Nhập đề
Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành (synodality) đã kết thúc. Chúng ta đã có được bản tường trình chung cục được Đức Phanxicô tiếp nhận làm của mình để công bố cho toàn Giáo hội.[1] Không có một tông huấn nào sau bản tường trình chung cục này cả. Hơn nữa cũng không thể có được, vì Đức Phanxicô đã qua đời ngày 21 tháng 4, 2025. Giờ đây toàn Giáo hội tiến vào việc tiếp nhận những kết quả của Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành.
Giáo hội tại Việt Nam cũng đi vào giai đoạn này. Cụ thể, số Hiệp thông lần này mời gọi các tín hữu Việt Nam suy tư “Hội thánh Hiệp hành Thừa sai với Phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần”. Bằng một minh định mạnh mẽ, Đức Phanxicô như thể có cái nhìn ngôn sứ rằng Thiên Chúa muốn Giáo hội trong thiên niên kỷ thứ ba phải tỏ lộ được một Giáo hội hiệp hành thừa sai, tức là, một Giáo hội cùng chung tay loan báo Vương quốc Thiên Chúa và Tin mừng Chúa Kitô cho con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Bây giờ ta cần thực hiện những hướng dẫn cụ thể vì một Giáo hội hiệp hành và thừa sai. Dẫu thế mặc lòng, chúng ta không được bằng lòng với một vài thực hành song còn phải chiêm niệm, suy tư hầu xác tín hơn mãi căn tính của những người được Thánh Thần quy tụ để nắm tay nhau lữ hành trong dòng lịch sử tiến về Vương quốc. Suy tư này không làm một lần. Nó phải thực hiện liên tục vì Giáo hội cũng là cộng đoàn không ngừng đối thoại với những con người vì phần rỗi toàn diện của họ, nếu Giáo hội muốn bày tỏ mình là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ được thực hiện trong Đức Kitô”.[2]
Tôi muốn suy tư và tìm tòi để nhận ra rằng đối thoại không chỉ là PHƯƠNG PHÁP mà Giáo hội dùng hôm nay để loan Tin mừng, song ta còn phải đi xa hơn để tìm thấy Thiên Chúa “là” Cha vĩnh cửu đối thoại với Con trong Thánh Thần tình yêu; để thấy Giáo hội xuất phát, lớn lên và đạt đến sung mãn nhờ đối thoại và trong đối thoại. Con người hôm nay vốn đã từng kinh nghiệm sự phân rẽ, sự tẩy chay chỉ có thể được hạnh phúc trong đối thoại. Tận sâu thẳm, con người “mong chờ” một ai đó cứu mình trong đối thoại.[3] Quả thế, tôi muốn trình bày một cách xác tín rằng đối thoại nằm tận trong bản tính của Giáo hội, vì nó cắm rễ vào tận bản tính của Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu và Thánh Thần. Thật thế, ta có thể nêu rõ diện mạo của Thiên Chúa mặc khải: Thiên Chúa có tên là Đối Thoại, nếu tôi có thể gọi như thế.
Để làm được điều này, sau khi trình bày về một Thiên Chúa có đối thoại như yếu tính của ngài, tôi sẽ trình bày một thoáng sơ lược có tính lịch sử mà trong đó đối thoại thiếu vắng. Rồi tôi nhìn lại nỗ lực của Vatican II tìm gặp lại đối thoại như thực tại thần học. Tiếp theo, tôi nói tới thần học về đối thoại như được tỏ hiện trong những giai đoạn của Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành của Giáo hội.
Đối thoại nằm tận sâu trong phong trào Giêsu như điểm nòng cốt của hoán cải và như lối đường của thiên chúa đến với con người
Thật đẹp, ngay trong những lời đầu tiên của sách Sáng thế, ta bắt gặp một Thiên Chúa lên tiếng như trong một cuộc đối thoại cho thấy dự định của mình: “Chúng ta hãy làm nên con người giống hình ảnh Ta”. Trong trình thuật 2 về sáng tạo ta cũng bắt gặp thực tại đối thoại, nhưng dưới một dạng thức khác. Con người đặt tên cho mọi vật theo đúng bản tính của chúng. Nhưng con người không gặp được một ai tương tự với mình. Và sau giấc ngủ mê, con người trỗi dậy và thấy người đối tác từ xương thịt của mình. Con người thốt lên: “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”… và “quy luật” vững bền: “người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.” (x. St 4b-24) Chân lý ấy được hiện thực và nên sống động trong hôn nhân mà cốt yếu phải là một cuộc đối thoại tuyệt vời trong tình yêu có sức biến đổi cả vợ lẫn chồng. Điều ấy lại chẳng minh chứng đối thoại chi phối sâu thẳm cuộc sống nhân sinh hay sao?
St 1-11, với lối văn mang tính thần thoại nào đó, đã cho thấy con người được tạo dựng như hữu thể đối thoại để là chính mình, thì bắt đầu từ St 12, chúng ta bước vào lịch sử cứu độ theo nghĩa hẹp. Và trong đó Thiên Chúa đến gặp con người trong đối thoại. Hẳn không ai trong chúng ta nghi ngờ Thiên Chúa đã lên tiếng gọi Abram, giao ước với ông và đổi tên ông thành Abraham. Cuộc đời và gia nghiệp của ông đi liền với cuộc đối thoại với Thiên Chúa; ta có thể nghĩ đến câu chuyện Abraham nài nỉ Thiên Chúa đừng phạt Sodoma và Gomora (x. St 18,16-32). Mối thân tình giữa Thiên Chúa và Abraham thật tuyệt diệu đến độ sau này Phaolô đã có thể nói ông là cha của những kẻ tin (x. Rm 4,9-24). Dòng lịch sử của giao ước tiếp tục với Môsê mà trong đó đối thoại phủ khắp từ tiếng gọi nơi bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi, đến cuộc xuất hành với đỉnh cao là giao ước Sinai, tiếp đến việc ông lên núi nhìn vào đất hứa. Chính trong đối thoại, ông nhận ra Thiên Chúa là đấng từ bi nhân hậu đến ngàn đời (x. Xh 33,12-17; 34,5-9; Đnl 9,7-29; Tv 145[144],7-9). Ta còn phải nói sao với các ngôn sứ. Các ngài được Thiên Chúa ngỏ lời trong một cuộc đối thoại rất thân tình. Không một ngôn sứ nào lại không đi liền với đối thoại với Thiên Chúa. Ơn gọi của họ không hề là một áp đặt, song tự do để cho Thiên Chúa chụp bắt. Ta nghĩ đến Hosê đến độ cuộc đời ông hiện thân cho sự đối thoại với Thiên Chúa. Lời hứa của Thiên Chúa cho dòng tộc Đavit được định vị trong cuộc đối thoại thân tình giữa Thiên Chúa như người Cha và Đavit như người nô bộc-con. Và còn hơn nữa, ta có thể nói sự thụ thai của Đức Giêsu trong lòng Đức Nữ trinh Maria như kết quả của một cuộc đối thoại. “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”… “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà…”… “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1,26-38) Nhìn vào toàn thể lịch sử cứu độ, ta dám nói rằng Thiên Chúa không làm bất kỳ điều gì cho con người mà không đối thoại với con người. Thư Hipri 1,1-4 lại chẳng phải là lời tóm tắt sống động cả một dòng lịch sử lâu dài như cuộc đối thoại trong kiên nhẫn để đạt đến tột đỉnh nơi Đức Giêsu hay sao?
Đối thoại nổi bật trong đời sống của Chúa Giêsu. Phong trào Giêsu, theo hạn từ của Daniel Harrington, trình bày một Đức Giêsu đi khắp nơi thi ân giáng phúc và đối thoại với mọi người Ngài gặp.[4] Ta kể đến việc gọi các môn đệ đầu tiên (x. Mc 1,16-20 và song song), việc chọn các tông đồ (x. Mc 3,13-19 và các đoạn song song), việc ngài kiên nhẫn dạy và huấn luyện các môn đệ của ngài (x. Mc 8,31-33; 9,33-37; 10,41-45), tất cả đều xảy ra trong đối thoại. Lời Đức Giêsu nói cho Giuđa “bạn lấy cái hôn để nộp con người” (Lc 22,48) cho ta thấy Ngài kiên nhẫn đối thoại cho đến tận cùng. Đức Giêsu, ta có thể nói, là NGƯỜI ĐỐI THOẠI, chứ không phải chỉ là người sử dụng phương thế đối thoại. Quả thế, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, luôn ở trong tình mật thiết bền chặt với Chúa Cha, luôn đối thoại với Cha trong một sự vâng phục con thảo tuyệt hảo, cả trong những lúc đau khổ tột cùng (x. Mc 14,32-41 và các đoạn song song; Mc 15,34; Lc 23,46; Mt 27,46; Ga 17,1-26; 19,30). Rõ ràng, Đức Giêsu mạnh mẽ bộc lộ bản tính của Thiên Chúa là đối thoại. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” (Ga 14,9) “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” (Mt 11,27) Những chống đối của Biệt phái và kinh sư, những cứng lòng hay ngu muội của các môn đệ, không làm Chúa Giêsu đóng kín lại trong chính mình, song ta có thể nói, càng tỏ lộ mình hơn nữa. Thiên Chúa không lùi bước trước sự cứng lòng của con người.
