ.
Cho phép dùng tiếng bản xứ khi cử hành Thánh lễ.
Khuyến khích việc rước lễ; cho phép giáo dân rước lễ dưới hai hình trong một số trường hợp.
Cho phép đồng tế trong Thánh lễ.
Nhấn mạnh tới tính cách duy nhất của Thánh lễ giữa Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể.”
Với bài (5) “Lời Chúa trong Thánh lễ”, tác giả nhắc độc giả đừng quên “đây là một trong hai phần chính yếu của Thánh lễ”. Vì thế nhất thiết phải giúp người đọc hiểu biết lịch sử của phần quan trọng này:
“Cộng đoàn tín hữu đầu tiên còn tiếp tục đi Đền thờ Giêrusalem để tham dự phụng vụ Do Thái, trong đó phần chính yếu là công bố Lời Chúa (gồm một bài Sách Luật và một bài Sách Ngôn sứ), sau đó họ trở về nhà tư và cử hành nghi thức Bẻ bánh.
Dần dần cộng đoàn này tách rời hẳn với cộng đoàn Do Thái và cử hành Thánh Thể tại nhà tư, rồi nhà thờ và sau đó là tại các vương cung thánh đường, dành riêng để lo việc phụng tự. Trong việc cử hành này, việc đọc Lời Chúa vẫn là một trong những phần chính yếu. Do đó chúng ta có thể nói Sách Kinh Thánh được coi là sách phụng vụ đầu tiên trong sinh hoạt phụng vụ Kitô giáo.
Vào thời Tertulliano, có việc đọc ít nhất là hai bài Sách Thánh, mà bài cuối cùng luôn là bài Phúc âm, cùng với việc hát Thánh vịnh, cũng như bài huấn dụ của người chủ sự. Thời ấy, người ta không có Sách Bài Đọc như chúng ta bây giờ, nhưng tùy theo vị chủ sự, bảo đọc đến đâu thì đọc, và ngày hôm sau sẽ đọc tiếp theo. Có một số đoạn Phúc âm được chọn và đọc trong các lễ nhất định, như lễ Chúa Giêsu biến hình, lễ Chúa Giêsu lên trời, ngày đầu Mùa Chay... Số các bài đọc tùy theo phụng vụ, có phụng vụ đọc tới năm bài Sách Thánh: hai bài từ Cựu Ước (Luật và Ngôn sứ), hai bài về Tân Ước (Thánh thư và Công vụ các Tông Đồ) và sau cùng là bài Phúc âm. Có vùng chỉ đọc ba bài: một từ Cựu Ước, một từ Tân Ước và bài Phúc âm. Để tôn kính Lời Chúa, nhất là Phúc âm, người ta thấy có những cử chỉ tôn kính dần dần được đem vào trong khi đọc Lời Chúa.”
Đọc “bài” (6) “Sách Các bài đọc: thành hình và ý nghĩa”, độc giả không khỏi thấy thú vị khi được tác giả giúp nhìn lại lịch sử hình thành Sách bài đọc:
“Đi vào lịch sử việc thành hình nghi thức cử hành Thánh lễ, chúng ta phải nói rằng, cuốn Kinh Thánh là cuốn sách phụng vụ thứ nhất và lâu đời nhất. Điều này có nghĩa là: vào các thế kỷ đầu, khi Giáo Hội cử hành Thánh lễ, cộng đoàn chỉ có sách Kinh Thánh Cựu Ước, rồi sau có thư các thánh Tông Đồ. Các bản văn phụng vụ khác như Lời nguyện, các bài Thánh ca, đều do linh mục hay cộng đoàn sáng tác ra cho mỗi lần, kể cả Kinh nguyện Thánh Thể. Mãi cho tới thế kỷ III, thì mới có các bản văn phụng vụ được quy định rõ ràng, ngoài bản văn Kinh Thánh, để tránh các sai lầm về tín lý, hoặc những bản văn tầm thường, do những người không có khả năng cao về thần học, về văn chương.
Rồi vào những thế kỷ đầu, chưa có một cuốn Sách Bài Đọc được soạn ra như chúng ta có ngày nay. Thời đó vào mỗi buổi cử hành Thánh lễ, vị chủ sự cho đọc một sách Kinh Thánh nào đó, hoặc một đoạn nào đó, có khi dài, có khi ngắn... tùy ngài cho ngắt ra để chú giải trong bài giảng. Buổi cử hành tiếp theo sau, ngài cho đọc tiếp một đoạn sách, khác với đoạn đã đọc lần trước. Dần dần các đoạn thường được chọn đọc cho một lễ, như lễ Lên Trời, lễ Hiện Xuống… hoặc các đoạn được chọn theo mùa phụng vụ… tất cả được xếp lại với nhau, và từ đây chúng ta có việc thành hình Sách Các Bài Đọc. Mỗi nơi có những Sách Bài Đọc riêng, tùy theo sự chọn lựa và cách xếp đặt.
Một điểm khác cần chú ý, đó là trong lịch sử việc thành hình Thánh lễ, khi cử hành Thánh lễ, người ta chỉ thấy có việc đọc Kinh Thánh, mà không cho đọc các tác phẩm của các tác giả đạo đức thời danh. Đôi khi cho đọc sách thuật lại cuộc tử đạo của một vị Thánh, nhưng là nằm trong phần Giáo Hội kính nhớ ngài trong Kinh nguyện Thánh Thể hoặc trong Lời nguyện giáo dân mà thôi. Lý do dễ hiểu vì đó là niềm tin vào Lời Chúa thật sâu xa. Tín hữu không thể chấp nhận việc thay thế lời người khác với Lời Chúa được! Xác tín này vẫn còn trong Giáo Hội và Giáo Hội không thể chấp thuận cho đọc một tác phẩm khác của một tác giả, dù là của các Thánh thay thế cho Bài đọc Lời Chúa.
