|
6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin |
Dẫn nhập
Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một “alter Christus” – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự “biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”. Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ.
Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: “Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa”.[2]
Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc “Đào Tạo Linh Mục” (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei “Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội” (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa.
Nội dung
I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo
Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ.
Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc.
Cha Cencini nhấn mạnh: “Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích”.[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn.
Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai.
Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. “Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?” [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin.
1. Khả năng biết mình
Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau:
| Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình |
Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM |
| VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. |
VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. |
| VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. |
VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. |
2. Khả năng tự định hướng
Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau:
| Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng |
Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM |
| VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. |
VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. |
| VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. |
VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. |
3. Khả năng tự chủ
Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau:
| Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ |
Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM |
| VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt |
VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi “nhai đi nhai lại” chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy “kiệt quệ” khi hiệu quả công việc không được như ý. |
| VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. |
VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc |
4. Khả năng tự kỷ luật
Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau:
| Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật |
Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM |
| VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. |
VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này “tỏ ra” tự mãn nhờ năng lực của mình. |
| VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. |
VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. |
5. Khả năng tự quản mình
Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau:
| Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình |
Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM |
| VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. |
VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. |
| VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. |
VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. |
II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của “việc đào tạo linh mục”
Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu “Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội” (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc “học về Chúa” sang việc “cảm nghiệm cùng Dân Chúa”.
| Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) |
Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục |
Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo |
| 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): |
Người ƯSLM thấy mình là “quan sát viên” hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? |
Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như “lưu xá / nhà trọ”, mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là “nhà mình”, bản thân mình thuộc về đây. |
| 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) |
Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm “kiến thức để giảng” hay tìm “ánh sáng để sống”? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? |
Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. |
| 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) |
Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa “cắt tỉa” những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? |
Ý hướng: Sensus fidei không phải là “cảm xúc đạo đức” hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút “Hồi tâm”/ “Kiểm thảo đời sống” trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những “vùng xám” trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. |
| 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) |
Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? |
Ý hướng: Huấn luyện khả năng “đọc” các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi “Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng”/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự “nóng hổi” và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: “Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?”. Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. |
| 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) |
Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc “bằng mặt chứ không bằng lòng”? |
Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. |
| 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) |
Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một “thương hiệu” cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? |
Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành “Chầu Thánh Thể” trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt “like” |
Tạm kết
Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon “nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ”. Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào “sống để phục vụ”. Đức Thánh Cha nói “chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta”.[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: “Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ” (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để “nhìn thấy” những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người “đứng trên dân Chúa”, nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này.
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: “Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô.”[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người “sở hữu chân lý”, nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục “đem lại thiện ích cho dân Chúa” không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)
[1] X. Ratio 2016 “Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục”: “Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới”.
[2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014.
[3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là “Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục” (2016)