Cuộc đối thoại của Thiên Chúa mở ra với con người không quay ngược lại được nữa trong mầu nhiệm Vượt qua mới, nghĩa là, mầu nhiệm chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Đức Giêsu tiến vào cuộc khổ nạn cứu độ dưới sự thúc đẩy của Thần khí (x. Hr 9,14; x. Ga 17). Ta phải loại bỏ hẳn lối nhìn lệch lạc rằng Chúa Giêsu hoàn toàn tiêu cực trước cái chết. Không. Đức Giêsu tiến vào cuộc khổ nạn trong tự nguyện tột cùng. Đó là sự tột cùng của một người Con đích thực mà Marcô khiến chúng ta phải ghi nhớ qua lời thưa chuyện Abba chưa hề có tiền lệ (x. Mc 14,36; Hr 5,8-9; 10,5-9). Và thực tại được diễn tả xuyên qua từ ngữ đó dứt khoát định sắc thái và phẩm chất cho cộng đoàn phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thâu của Ngài: trong tình hiền thảo tuyệt đối của Chúa Con, Giáo hội đối thoại với Thiên Chúa để vâng phục ngài vì nhân loại (x. GS 22). Khi chiêm ngắm Đức Giêsu và là Đức Giêsu chịu đóng đinh, truyền thống Phaolô đã có thể khẳng định: Ngài đã làm cho đôi bên Do thái và dân ngoại, vốn không hề đội trời chung, trở thành một trong thân mình Ngài. Nay họ đã được giao hoà trong chính thân mình Ngài (x. Ep 2,14-18). Ta có thể nói, một Đức Giêsu-Con đối thoại với Cha phát sinh Giáo hội gồm đủ mọi chủng tộc, màu da, giai cấp hoặc ngôn ngữ, nói tắt, một văn hoá đối thoại, một văn hoá xây những cây cầu hơn là những bức tường. Như vậy, đọc và lắng nghe dấu chỉ thời đại nằm tận sâu trong bản tính của Giáo hội vậy.
Những gia tài Chúa Giêsu chiếm cho Giáo hội tiếp nối với các tông đồ. Trong dòng lịch sử ấy, ánh sáng và bóng tối của đối thoại đan xen nhau. Giai thoại của Phêrô và Corneliô cho thấy Phêrô đã từng nhìn con người theo sự phân ranh rạch ròi: dân Thiên Chúa và dân ngoại, cắt bì và không cắt bì, tinh sạch và uế tạp. Nay Thần khí huấn luyện để nhìn xem như Thiên Chúa: những gì Thiên Chúa cho là trong sạch thì ngươi không được coi là uế tạp (x Cv 10,1-48). Và điều ấy sẽ thành tiêu chuẩn hướng dẫn cho biến cố ta có thể gọi là Công đồng Giêrusalem trong đó “Thần khí và chúng tôi quyết định” (Cv 15,28). Phaolô cũng không ngoại lệ. Giai thoại tại Athen, trên đồi Areopagô, mang đến cho ông một thất bại khi loan báo Tin mừng ít mang tính chất đối thoại. Nếu đã có lúc xem chừng tông đồ Phaolô rất độc đoán khi viết: “Nếu có ai nghĩ mình phải cãi lý, thì đó không phải là thói quen của chúng tôi, cũng như không phải là thói quen trong các Hội Thánh của Thiên Chúa” (1 Cr 11,16), thì Phaolô đã xây dựng một định hướng đối thoại của đức tin, trong đức tin và nhằm đức tin.
Một đức tin mang tính đối thoại tận căn được các giáo phụ tiếp tục triển khai trong thế giới La-Hy. Tuy nhiên, trong bài viết này tôi chẳng thể tìm hiểu chi tiết thời các giáo phụ. Tôi chỉ bằng lòng nêu lên một số định hướng khái quát mà thôi. Định hướng đó tóm gọn lại như sau: Nhất thiết phải đối thoại giữa đức tin và lý trí, vì Thiên Chúa đã muốn đối thoại với con người để cứu họ, và cũng vì con người với lý trí và ý chí khao khát Thiên Chúa tận sâu thẳm.[5] Quả thế, các giáo phụ cố gắng khai mở cuộc đối thoại đức tin với thực tại nhân sinh. Ấn tượng này có thể bị nghi ngờ bởi một số người bởi lẽ theo họ các tác phẩm của các giáo phụ thường mang những tựa đề phản chiếu một sự phản bác gay gắt, như Chống Lạc giáo,[6] Chống Noetus[7]… Tuy nhiên, không hẳn là thế. Trong tác phẩm Dialogue with Tripho, thánh Giuttinô mở ra phong thái đối thoại (và ta thấy ngay cả thể văn) với đặt câu hỏi, lắng nghe, trả lời. “Triết học là một của cải lớn lao và rất quý báu trước mắt Thiên Chúa. Những ai dùng lý trí suy tư triết học thì thật sự thánh thiện”.[8] Chỗ khác, Giuttinô ca ngợi Socrates.[9] Giuttinô đã nhìn các triết gia vơi con mắt tích cực. Ông khai mở một cuộc đối thoại với những kẻ thù ghét mình. Ông nói đến logos spermatikos ở nơi những giá trị văn hoá ông đang sống. Trực giác đức tin mách bảo cho Giuttinô rằng nếu Thiên Chúa tốt lành đã muốn tạo dựng một thực tại nào thì thực tại đó không thể hoàn toàn xấu. Ít nhất phải có một sự thiện nào đó nơi thụ tạo đó. Như vậy, một cách nào đó, ông cho thấy điều mà Đức Bênêđictô XVI sẽ nói sau này: một đức tin không hội nhập văn hoá thì vẫn là một đức tin trẻ con.[10] Nhiều giáo phụ khác tiếp thu và triển khai trực giác đức tin này bằng cách vào sâu hơn nữa trong sự khôn ngoan hiền triết Hy lạp và sử dụng những diễn đạt của văn hoá đó để xây lên nền thần học Kitô hữu. Thế nhưng, các giáo phụ như Athanasio, Gregorio Nadian, v.v. còn đặt nền cho hướng chiều đó ở một mức độ sâu xa hơn khi nói đến “cuộc trao đổi lạ lùng” nơi mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Thiên Chúa nhận lấy những gì của con người để ban cho con người những gì thuộc về Thiên Chúa. Thiên Chúa đón nhận những gì ở nơi con người nhưng không thuộc về bản tính con người (tội lỗi) để ban cho họ chính ngài (sự thánh thiện, hạnh phúc).[11] Chiêm ngắm mầu nhiệm nhập thể, nhiều giáo phụ nói lên rằng Thiên Chúa đối thoại với con người không phải bằng ý tưởng, nhưng nơi người Con của ngài. Fides, đức tin và ratio, lý trí như đôi cánh cho con người bay lên Thiên Chúa. Những châm ngôn nổi tiếng của thần học như “credo ut intelligam” hay “Intelligo ut credam” hay “Fides quaerens intellectum” đều cho thấy mối liên hệ tương tác này. Khi tương quan hai chiều giữa đức tin và lý trí, ân sủng và bản tính, được đảm bảo, thì vẻ đẹp của Kitô giáo trở thành không thể cưỡng lại được, theo giống hình ảnh Đức Giêsu.
Đối thoại như bị lãng quên
Rồi những hận thù giữa các tín đồ của các tôn giáo nổi lên, cơn sóng thần của phong trào chống giáo sĩ lan rộng, trào lưu tục hoá lớn dần và gây tiếng vang náo động cùng với sự hấp dẫn của khoa học và kỹ thuật, những trào lưu vô thần lớn mạnh và “hiếu chiến” (militant), tất cả những điều ấy và những điều khác tác động trên Giáo hội. Từng bước Giáo hội rút lui vào tự vệ, vào phòng thủ. Giáo hội trình bày mình như bức tường kiên cố chống lại mọi thứ sai lạc để bảo vệ chân lý. Giáo hội đặt mình như một đối thủ của thế gian. Giáo hội trở thành độc thoại, khẳng định sự cần thiết của mình thậm chí theo một nghĩa loại trừ và độc tôn. Chắc chắn, Giáo hội phải bảo vệ sự thật/chân lý. Thế nhưng, bảo vệ chân lý là một chuyện, còn biến mình thành kẻ độc thoại và loại trừ là một chuyện khác. Dưới một khía cạnh, văn kiện “Syllabus of Errors” phản ánh điều này. Xem chừng như những gì của thời mới đều sai lạc và phải bị kết án. Vô hình trung, Giáo hội trình bày mình như kẻ chống lại sự tân thời. Chân lý mang nặng dấu vết tri thức trừu tượng theo lối nhìn Hy lạp dường như ưu thắng, chứ không phải khía cạnh ngôi vị, gặp gỡ của chân lý vốn hệ tại ở việc “đến mà xem” mà Chúa Giêsu đã đòi hỏi (x. Ga 1,39). Nhãn quan này tác động đến cả lối đào tạo người tín hữu và chủng sinh. Tính chất nhiệm huấn của thời kỳ dự tòng vốn được các giáo phụ nhắm tới bị lu mờ. Huấn luyện chủng sinh thiên về tri thức hơn là sự gặp gỡ thân tình và hữu vị với Đức Chúa chịu đóng đinh. Nó chú ý đến chiều kích thông tin (informative) hơn là chiều kích biến đổi (transformative hay performative). Kinh thánh như đóng vai dụng cụ cho tín lý hơn là nguồn mạch của tín lý. Giáo hội và trần thế như hai thực tại tách rời, chạy song song nhau mà không gặp nhau. Mỗi bên như thể làm công việc của riêng mình và đừng dẫm chân lên nhau để phục vụ con người. Giáo hội trước Vatican II nổi bật lên như một Giáo hội tự vệ, với những pháo đài bền vững của kiểm duyệt, kiểm soát và tuyên án. Có một thứ nghi kỵ nào đó len lỏi vào giữa Giáo hội và trần thế.[12] Những nhận định trên được đúc kết lại trong GS 42-44. Lại không phải rằng chính cuộc đối thoại giữa đức tin và đời sống mới huy động được mọi trí tưởng sáng tạo thần học nơi các Kitô hữu hay sao?