Khi đi lễ, nhất là khi tham dự Thánh lễ do vị Giám mục cử hành, chúng ta thấy có mấy cuốn sách khác nhau được dùng trong buổi cử hành này: như lúc đầu có việc rước sách Phúc âm; rồi tại tòa công bố Lời Chúa, có một cuốn Sách Bài đọc khác; ngoài ra còn có một cuốn sách cho người hát hoặc đọc Thánh vịnh Đáp ca, câu Alleluia trước khi công bố Phúc âm; khi đọc Lời nguyện giáo dân, lại có một cuốn sách khác; sau cùng trên bàn thờ có Sách Lễ Rôma. Tại sao có nhiều sách như thế làm gì cho phiền phức? Tại sao không cho vào một cuốn cho tiện?
Khi nói tới tiện lợi, thì cũng đã có sự sắp xếp theo tiện lợi, như trước Công đồng Vaticanô II, tất cả chỉ gồm trong một cuốn sách mà thôi. Sau Công đồng, trong công cuộc cải tổ phụng vụ, chúng ta thấy có hai cuốn dùng trong khi cử hành Thánh lễ: đó là Sách Bài Đọc và Sách Lễ Rôma.”
Phần lịch sử được chờ đợi nhất, hẳn phải là lịch sử Kinh nguyện Thánh Thể.
Qua cách trình bày súc tích, Đức ông Trần Văn Khả đã cống hiến cho độc giả một cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể về lịch sử của phần trọng tâm của cử hành Thánh Thể:
“Để hiểu lời kinh trọng đại này, chúng ta thử lược qua lịch sử của nó trong truyền thống phụng vụ bên Đông và bên Tây.
Trong các bài tường thuật việc Chúa Kitô lập phép Thánh Thể, các thánh ký đã ghi lại một số tác động Chúa Kitô đã làm. Ngày nay phần này đã được ghi lại trong lời mở đầu trước khi truyền phép như sau: “Sau khi bị nộp và tự hiến chịu khổ hình, Người cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ và nói”. Các tác động được ghi lại là: Chúa cầm lấy bánh và chén rượu, Chúa đọc lời tạ ơn, Chúa bẻ tấm bánh ra và Chúa trao cho các môn đệ. Lời tạ ơn mà Chúa Kitô đọc trong bữa tiệc ly, là lời chúc tụng mà các vị chủ gia đình đọc trong bữa ăn hằng ngày. Người Do Thái tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa vì của ăn và vì đất đai Thiên Chúa ban cho. Họ cũng xin Thiên Chúa hoàn tất những gì Ngài muốn làm cho Dân của Ngài.
Ban đầu trong Giáo Hội, lời tạ ơn và ca tụng được vị chủ sự đọc lên tùy ý và tùy sức của ngài. Dần dần một số công thức được thành hình như bản văn Kinh nguyện Thánh Thể trong sách Truyền thống các Tông Đồ của thánh Hippolito, cuối thế kỷ thứ II, mà ngày nay trở thành Kinh nguyện Thánh Thể thứ II, mà chúng ta đọc trong Sách Lễ Rôma. Kinh nguyện Thánh Thể được ghi lại trong Sách Truyền Thống Các Tông Đồ (Traditio Apostolica) của thánh Hippolito thành Rôma; sau đó là Kinh nguyện Thánh Thể thứ I hay Lễ Quy Rôma. Thế rồi vào khoảng thế kỷ thứ IV và thứ V có rất nhiều Kinh nguyện Thánh Thể được thành hình. Khả năng sáng tác Kinh nguyện Thánh Thể rất dồi dào, nhất là bên phụng vụ Đông Phương, như Kinh nguyện Thánh Thể của thánh Basiliô. Bên Rôma, chúng ta có được rất ít dấu tích của Kinh nguyện Thánh Thể, ngoài Kinh nguyện Thánh Thể thứ I cũng rất lâu đời, từ thế kỷ thứ IV. Còn Kinh nguyện Thánh Thể thứ III và thứ IV, là những sáng tác mới dựa theo một vài mẫu của phụng vụ bên Đông.
Về hình thức Kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta có thể nói cách tổng quát rằng, hình thức tạ ơn trong bữa ăn theo tục lệ của người Do Thái đã phần nào ảnh hưởng tới hình thức văn chương của Kinh nguyện Thánh Thể Kitô giáo. Người Do Thái đã có công thức tạ ơn khi dùng bữa ăn, như lời chúc tụng khi uống tuần rượu thứ I và khi bẻ bánh cho người đồng bàn: “Chúc tụng Chúa là Thiên Chúa chúng con, vua vũ trụ, vì Chúa ban cho chúng con hoa quả của cây nho; Chúc tụng Chúa là Thiên Chúa chúng con, vua vũ trụ, vì Chúa làm sinh ra bánh này từ ruộng đất”.
Và sau bữa ăn, họ đọc lời chúc tụng sau đây: “Chúc tụng Chúa, lạy Chúa, Thiên Chúa chúng con, vua vũ trụ, vì Chúa nuôi tất cả thế giới do lòng tốt của Chúa, do lòng nhân ái của Chúa, do lòng thương xót của Chúa. Chúc tụng Chúa đã nuôi tất cả chúng con. Chúng con cảm tạ Chúa, lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, vì Chúa đã ban cho chúng con phần gia nghiệp là mảnh đất dễ thương, có giá và rộng rãi, vì Chúa ban cho chúng con giao ước, lề luật, sự sống và lương thực. Vì tất cả những thứ đó, chúng con tạ ơn Chúa và chúc tụng thánh danh Chúa muôn đời. Chúc tụng Chúa, lạy Chúa, vì xứ sở này và vì lương thực nuôi sống chúng con”.
Sau đó họ khẩn nài ơn lành Chúa ban cho họ: “Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, xin thương xót Israel dân Chúa, xin thương xót thành Giêrusalem, thành trì của Chúa, xin thương xót Sion, nơi vinh quang Chúa ngự, xin thương tái thiết Giêrusalem”.
Chúng ta có thể nói rằng Chúa Giêsu, trong bữa tối sau hết, cũng đã đọc lời chúc tụng này.