[4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018).
[5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16
[6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24
[7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/
[8] x. Pastores Dabo Vobis, 57
02:56:31 dblclick "Những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân chúa Lm. Giuse Trần Hoàng Quân WHĐ (15/08/2026) - Dựa trên giáo huấn của Giáo hội về đào tạo linh mục và tài liệu Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội, bài viết gợi mở những dấu chỉ tâm lý và thiêng liêng giúp nhận diện sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tiến trình đào luyện phải hướng đến việc hình thành những mục tử mang trái tim Đức Kitô, biết lắng nghe, đồng hành và phục vụ Dân Chúa. Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Khai triển I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 02:59:58 dblclick "Những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân chúa Lm. Giuse Trần Hoàng Quân WHĐ (15/08/2026) - Dựa trên giáo huấn của Giáo hội về đào tạo linh mục và tài liệu Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội, bài viết gợi mở những dấu chỉ tâm lý và thiêng liêng giúp nhận diện sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tiến trình đào luyện phải hướng đến việc hình thành những mục tử mang trái tim Đức Kitô, biết lắng nghe, đồng hành và phục vụ Dân Chúa. Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Khai triển I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:00:03 dblclick "Những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân chúa Lm. Giuse Trần Hoàng Quân WHĐ (15/08/2026) - Dựa trên giáo huấn của Giáo hội về đào tạo linh mục và tài liệu Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội, bài viết gợi mở những dấu chỉ tâm lý và thiêng liêng giúp nhận diện sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tiến trình đào luyện phải hướng đến việc hình thành những mục tử mang trái tim Đức Kitô, biết lắng nghe, đồng hành và phục vụ Dân Chúa. Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Khai triển I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:00:05 dblclick "Những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân chúa Lm. Giuse Trần Hoàng Quân WHĐ (15/08/2026) - Dựa trên giáo huấn của Giáo hội về đào tạo linh mục và tài liệu Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội, bài viết gợi mở những dấu chỉ tâm lý và thiêng liêng giúp nhận diện sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tiến trình đào luyện phải hướng đến việc hình thành những mục tử mang trái tim Đức Kitô, biết lắng nghe, đồng hành và phục vụ Dân Chúa. Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Khai triển I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:00:11 dblclick "hững dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân chúa" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:00:26 dblclick "Những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:00:26 dblclick "Những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:03:46 dblclick "WHĐ (15/08/2026) - Dựa trên giáo huấn của Giáo hội về đào tạo linh mục và tài liệu Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội, bài viết gợi mở những dấu chỉ tâm lý và thiêng liêng giúp nhận diện sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục. Qua đó, tác giả khẳng định rằng tiến trình đào luyện phải hướng đến việc hình thành những mục tử mang trái tim Đức Kitô, biết lắng nghe, đồng hành và phục vụ Dân Chúa." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:03:59 dblclick "Lm. Giuse Trần Hoàng Quân" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 03:03:59 dblclick "Lm. Giuse Trần Hoàng Quân" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 03:10:34 dblclick "Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Khai triển I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:11:12 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 03:11:22 dblclick "Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 03:11:37 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi m" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:11:41 dblclick "ỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Kh" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:11:47 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 03:11:56 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả n" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:29:02 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:29:16 dblclick "Dẫn nhập" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:29:26 dblclick "Khai triển" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:29:29 dblclick "Khai triển" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:29:49 dblclick "Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:29:55 dblclick "Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:29:59 dblclick "Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:30:03 dblclick "Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:30:30 dblclick "Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội Dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:30:34 dblclick "Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội Dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:30:37 dblclick "Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội Dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:30:48 dblclick "Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:30:53 dblclick "I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:30:55 dblclick "I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:31:20 dblclick "1. Khả năng biết mình" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:31:31 dblclick "2. Khả năng tự định hướng" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:31:46 dblclick "3. Khả năng tự chủ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:31:55 dblclick "4. Khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:32:04 dblclick "5. Khả năng tự quản mình" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:32:12 dblclick "6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:32:20 dblclick "II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục"" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:33:15 dblclick "Tạm kết" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:33:38 dblclick "rích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 20" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:33:41 dblclick "Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:33:44 dblclick "Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:34:46 dblclick "NỘI DUNG CHÍNH" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:34:50 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:34:56 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:00:06 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:00:09 dblclick "Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:00:32 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát v" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:00:34 dblclick "- Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nh" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:00:41 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:02:51 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:03:01 dblclick "Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:03:14 