Với thẩm quyền của mình Đức Phanxicô như thể tóm kết một giai đoạn của lịch sử Giáo hội trong đó đối thoại bị lãng quên hay coi nhẹ. Christus Vivit 41 xác quyết: “Một Giáo hội luôn ở thế bảo vệ thì đánh mất sự khiêm nhường của mình và ngừng lắng nghe người khác, không có chỗ cho những câu hỏi, đánh mất tuổi trẻ của mình và biến thành một bảo tàng viện.” Miguel H. Diaz chứng thực sức mạnh của dòng nhận định bằng đời sống của ông như vị đại sứ của USA đối với Toà Thành, được phản ánh trong bài viết “A New Beginning? Listening for a Synodal Church”. Nơi đó ông rút ra nguyên tắc tam diện cho một đời sống Giáo hội phong phú: “Lắng nghe người khác. Học từ người khác. Lãnh đạo/tiến tới như kết quả của việc lắng nghe và học hỏi đó”.[13] Đang khi đó, J. Haers lại nhận định rằng Giáo hội trước Vatican II gặp một khủng hoảng thiêng liêng quan trọng: chúng ta “đi tìm sức mạnh nội tâm và khả năng đối mặt với hỗn độn, khủng hoảng về đời sống chung, mất cảm thức cùng thuộc về nhau, khả năng đối thoại với nhau.”[14] Đối với tôi, đức tin tông truyền vẫn là một, nhưng cần phải xây dựng một đức tin đúng là Tin mừng, chứ không chỉ là những mệnh đề vô ngộ dễ làm mồi cho chủ nghĩa vô ngã.
Vatican II quyết tâm xây dựng khoa thần học của đối thoại
Những kinh nghiệm của Gioan XXIII, của Phaolô VI, của một số nghị phụ như Hồng y Augustin Bea (28/5/1881 – 16/11/1968), Leo Jozef Suenens (16/7/1904 – 6/5/1996) cũng như một số chuyên viên của Công đồng đã từng kinh nghiệm những nỗi đau đến từ một Giáo hội độc thoại và tự vệ như thể đồng quy về đây để tạo thành một Giáo hội nhất tâm tìm lại và hiện thực lại bản tính đối thoại của mình. Ta dám mạnh dạn nói rằng: Giáo hội được tạo dựng từ đối thoại, tăng trưởng nhờ đối thoại, và nhắm đến đối thoại, chứ không chỉ sử dụng đối thoại như phương pháp thiết yếu để nhận ra thánh ý Thiên Chúa. Quả thế, ngay từ những giây phút khai mạc Công đồng một số nghị phụ đã can đảm phá vỡ bầu khí e dè và mở ra một bầu khí hiểu biết lẫn nhau như dấu chỉ của Thánh Thần.[15] Có một thứ vật lộn nào đó giữa não trạng giáo triều và não trạng truyền giáo, giữa sự bằng lòng với nguyên trạng và những đột phá của Thần khí (x. Ga 3,8). Ta có thể trải nghiệm điều đó trong cuộc bàn luận về Mặc khải. Lược đồ đầu tiên của Hiến chế về Mặc khải (Dei Verbum) có tựa đề Hai Nguồn Mặc khải đã hứng chịu cơn mưa phê bình chỉ trích. Nhiều nghị phụ yêu cầu lược đồ phải được dựng xây lại với sự hiện diện của Hồng y Béa và Hồng y Ottaviani; những nhãn quan thần học khác nhau không cho phép lãng quên rằng Giáo hội chỉ có một đức tin chung, và Công đồng không gì khác hơn là một Giáo hội quyết tâm cùng nhau đi tìm THỰC TẠI ấy. Không đạt được điều này, cuộc hội họp của Công đồng nào có ý nghĩa gì. Quả thực, kinh nghiệm mãnh liệt ấy theo tôi mang đến một cuộc hoán cải của tất cả các nghị phụ và cũng từ đó một thay đổi khung hệ tư duy (paradigm shift) xảy ra. Đồng thời đó cũng là một biểu tượng cho thấy rằng đức tin chân chính phải mở ra đối thoại mới mang đến một Giáo hội được giải phóng: “Sự thật sẽ giải phóng các ngươi” (Ga 8,32). Một đức tin chung mới hiệp nhất Giáo hội. Một đức tin chung xuyên qua đối thoại và lắng nghe mới giúp người tín hữu trở nên năng động diệu kỳ: hoàn toàn thuộc về một gốc rễ đức tin (cắm sâu vào lòng Thiên Chúa), và cũng hoàn toàn vươn xa tới tận chân trời góc bể (phục vụ không biết đến loại trừ). Nói khác đi, đức tin đúng là một TẶNG PHẨM của Thiên Chúa ban cho con người. Nhưng chính Thiên Chúa lại không muốn một nhân loại như những con búp bê trong tay Ngài. Không. Chính Ngài chẳng từng nói “Ta muốn tình yêu chứ không phải hy lễ, muốn được các ngươi nhận biết hơn là của lễ toàn thiêu” hay sao? Tình yêu không nảy nở mà không có trao đổi, đối thoại. Thiên Chúa đã dựng nên con người như những ngôi vị giống Ngài là NGÔI VỊ, nên Ngài đối thoại với chúng ta. Tận bản tính, đức tin là một cuộc đối thoại vậy.
Ta cần đánh giá đúng điều này như một sự diệu kỳ của Thần khí đang làm việc xuyên qua những con người cụ thể nỗ lực phấn đấu để mở lòng lắng nghe nhau. Chính vì thế, theo tôi, sự xoay chuyển quyết định mà Công đồng Vatican II mang đến nằm ở trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa của mặc khải. Có lúc tôi ngạc nhiên tự hỏi: làm sao các nghị phụ vốn đã từng thâm tín về mặc khải lại mất một thời gian lâu dài cho văn kiện này? Quả thật là tuyệt diệu nếu ta nhìn vào kết quả bỏ phiếu chung cục phê chuẩn văn kiện Dei Verbum với việc bỏ phiếu đầu tiên đối với bản dự thảo của văn kiện này: từ một số khá lớn các nghị phụ chống đối (dẫu chưa đủ số để bác bỏ văn kiện được soạn thảo đầu tiên) cho đến chỉ còn 6 phiếu chống trên 2.344 phiếu thuận. Kết quả tuyệt vời của nền thần học đối thoại! Quả vậy, các nghị phụ, và qua đó toàn thể Kitô hữu, dần bỏ đi một quan niệm tĩnh lặng về mặc khải bộc lộ trong lối nói “hai nguồn mặc khải” để đi đến một nhãn quan năng động, hữu vị, lịch sử về mặc khải: Thiên Chúa trong chính hành vi mặc khải chính mình.[16] Ngài muốn mặc khải chính Ngài rằng Ngài yêu thương con người đến cùng, bất kể họ tội lỗi. Đây là điều được nhấn mạnh trong Hiến chế này và cùng là điểm soi sáng cho mọi cuộc đối thoại trong Giáo hội sau này: Đấng mặc khải lại chính là nội dung của mặc khải. Và Giáo hội phải lưu tồn điều này cho tới tận cùng các thế hệ, nghĩa là một Thiên Chúa đối thoại trong tình yêu chứ không phải một HỮU THỂ tối cao và lạnh lùng. Thật vậy, Hiến chế ấy viết: “Do lòng nhân lành quyết định tỏ lộ chính mình cho nhân loại nên bắt đầu ngỏ lời với họ”.[17] Đức tin chung là đây: Thiên Chúa mang danh là Thiên Chúa Cha của Chúa Giêsu Kitô trong Thánh Thần. Thiên Chúa có tên là ĐỐI THOẠI của Cha – Con – Thánh Thần. Như vậy, thần học về đối thoại mà Giáo hội hôm nay quyết tiến vào tiên vàn bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Tước hiệu Giáo hội-Bí tích ơn cứu độ phổ quát xuất phát từ đây và cũng mô phỏng từ đây cho mọi chương trình mục vụ và thiêng liêng.