Trong phạm vi Kinh nguyện Thánh Thể, vào thời kỳ đầu, các Kinh nguyện Thánh Thể có những điểm giống với lời chúc tụng của người Do Thái, nhưng nội dung đã đổi thành lời chúc tụng vì Chúa Giêsu, vì công việc cứu rỗi của Ngài. Như trong Kinh đọc khi cử hành Thánh Thể, lời chúc tụng trên chén nói như sau:
“Chúng con tạ ơn Cha, lạy Cha, vì nhánh nho thánh thiện này thuộc nhà Đavít, tôi tớ của Cha, mà Cha đã mặc khải cho chúng con nhờ Chúa Giêsu, tôi tớ của Cha. Tôn vinh Cha muôn đời!”.
Do đó các nhà học hỏi phụng vụ đã kết luận: Kinh nguyện Thánh Thể Kitô giáo đã phần nào gợi hứng từ Lời Chúc tụng trong bữa ăn của người Do Thái, cùng chúc tụng Thiên Chúa vì những kỳ công của Ngài và tạ ơn Chúa, vì Chúa Giêsu Kitô và ơn cứu chuộc do Ngài mang lại.”
Quả thật, qua trích dẫn trên, có thể thấy lòng yêu mến của Đức ông đối với mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn. Lòng yêu mến này phải chăng là sự đồng điệu tâm hồn với dân Chúa trong lịch sử, và như một người tri âm tri kỷ sâu đậm với lịch sử của dân Chúa?
* Ý nghĩa của Cử hành & Cử hành một cách ý nghĩa
Trình bày lịch sử của việc cử hành, Đức ông Trần Văn Khả không những muốn diễn giải ý nghĩa của phụng vụ, mà còn nhằm giúp người đọc cử hành phụng vụ một cách có ý nghĩa.
Trong “bài” (2) “Nghi thức mở đầu”, tác giả quyển “Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn” trình bày thật cặn kẽ các nghi tiết thuộc Nghi thức mở đầu: Dấu Thánh giá; Lời chào; Nghi thức thống hối.
Tính chất “cặn kẽ” được thể hiện trên hai khía cạnh của nội dung trình bày: ý nghĩa của nghi thức được cử hành và cử hành một cách có ý nghĩa nghi thức ấy.
Chẳng hạn, về ý nghĩa của Nghi thức thống hối, Đức ông Trần Văn Khả trình bày cặn kẽ và khúc chiết:
“Mục đích các nghi thức này là giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau và chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành Thánh lễ cho xứng đáng” (x. Phần nhập đề Sách Lễ Rôma). Hoặc sau đó Phần nhập này nói rõ hơn như sau: “Sau lời chào linh mục hay một thừa tác viên xứng hợp có thể nói rất vắn tắt đưa giáo dân vào Thánh lễ ngày hôm ấy. Tiếp đến linh mục mời mọi người sám hối. Tất cả cộng đoàn thú tội chung và linh mục đọc lời xá giải kết thúc”.
Chúng ta sẽ lần lượt nói từng yếu tố của Hành động thống hối này.
Vậy lời mời của linh mục chủ tế đọc ở đầu Hành động thống hối có ý nghĩa gì?
Để thấy được ý nghĩa của từng yếu tố, chúng ta sẽ đọc lại chính bản văn của từng yếu tố này.
Linh mục nói như sau: “Anh chị em, chúng ta hãy nhìn nhận tội lỗi chúng ta để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh”. Lời mời mở đầu này gồm 4 điểm: (1) nhìn nhận (2) tội lỗi, (3) cử hành mầu nhiệm thánh và (4) cách thức cử hành làm sao cho tâm hồn được trong sạch và xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Từ đây chúng ta thấy ý nghĩa của động từ “nhìn nhận” không phải chỉ là việc xét lại, nhớ lại hoặc phơi bày ra mà thôi, nhưng còn là một hành động mang tâm tình và ý chí thống hối ăn năn thực sự. Điều này được gợi ra do những lời nói tiếp sau: để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Rồi cụm từ “tội lỗi” diễn tả một cách chung: các tội lỗi của từng người, nhưng cũng nhắc tới thân phận con người đã bị liên lụy với tội lỗi từ xa xưa, và cùng với sự tự do của mỗi người, chúng trở nên nguyên nhân các tội mình phạm. Cụm từ “chúng ta” không mang tính xã hội, nghĩa là những hành động chung của cả một tập thể hay một cộng đoàn, như xưa trong Cựu Ước, các tiên tri kêu gọi tập thể Israel hãy thống hối; nhưng là của từng cá nhân đang có mặt trong buổi cử hành này, bao gồm linh mục chủ tế, các vị đồng tế, các thừa tác viên giúp lễ, cộng đoàn giáo dân tham dự.
Sau khi đã mời cộng đoàn cùng nhau thống hối chung, linh mục qua lời mời này, đã cho cộng đoàn biết mục đích của việc thống hối mà họ làm trong mỗi buổi lễ, là chuẩn bị cho việc cử hành mầu nhiệm thánh. Mầu nhiệm thánh này là Lời Chúa, là Hy tế Thánh Thể và sự hiệp thông với nhau, qua sự hiệp thông với Chúa Kitô khi họ lên rước lễ. Điều này được nói rõ trong lời giải thích ở Phần Nhập lễ như sau: có mục đích giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau và chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành Thánh lễ cho xứng đáng: đó là để giúp họ hiệp thông với nhau trong buổi lễ này, và từ đó họ lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh lễ cho nghiêm chỉnh xứng đáng.
Sau cùng, thái độ mà việc thống hối muốn tạo ra nơi tín hữu, muốn đưa họ tới là: cử hành cách xứng đáng, nghiêm chỉnh. Những ai chăm chú ngay từ đầu lễ sẽ được nhắc nhở phải có thái độ nội tâm và bên ngoài. Điều này có ý muốn đưa tín hữu ý thức đức tin phải có khi đứng trước mầu nhiệm của Thiên Chúa, như xưa ông Môsê nhận thấy mình đứng trước Thiên Chúa Giavê. Thái độ cung kính này không chỉ có trong lúc tham dự Thánh lễ, nhưng cả những lúc khác nữa, như khi tham dự buổi cử hành các bí tích, khi vào nhà thờ để viếng, để chầu Mình Thánh Chúa Giêsu; hoặc như khi chiêm ngắm thiên nhiên. Đó là thái độ thờ lạy, bái kính Thiên Chúa. Bản dịch Nghi thức Thánh lễ ấn bản mẫu lần thứ III, năm 2005, đã lấy lại cụm từ “mầu nhiệm” như trong bản văn Latinh, vì bản dịch năm 1992 đã dịch với suy diễn cụ thể về “mầu nhiệm” đây là “Thánh lễ”, nên đã nói: “Để xứng đáng cử hành Thánh lễ”. Như vậy, hai chữ “mầu nhiệm” đã được thay thế, hay nói cho đúng đã dịch cách trung thành với bản văn Latinh, thay vì dịch cách tự do.