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI K" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:03:17 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:03:33 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:03:33 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:03:59 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:05:04 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:05:33 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:05:42 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:06:09 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:06:21 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:06:26 dblclick "Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:06:35 dblclick "Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:06:38 dblclick "Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:06:38 dblclick "Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:06:38 dblclick "Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:07:09 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:07:48 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:07:56 dblclick "t" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:08:08 dblclick "t" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:08:21 dblclick "- Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: -" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:08:53 dblclick "hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:10:11 dblclick "ấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:10:12 dblclick "c" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:10:19 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:10:23 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:10:26 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:11:50 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:16:03 dblclick "ấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:16:10 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự ch" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:16:32 dblclick "Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:17:45 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:17:55 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:18:31 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:18:48 dblclick "Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:19:08 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:19:16 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:20:10 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:20:53 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:21:17 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:21:39 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN T" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:22:05 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:22:07 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:22:26 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:22:29 dblclick "Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:22:32 dblclick "Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:22:52 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:23:02 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:23:02 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:24:13 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:25:12 dblclick "Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt. VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:26:24 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:26:33 dblclick "Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 08:26:53 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:26:58 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:27:03 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:27:43 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:28:22 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:29:00 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:29:06 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:29:09 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 08:29:25 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:32:11 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:32:24 dblclick "Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:32:35 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:32:39 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:33:06 dblclick "ỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:33:09 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:34:16 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:34:16 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:35:09 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:36:13 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:37:52 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:38:28 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN T" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:38:54 dblclick "ấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:39:01 dblclick "ấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:39:10 dblclick "ấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:39:36 dblclick "ạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:40:24 dblclick "ỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:40:25 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:40:30 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:41:43 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:41:55 dblclick "Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:42:11 dblclick "Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:42:26 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:42:29 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:42:32 dblclick "ống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:42:51 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:43:03 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:43:22 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:43:35 dblclick "VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:43:49 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:09 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:12 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:13 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:13 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:13 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:13 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:14 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:14 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:44:24 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng nên người cha thiêng liêng Hạn chế về khả năng nên người cha thiêng liêng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự nỗ lực sửa mình khỏi những thái độ đi ngược với lòng bác ái mục vụ hoặc không phù hợp với Tin Mừng. - Người này có khả năng tự hiến theo gương Chúa Giesu – vị mục tử nhân lành, và hết lòng tin cậy nơi Chúa. - Người này có hi sinh những thiện hảo nơi đời hôn nhân để chọn trở nên người cha thiêng liêng cho dân Chúa. VỚI BẢN THÂN: - Nơi người này, nét ái kỷ xem ra thắng thế hơn lòng hướng tha. - Người này có ham muốn / đòi hỏi "đặc quyền đặc lợi" hơn. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này thể hiện được "tình yêu cá vị, sống động và mạnh mẽ" của Chúa Giêsu Kitô trong cộng đoàn mà mình thuộc về. - Người này cho thấy khả năng hướng dẫn tha nhân. - Người này là khí cụ hướng tha nhân đến với Chúa chứ không quy về mình. - Người này yêu thích việc phục vụ tha nhân thay vì đòi hỏi được phục vụ. - Người này thấy mình được nên phong nhiêu qua việc phục vụ tha nhân. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có nhu cầu muốn được "thành công" trong công việc bằng mọi giá mà hi sinh tình người. - Người này lợi dụng các tương quan với người khác để tự đề cao chính mình. - Người này vô cảm với những gì đang diễn ra xung quanh. - Người này thiếu khả năng hy sinh hiến mình và vị tha." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:46:29 dblclick "i" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:46:45 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:46:49 dblclick "Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:49:14 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:49:30 dblclick "Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:50:04 dblclick "Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:50:25 dblclick "1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91):" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:51:23 dblclick "Khi đọc Thánh Kinh, ng" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:51:34 dblclick "Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:52:28 dblclick "Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chú" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:52:55 dblclick ". Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:52:59 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chú" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:53:47 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:54:14 dblclick "Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:54:54 dblclick "Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:55:04 dblclick "rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:55:57 dblclick "3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:56:27 dblclick "Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời s" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:57:16 dblclick "Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không ph" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:58:26 dblclick "3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 00:58:33 dblclick "hướng: Sensus fidei không ph" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 00:59:14 dblclick "Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:00:05 dblclick "Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:00:35 dblclick "Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:01:04 dblclick "Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:03:51 dblclick "Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:03:53 dblclick "Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:04:00 dblclick "Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:04:05 dblclick "ể" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:04:21 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:04:42 dblclick "3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:04:56 dblclick "Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:05:13 dblclick "Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:05:51 dblclick "c" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:06:01 dblclick "hướng: Sensus fidei không phải là "c" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:06:06 dblclick "Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:06:15 dblclick "Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:06:24 dblclick "Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:07:02 dblclick "4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:07:59 dblclick "Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:08:32 dblclick "Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng và" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:08:56 dblclick "Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:09:01 dblclick "tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:10:32 dblclick "5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:10:41 dblclick "5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:10:59 dblclick "Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:11:26 dblclick "hướng: Huấn quyền có thẩm quyền" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:11:29 dblclick "Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:12:03 dblclick "6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:12:46 dblclick "Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa?" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:13:13 dblclick "Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like"." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:13:53 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ qu 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:13:58 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ qu 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:14:01 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ qu 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:14:22 dblclick "Câu hỏi gợi mở cho người" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:14:27 dblclick "Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người Ư" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:14:28 dblclick "SLM thấy" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:14:29 dblclick "1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người Ư" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:14:40 dblclick "â" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:14:44 dblclick "â" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:16:38 dblclick "Khóa Không Cho Sao Chép Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:16:38 dblclick "Khóa Không Cho Sao Chép Nội Dung" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:16:57 dblclick "m" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:17:16 dblclick "m" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:21:40 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like". Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:22:47 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:23:01 dblclick "người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like"." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:30:28 dblclick "Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:30:46 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:30:50 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:20 dblclick "ỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:23 dblclick "VỚ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:26 dblclick "VỚ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:30 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:46 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:51 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:53 dblclick "bình và giải quyết nó cách hiệu quả." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:31:59 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:08 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:13 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:17 dblclick "I NGƯỜI KHÁC" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:21 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:27 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:45 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:48 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:32:59 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:33:07 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:33:12 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:33:14 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:33:34 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like" Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:33:38 dblclick "Dẫn nhập Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo 1. Khả năng biết mình 2. Khả năng tự định hướng 3. Khả năng tự chủ 4. Khả năng tự kỷ luật 5. Khả năng tự quản mình 6. Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Tạm kết Dẫn nhập Đào luyện một con người vươn tới sự trưởng thành thì không dễ dàng, và cũng là một nghệ thuật tỉ mỉ đòi hỏi có sự cộng tác của nhiều người. Việc đào tạo một người ứng sinh linh mục (người ƯSLM) còn khó khăn hơn nhiều. Không như người thợ gốm, nhà đào tạo ơn gọi cộng tác với Chúa Thánh Thần họa nên chân dung một "alter Christus" – một dung mạo Đức Kitô nơi các ứng sinh linh mục xuyên suốt quá trình đào tạo và sứ vụ sau này. Việc đào tạo một ứng sinh từ giai đoạn khởi đầu đến việc trở nên một linh mục tốt lành là một tiến trình tiệm tiến, đòi hỏi sự nỗ lực của người thụ huấn lẫn các nhà đào tạo. Cần nhìn nhận ở đây rằng: sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một sự "biến đổi dần dần nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô". Giáo hội không chủ đích có những linh mục hoàn hảo, sáng giá hay ưu việt theo tiêu chuẩn bên ngoài xã hội, nhưng ước muốn tạo nên những người môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu Kitô,[1] sống gần Chúa và diễn tả sự gần gũi thiêng liêng ấy trong mọi tương quan mục vụ. Thật đáng giá cho những ai làm việc đào tạo ứng sinh linh mục giáo phận, khi lưu tâm đến những lời chỉ dẫn của ĐTC Phanxicô trong việc chọn lựa và phân định ơn gọi cho ai đó: "Cần xét xem người này có ở gần Chúa không, có là người lành mạnh không, quân bình không, có khả năng trao hiến cuộc đời và loan báo Tin Mừng không, có khả năng đào tạo một gia đình và đồng thời từ chối đời sống gia đình để theo Chúa Giêsu không. Ngày nay chúng ta có rất nhiều vấn đề, trong nhiều giáo phận, vì một vài giám mục đã sai lầm khi nhận những người đã bị các chủng viện khác hay hội dòng khác trục xuất, với lý do đang thiếu linh mục. Làm ơn! xin đừng làm như thế! Chúng ta phải nghĩ tới thiện ích của Dân Chúa".[2] Dưới lăng kính của văn kiện chính yếu về việc "Đào Tạo Linh Mục" (Ratio 2016)[3] liên quan đến đào tạo, những gợi ý về mức độ trưởng thành tâm cảm cho người ứng sinh linh mục và đặc biệt khi liên hệ đến tài liệu Sensus Fidei "Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo Hội" (2014), từ số 88 đến 105, bài viết này xin được gợi lên những dấu chỉ (tâm lý và thiêng liêng) hỗ tương cho thấy một người ứng sinh linh mục giáo phận trưởng thành trong tiến trình đào luyện, để nên người đem lại thiện ích cho dân Chúa. Nội dung I. Nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành (Tâm lý & Thiêng liêng) nơi người ứng sinh linh mụcqua dấu chỉ hỗ tương là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đào tạo Khi tham gia vào tiến trình đào tạo và tự đào tạo, bản thân người ƯSLM được mời gọi nhận diện và lượng giá các dấu chỉ trưởng thành để nên người của Chúa. Các dấu chỉ này[4] được liệt kê theo thứ tự tăng dần về mức độ trưởng thành tâm cảm. Qua các dấu chỉ này, người ƯSLM dần dần diễn tả hoa trái trong đời sống sứ vụ. Những lưu ý của cha Cencini về việc khám phá bản thân có tầm mức rất quan trọng trong tiến trình giáo dục, huấn luyện và đồng hành với ứng sinh ở giai đoạn đầu để nhận ra những xung đột căn bản nơi chính mình. Khi đó, người ƯSLM biết mặt yếu nhất của bản thân mình, tự biết mình và biết mặt nào của nhân bản mình cần phải làm việc. Cha Cencini nhấn mạnh: "Việc huấn luyện có ích gì khi ta nếu không bắt đầu trước hết bằng việc giúp con người tự biết mình, có những gì trong mình để tự giải thoát. Thiếu sự khởi đầu này, tất cả việc huấn luyện đã được đề nghị, đến với một con người mà lòng còn ngổn ngang đủ thứ, và chính đương sự không ý thức. Và không biết thì làm sao mà từ bỏ? Nội dung việc huấn luyện không ăn rễ sâu vào con người và vì thế, những gì ta đề nghị với họ sẽ ra vô ích".[5] Ở khía cạnh này, người ƯSLM nhận biết rõ những giới hạn, vết thương quá khứ và những nhu cầu cảm xúc của bản thân mà không rơi vào mặc cảm hay tự tôn thái quá. Đây cũng là khả thể rõ ràng cho chính sự biến đổi mỗi ngày thêm tốt hơn. Trước hết, qua sự tự biết mình cách rõ ràng và dần dần đạt đến sự trưởng thành tâm cảm, sẽ thường thấy nơi người ƯSLM khi họ nhận diện bóng tối, những mặt khiếm khuyết của bản thân. Ở dấu chỉ này, người ƯSLM dám can đảm đối diện với những vết thương quá khứ, những thiếu hụt tình cảm và những xu hướng tính dục của bản thân mà không đè nén, che giấu hoặc chối bỏ. Nói cách khác, người ƯSLM hiểu được ý hướng sâu xa trong mỗi hành vi của mình. Ta cũng có thể nói đến ý hướng tính ảnh hưởng bởi tâm lý. Và khi thiếu hiểu biết về những động cơ tâm lý của mình, nó có thể dẫn đến những hành vi bù trừ nguy hại trong tương lai. Đức Hồng Y Carlo Martini khi bàn về khởi đầu cho một cuộc hành trình ơn gọi thì việc trước tiên là cần biết rõ ràng về bản thân mình đang ở đâu. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng phần lớn con người ta không biết rõ chính bản thân mình. Thực tế, có nhiều nhà đào tạo chưa biết rõ và sâu xa về ứng sinh và ngay cả bản thân ứng sinh cũng biết rất ít về chính mình. "Điều đầu tiên cần xem xét là chính bản thân của người trẻ, hoàn cảnh sống hiện nay của người ấy là gì? Bối cảnh lịch sử đức tin mà người ấy sống như thế nào? Người ấy tìm kiếm điều gì, động lực nào thúc đẩy cuộc tìm kiếm này, mức độ dễ bảo mà người ấy tỏ lộ ra, người ấy có loại khát khao nào?" [6]. Đây cũng chính là lộ trình tiệm tiến để mang lại thiện ích cho dân Chúa với những khả năng nơi người ƯSLM trong tiến trình đào tạo: Khả năng biết mình; Khả năng tự định hướng; Khả năng tự chủ; Khả năng tự kỷ luật; Khả năng tự quản mình và Khả năng nên người cha thiêng liêng trong cộng đoàn đức tin. 1. Khả năng biết mình Trong và sau tiến trình huấn luyện, nhà đào đào tạo có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự biết mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự biết mình Hạn chế về khả năng tự biết mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có lòng tin tưởng và tự cởi mở về bản thân. - Khả năng thừa nhận những tình cảm nơi mình. - Sự ổn định về mặt tâm cảm. - Lòng muốn được biết đủ và rõ hơn về những thúc đẩy tâm cảm nơi mình. - Người này sẵn lòng thừa nhận lỗi lầm, thất bại và rút kinh nghiệm về chúng. VỚI BẢN THÂN: - Người ƯSLM có xu hướng thu mình lại khi gặp mâu thuẫn về mặt tâm cảm. - Người này thường có cảm giác bị đánh giá thấp. - Người này thường quá tập trung vào bản thân, vào cái tôi của mình. - Người này hay thường tránh nhìn nhận lỗi lầm của mình, thay vào đó là xu hướng đổ lỗi cho người khác, hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Do đủ tin tưởng vào bản thân, người ƯSLM đồng thời có thể tin tưởng và trao phó bản thân nơi người khác với sự ý thức. - Người này có sự nhạy bén với những gì đang diễn ra quanh mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Các tương quan của người ƯSLM là nhu cầu và bị bó buộc về mặt tâm cảm. - Các tương quan ấy thường có kết thúc trong thất vọng, bởi người này cần những tương quan đó hay do những bộc phát về mặt tâm cảm nơi mình. - Người này có biểu hiện của những hành vi lấy lòng người khác một cách thái quá. - Người này có muốn người khác đưa ra quyết định thay mình nhằm trốn tránh trách nhiệm. 