Vẫn còn cần một điều nữa để mọi sự tròn đầy. Theo Ratzinger (mà sau này là Giáo hoàng Bênêđictô XVI), có một sự bồn chồn giữa các nghị phụ ngay trong phụng vụ đại triều khai mạc Công đồng. Mọi sự xem chừng tốt đẹp trừ một điều này: một phụng vụ mang tính “độc thoại” hơn là “đối thoại”.[18] Thật vậy, lễ nghi rất trang trọng khai mạc Công đồng không đủ sức lấp đi cái mối nguy chết người của phụng vụ Kitô hữu lúc đó. Dường như Phụng vụ ấy được giao cho ca đoàn Sistine. Và mọi người trở thành kẻ câm lặng; mọi người như khách bàng quan hơn là người tham dự tích cực. Phụng vụ Kitô hữu vốn là việc Chúa Giêsu Toàn Thể, tức Đầu và Thân Mình, đối thoại trong tạ ơn và tán dương Chúa Cha trong Thánh Thần, lại biến thành cuộc độc thoại. Sự bồn chồn thiêng liêng đó biến thành một cam kết đòi hỏi một phụng vụ được canh tân để làm sáng tỏ tính đối thoại trong tạ ơn này. Hiến chế Phụng vụ đã cho thấy cuộc đối thoại tuyệt vời của Chúa Giêsu với Chúa Cha bằng những lời này: trong phụng vụ, Chúa Kitô “luôn kết hiệp với Giáo hội là hiền thê rất yêu quý đang kêu cầu Người như Chúa của mình và nhờ Người mà cử hành việc phụng thờ Chúa Cha hằng hữu. […] Phụng vụ là tột đỉnh quy hướng mọi hoạt động của Giáo hội, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào mọi năng lực cho Giáo hội. Thật vậy, các công lao khó nhọc trong việc tông đồ đều nhằm làm cho mọi người, nhờ đức tin và phép rửa, trở nên con cái Thiên Chúa, cùng nhau quy tụ ngợi khen Chúa giữa lòng Giáo hội, thông phần lễ Hiến Tế và ăn bữa tiệc của Chúa.”[19]
Được hiểu phụng vụ là cuộc gặp gỡ và đối thoại thần linh, sự tham dự tích cực của các tín hữu vào phụng vụ mà Vatican II nói tới phải là kết quả tự nhiên. Chính nhờ đó, các tín hữu trải nghiệm Đức Giêsu thật sự ở gần bên. Một cách bí tích những gì được nói tới trong 1 Ga 1,1-4 được hiện thực. Theo nghĩa này, Hiến chế Phụng vụ nói tới sự hiện diện đa diện của Chúa Giêsu trong Giáo hội.[20] Ngài khởi xướng cuộc đối thoại với con người, cá nhân và cộng đoàn, trong tình yêu. Phụng vụ Kitô giáo tiên quyết là “chính Thiên Chúa thân hành đến gặp con cái mình”. Trước khi là lời cảm tạ của con người dâng Thiên Chúa, thì Phụng vụ Kitô hữu là lời thưa tận sâu thẳm của Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha: “Abba, Cha ơi”. Trong cuộc đối thoại mật thiết ấy, Giáo hội tìm thấy chỗ đứng của mình như Thánh Augustinô tóm kết: Chúa Giêsu cầu nguyện cho chúng ta như vị tư tế của chúng ta, cầu nguyện trong chúng ta như Đầu/Thủ lãnh của chúng ta và được chúng ta cầu nguyện như Thiên Chúa của chúng ta.[21]
Theo tôi, hai văn kiện nói lên cốt lõi của Giáo hội, tức Phụng vụ và Mặc khải, đúng là nền tảng của một thần học của đối thoại. Một Giáo hội sống hay chết với việc lắng nghe Thiên Chúa và cũng sống hay chết với việc tạ ơn Thiên Chúa. Lõi tuỷ của Giáo hội là đây. Chẳng lạ gì sách Công vụ 2,42-46 đúc kết Giáo hội với bốn yếu tố hiệp thông (koinonia), phụng vụ (liturgia), chứng nhân (martyria) và phục vụ (diakonia).[22] Và cũng ở đây ta thấy lõi tuỷ đó là đối thoại. Đồ hoạ sau đây có thể soi sáng cho chúng ta: trong trái tim của Giáo hội luôn nóng cháy một cuộc đối thoại không ngừng với niềm tạ ơn vĩnh viễn.[23]

Trong ánh sáng này, ta mới tìm được những nền tảng và ý nghĩa phong phú những thực hành mà Giáo hội khắp nơi đang nỗ lực sau Thượng hội đồng Giám mục về hiệp hành; nếu không dựa trên những xác tín về Thiên Chúa đối thoại thiết lập nên một Giáo hội đáp lại lời mời của ngài, những thực hành sẽ không mang Giáo hội đi xa hơn được trong sự hoán cải và canh tân.[24]
Ghi nhận những điều trên của Công đồng Vatican II dẫn chúng ta tới điều quan trọng cốt yếu này: nếu không gắn bó với Thiên Chúa trong Lời Ngài và tạ ơn Ngài, Giáo hội không thể nào canh tân được. Nếu Chúa không xây nhà của Ngài, thợ nề vất vả cũng là uổng công (x. Tv 127 (128),1-2). Sự canh tân của Giáo hội (và qua đó của giáo xứ và gia đình, của các cộng đoàn) chỉ có thể xảy ra nếu tình mật thiết với Thiên Chúa được canh tân. Và rõ ràng là thế tại Vatican II. Chính nhờ kinh nghiệm gặp gỡ Đấng Hiện Diện trong Giáo hội, khoa Giáo hội học của Công đồng được đổi mới. Đối với tôi, bề nổi của Công đồng xem ra bàn đến Giáo hội ad intra và Giáo hội ad extra, theo lối nói của Hồng y Suenens. Các văn kiện của Công đồng hầu hết bàn đến Giáo hội, như ta có thể thấy trong đồ hoạ trên kia. Thế nhưng mục tiêu của Công đồng không phải là chính mình cho bằng là tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô. Chẳng lạ gì, câu đầu tiên của Hiến chế Lumen Gentium lại viết “Chúa Kitô là Ánh Sáng muôn dân”.[25] Và ánh sáng trên Giáo hội hoàn toàn đến từ MẶT TRỜI CÔNG CHÍNH LÀ CHÚA GIÊSU KITÔ. Phụng vụ Vượt qua được Đức Gioan XXIII suy niệm luôn ca mừng Lumen Christi – các tín hữu đáp lại Deo Gratias và trong và dưới ánh sáng Giêsu đó, chúng ta tiến bước và được nên rực sáng, Lumen Ecclesiae và nhờ đó muôn dân cũng được chiếu toả, Lumen Gentium.[26]
Nhìn vào Chúa Kitô như Đấng Đối Thoại của Thiên Chúa cho con người, Giáo hội sống, tăng trưởng và hoàn thành chính mình trong đối thoại. Kinh nghiệm mô phỏng này, theo tôi, đã chi phối nhiều đến diện mạo của Giáo hội mục vụ. Chiêm ngắm Đức Giêsu Mục Tử Nhân Lành chăm sóc cho những kẻ bé mọn và bị đẩy ra ngoài lề, Giáo hội mới biết làm cách nào để tiếp cận và chăm sóc cho những người bạn nhỏ bé của Chúa Giêsu. Cũng vì thế mà những đoạn hay nhất và quan trọng nhất trong Hiến chế mục vụ của Giáo hội lại là những số liên quan đến Chúa Giêsu Kitô.[27] Chính nhờ Chúa Kitô mới có được sự duy nhất của Ecclesia ad extra và Ecclesia ad intra. Nhờ Ngài, hai mặt của một thực tại Giáo hội là dân Thiên Chúa lữ hành vì Vương quốc mới sáng tỏ và tạo thành cuộc canh tân lẫn nhau: một Giáo hội càng mục vụ một cách chân chính thì càng là một Giáo hội thực sự thuộc về Thiên Chúa hơn và ngược lại. Giáo hội nếu đúng là chính mình thì không thể không mang tính mục vụ trong đối thoại và tính chất mục vụ như thế gắn chặt với bản tính Giáo hội. Trong Giáo hội ấy không chỉ thực tại Giáo hội đối thoại với Thiên Chúa song cũng là thực tại Giáo hội đối thoại với con người. Giáo hội ngập chìm vào trong văn hoá như Đức Giêsu ngập chìm vào thực tại Nadaret suốt 30 năm; Giáo hội phải đi xuống dòng sông văn hoá của các dân tộc, vì Đức Giêsu đã xuống dòng sông Giordan, tượng trưng cho văn hoá Do thái. Giáo hội cũng chỉ có lối sống, lối sống của chính Đức Chúa ngập chìm vào thực tại nô lệ của Israel với những lao nhọc đến độ không còn hình tượng người.[28] Theo ánh sáng đó, Ecclesiam suam của Đức Phaolô VI cho thấy suy tư về đối thoại, vốn chiếm phần lớn của văn kiện đó, chi phối việc Giáo hội hiểu biết chính mình, canh tân chính mình và chu toàn sứ vụ rao giảng trong đối thoại với những con người và các thực tại nhân sinh của họ. Rõ ràng đối thoại đến từ bản tính của Giáo hội; nói cách khác, nó như “bản tính” của Giáo hội, nếu ta có thể dùng từ ngữ này. Chính do xác tín về đối thoại nằm tận trong Thiên Chúa cứu độ, Giáo hội của Vatican II mạnh dạn tiến bước theo hướng đó. Trong thời gian của Công đồng và sau Công đồng, Đức Phaolô VI đã đi ra khỏi Roma sau một thời gian phẩm trật giáo hoàng “giam mình” quá lâu rồi trong thành phố vĩnh cửu ấy. Phaolô VI đi về Đất Thánh, hướng tới toà Thượng phụ Athenagoras, đến diễn đàn Liên Hiệp Quốc, vươn xa đến Châu Á (Phi và Ấn Độ; tất cả đều được chi phối và hướng dẫn bởi chiều kích đối thoại của đức tin. Giáo hội như bí tích của Chúa Kitô cũng có nghĩa là Giáo hội phải nỗ lực xây dựng văn hoá đối thoại, nếu chính sự hiện hữu của Giáo hội đến từ cuộc đối thoại giữa Cha và Con trong Thánh Thần (x. LG 2-4).