(...)
Bây giờ chúng ta tìm hiểu cho biết ý nghĩa của chính bản văn này. Vậy ý nghĩa của Kinh Cáo mình là gì và nó có phận vụ gì trong Nghi thức mở đầu Thánh lễ?
Đọc lại các bản Kinh Cáo mình từ thế kỷ thứ IX đến nay, chúng ta nhận ra những điểm sau đây:
- Kinh này là một hành động nhằm vào mỗi người dù đọc theo hình thức đối thoại hay hình thức chung với nhau do linh mục và người giúp lễ hay cộng đoàn. Vì thế động từ cáo mình ở ngôi thứ nhất số ít “Tôi thú nhận”. Như vậy nó vẫn có một phận vụ như lời kinh cá nhân (apologies) để xin ơn tha tội hay để xin ơn nào khác. Động từ “thú nhận” trong Kinh Cáo mình dù mang tính thống hối một cách hết sức rõ ràng, nhưng việc cáo mình này vẫn nằm trong truyền thống Kinh Thánh, đó là một lời xưng tụng, như chúng ta thấy trong nhiều Thánh vịnh trong Kinh Thánh Cựu Ước. Việc xưng thú các tội là một hành động tín hữu làm với tâm tình khiêm nhường và nhận biết các tội của mình và xin ơn tha thứ trước mặt Thiên Chúa, nhưng hành động xưng thú các tội lại là một hành động tuyên xưng lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa, do đó xưng thú các tội có hai nghĩa: nghĩa tiêu cực là tố cáo các tội mình trước mặt Thiên Chúa và trước mặt người khác, và nghĩa tích cực là đi vào biển cả của lòng thương xót Chúa và chúc tụng lòng thương xót này với tất cả cộng đoàn tế lễ. Thái độ xưng tụng Thiên Chúa là “sự toàn năng” của Ngài: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng”. Và đây là một điều lạ trong lối hành văn của phụng vụ. Chúng ta có thể nói rằng: có lẽ nên đọc là “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa đầy lòng thương xót” thì đúng hơn. Tuy nhiên phụng vụ xưng tụng Thiên Chúa dưới nhiều kiểu nói: toàn năng, thương xót, đời đời, cực thánh, vô biên... như chúng ta thường thấy ở câu mở đầu các lời nguyện. Nhưng tất cả các khía cạnh này đối với chúng ta là những thực tại tách rời, còn nơi Thiên Chúa thì không, tất cả là một và cái “một”, cái “đơn thuần” nơi Thiên Chúa như được phân ra nhiều để giúp ta hiểu rõ hơn về Thiên Chúa, theo sự giới hạn của khả năng đón nhận và hiểu biết của chúng ta. Chính vì thế, Thiên Chúa“toàn năng” cũng chứa đựng “lòng thương xót” của Ngài.
- Rồi Kinh Cáo mình được đọc trong tư thế một cá nhân: “Tôi thú nhận”. Ở đây thái độ khiêm nhường nhận biết tội của mình, phải là của mỗi người. Và mỗi người nằm trong cái toàn thể cộng đồng của Giáo Hội. Và khi cá nhân thanh luyện chính mình thì cũng đồng thời làm cho bộ mặt của Giáo Hội trong sáng hơn. Do đó chúng ta hiểu rằng: Giáo Hội luôn sám hối nơi con cái của mình, điều này không có nghĩa là Giáo Hội mang vướng tội gì, nhưng là mang lấy gánh nặng do tội của con cái mình và luôn xin Chúa thứ tha các tội của con cái mình. Điều này càng rõ hơn trong lúc cử hành Thánh lễ.
Chúng ta đọc tiếp Kinh Cáo mình sẽ nhận ra ý nghĩa khác nữa của kinh này. Phần tiếp theo của Kinh này đọc lên như sau: “và cùng anh chị em”. Đây cũng là một điều mang nhiều ý nghĩa. Kinh Cáo mình trước công cuộc canh tân Phụng vụ của Công đồng Vaticanô II đọc lên như sau: “Tôi cáo mình cùng Đức Chúa Trời là Thiên Chúa toàn năng, và rất thánh Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh, Tổng lãnh Thiên thần Micae, Thánh Gioan Baotixita, các Thánh Tông Đồ, cùng các Thánh và cùng anh chị em”. Nhưng trong bản văn mới chỉ còn việc “cáo mình cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em”: Tại sao có việc bỏ bớt các yếu tố như chúng ta vừa thấy? Điều này được giải thích là vì lý do các tiêu chuẩn nhằm thực hiện công cuộc cải tổ phụng vụ là (1) làm đơn giản các lễ nghi và các bản văn, cũng như (2) bỏ bớt những điều có tính cách lặp đi lặp lại, mà xem ra không cần thiết. Trong Kinh Cáo mình, chúng ta nhận thấy ở phần thứ hai, có việc cầu khẩn Đức Trinh Nữ Maria, các thiên thần, các thánh, để xin các ngài cầu bầu trước tòa Chúa ơn tha tội cho chúng ta. Và như vậy việc xưng thú các tội trước mặt triều thần Thiên quốc cũng được gói ghém trong lời cầu khẩn ở phần thứ hai này.
Nhưng tại sao trong Kinh Cáo mình lại có hai lần nhắc tới “anh chị em” đang cùng dâng Thánh lễ?