2. Khả năng tự định hướng Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự định hướng hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự định hướng Hạn chế về khả năng tự định hướng nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này mềm dẻo tiếp thu những phê bình và giải quyết nó cách hiệu quả. - Người này có đủ chủ động trong mọi tình huống thay vì thụ động giải quyết vấn đề. VỚI BẢN THÂN: - Người này có xu hướng rập khuôn máy móc / quy củ cách thái quá. - Người này xem ra thiếu tự chủ và thiếu chủ động trong tương quan và giải quyết vấn đề. - Người này có những ngờ vực và thiếu tự tin về mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể chấp nhận một tình huống khó khăn và làm việc trong cảnh huống đó được. - Người này có khả năng đón nhận ý kiến khác biệt nơi người khác mà không loại trừ họ. - Người này dễ dàng gặp gỡ bề trên mà không chống đối hoặc thoái lui/ né tránh tương quan ấy. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có xu hướng để người khác đưa ra quyết định thay mình. - Người này cứng nhắc và thiếu khả năng linh hoạt trong các tương tác. - Người này hay kiếm tìm sự chú ý của những người có thẩm quyền để xây dựng giá trị bản thân mình. - Người này lợi dụng người khác để họ có thể làm những gì ích lợi cho mình. - Người này thiếu khả năng hợp tác với người khác. - Người này hay có mâu thuẫn với những người có thẩm quyền hoặc phê phán chủ quan. 3. Khả năng tự chủ Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự chủhay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu trưởng thành về khả năng tự chủ Hạn chế về khả năng tự chủ nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có sự tự hào lành mạnh về năng lực bản thân trong giải quyết công việc. - Người này có thể kiểm soát ham muốn nhất thời của mình vì tương lai hay vì một điều gì đó tốt đẹp hơn. - Người này có thể cân bằng hài hòa được giữa những điều khác biệt VỚI BẢN THÂN: - Người này thường có mặc cảm tự ti hoặc cảm thấy mình bị đánh giá thấp. - Người này khó thấy niềm vui trong những hy sinh dâng hiến. - Người này dễ thấy phiền muộn bởi cảm giác tự ti và kém cỏi và vì thế hay càm ràm lẩm bẩm cách tiêu cực và nhiều khi "nhai đi nhai lại" chuyện cũ. - Người này thờ ơ lãnh đạm hoặc cảm thấy "kiệt quệ" khi hiệu quả công việc không được như ý. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có khả năng quản lý thời gian và nguồn lực của mình một cách có trách nhiệm. - Người này có trải nghiệm cảm giác sung mãn cao độ nhờ cộng tác với những người khác trong sứ vụ. - Người này hay khích lệ những người mà anh đang làm việc chung hoặc tìm kiếm điều thiện trong những ý tưởng khác biệt nơi người khác. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ chỉ trích người khác hoặc hạ thấp bản thân một cách thái quá. - Người này có phản ứng dữ dội về mặt tâm cảm khi ai đó trổi vượt hơn mình. - Người này thiếu khả năng kiểm soát ham muốn thành công của mình, và nhiều khi còn quá cầu toàn trong công việc. 4. Khả năng tự kỷ luật Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự kỷ luật hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này có thể phân định rạch ròi ranh giới trong các tương quan liên vị. - Người này tôn trọng tương quan lành mạnh với nữ giới và nam giới, với trẻ em và người dễ bị tổn thương cách tôn trọng. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ mắc phải những tương quan rắc rối, gây ngộ nhận khi ranh giới trong các tương quan liên vị ấy không được rõ ràng. - Người này có nhiều tương quan hời hợt, thiếu chiều sâu hơn là tình bạn chân thành. - Người này có xu hướng kích động khi tham gia vào những thú vui thái quá / không cần thiết. 5. Khả năng tự quản mình Có thể nhận diện và lượng giá nơi người ƯSLM được xem là trưởng thành hoặc còn hạn chế về khả năng tự quản mình hay không với những tiêu chí sau: Dấu hiệu tích cực về khả năng tự quản mình Hạn chế về khả năng tự quản mình nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này có khả năng phán đoán khôn ngoan trong các lựa chọn của mình. - Người này có sự thấu cảm nỗi đau trong đời mình và sống giao hòa với nó được. - Người này có sự trung tín hoàn thành các cam kết dấn thân. - Người này có sự trung thành với ơn gọi mà mình xác tín. - Người này tự nguyện bỏ mình, sống đời cô tịch và độc thân cách trưởng thành, cũng nhằm giúp cho đời mình thêm phong nhiêu. VỚI BẢN THÂN: - Người này làm việc kém hiệu quả trong cảnh huống áp lực. - Người này khó thực hiện các cam kết dấn thân mà mình đã tuyên hứa. - Người này có bối rối về xu hướng tính dục nơi mình, ngờ vực những giá trị đạo đức hay các cam kết dấn thân của mình. - Đời sống độc thân xem ra là gánh nặng cho người này. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này dễ tạo được các mối tương quan có trách nhiệm, tôn trọng và ngay chính. - Người này dễ bao dung với người khác và tha thứ cho những thiếu sót lầm lỗi nơi chính mình. - Người này có sự đồng cảm với những người đang khổ đau. VỚI NGƯỜI KHÁC: - Người này xem ra hời hợt trong các tương quan liên vị giữa người với người. - Người này thiếu nhạy cảm trước những khổ đau của tha nhân. - Người này thiếu lòng trung thành với các giáo huấn của Hội thánh Công giáo và những đòi hỏi nơi đời sống ơn gọi mà anh ta đang theo đuổi. II. Xem xét các dấu chỉ lượng giá sự trưởng thành của người ứng sinh linh mục theo quan điểm của tài liệu Cảm thức đức tin từ số 88 đến 105 trong lăng kính của "việc đào tạo linh mục" Ở đây, xin tập trung vào 6 tiêu chuẩn phân định được trình bày trong Chương IV của tài liệu "Sensus Fidei trong đời sống Giáo hội" (2014), từ số 88 đến 105. Các tiêu chuẩn này giúp nhận ra đâu là sensus fidei đích thực và qua đó cũng đóng góp thêm vào việc đào tạo linh mục, lượng giá sự trưởng thành của một ứng sinh linh mục với các phương thế thực hành. Các tiêu chuẩn này như những tố chất cần có nơi người ứng sinh linh mục sẽ mang lại thiện ích cho dân Chúa sau này trong đời sống sứ vụ. Để suy tư các tiêu chuẩn của Cảm thức đức tin vào tiến trình đào tạo người ƯSLM, xin đề xuất một bảng câu hỏi phân định và các phương thế thực hành cụ thể. Mục tiêu là giúp người được đào tạo chuyển tâm thế từ việc "học về Chúa" sang việc "cảm nghiệm cùng Dân Chúa". Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103) Nhằm mở ra với sự thánh thiện, nơi người ƯSLM có biểu hiện: lối sống khiêm nhường (không tự mãn)? tự do thiêng liêng và niềm vui đức tin? Mọi hoạt động của người này có thực sự quy hướng về Chúa Kitô, hay đang âm thầm xây dựng một "thương hiệu" cá nhân và danh tiếng riêng mình? Người này biết coi thinh lặng nội tâm như là niềm vui và cơ hội gặp Chúa? Ý hướng: Đức tin chân thật luôn đi kèm việc biến đổi đời sống. Mọi sự phải bắt nguồn và quy hướng về Chúa Kitô. Cảm thức đức tin thực thụ sẽ không bao giờ xa rời mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh của Chúa Kitô. Cách áp dụng: Mau mắn học biết nhận lỗi, khiêm tốn,… duy trì tâm lý ổn định. Tránh lối sống tự ái, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Thực hành "Chầu Thánh Thể" trong thinh lặng / chiêm ngắm. Mời gọi người ƯSLM chia sẻ thao thức về Chúa trong kinh nghiệm tương quan cá vị với Chúa để từ đây hoán cải mình mỗi ngày. Ví dụ: Một ứng sinh tổ chức một sự kiện giới trẻ rất thành công, nhưng khi được khen ngợi, họ thực lòng quy hướng vinh quang về Chúa và dành thời gian thầm lặng trong nhà nguyện để tạ ơn, thay vì lên mạng đếm lượt "like" Tạm kết Khi suy niệm về hình ảnh của ông già Simêon, Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng ông Simêon "nhận ra Chúa Giêsu trong sự nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đã đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ, và hiến dâng mạng sống của chính mình như một người tôi tớ". Nhìn thấy Chúa Giêsu trong cái nhìn này, và rồi, chúng ta có thể nhận ra những gì Ngài làm, sẽ dạy chúng ta làm thế nào "sống để phục vụ". Đức Thánh Cha nói "chúng ta cần có một cái nhìn của sự tìm kiếm những người thân cận của chúng ta, và người sống đời dâng hiến được kêu mời để đem cái nhìn đó vào trong thế giới của chúng ta".[7] Như cụ già Simêon nơi Tin Mừng khi gặp Đức Kitô trong Đền Thờ đã thốt lên: "Mắt tôi đã nhìn thấy ơn cứu độ" (Lc 2,30), ước gì người ƯSLM trong hành trình lắng nghe và đáp trả ơn gọi theo Chúa cũng tìm bắt gặp được kho tàng quý giá hơn bất kỳ điều tốt lành, lợi ích nào thuộc trần gian. Khả năng để nhận ra Chúa Giêsu, để "nhìn thấy" những điều nào là thực trong đời sống, chính là trọng tâm của đời sống ơn gọi giữa cộng đoàn dân Chúa. ĐTC Phanxicô thường nhấn mạnh: Linh mục không phải là người "đứng trên dân Chúa", nhưng là người bước đi cùng dân Chúa. Do đó, việc đào tạo linh mục phải hướng tới sự trưởng thành nội tâm toàn diện, để họ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô Mục Tử giữa cộng đoàn. Vì thế, người USLM trong bất cứ giai đoạn đào tạo và tự đào tạo nào cũng không được đi trệch hướng lộ trình này. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong PDV chỉ ra rằng: "Mục tiêu của việc đào tạo linh mục là hình thành một mục tử có trái tim Đức Kitô."[8] Và sự trưởng thành của ứng sinh linh mục không chỉ là trưởng thành nhân bản, thiêng liêng, tâm lý và mục vụ, nhưng là: một tiến trình biến đổi nội tâm để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Mục Tử. Tất cả những khả thể này được nảy nở phát triển trong lòng dân Chúa. Vì thế, linh mục tương lai phải là người có khả năng lắng nghe kinh nghiệm đức tin của cộng đoàn. Một ứng sinh linh mục trưởng thành không coi mình là người "sở hữu chân lý", nhưng là người phục vụ đức tin của Hội Thánh. Và sâu xa hơn, người linh mục "đem lại thiện ích cho dân Chúa" không chỉ là người giảng dạy đức tin, nhưng là người nhận ra, thanh luyện và phục vụ cảm thức đức tin của Dân Chúa. Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026) [1] X. Ratio 2016 "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục": "Người môn đệ là người được Chúa gọi để ở với Người (x. Mc 3,14), đi theo Người và trở thành người truyền giảng Tin Mừng. Người môn đệ học hỏi hằng ngày để hiểu thấu những bí mật của Nước Thiên Chúa, trong tương quan mật thiết với Chúa Giêsu. Việc ở cùng Chúa Kitô trở nên con đường mang tính sư phạm và thiêng liêng, làm biến đổi đời sống và khiến nên chứng nhân cho tình yêu của Người trong thế giới". [2] ĐTC Phanxicô, Diễn từ ngày 3-10-2014. [3] Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (viết tắt là RF) của Tòa Thánh, được dịch là "Quy Chế Nền Tảng Về Đào Tạo Linh Mục" (2016) [4] X. Sister Marysia Weber, The Art of Accompaniment: Practical Steps for the Seminary Formator by Sr. Marysia Weber, RSM pp. 33-56 and 75-85 (En Route Books and Media, 2018). [5] Cencini, Giáo dục, huấn luyện và đồng hành, một sư phạm giúp một người thể hiện ơn gọi của mình, Damiano OFM., chuyển ngữ, NXB Phương Đông, trang 16 [6] HY. Carlo Maria Martini, Biết mình đang ở đâu, Khởi đầu cho một cuộc hành trình tâm linh, người dịch Lm. Montfort Phạm Quốc Huyên, NXB Tôn Giáo 2015, trang 24 [7] ĐTC Phanxicô, Nguồn: https://www.newexpressnews.com/ [8] x. Pastores Dabo Vobis, 57" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:33:51 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:33:56 dblclick "Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:34:00 dblclick "Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:34:02 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:34:26 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:34:33 dblclick "- Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:34:36 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:34:47 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:34:48 dblclick "Dấu hiệu tích cực về khả năng tự kỷ luật Hạn chế về khả năng tự kỷ luật nơi người ƯSLM VỚI BẢN THÂN: - Người này khôn ngoan khi sử dụng công nghệ và chọn lựa những hình thức giải trí lành mạnh (mạng xã hội). - Người này đưa ra những chọn lựa giúp mình kiềm chế các hành vi có thể gây lệ thuộc (ăn uống, giải trí, Internet) - Người này có những kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. VỚI BẢN THÂN: - Người này cậy nhiều vào vai vế riêng để cho mình tự mãn và cảm thấy an toàn. - Người này "tỏ ra" tự mãn nhờ năng lực của mình. VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:34:50 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:34:54 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:35:15 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:35:19 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:35:21 dblclick "VỚI BẢN THÂN:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:35:29 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:35:32 dblclick "VỚI NGƯỜI KHÁC:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:35:58 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:01 dblclick "Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:03 dblclick "Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:07 dblclick "Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:12 dblclick "Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:18 dblclick "Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:48 dblclick "1. Tham gia tích" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:51 dblclick "1. Tham gia tích" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:36:54 dblclick ". Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91):" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:36:56 dblclick ". Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91):" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:37:54 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:02 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:11 dblclick ""kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:38:14 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:16 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:22 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:33 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:35 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:38 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:40 dblclick "2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:47 dblclick "2" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:38:52 dblclick "92" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:39:53 dblclick "Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói q" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:40:05 dblclick "." sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:40:18 dblclick "-" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:40:52 