Giáo hội hậu Vatican II: Giáo hội hiệp hành như một phát triển giáo lý-mục vụ về đối thoại
Henri Newman rất chí lý cho thấy sự phát triển của giáo lý.[29] Sự phát triển giáo lý Kitô hữu, ta có thể nói là một lối diễn đạt rất thời đại điều mà Đức Giêsu nói trong dụ ngôn hạt cải tăng trưởng đến nỗi chim trời đến nương náu nơi cành nó. Giáo hội Dân Thiên Chúa, tức là, một dân tộc cùng nhau đi về nhà Chúa và càng lúc vòng tròn những con người cùng nắm tay nhau lại rộng lớn hơn và cùng nhau vang khúc hát lên đền.[30] Quả thế, với Vatican II như chiếc la bàn mà Thiên Chúa ban cho Giáo hội trong thời đại tân tiến, tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành của Giáo hội, cũng như văn kiện của Uỷ ban Thần học Quốc tế không gì khác hơn là triển khai và áp dụng Công đồng. Với phương pháp truy nguyên, các văn kiện ấy cho thấy sự tương đồng chặt chẽ giữa Giáo hội, concilium, synodos. Các từ ngữ này có thể hoán chuyển nhau. Và bước tiến khá dài của Thượng hội đồng Giám mục về hiệp hành chỉ nhằm để tỏ lộ một Giáo hội lắng nghe, phân định, hiệp thông và tham gia cho sứ mệnh mà thôi. Không thể nói đến đối thoại mà không có nỗ lực hiểu nhau, phân định Thần khí chân thật và hiệp thông cả những vấp váp cũng như cùng chung tay làm việc.
Về chiều kích nhân học dưới ánh sáng Đấng Cứu Chuộc con người
Vatican II mở ra thần học đối thoại với bước đầu tiên là đọc dấu chỉ thời đại[31] để liên đới, chia sẻ những ưu tư và băn khoăn sâu xa của họ. Chính điều này Đức Gioan Phaolô II đặt thành điểm cơ bản để hiểu con người thời đại. Thông điệp Redemptor Hominis cố gắng đối thoại với con người hiện đại vì “con người là con đường mà Giáo hội phải đi để gặp Chúa Giêsu.” Dù nhân quyền nhiều khi vẫn chỉ là “chữ” hơn là “tinh thần”, thì Giáo hội không thể bỏ rơi con người. Lý do là đây: “Bởi lẽ, qua nhập thể, Ngài [Đức Giêsu], Con Thiên Chúa một cách nào đó đã kết hợp với mỗi người,”[32] vì trong lịch sử của con người, mặc khải tình yêu và lòng thương xót này mặc lấy một mô thể và một tên gọi: Giêsu Kitô”.[33]Giáo hội hoàn toàn thuộc về Đức Giêsu Kitô và cũng hoàn toàn thuộc về con người. “Chúa Giêsu Kitô là con đường chính yếu cho Giáo hội”[34] song đồng thời “con người này là con đường số một (primary) và nền tảng (fundamental) mà Giáo hội phải lữ hành trong việc hoàn thành sứ mệnh của mình. Con người là con đường số một và nền tảng cho Giáo hội, con đường mà chính chúa Giêsu đã vạch ra, con đường mà dẫn tới một cách không thể thay đổi qua mầu nhiệm nhập thể và cứu chuộc.”[35]Chiều kích nhân học mạnh mẽ của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã biến đối thoại thành phong thái mục vụ giới trẻ mà kết quả là những ngày đại hội giới trẻ thế giới đã trình bày cho thế giới một Giáo hội trẻ trung. Tầm nhìn về Giáo hội mang đối thoại này cũng chi phối mục vụ gia đình vốn sẽ đặt nền cho sự liên hệ chặt chẽ giữa mục vụ giới trẻ và mục vụ gia đình. Hai lãnh vực này không thể tách nhau. Phải hơn, hai lãnh vực này phải luôn đối thoại với nhau và làm giàu cho nhau. Mục vụ giới trẻ chuẩn bị giới trẻ cho đời sống gia đình và mục vụ gia đình đòi họ quan tâm hàng đầu đến thế hệ trẻ. Đối diện với trào lưu tục hoá chia tách gia đình và giới trẻ, Giáo hội nhận thấy không thể xây dựng một mục vụ gia đình mà không để ý đến người trẻ cũng như một mục vụ giới trẻ tách khỏi sự chăm lo cho gia đình nên tốt lành.
Tuy nhiên, ta cũng sẽ phải giật mình khi Đức Gioan Phaolô không nói đến
Con người “trừu tượng”, nhưng là con người thực sự (real), “cụ thể”, “lịch sử”. Chúng ta bàn đến “từng” người, vì từng người được bao gồm trong mầu nhiệm Cứu chuộc và chính Chúa Kitô kết hiệp với từng người mãi mãi qua mầu nhiệm này”.[36]
Hay:
Con người như được Thiên Chúa muốn, như được Ngài “chọn từ đời đời và kêu gọi, được dành cho ân sủng và vinh quang – đây là “từng” người, con người “cụ thể nhất”, “thật (real) nhất”; đây là con người trong tất cả sự sung mãn của mầu nhiệm trong đó họ đã trở thành kẻ chia sẻ trong Đức Kitô, mầu nhiệm trong đó từng người của cả tỷ người sống trên hành tinh chúng ta đã trở thành một người chia sẻ từ giây phút họ được thụ thai trong lòng mẹ của họ.[37]
Chính điều này cũng được Christus Vivit nhắc nhớ như sau:
Tuổi trẻ không phải là một điều để phân tích một cách trừu tượng. Thật vậy, ‘tuổi trẻ’ không hiện hữu: chỉ hiện hữu các người trẻ tuổi, mỗi người với thực tại cuộc sống của chính họ. Trong thế giới thay đổi nhanh chóng ngày nay, nhiều cuộc đời này phải giáp mặt với đau khổ và thao túng.[38]
Định hướng mục vụ của Vatican II bắt Giáo hội phải để ý đến từng cá nhân với những lịch sử đặc thù của họ, bởi lẽ Thiên Chúa muốn cứu chính họ trong Gia đình, Vương quốc của Ngài. Từng người là những nhân vị có mục đích trong chính họ, chứ không bao giờ là phương tiện cả.[39]
Về một nền đào tạo trong ánh sáng đối thoại
Tầm nhìn về đối thoại như một biểu thị thiết yếu của ngôi vị còn tỏ lộ hơn nữa dưới khía cạnh đào tạo của Giáo hội. Với Pastores Dabo Vobis, Đức Gioan Phaolô II cho thấy việc đào tạo phải rất cá vị và nội tâm hoá khuôn mặt của Chúa Kitô. Đào tạo trong Giáo hội không chỉ mang tính thông tin (informative), nhưng phải đưa tới biến đổi (transformative). Nó không phải là việc đi qua một thời gian quy định hay ở trong một nơi chốn biệt loại cho việc đó. Không. Tất cả chỉ là phương thế. Trong đào tạo nhất thiết phải gặp gỡ và đối thoại với Đức Kitô. Chỉ gặp gỡ được Chúa Giêsu, người thụ huấn mới được biến đổi. Người thụ giáo phải nhất tâm hấp thụ Chúa Giêsu trong chiều kích nhân bản, tri thức, tông đồ và thiêng liêng. Tông huấn đó đã mang đến một hướng đi mạnh mẽ, nếu không nói là cách mạng, trong đào tạo chủng sinh: nội tâm hoá các giá trị Tin mừng. Đó chẳng phải là tên gọi mới của cuộc đối thoại thân tình với Chúa Giêsu trong giai đoạn đào tạo sao? Đức Phanxicô cũng kinh sợ một đào tạo mang tính chất cảnh sát. Ngài kinh sợ một đào tạo chỉ bằng lòng với những gì là bên ngoài mà không gặp được Đức Giêsu. Điều ấy chỉ sản sinh ra những “quái vật” (monsters). Đức Phanxicô nói tới một đào tạo phải chạm đến tâm hồn của người thụ huấn. Mà điều ấy là gì nếu không phải là xác tín rằng chỉ mình Thiên Chúa mới làm chủ trái tim của con người. Đối với Đức Phanxicô, việc đào tạo nhất thiết phải mang tính hiệp hành.[40]
Về chiều kích xã hội của một đức tin mang tính đối thoại
Vatican II đã cho thấy chiều kích xã hội trong đức tin. Không thể có một đức tin cá nhân chủ nghĩa. Bernard Lonergan trong Method in Theology đã xác minh: “Thần học là một “ngành học” (discipline) vốn làm trung gian giữa một tôn giáo và một văn hoá”. Vậy, thần học giống như một cây cầu nói kết hai thế giới thần linh và nhân linh. Hiểu như vậy, ta chứng kiến một điều. Sau Vatican II, chúng ta thấy “bùng phát”, có thể nói như thế, cuộc đối thoại của một đức tin mang tính giáo hội với muôn mặt thực tại nhân sinh: kinh tế, chính trị, công bằng, với những tầng lớp khác nhau như giới trẻ, truyền thông, đồng tính… Đức Gioan Phaolô II đã trình bày diện mạo Giáo hội đối thoại đang tiến vào ngàn năm thứ ba. Giáo hội xuyên qua từng tín hữu đối thoại chân thật với Đấng “sâu xa hơn cả chúng ta” (interior intime meo), với chính mình (phong thái, nghĩ suy, thái độ) cách riêng với lương tâm như nơi chốn thánh thiêng nhất cho việc này, và với những anh chị em khác trong cũng như ngoài Giáo hội. Đức Bênêđictô XVI cũng tiếp nối hành trình xây dựng thần học đối thoại, khi trình bày một đức ái, đức cậy và đức tin đối thoại với các triết gia vô thần, với đau khổ, với nạn diệt chủng, với bạo lực.[41]