Khi nhắc lại hai lần “và cùng anh chị em”, điều này nhằm mục đích làm sáng tỏ tính cách cộng đồng của hành động tham dự Thánh lễ. Người anh chị em mà chúng ta đang xưng thú các tội lỗi của mình, thì cũng là người anh chị em đang cùng chúng ta dâng hy tế Thánh Thể, cũng như họ đang thú nhận các tội và xin ơn tha thứ như chúng ta. Đàng khác hành động xưng thú các tội với anh chị em, cũng là điều nhằm cho thấy, có lẽ chúng ta cũng đã làm điều xấu cho họ, và vì thế chúng ta xin lỗi họ trước khi đến dâng của lễ, như Chúa Giêsu đã căn dặn trong Phúc âm.
Một lý do khác, đó là hành động xưng thú các tội, là một dấu vết còn lại của việc thống hối công cộng thời xưa. Hối nhân xưng thú các tội trước mặt mọi người trong cộng đoàn, để rồi sau đó họ được cộng đoàn ra việc đền tội, cầu khẩn cho họ và ra đứng ngoài nhà thờ trong suốt thời gian thống hối.”
Tự thân việc diễn giải cặn kẽ đã bao hàm sự gợi ý cần thực hiện các nghi thức sao cho có ý nghĩa, sốt sắng.
Nhưng tác giả, vốn là nhà sư phạm, nên muốn nhắm đến việc chia sẻ, như một lời mời gọi tín hữu-độc giả hãy thực hành việc thống hối, không chỉ khi tham dự Thánh lễ mà còn đưa hành động này vào đời sống:
“Từ những suy tư trên đây về lời mời thống hối ở đầu Thánh lễ, chúng ta có thể gợi ý gì thêm cho đời sống hằng ngày của chúng ta không?
Quả thực, chính công thức chào và những suy tư trên đây khiến chúng ta có thể nghĩ thêm rằng: hành động chân thành nhìn nhận tội lỗi mình là một hành động chính yếu quan trọng trong đời sống đức tin, vì nó giúp chúng ta đặt lại đúng mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa: chúng ta là tạo vật do Thiên Chúa làm nên, và phải sống luôn trong sự hiệp thông căn bản này. Tuy nhiên, tội lỗi đã đến trong thế gian, qua tội của nguyên tổ loài người và rồi các tội của chúng ta nữa, làm cho con người không còn nhận ra mối liên hệ giữa ta và Thiên Chúa là chính yếu, và phải sống mối liên hệ này cách xác tín. Nhưng chính tội lỗi đã làm đứt mối liên hệ này, vì thế con người phải lấy lại nó bằng tâm tình thống hối ăn năn. Đây là thái độ phải có luôn trong đời sống chúng ta.
Nhưng giờ tham dự Thánh lễ là một hành động chính yếu quan trọng, vì thế người tín hữu phải thực hành công việc này một cách nghiêm chỉnh. Để giúp tín hữu ý thức điều này, linh mục đã mời gọi họ thành tâm thống hối ăn năn các tội lỗi của mình. Các tội này đã được tha qua Bí tích Giải tội, nhưng hành động thống hối này làm cho tín hữu thêm ý thức và thanh luyện lương tâm của họ, đem họ mỗi ngày đi vào mối liên hệ trong sáng hơn.
Ý thức về hành động thống hối như lời mời của linh mục lúc đầu lễ, tín hữu khi về nhà sau Thánh lễ sẽ có ý chí cương quyết chừa tội và tránh xa tội. Làm như thế họ chuẩn bị cho lần tham dự Thánh lễ sắp tới và sống kết hiệp với Thiên Chúa mỗi ngày gần gũi hơn.
Tôi nhớ lại ở Việt Nam trước đây, đầu mỗi giờ kinh chung, ở nhà thờ hay trong gia đình, sau Kinh nguyện Chúa Thánh Thần, đều có đọc Kinh Ăn năn tội. Việc sắp xếp này chắc cũng phát khởi từ mẫu mực đã có trong Thánh lễ. Chúng ta có thể giữ thói quen này, và đọc Kinh Ăn Năn Tội một cách ý thức hơn.
Một thói quen khác cũng khá quan trọng và nhiều ý nghĩa, đó là trước mỗi dịp tín hữu lãnh nhận một bí tích, hay một dịp lễ trọng nào đó, họ thường đi xưng tội. Đây cũng là thói quen có thể do lời mời gọi trong Thánh lễ, với mục đích giúp tín hữu chuẩn bị đón nhận mầu nhiệm thánh cách xứng đáng và nghiêm chỉnh. Chúng ta cố gắng làm việc này với tâm tình tôn thờ Thiên Chúa cách chân thành, dọn tâm hồn mình trong trắng để luôn có thể tiến đến với một mầu nhiệm thánh nào đó.”
Phương pháp diễn giải nội dung nghi thức cử hành, và nêu gợi ý áp dụng vào thực tiễn sống đức Tin, được tác giả sử dụng xuyên suốt các bài mang tính “giáo trình” của mình.
Có thể đọc thêm một đoạn “giáo trình” về Nghi thức cử hành Kinh nguyện Thánh Thể (bài 10).
Đức ông viết về ý nghĩa và sống Kinh nguyện Thánh Thể:
“Hai tư tưởng tạ ơn và dâng hiến hy tế rất quan trọng và bao trùm tất cả Kinh nguyện Thánh Thể.
Kinh nguyện Thánh Thể và đời sống thiêng liêng của linh mục và người thánh hiến
Sau khi đã trình bày sơ lược một số điểm về Kinh nguyện Thánh Thể mà chúng ta nghe đọc khi tham dự Thánh lễ, tôi xin gợi ra những điểm sau đây để áp dụng vào đời sống linh mục, các người thánh hiến và tín hữu nói chung.