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:41:27 dblclick "3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:41:29 dblclick "3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:41:37 dblclick "đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:41:39 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:41:51 dblclick "Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơ" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:42:04 dblclick "ng nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nh" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:42:40 dblclick "4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:42:43 dblclick "4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:42:57 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:43:01 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:04 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:17 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:21 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:26 dblclick "Tiêu chuẩn (theo Sensus Fidei) Câu hỏi gợi mở cho người ứng sinh linh mục Phương thế thực hành trong tiến trình đào tạo 1. Tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội (SF 89-91): Người ƯSLM thấy mình là "quan sát viên" hay là một phần hữu thể năng động tích cực của Giáo hội? Người này có tham gia vào đời sống phụng vụ chung của cộng đoàn / hiệp thông với cộng đoàn? Người này có biết lắng nghe và phân định cùng Giáo hội? Người này có yêu mến những truyền thống đạo đức bình dân không? Ý hướng: Đức tin sống động được diễn tả trong các cử hành của Giáo Hội – Nơi Giáo hội à có sensus fidei thật. Không chỉ là đi lễ hay giữ luật, mà là cảm thức mình là một chi thể của Thân thể Chúa Kitô. Người ƯSLM không được coi chủng viện như "lưu xá / nhà trọ", mà bản thân mình là người con, thành viên trong gia đình lớn này khi tương quan với các nhà đào tạo và anh em khác. Cách áp dụng: Giao cho ứng sinh trách nhiệm chăm sóc những việc không tên (vệ sinh, tiếp khách, chăm sóc anh em đau bệnh) mà không cần có sự giám sát. Ví dụ: ƯSLM trưởng thành sẽ tự động dọn dẹp nhà nguyện sau một buổi lễ lớn mà không đợi bề trên nhắc, đơn giản vì họ coi đó là "nhà mình", bản thân mình thuộc về đây. 2. Lắng nghe Lời Chúa (SF 92-94) Khi đọc Thánh Kinh, người ƯSLM đang tìm "kiến thức để giảng" hay tìm "ánh sáng để sống"? Người này có gắn bó với Kinh Thánh và để Lời Chúa định hướng suy nghĩ và phán đoán của mình? Lời Chúa có đang chất vấn những thói quen xấu của người này không? Ý hướng: Không có Lời Chúa à cảm thức đức tin có nguy cơ bị trệch hướng. Sensus fidei đòi hỏi sự vâng phục đức tin đối với Lời Chúa. Người ƯSLM phải để Lời Chúa uốn nắn tư duy, thay vì dùng Lời Chúa để biện minh cho quan điểm cá nhân. Cách áp dụng: Thực hành Lectio Divina nhóm. Sau khi đọc một đoạn Tin Mừng đầy tính thách đố (ví dụ: yêu kẻ thù), người ƯSLM được mời gọi chia sẻ thách đố nội tâm cách sâu xa thay vì nói những lời đạo đức sáo rỗng. Người ƯSLM yêu mến việc cầu nguyện âm thầm với Lời Hằng Sống thay cho lối sống đạo đức khi có người quan sát. Ví dụ: khi bị anh em nói xấu, người ƯSLM không dùng ngôn từ bạo lực để trả đũa, nhưng họ thinh lặng chiêm ngắm Chúa Kitô trên Thập giá và chọn cách tha thứ từ bên trong. 3. Cởi mở với lý trí (SF 95-96) Người ƯSLM có mê tín hoặc niềm tin duy cảm tính? Người ƯSLM có sẵn sàng để Chúa "cắt tỉa" những ý riêng mình không? Thánh thiện là sự khiêm tốn để Chúa biến đổi mình. Người này có cảm thức đức tin là người luôn thấy mình cần được hoán cải mỗi ngày? Sự thánh thiện đối với người này là vẻ bề ngoài đạo đức, đạo mạo tâm linh hay đích thức là lòng thương cảm chân thành? Ý hướng: Sensus fidei không phải là "cảm xúc đạo đức" hoặc mâu thuẫn với lý trí. Cách áp dụng: Xây dựng lối sống phút "Hồi tâm"/ "Kiểm thảo đời sống" trong ngày sống như một thói quen. Trong đó, người ƯSLM tập nhận diện những "vùng xám" trong tâm hồn (sự ganh tị, ham muốn danh tiếng, so sánh, chỉ trích, quyến luyến với thế tục,…). Coi thường giáo dân, tự cho mình là duy nhất đúng là một não trạng nguy hiểm trong đời sống cộng đoàn. Người ƯSLM được mời gọi: Biết nhận lỗi, khiêm tốn, thay cho lối sống dễ tự ái khi được góp ý, che đậy khuyết điểm, độc đoán. Người này tập bình tĩnh trước các sự cố, không phản ứng thái quá thay cho xu hướng dễ nổi nóng, hành động theo cảm xúc nhất thời. Ví dụ: khi một ƯSLM đạt điểm cao nhất lớp mà không kiêu ngạo, trái lại, họ sẵn lòng dành thời gian kèm học cho một người anh em chậm hiểu hơn mà không kể công. 4. Gắn bó với huấn quyền (SF (số 97–98, liên hệ 76–77) Người ƯSLM có thao thức trước những nỗi đau chung của xã hội (nghèo đói, bất công, môi trường...) hay chỉ quan tâm đến sự an toàn của bản thân trong chủng viện? Người này biết đặt lợi ích Giáo hội lên trên ý riêng, thay vì luôn tìm cách khẳng định cái tôi và quyền lợi cá nhân.? Ý hướng: Huấn luyện khả năng "đọc" các dấu chỉ thời đại. Người ƯSLM cần thao thức với những vấn đề của thế giới (di dân, môi trường, sự cô đơn của người trẻ, khủng hoảng đời sống gia đình các thế hệ,…). Cách áp dụng: Người ƯSLM tập thao thức vì lợi ích của Dân Chúa, thay cho lối sống chỉ lo cho quyền lợi và sự nhàn nhã của mình. Tổ chức các buổi "Điểm tin dưới ánh sáng Tin Mừng"/ huấn đức nhóm. Chọn một sự kiện thời sự "nóng hổi" và yêu cầu người ƯSLM chia sẻ thao thức: "Nếu là một mục tử, bạn sẽ nói gì với Dân Chúa trong hoàn cảnh này?". Ví dụ: Chứng kiến một vụ ly hôn trong giáo họ thực tập, người ƯSLM không phê phán kiểu phán xét đúng sai, hoặc lên án…. nhưng trăn trở tìm cách an ủi và nâng đỡ gia đình và con cái của họ. 5. Tinh thần vâng phục, gắn bó với huấn quyền (SF số 97-98) Khi gặp một quyết định của bề trên trái ý mình, người ƯSLM phản ứng bằng sự cay cú ngấm ngầm hay bằng sự phân định trong đức tin và đối thoại thẳng thắn? Người này có cảm thức mình là một phần của thân thể mầu nhiệm, yêu mến Dân Chúa? Người này vâng phục với niềm tin vào sự quan phòng của Chúa thay vì sợ hãi hoặc "bằng mặt chứ không bằng lòng"? Ý hướng: Huấn quyền có thẩm quyền phán xét liệu một ý kiến có thực sự là sensus fidei hay không. Sensus fidei không tách khỏi Huấn quyền. Vâng phục không phải là mù quáng, mà là sự tin tưởng vào sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần qua Huấn quyền chính thức. Cách áp dụng: Khi Giáo hội ra một thông điệp mới nếu gây tranh luận, hãy yêu cầu người ƯSLM tìm hiểu lý do thần học và mục vụ đằng sau đó, thay vì chỉ đọc các tiêu đề trên mạng xã hội. Hoặc lấy cái nhìn / tiêu chuẩn thế tục để đánh giá đúng sai giáo huấn của Giáo hội. Ví dụ: Dù có quan điểm cá nhân khác về một thủ tục hành chính, nhưng khi Đức Giám mục bản quyền / bề trên ra quyết định, người ƯSLM sẵn lòng thi hành và giải thích cho giáo dân hiểu trong tinh thần hiệp thông, không tỏ thái độ bất mãn. 6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:30 dblclick "6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:39 dblclick "6. Đời sống thánh thiện (khiêm nhường – tự do – vui tươi) (SF số 99–103)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:43:52 dblclick "Ý hướng:" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:44:08 dblclick "[8]" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=false 01:44:17 dblclick "Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true 01:44:21 dblclick "Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)" sidepanelOpen=false autoUpdate=true isAdv=true