Đang khi đó, Đức Phanxicô khiến Giáo hội chủ tâm và ưu ái đến những tầng lớp bị đẩy ra ngoài lề: di dân, tù nhân, vô gia cư… Đó là một cuộc đối thoại từ tình yêu, trong tình yêu và vì tình yêu bởi lẽ Thiên Chúa là Tình Yêu. Tình Yêu đó vượt hẳn một thứ công bằng mà xã hội rất thường nại đến để làm “cụt ngủn” tình yêu. Đức Bênêđictô XVI viết:
Hội thánh không thể, và cũng không được phép, tham gia vào tranh chấp chính trị để thực hiện xã hội công bằng hơn. Hội thánh không thể và không được phép thay thế nhà nước. Thế nhưng, đồng thời Hội thánh cũng không thể, và không được, đứng ngoài cuộc chiến giành công lý. Hội thánh phải can dự vào cuộc đấu tranh này bằng lý luận dựa trên lý trí, và phải khơi dậy sức mạnh tinh thần, mà nếu không có, thì công lý, vốn luôn đòi phải hy sinh, sẽ không thể chiến thắng và phát huy được. Chính trị chứ không phải Hội thánh phải thực hiện được một xã hội công bằng. Tuy nhiên, thăng tiến công lý qua các nỗ lực mở rộng trí tuệ và ý chí để đón nhận công ích là điều Hội thánh cần quan tâm tới cách sâu xa nhất [….] Tình yêu – caritas vẫn luôn chứng tỏ là cần thiết, ngay cả trong một xã hội công bằng nhất. Không một trật tự xã hội nào của Nhà nước, cho dầu công bằng tới đâu cũng không thể gạt bỏ được nhu cầu phục vụ bác ái. Bất cứ ai muốn loại bỏ tình yêu cũng sẽ loại bỏ chính con người. Sẽ luôn có đau khổ cần đến an ủi và giúp đỡ. Sẽ luôn có cô đơn. Sẽ luôn có những hoàn cảnh thiếu thốn vật chất cần được trợ giúp với tất cả tình thương mến. Một Nhà nước muốn cung cấp mọi thứ, dành mọi việc cho mình, rốt cuộc chỉ có thể trở thành một bộ máy quan liêu không bảo đảm được điều mà người đau khổ - mọi người - cần, đó là được ân cần quan tâm yêu mến […] Tình yêu này không chỉ đơn giản là trợ giúp vật chất, nhưng còn làm hồi phục và chăm sóc linh hồn, điều mà đôi khi còn cần thiết hơn cả giúp đỡ vật chất. Sau cùng nếu cho rằng: cơ chế xã hội công bằng sẽ làm cho công tác bác ái trở nên thừa thãi, thì thực ra đó chính là biểu hiện của một quan niệm duy vật về con người, với định kiến sai lầm cho rằng con người “chỉ sống nhờ cơm bánh” (Mt 4,4; Đnl 8,3) – quan niệm như thế là hạ thấp con người, và không hề biết đến chính điều gì là đặc biệt nhân văn nhất nơi con người.[42]
Đức Phanxicô tiếp nối định hướng này khi làm cho thế giới biết cảm thương với những người bị loại ra bên ngoài. Ngài dành cho họ một chỗ đứng đặc biệt trong quan tâm mục vụ của ngài ngay từ những ngày đầu của triều giáo hoàng qua lời khuyên của một người bạn thân “đừng quên những người nghèo”. Ngài nhắc nhớ các Kitô hữu phải làm cho việc trợ giúp người nghèo vượt lên trên những vật chất qua những hành vi đơn giản như mỉm cười, nhìn vào mặt họ… nói tắt, nhận ra họ thực sự là một nhân vị, phải hơn, một hình ảnh của Chúa Giêsu nghèo khổ.
Về tiến trình lắng nghe – phân định – hành động
Quả thực, Vatican II xác định một cách thẩm quyền Giáo hội phải là một Giáo hội-Hiệp Thông như Dân Thiên Chúa. Nhưng làm sao để hiện thực điều đó? Rõ ràng vẫn còn đó một cơ cấu nặng nề mà Tổng Giám mục John R. Quinn (1929–2017) của giáo phận San Francisco đã nói đến. Cần đến một sự tản quyền/ly tâm mạnh hơn. Đó chính là ý định của Đức Phanxicô được bộc lộ cách riêng trong những Thượng hội đồng Giám mục do ngài chủ sự như về gia đình, về giới trẻ, về Amazon. Thượng hội đồng về tính hiệp hành của Giáo hội tiếp tục nỗ lực ấy với những bước “can đảm” hơn.
Thực vậy, thấm nhuần ý nghĩa của sự phân định vốn là nét cốt yếu của Linh đạo Y Nhã, Đức Phanxicô khẳng định Thiên Chúa muốn rằng Giáo hội của thiên niên kỷ III phải là một Giáo hội hiệp hành, tức là một Giáo hội - Dân Thiên Chúa cùng nhau lên đường tiến tới Thành Đô Thiên Chúa.[43] Xác định như thế, Đức Phanxicô đã biến đổi cách nào đó “cơ chế Thượng Hội Đồng Giám mục” mà Đức Phaolô VI tái lập lại để diễn tả tính tập đoàn Giám mục (collegiality) thành một hiện thực mang tính chất Dân Thiên Chúa qua sự hiện diện của anh chị em giáo dân vào Giáo hội. “Việc của mọi người thì cần mọi người tham gia”. Ta có thể nói: “Đối với Đức Phanxicô, “tính hiệp hành” là một hạn từ mới đây vốn nắm bắt một cách sống cho Giáo hội ở đó chúng ta cùng nhau hành trình tới Đức Kitô, lắng nghe lẫn nhau và quan trọng nhất, lắng nghe Thánh Thần”[44] James Kottoor cho rằng: “Một Giáo hội cùng đi với nhau, lắng nghe và học hỏi lẫn nhau là một bó buộc, ngay cả lắng nghe từ những kẻ bé nhỏ nhất trong Giáo hội”. Quả thế, tiến trình hội thảo rất dài, từ các giáo phận, đến liên Hội đồng Giám mục, đến các vùng miền, rồi đến cuộc họp Synod ở Roma không nhắm điều gì khác hơn sự lắng nghe những người ở vùng ngoại biên. Xem chừng một “tính hiệp hành khử chất thuộc địa” (decolonizing Synodality), theo lối nói của Hinze, lên ngôi.[45] “Bước đi cùng nhau là một cách thức cấu thành/xây dựng Giáo hội, diện mạo đó làm chúng ta có thể giải thích thực tại với con mắt và tâm hồn của Thiên Chúa; điều kiện để theo Chúa Giêsu Kitô và là tôi tớ của sự sống trong thời đại bị thương tổn nay”.[46] Đây cũng là cách chống lại chủ nghĩa giáo sĩ trong Giáo hội vì Giáo hội hiệp hành luôn nhắm đến hiệp thông và chia sẻ sứ mệnh. Hiệp thông, sứ mệnh và chia sẻ.[47] Lời kinh xin Thánh Thần canh tân Lễ Ngũ Tuần của ngài cho Giáo hội hôm nay cho thấy Giáo hội phải đóng vai trò kích thích tố cho cuộc đối thoại đức tin và văn hoá, Thiên Chúa và những kẻ không được yêu thương.[48]
Trong tiến trình phân định, ta phải can đảm sử dụng phương pháp Chúa ban là đối thoại trong Thánh Thần: mọi người lắng nghe nhau, được kiện cường bằng sự thinh lặng ở giữa để lượng giá. “Suốt tám năm, Đức Phanxicô cố gắng dạy chúng ta tính đồng nghị trong các bài nói chuyện và văn kiện và những cuộc quy tụ các giám mục để vật lộn vơi những vấn đề lớn như gia đình, giới trẻ, Amazon. Nay ngài quyết định mang dân Chúa lại cùng nhau và mời gọi họ đi vào tiến trình hiệp hành như những chủ thể phân định, bởi vì ngài nhìn ra một kairos/thời kỳ ân sủng, một thời gian thuận lợi”.[49] Quả thật, “Phát triển là tên mới của Hoà bình”. Song hoà bình chỉ chân thật khi đến từ đối thoại. Vậy, nếu hoà bình không phải là im tiếng súng và chuẩn bị chiến tranh thì đối thoại với nhau là thiết yếu. Đối thoại – phát triển – hoà bình là bộ ba không tách rời.[50]
Đức Phanxicô khởi hứng cho chúng ta điều đã được ban cho Giáo hội ngay từ đầu: “tham gia và lắng nghe mang tính cầu nguyện làm đặc trưng Giáo hội như Gia đình của Thiên Chúa. Quả thế, cùng nắm tay nhau tiến bước là dạng thức sống, làm việc và tư duy (modus vivendi, operandi và cogitandi). Đấy là tính hiệp hành vậy.[51] Những bước mà Giáo hội hiệp hành không nhằm tạo nên một Giáo hội khác, nhưng là hấp thụ Giáo hội mà Vatican II đã nói về một communio hierarchica. Nhưng quyền lãnh đạo không còn được thực thi một cách độc đoán và xa lạ. Vấn đề quan trọng là cộng tác và đồng trách nhiệm. Những biến đổi trong xã hội đang tạo thành một “Thế hệ Cùng Nhau” (“Generation Co”) theo lối diễn đạt của Sr. Nathalie được Austen Ivereigh sử dụng trong bài viết “Speak boldly, listen carefully”. Chúa Giêsu thiết lập một Giáo hội có phẩm trật, nhưng không phải là một Giáo hội duy giáo sĩ (clericalist). Ngài muốn một Giáo hội hiệp nhất trong đa dạng song cùng nhau phục vụ cho Vương quốc Thiên Chúa giữa nhân loại, mà trong đó phẩm trật cổ xuý tính hiệp hành.[52] Liệu chúng ta có thể tưởng nghĩ về một gia đình mà trong đó không có sự tham gia và can dự không? Nó sẽ như một gia đình trên giấy. Giáo hội không cổ xuý sự tham gia đúng là như thế. Vì vậy, ta có thể nói “tham gia không phải là một vấn đề hình thức, song của đức tin.”[53]