Thánh lễ là nơi ưu tiên để gặp gỡ Chúa Kitô hiến tế
Tư tưởng này đưa chúng ta suy tư về cuộc gặp gỡ Thánh Thể mà chúng ta thực hiện hằng ngày, mỗi khi tham dự Thánh lễ. Chúng ta chiêm ngắm dung nhan của Chúa Kitô. Nhưng Thánh Thể giới thiệu cho chúng ta Chúa Kitô nào đây? Kinh nguyện Thánh Thể trình bày cho chúng ta Chúa Kitô hiến tế theo chương trình cứu độ của Chúa Cha. Ngài đã vâng lời Chúa Cha và vâng lời cho đến chết trên Thánh giá để dâng hy tế lên Chúa Cha. Ngày nay qua Kinh nguyện Thánh Thể, Chúa Kitô còn tái diễn lại hành động hy tế và nhất là tâm tình hiếu thảo tuân phục hoàn toàn từ bên trong đối với Chúa Cha. Hy tế này bây giờ được tái diễn qua các dấu chỉ của bánh và rượu, vì thế tình trạng hiến tế của Chúa lại càng được biểu lộ một cách tận căn hơn nữa. Ngài không chỉ chết đi để hiến tế, mà bây giờ còn thực hiện hiến tế này trong trạng thái thật đơn sơ, bé nhỏ và xem ra rất tầm thường.
Vì thế khi tham dự Thánh lễ, khi chiêm ngắm Chúa Kitô hiến tế, các tín hữu và những người thánh hiến trong bậc sống đặc biệt, càng nhận thấy bị thôi thúc để sống tinh thần hiến tế một cách tận căn hơn. Tinh thần này là tinh thần: “Này con xin đến để thực thi ý Chúa!”.
Thánh lễ đem Chúa Thánh Thần đến với chúng ta
Trong Kinh nguyện Thánh Thể, vai trò của Chúa Thánh Thần được mô tả rất rõ ràng qua hai lời cầu khẩn hướng đến Ngài: trước truyền phép và sau truyền phép. Chúa Thánh Thần đã gắn liền với Chúa Giêsu trong cuộc sống của Ngài dưới thế, từ khi thụ thai, sinh ra, đến khi rao giảng Tin Mừng, làm phép lạ, đến khi chết trên Thập giá. Chúa Thánh Thần cộng tác với Chúa Giêsu Kitô để đem ơn cứu rỗi cho nhân loại. Ngày nay, Ngài còn tiếp tục và được ủy thác để thánh hóa nhân loại cho tới khi Chúa Kitô lại đến.
Chúa Thánh Thần cũng có một vai trò như vậy đối với mỗi người thánh hiến. Tất cả các biến cố trong cuộc sống thiêng liêng của họ, tác động của Chúa Thánh Thần thật rõ nét: qua Bí tích Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Giải tội, Xức dầu bệnh nhân. Các công thức bí tích đều gợi tới Chúa Thánh Thần như là tác nhân chính của việc ban ơn bí tích. Như vậy, người thánh hiến mỗi khi tham dự Thánh lễ, nghe đọc lời cầu khẩn Chúa Thánh Thần, họ được nhắc nhở về vai trò của Ngài và việc hợp tác với Chúa Thánh Thần, để xin Chúa Thánh Thần cũng biến đổi họ như đã biến đổi bánh và rượu nên Mình và Máu Chúa Kitô. Họ cũng xin Chúa Thánh Thần liên kết họ thêm chặt chẽ hơn với Chúa Kitô, như Giáo Hội cầu khẩn Chúa Thánh Thần làm cho mọi người rước lễ nên một thân thể trong Chúa Kitô.
Thánh lễ tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô
Kinh nguyện Thánh Thể có yếu tố tưởng niệm cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Việc tưởng niệm này không chỉ là việc tưởng nhớ một kỷ niệm trong dĩ vãng, nhưng là việc làm lại chính cái chết và sống lại của Chúa Kitô. Trong lời tung hô sau truyền phép, chúng ta đọc: “Chúng con loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến”. Phải, chúng ta loan truyền cuộc khổ nạn và sống lại của Chúa không phải bằng lời nói, bằng môi miệng, mà còn bằng chính cuộc sống của chúng ta. Hằng ngày, khi tham dự Thánh lễ, người thánh hiến nhớ mình được kêu gọi cách đặc biệt để theo Chúa Kitô chịu đóng đinh và làm cho cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trở nên của chính chúng ta. Hành động tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô là hành động sống cuộc khổ nạn đó. Nếu Chúa Kitô còn muốn cuộc khổ nạn của Ngài mỗi ngày được làm lại trong hy tế Thánh Thể, không phải một lần, nhưng do bao nhiêu linh mục dâng Thánh lễ mỗi ngày, thì Ngài cũng muốn chúng ta mỗi ngày chấp nhận cuộc khổ nạn của Ngài nơi chúng ta một cách ý thức hơn và sâu xa hơn. Mỗi lần chúng ta tham dự Thánh lễ là chúng ta dâng hy tế của Chúa Giêsu, thì mỗi lần chúng ta hiệp dâng chính hy tế cuộc sống chúng ta cho Thiên Chúa, Thánh lễ giúp chúng ta nên giống Chúa Kitô khổ nạn và phục sinh.
Thánh lễ tăng thêm thái độ chuyển cầu nơi linh mục và con người thánh hiến, các tín hữu
Khi nghe đọc Kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta thấy có lời chuyển cầu cho Giáo Hội, Đức Thánh Cha, Đức Giám mục sở tại, các thành phần dân Chúa, cho kẻ sống và kẻ chết và sống trong tình hiệp thông với toàn thể Giáo Hội. Điều này chỉ là nói rõ giá trị phổ quát của hy tế Thánh Thể. Chúa Kitô chết và đổ máu ra để nhiều người được tha tội. Khi Giáo Hội cầu khẩn cho mọi thành phần của mình, nhờ hy tế của Chúa Kitô, Giáo Hội thực thi tác vụ chuyển cầu và giúp Chúa Kitô thực thi tác vụ này trên trần thế, như ở trên trời Ngài vẫn tiếp tục chuyển cầu cho nhân loại. Lời chuyển cầu này có giá trị và hiệu lực chắc chắn, vì lời chuyển cầu của Giáo Hội đi kèm theo việc dâng hy tế của Chúa Kitô.
Người thánh hiến, mỗi ngày dâng hy tế Thánh Thể hoặc tham dự vào hy tế này, họ đang thực hiện tác vụ chuyển cầu mà Giáo Hội ủy thác cho họ một cách đặc biệt. Giáo Hội muốn các linh mục, những người thánh hiến như là người cầu bầu cho anh chị em đồng loại của mình, vì thế khi tham dự Thánh lễ họ được nhắc nhở cho tác vụ này. Khi họ cử hành Các Giờ Kinh Phụng Vụ, họ đang thực thi tác vụ chuyển cầu cho thế giới mà Giáo Hội ủy thác cho họ; nhưng lời kinh này sẽ có hiệu lực hơn nếu họ biết kết hiệp với Thánh lễ mà họ đã tham dự ban sáng hay ban chiều. Đôi khi có việc đọc chung một giờ kinh Phụng vụ trong Thánh lễ, không chỉ nhằm tiện lợi, nhưng cho thấy sự hiệp nhất giữa hy tế Thánh Thể và tác vụ chuyển cầu của giờ kinh phụng vụ và làm cho giờ kinh này có hiệu lực hơn.
Đàng khác, khi tham dự Thánh lễ, linh mục và những người thánh hiến chuyển cầu cho thế giới và Giáo Hội. Điều này nhắc nhở họ về sự sẵn sàng trong đời sống, biết dâng lời kinh cầu nguyện cho thế giới, cho các nhu cầu của nhân loại, hay biết thinh lặng trước Thánh Thể để cầu bầu cho một ý chỉ nào đó, hay một người nào đó đang gặp khó khăn trong cuộc sống, nhất là đời sống đức tin. Người thánh hiến như vậy là một “Môsê” giữa dân của mình và giữa lòng nhân loại.
Thánh lễ, qua Kinh nguyện Thánh Thể, gợi ra cho chúng ta những tâm tình, thái độ căn bản trong đời sống của mình. Người tín hữu trở nên hy tế, tràn đầy Chúa Thánh Thần, sống cuộc khổ nạn của Chúa Kitô và nên người chuyển cầu ơn lành cho nhân loại. Như vậy, Thánh lễ đem lại cho chúng ta hướng đi để sống và sức mạnh để thăng tiến cuộc đời của mình.”
Quả thật, khi nêu hai ý nghĩa nền tảng và cốt tủy của Kinh nguyện Thánh Thể là “tạ ơn và dâng hiến”, phải chăng tác giả như muốn tâm sự với độc giả về xác tín của chính mình sau một chặng đường tròn nửa thế kỷ tạ ơn và dâng hiến: “Này con xin đến để thực thi ý Chúa”?
Suy tư về thích nghi phụng vụ trong phạm vi nghệ thuật
Báo Hiệp Thông số 77 đã đăng bài của Đức ông Phanxicô Borgia Trần Văn Khả“Nhà thờ chính tòa Phát Diệm, một công trình thích nghi phụng vụ về phương diện nghệ thuật đi trước Công đồng chung Vatican II”.
Bài viết của ngài được độc giả đón nhận và tán đồng những suy tư về thích nghi phụng vụ trong phạm vi nghệ thuật nói chung, và qua công trình nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình) nói riêng.
Quả thật, độc giả tán thành bài viết đã giúp mọi người quan tâm thấy được hai yêu cầu chính đặt ra cho các công trình thích nghi phụng vụ về khía cạnh nghệ thuật: (1) yêu cầu về văn hóa và (2) yêu cầu về thờ phượng.
Đức ông Trần Văn Khả nhận thấy công trình nhà thờ phát Diệm đã đáp ứng thật trọn vẹn và tinh tế cả hai yêu cầu đó.
“Cha Trần Lục đã cố gắng thỏa mãn nhu cầu văn hóa qua việc gợi hứng theo các đường nét cổ truyền trong nghệ thuật kiến trúc Việt Nam, trong việc dùng các vật tư thường được dùng trong công cuộc kiến thiết này. Như vậy cha đã cống hiến cho giáo hữu của cha có được cảm tưởng là họ không phải xa lạ với văn hóa Việt Nam khi họ theo Chúa Kitô, khi họ theo Kitô giáo, khi họ đến nhà thờ cầu nguyện. Cha đã thành công trong phạm vi này. Các nhận xét từ trong nước hay từ ngoài nước, như chúng ta đã nhiều lần nhắc lại trong bài này, cũng như trong tập sách này, về lối kiến trúc của Phát Diệm chứng minh rõ ràng điều trên đây.
Tuy nhiên việc thích nghi như vậy chưa đủ, trái lại công tác này còn phải nhắm vào việc làm thỏa mãn nhu cầu thờ phượng Kitô giáo mà các ngôi nhà này được kiến thiết. Và dung hòa hai nhu cầu văn hóa và tôn giáo của công tác xây dựng này đã làm nên cái đặc biệt của sự nghiệp Cha Trần Lục để lại cho chúng ta. Chúng ta có thể nói, công trình này tự nó phải được nhìn riêng một mình nó (sui iuris). Điều mà chúng ta sẽ trình bày dưới đây.
Vậy Cha Trần Lục đã đáp ứng nhu cầu tôn giáo như thế nào trong công trình kiến thiết các ngôi nhà thờ tại Phát Diệm?