Hẳn nhiên, nhiều phê bình về tiến trình chiếm nhiều thời gian “họp hành”. Điều đó đúng. Nhưng làm sao có thể nghe được tiếng của những người ở ngoại biên, nếu không đưa họ vào gần. Vì thế, chúng ta cũng phải can đảm nhìn vào cách thức tiến hành với một sự khoan dung và thanh thản nào đó. Nhìn vào tiến trình cùng tìm kiếm ý Chúa mà những người điều hành Thượng hội đồng Giám mục đề xướng, điểm nối bật chính là bầu khí cầu nguyện trong đức tin.[54] Liệu ta không thể nói được rằng tiến trình đó kín múc từ gia sản thiêng liêng của Vatican II trong những lúc “gay cấn trong tranh luận để tìm ra một đức tin chung” hay sao? Nay tiến trình đó được ứng dụng vào mục vụ để hiểu rằng mục vụ vượt xa một số hoạt động, song là một sự săn sóc tâm hồn với sự tinh tế của đức cậy và đức mến.[55]
Bài học mà Giáo hội hiệp hành thu được phản ánh đúng điều Vatican II mong đợi: “chỉ một mình Đức Kitô mới lôi kéo Giáo hội ra khỏi chính mình và chính Đức Kitô gõ từ bên trong để chúng ta để Ngài đi ra, đang khi Giáo hội quy chiếu về chính mình lại giữ Đức Giêsu ở trong mình và không để Ngài đi ra”. Giáo hội đó tự hào chính mình và đi tìm vinh quang cho chính mình, như Đức Phanxicô từng cảnh báo.[56]
Như vậy, ta không thể nhìn Giáo hội hiệp hành như một thứ công ty hoạch định để đạt được hiệu quả là doanh thu cao nhất. Giáo hội không phải là thực tại kinh tế hay chính trị. Thực tại ấy khiến cho Giáo hội có thể lợi dụng tốt đẹp những cách thức điều hành của xã hội vào chương trình mục vụ-thiêng liêng. Đúng vậy, nhãn quan mục vụ-thiêng liêng, theo tôi, không gì khác hơn “một thần học đón chào và đối thoại” (a theology of welcoming and dialogue), một “thần h ọc liên ngành” (interdisciplinary theology) vốn xảy ra trong một môi trường của tự do và trong tương quan với toàn thể Dân Chúa – với các dân tộc và các nền văn hoá trên khắp thế giới”[57]. Nếu có những người đánh giá Thượng hội đồng Giám mục về Synodality như một cái gì đó gây ra lộn xộn, hỗn loạn trong Giáo hội, thì chúng ta cũng không thể dừng lại ở đó. Chính Vatican II cũng đã từng bị phê bình như thế. Ta phải xác tín mạnh mẽ rằng Giáo hội hôm nay (tức là chính mỗi người tín hữu) có bổn phận xây dựng sự tham gia của mình trên “nhãn quan về một Giáo hội đươc canh tân bởi Vatican II được tóm lại là Giáo hội-Hiệp thông như Dân Thiên Chúa, được đầy Thánh Thần, tham gia vào sứ mệnh của Đức Kitô như vị tư tế, ngôn sứ và vua (tôi tớ).[58] “Một Giáo hội hiệp hành luôn là một Giáo hội tập trung vào tương giao cũng như vào sứ mệnh. Nó cũng tập trung vào hành động, chứ không chỉ nói và thảo luận.” Điều ấy là gì đối với Giáo hội nếu không phải là một Giáo hội học để chiêm ngắm mặc khải là mối tương quan chặt chẽ và tương tác giữa hành động và Lời.[59]
Kết luận
Chúng ta đã rảo qua một chặng đường lịch sử dài để soi sáng cho những gì Giáo hội hôm nay đang nỗ lực làm. Thiên Chúa khởi sự đến đối thoại với mọi người và từng người vì hạnh phúc đời đời và toàn diện của họ, Ngài không ngần ngại và kiên nhẫn làm việc này cho đến khi con người mở lòng đối thoại với Ngài. Và tình yêu thắp sáng hành trình đó. Cuộc đối thoại ơn cứu độ vẫn phải tiếp diễn và nở hoa trong Giáo hội, dẫu vẫn còn đó những thiếu sót và tội lỗi trong Giáo hội. Vẫn còn đó những phê bình về những gì Giáo hội hôm nay đang làm. Tuy nhiên, chính nhờ đó ta khám phá rằng Giáo hội không chỉ thực thi một phương pháp đối thoại. Không phải vậy. Đối thoại gắn liền với bản tính LÀ GIÁO HỘI. Nói theo Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC), đối thoại là một cách thức mới để LÀ GIÁO HỘI. Một Giáo hội hiệp hành, lắng nghe nhau trong đối thoại nhờ Thánh Thần lại chính là một Giáo hội-Bí tích của chính Chúa Giêsu là CẦU NỐI DUY NHẤT giữa Chúa Cha và nhân loại, là HIỆN THÂN của Thiên Chúa đối thoại với con người. Giáo hội hôm nay được mời gọi xuyên qua sự cam kết cho hiệp hành trong đối thoại trở thành lời chứng cho thế giới tục hoá và phân cực của nhân loại hôm nay. Thánh Phaolô nói chúng ta được ban cho Thần khí can đảm chứ không nhát sợ. Ngài làm cho Giáo hội biết kiên nhẫn theo gương của Chúa Giêsu, song một sự kiên nhẫn có mục đích vì Vương Quốc và vì hạnh phúc toàn diện của mọi người và từng người. Giáo hội-Bí tích đúng là như thế.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 152 (Tháng 3 & 4 năm 2026)
[1] Francis – XVI Ordinary General Assembly of the Synod of Bishops, For a Synodal Church: Communion, Participation, Mission, Final Document, https://www.synod.va/content/dam/synod/news/2024-10-26_final-document/ENG---Documento-finale.pdf
[2] x. LG 1, 9, 59; Krzysztof Porosło, “Sacramentality in the Perspective of Joseph Ratzinger/Benedict XVI”, https://czasopisma.uksw.edu.pl
[3] Gioan Phaolô II, Dives in Misericordia 5, 7; Phanxicô, Misericordiae Vultus 2, 11; De Lubac, The Mystery of the Supernatural, Preface xxxiii-xxxvii. Cũng xem David Schindler, “Introduction to the 1998 Edition of the Mystery of the Supernatural”, xi-xxxi.
[4] D. Harrington, The Church According to the New Testament: What the Wisdom and Witness of Early Christianity Teach Us Today, Sheed & Ward, 2001.
[5] X. Augustinô, Confessions; De Lubac, The Mystery of the Supernatural, chapter 12: The Call of Love, 222-238; Rahner, Hearer of the Word, Continuum, 1994.
[6] X. Irenê, Adversus Haereses; Jerome, Against the Pelagians.
[7] X. Hippolitus, Against the Heresy of Noetus; Tertuliano, Against the Valentinians.
[8] Justin, Dialogue with Tripho, 11, 1-2.
[9] X. Justin, The Second Apology, chapter 3.
[10] X. Bênêđictô XVI, bài Huấn dụ ngày 15 tháng 9, 2005. “As missionary Church, we are all called to understand the challenges that the postmodern culture poses to the continent’s New Evangelization”.
[11] X. Irenê, Adversus Haereses 3, 19, 1: PG 7/1, 93; St. Athanasius, De inc. 54, 3: PG 25, 192B; Lời Tổng nguyện Lễ Giáng Sinh; Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 460.
[12] X. Gioan XXIII, Humanae Salutis và Gaudet Mater Ecclesia; hai văn kiện cho thấy Giáo hội phải bỏ đi bộ áo nào đang mặc để mặc lấy chiếc áo Giêsu. Giáo hội không được phép biến mình thành vị ngôn sứ cay độc để công bố Tin mừng Chúa Giêsu cho nhân loại đang bị thương. Giáo hội phải hoàn toàn mặc lấy cõi lòng nhân hậu của Chúa Giêsu để nhận ra những kỳ công của Thiên Chúa nhân lành trong xã hội tân tiến song cũng bị thương và chia rẽ nặng nề.
[13] M. H. Diaz, “A New Beginning? Listening for a Synodal Church”, Oct 22, 2021. Bài viết này xuất hiện trong Synod on Synodality Feature Series.
[14] J. Haers, “A Synodal Process on Synodality Synodal Missionary Journeying and Common Apostolic Discernment”, Louvain Studies 43 (2020), 218.