Chúng ta xét theo các quan điểm sau đây:
- Cha loại bỏ những gì không phù hợp với đức tin Kitô giáo, như Công Đồng chung Vaticanô II dạy: “Trong tập tục của các dân tộc, bất cứ những gì không tuyệt đối gắn liền với những điều dị đoan và lầm lạc, đều được Giáo Hội thẩm định với nhiều thiện cảm, và nếu có thể, vẫn được gìn giữ toàn vẹn và vững chắc, hơn nữa, đôi khi còn được đưa vào trong Phụng Vụ, miễn sao hòa hợp với những nguyên tắc của tinh thần phụng vụ đích thực và chân chính”. Thay vì sử dụng chiều ngang nhà thờ Lớn như trong trường hợp các chùa chiền, thường dùng gian giữa làm bàn thờ, làm chính điện, còn cha, cha đã sử dụng chiều dài, tức là một đầu là cửa đi vào, và phía cuối nhà thờ là bàn thờ. Thay vì đường nét trang trí loè loẹt, là đường nét đơn sơ hợp với tinh thần phụng vụ Rôma. Ta xem các cột của nhà thờ Lớn và so sánh với các hàng cột tại các cung điện ở Huế, thay vì con rồng ở đầu các mái cong, như tại các mái của các đền đài, hoặc các chùa, cha cho đặt vào một hoa văn theo kiểu gô-tích bên Âu châu. Cha không dùng biểu hiệu con rồng, có lẽ lý do là vì con rồng trong Kinh Thánh được coi là thù địch với Thiên Chúa và với nhân loại; vì thế cha bỏ đi, vì có thể gây hoang mang nơi giáo hữu. Đây là đường lối giáo dục khôn ngoan của Giáo Hội là thực hiện những thích nghi, những cải cách từ từ, để không làm tổn thương đến đức tin của tín hữu khi họ chưa vững vàng trong đức tin. Xin trưng dẫn một thí dụ: vào thời kỳ đầu, Giáo Hội đã không dùng hương trong phụng vụ, vì đó là biểu hiện của việc chối đạo trong thời kỳ cấm đạo trong đế quốc Rôma. Mãi về sau khi tâm trạng người ta cho việc dùng hương là một cử chỉ tôn kính, cầu nguyện, chỉ khi đó, Giáo Hội mới đưa hương vào trong phụng vụ.
- Cha sử dụng các yếu tố cổ truyền vào việc tôn thờ: tam quan là số 3, số 7, số 9 là con số đầy đủ, trọn vẹn; rồi dùng các biểu hiệu cổ truyền Việt Nam, như hoa văn, các biểu hiệu cây trúc, con phượng; cha cho vào đó các biểu hiệu Kinh Thánh, phụng vụ Kitô, Lời Chúa, Thánh giá, ảnh tượng Đức Mẹ và các Thánh, như để thánh hóa các nơi này. Một Phương Đình với cây Thánh giá trên đỉnh tháp chuông, việc đặt tượng bốn thánh sử chép bốn sách Phúc âm, sẽ cho thấy sự hiện diện của Kitô giáo tại đây. Rồi qua Thánh giá, cơ sở mà trước đây được xây dựng cho các sử dụng khác tại các chùa, các đình làng, nay được sử dụng vào việc tôn thờ Thiên Chúa.
- Cách xếp đặt tất cả quần thể khu Phát Diệm, cũng cho thấy cái ý nghĩa Kitô giáo trong đó: từ ngoài vào là ao hồ, với tượng Chúa Giêsu làm vua, sau đó là Phương Đình, nhà thờ Lớn; hai bên nhà thờ Lớn, có 4 nhà thờ khác (2 nhà thờ bên trái kính Thánh Giuse và Thánh Phêrô; 2 nhà thờ bên phải kính Trái Tim Chúa Giêsu và Thánh Rôcô). Sau nhà thờ Lớn là 3 hang đá.”
Từ những phân tích về sự đáp ứng hai yêu cầu đặt ra cho các công trình thích nghi phụng vụ về khía cạnh nghệ thuật, qua một trường hợp cụ thể và điển hình - nhà thờ Phát Diệm - Đức ông Trần Văn Khả mở ra một viễn cảnh, hay nói đúng hơn, khẳng định và xác tín về tinh thần và phương pháp đưa đức Tin hội nhập các nền văn hóa, đó là phương pháp đối thoại, là tinh thần hội nhập nhưng không đồng hóa:
“Kitô giáo là tôn giáo mặc khải cứu rỗi đi đến với các dân tộc và trân trọng quý mến các truyền thống, văn hóa các dân tộc. Do đó Kitô giáo đến với dân tộc Việt Nam, không như một tôn giáo ngoại lai, nhưng là một tôn giáo sẵn sàng đi vào sinh hoạt văn hóa của dân tộc Việt Nam, như phạm vi nghệ thuật mà chúng ta vừa trình bày trên đây. Các tôn giáo khác đến với dân tộc Việt Nam đã đi vào con đường này trước đó. Và đó là niềm hiên ngang của họ, Kitô giáo đến với dân tộc Việt Nam cũng có được niềm hiên ngang tự hào trên đây. Các tôn giáo vốn dĩ bảo tồn cái sắc thái riêng của mình, nhất là về phương diện thần học và đạo lý, và điều này đôi khi nảy sinh ra một sự xung khắc có tính cách bên ngoài, nhưng dần dần sự xung khắc này đã biến tan đi vì có sự đối thoại, có sự tiếp nhận các giá trị tinh thần thiêng liêng của tôn giáo và của văn hóa Việt Nam. Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng đã và đang đi vào con đường đối thoại, tiếp nhận các giá trị văn hóa chân chính của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng cống hiến cho dân tộc Việt Nam những chân lý vĩnh cửu, những chân lý đem lại ơn cứu rỗi và những chân giá trị tinh thần, luân lý để làm giàu cho văn hóa Việt Nam. Những chân lý trường cửu và giá trị tinh thần của Kitô giáo, không thể đồng hóa với một nền văn hóa nào, như khi đến với các nền văn hóa Tây phương, hoặc các nền văn hóa vùng Địa Trung Hải, các vùng Cận Đông, các dân tộc Đông Âu, hoặc tại Phi châu, Á châu, Mỹ châu... nhưng có tính cách phổ quát và vĩnh viễn.”
* * *
Biên soạn quyển “Mầu nhiệm Thánh lễ Tạ ơn”, Đức ông Phanxicô Trần Văn Khả dự định làm món quà kỷ niệm Kim khánh linh mục.
Dự định này của ngài đã được thực hiện. Sách đã đến tay những vị khách đến cầu nguyện cho ngài trong Thánh lễ An táng & Tạ ơn Kim khánh Linh mục.
Như vậy, ngài đã không còn hiện diện hữu hình để tặng sách. Ngài hiện diện một cách khác.
Hiện diện trong ký ức những người đang tưởng niệm ngài.
Tưởng niệm một linh mục hiền hòa và khả ái, trọn đời đã sống “tạ ơn và dâng hiến”.
21/12/2017
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 104 (Tháng 1 & 2 năm 2018)