[15] J. Ratzinger, Theological Highlights of Vatican II, Paulist Press, 1966; Bishop Butler, “The Need for Vatican II” trong Voices of Vatican II, cũng xem Arthur Wells & the Editorial Team (written 2005), “Vatican II – Urgent & Essential” trong https://vatican2voice.org/2need/need.htm
[16] x. DV 2.
[17] X. DV 2; Verbum Domini 6, 11; G. O’Collins, Revelation, Towards a Christian Interpretation of God’s Self-revelation in Jesus Christ, chapter 1: Revelation as Self-revelation and Communication of Truth, Oxford University Press, 2016, 1-18.
[18] X. Ratzinger, Theological Highlights of Vatican II.
[19] SC 7 và 9; Cũng xem Bênêđictô XVI, Sacramentum caritatis 14-15; Ratzinger, The Spirit of the Liturgy, Ignatius Press, 2000, 1-23.
[20] X. SC 7; Phaolô VI, Mysterium Fidei, 35-38.
[21] X. St. Augustine, Commentary on the Psalms (85): “Thiên Chúa không thể ban cho con người một tặng phẩm nào lớn hơn là làm cho Lời Ngài, nhờ Lời đó Ngài tạo dựng mọi sự làm thủ lãnh/đầu và liên kết con người với Người như những chi thể để Ngôi Lời có thể vừa là Con Thiên Chúa và con người, một Thiên Chúa với Chúa Cha và một người với mọi người […] Khi chúng ta thưa với Thiên Chúa trong cầu nguyện chúng ta không tách Chúa Con khỏi Người và khi thân mình của Con cầu nguyện, nó không tách đầu khỏi chính mình, nó là một Đấng Cứu Thế của thân xác Người, Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Con Thiên Chúa, Đấng cầu nguyện cho chúng ta và trong chúng ta và chính Ngài là đối tượng của lời ta cầu nguyện.[…] Chúng ta cầu nguyện với Người như Thiên Chúa, Người cầu nguyện cho chúng ta như một tôi tớ. Trong trường hợp thứ nhất, Người là Đấng Tạo hoá, trong trường hợp thứ hai là một thụ tạo. Chính Người không thay đổi, Ngài lấy vào chính Người bản tính thụ tạo của chúng ta để thay đổi nó và làm chúng ta nên một Người, với chính Người, đầu và thân mình. Vậy chúng ta cầu nguyện lên Người, nhờ Người, trong Người và chúng ta thưa lên cùng với Người và Người cùng với chúng ta.
[22] Cũng xem Bênêđictô XVI, Deus Caritas Est 20.
[23] Tôi lấy đồ hoạ này trong https://vatican2voice.org/4basics/chart.htm; Đồ hoạ này lần đầu được xuất bản trong The Sower Vol 23 No 1, January 2002 và được phép dùng lại trong http://www.maryvale.ac.uk/
[24] X. Gioan Phaolô II, Reconciliation and Penance 2-3; 7-9.
[25] LG 1.
[26] X. Is 60,1-20; 66,10-14,18-22.
[27] X. GS 22, 32, 39, 45.
[28] X. Is 42,1-7; 49,1-6; 50,4-9; 52,13-53,12.
[29] H. Newman, An Essay on the Development of the Christian Doctrine, University of Notre Dame Press, 1994.
[30] X. Tv 122 (121),1-9.
[31] GS 4-10.
[32] RH 8, trích lại GS 22.
[33] RH 9.
[34] RH 13.
[35] RH 14.
[36] RH 13.
[37] RH 13.
[38] Christus Vivit 71
[39] X. GS 25, 27; cũng xem GS 3-21; RH 12, 17.
[40] Thomas Joseph Parayil, Synodality and Formation, https://dvkjournals.in › article; Đức Phanxicô, https://www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2015/september/documents/papa-francesco_20150923_usa-vescovi.html; Julia McStravog, Synodality as Spiritual Formation: An Ongoing History, https://discerningleadership.org/leadership-stories/synodality-as-spiritual-formation-an-ongoing-history/
[41] Đức Bênêđictô XVI, “Faith, Reason and the University Memories and Reflections”, Aula Magna of the University of Regensburg, Tuesday, 12 September 2006.
[42] Đức Bênêđictô XVI, DCE 28.
[43] Xem Tài liệu ITC; Tài liệu chuẩn bị cho Synod on Synodality; cũng xem Austen Ivereigh, “Speak boldly, listen carefully”: “Một Giáo hội hiệp hành – căng thẳng, lộn xộn, khiêm tốn, nhưng là một quảng trường mở cho mọi người – là điều Thiên Chúa yêu cầu Công giáo trong thiên niên kỷ thứ ba”; Hosffman Ospino, “A Closer Look At Synodality and Its Promise For a More Inclusive Church”, (Bài viết này xuất hiện trong Synod on Synodality feature series). “Tính hiệp hành lấy lại một một khuôn mẫu (model) hiện hữu và hoạt động năng động hơn và bao gồm một cách giáo hội. Trong thiên niên kỷ đầu tiên của truyền thống Kitô hữu, có nhiều thực hành từ đó chúng ta có thể học hỏi nhiều một cách thần học, phụng vụ và mục vụ”.
[44] Denver Catholic Staff, “Led by the Spirit: An Intro to the Diocesan Phase of the Synod on Synodality”, ngày 19/11/2021; cũng xem LG 13; R. Luciani, trả lời phỏng vấn của Hosffman Ospino, trong bài viết “A Closer Look at Synodality and its Promise for a more inclusive Church”, “Tính hiệp hành là một cách thức trong đó Giáo hội hiện hữu và hành động trong lịch sử. Nó không phải là một phương pháp để làm các sự việc. Nó là một cách Giáo hội tiến hành được đặt nền trong khoa giáo hội học của Dân Thiên Chúa được miêu tả trong chương 2 của Lumen Gentium […] Suốt trong triều giáo hoàng của Đức Phanxicô, suy tư về tính hiệp hành đã bày ra như một sự thực thi việc đào sâu tầm nhìn của Vatican II”.
[45] Bradford Hinze “Dreams of Synodality, Specters of Constraint” 305-306; EV…), Louvain Studies 45 (2020, 297-312.
[46]Maria Cimperman, “Beginning Reflections on the October 2023 Synod Assembly”, posted January 1, 2024 trong https://catholicethics.com/forum/beginning-reflections-on-the-october-2023-synod-assembly/
[47] X. Tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành, Hướng tới một Hội thánh Hiệp hành: hiệp thông - tham gia – sứ mệnh 2021-2023
[48]Lạy Chúa Thánh Thần,này chúng con đang hiện diện trước tôn nhan Chúa, khi cùng nhau tụ họp nhân danh Chúa. Chỉ có Chúa là Đấng hướng dẫn chúng con, xin hãy ngự trị trong tâm hồn chúng con; xin dạy chúng con lối đường phải đi và cách bước đi trên lối đường đó. Chúng con yếu đuối và tội lỗi,xin đừng để chúng con gây xáo trộn. Đừng để chúng con u mê sa vào nẻo đường lầm cũng đừng để chúng con làm theo thiên kiến. Xin giúp chúng con tìm thấy nơi Chúa sự hiệp thông giữa chúng conđể chúng con có thể cùng tiến đến cuộc sống vĩnh cửu và không lạc xa khỏi con đường chân lý và ngay thật. Chúng con cầu xin Chúa,là Đấng hoạt động mọi nơi mọi thời, trong sự thông hiệp với Chúa Cha và Chúa Con, luôn mãi đến muôn đời. Amen.
[49]Austen Ivereigh, “Speak boldly, listen carefully”.
[50] James Kottoor, “Reflection on Pope’s Synodal Speech Church: Synod, Pyramidal or People of God?”
[51] ITC, “Synodality in the life and mission of the Church (2018)”; Tài liệu chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục về tính hiệp hành, Hướng tới một Hội thánh Hiệp hành: hiệp thông - tham gia – sứ mệnh 2021-2023.
[52]x. Austen Ivereigh, Speak boldly, listen carefully.
[53]Austen Ivereigh, Speak boldly, listen carefully.
[54]Austen Ivereigh, Speak boldly, listen carefully: “Phương pháp thật thú vị. Sau những lời giới thiệu, chúng tôi im lặng suy tư trong 5 phút, chuẩn bị “dữ liệu”. Từng người nói tối đa 3 phút. Rồi lại có 5 phút thinh lặng suy nghĩ nữa. Đoạn, sau khi đọc lại những ghi chú của mình, từng người chia sẻ 2 phút bất kỳ điều gì soi sáng hay âm vang với mình. (Hướng dẫn mà chúng tôi nhận được trước kia mời gọi chúng tôi xem xét điều gì Thần khí dường như kêu gọi chúng tôi, những nẻo đường nào được mở ra, và ghi nhận “những chuyển động thiêng liêng nội tâm” của niềm vui hay buồn thảm, lo lắng hay tín thác, an ủi hay đau khổ). Cuối cùng, có một thời gian tự do khoảng 20 phút để “phân định và giải thích bản tổng hợp” mà được viết ra như bằng lời (verbale) để gởi tới Văn phòng thư ký của Thượng hội đồng Giám mục.”
[55] X. Bênêđictô XVI, Spe Salvi 24-27, DCE 16-18; 28-30.
[56] Gianni Valente, “Five years of Pope Francis and that speech on the ‘Mystery of the Moon’”
[57]Massimo Faggioli, Adapting to a ‘world Church’ – A New International Commentary on Vatican II.
[58]Amado L. Picardal, CSsR, A Synodal church; an Ecclesiaological Perspective.
[59] X. DV 2; cũng x. DV 7.
