Trong những ngày mọi người rộn ràng chuẩn bị cho tết Bính Ngọ 2026, tôi và Cha An Phong Trần Trọng Quốc (Giáo phận Phan Thiết) lại sách gói lên đường đi dự Hội nghị dành cho những người Phụ trách Huấn giáo thuộc các Hội đồng Giám mục tại Á Châu (Meeting of Catechetical Leaders in the Episcopal Conferences of Asia) được tổ chức từ 11-12/02/2026 tại Trung tâm Công giáo Piô XII, Manila – Philippines, do Phân bộ đặc trách các Vấn đề căn bản về loan báo Tin Mừng cho thế giới (PB) phối hợp với Liên hiệp các Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) đứng ra tổ chức.

Sáng thứ Ba 10/02, chúng tôi gặp nhau tại sân bay Tân Sơn Nhất để làm thủ tục lên máy bay. Một việc tưởng chừng đơn giản nhưng không đơn giản chút nào, vì phải điền tờ khai trên mạng (eTravel) mới được cấp thẻ lên máy bay và sẽ được nhân viên hải quan của Philippines cho nhập cảnh. Chúng tôi phải mất nhiều thời gian để loay hoay với việc này, may mắn vào kịp giờ lên máy bay. Thêm vào đó, ban tổ chức lại chuyển mọi thông tin đưa đón và sinh hoạt qua một kênh riêng thay vì qua email, zalo, viber… nên chúng tôi phải tự đón xe về Trung tâm Công giáo Piô XII và có lúc lỗi nhịp sinh hoạt với mọi người vì bị “mù” thông tin. Dù vất vả nhưng chúng tôi vẫn thấy “đi ra” quả là “vàng” vì học được “cả một sàng khôn”, đúng như lời cha ông ta nhắn nhủ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Vì Cha Micae Nguyễn Khắc Minh (Giáo phận Cần Thơ), một trong ba thành viên tham dự, đã thuật lại khá chi tiết diễn tiến của cuộc gặp gỡ trên trang Web của Hội đồng Giám mục (HĐGM), nên tôi chỉ dừng lại ở những suy nghĩ có được từ hội nghị này. 

Trước hết, ba câu hỏi chính của hội nghị tập trung vào việc thực hiện hai văn kiện Hướng dẫn Dạy Giáo lý 2020 (Directory for Catechesis) và Thừa tác vụ cổ kính 2021 (Antiquum Ministerium) thiết lập Thừa tác vụ Giáo lý viên cho thấy phong cách phục vụ mang tính hiệp hành của PB và FABC. Khác với kiểu chỉ thị qua văn kiện như các bộ thường làm trước đây, PB và FABC đã “đi ra” để lắng nghe và đối thoại với những người phụ trách huấn giáo của HĐGM thuộc các châu lục, nhằm tìm hiểu xem các văn kiện này đã được hiểu và thực hiện ra sao, đã gặp phải những khó khăn và gặp được những thuận lợi nào, cuối cùng muốn đóng góp hay đề nghị những gì cho vấn đề này.

Phong cách hiệp hành của ban tổ chức không chỉ thể hiện qua nội dung cũng như cách đặt câu hỏi để mọi người tham gia vào việc trao đổi, mà còn thể hiện ngay trong hình thức tổ chức. Chương trình sinh hoạt bắt đầu với việc ban tổ chức lắng nghe tiếng nói của các phái đoàn, tiếp đến là thời gian để các tham dự viên trao đổi theo nhóm và trao đổi chung dưới hình thức “đối thoại trong Thánh Thần”, cuối cùng ban tổ chức từ cấp hoàn vũ đến châu lục đứng ra tiếp thu mọi ý kiến với sự trân trọng và khiêm tốn, hướng tới một thư chung trong tương lai về huấn giáo cho châu lục. Phần các tham dự viên thì cảm thấy hài lòng vì được lắng nghe và trình bày ý kiến của mình, nhất là nghe được những gì Chúa Thánh Thần khơi lên trong lòng mỗi người từ việc lắng nghe ý kiến của những tham dự viên khác. Tôi cảm thấy như có một luồng gió mới từ THĐGM lần thứ XVI thổi vào trong Giáo hội, làm cho ngọn lửa nhiệt thành được bùng cháy lên trong lòng Giáo hội; hy vọng sẽ mở ra cho Giáo hội một chân trời mới để chu toàn sứ vụ được giao. 

Kế đến, trong căn lều hội ngộ của châu lục, tôi nhận ra rằng từ lâu mình đã quên “những chị em láng giềng” trong vùng. Từ họ, chúng ta học được biết bao điều hay cũng như được chia sẻ biết bao kinh nghiệm quý giá, chẳng hạn như cách họ đọc, hiểu và thực hiện hai văn kiện trên, đặc biệt cách họ biến những thách đố thành cơ hội để hăng hái tiến về phía trước. Phải thừa nhận rằng có nhiều quan điểm về thần học và mục vụ của FABC đi trước và đóng góp không nhỏ cho nỗ lực canh tân của Giáo hội hoàn vũ, điển hình như Hội nghị FABC lần thứ V được tổ chức tại Bandung, Indonesia vào năm 1990. Trong hội nghị này, Liên hiệp các Giám mục Á châu đã nỗ lực tìm ra “một cách hiện diện mới của Giáo hội tại Á châu” bằng cách nhấn mạnh đến việc Giáo hội phải trở thành “sự hiệp thông của những cộng đoàn” (a Communion of Communities) ngang qua việc xây dựng những “Cộng đoàn Giáo hội Căn bản” (Basic Ecclesial Communities), trở thành một Giáo hội tham gia ngang qua việc xây dựng giáo xứ trở nên một cộng đoàn đồng trách nhiệm, và trở thành một Giáo hội phục vụ cho cuộc đối thoại với người nghèo, với các nền văn hóa và các tôn giáo, hoặc như Hội nghị FABC được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào năm 1999, với chủ đề “Kể chuyện Chúa Giêsu” để thông truyền đức tin và loan báo Tin mừng tại Á châu vv… 

Trong dòng lịch sử này, chúng ta thấy Giáo hội tại Á châu hơn năm mươi năm qua vẫn không ngừng tìm ra những con đường mới, không chỉ để hiện diện cách mới mẻ nhưng còn để tìm ra những lộ trình mới cho việc loan báo Tin mừng nói chung và cho việc dạy giáo lý nói riêng, trước những thực tế đang tác động mạnh mẽ trên các xã hội tại Á châu. Vậy những lộ trình mới mở ra cho việc dạy giáo lý mà Giáo hội tại Á châu được khai sáng từ hai văn kiện trên là gì? Liệu chúng có thể giúp Giáo hội vượt qua những thách đố trong việc loan báo Tin mừng mà FABC đã nhận ra trong hội nghị được tổ chức tại Baan Phu Waan, Thái Lan vào năm 2022, với chủ đề : “Cùng nhau tiến bước như các dân tộc châu Á” được gợi hứng từ câu Lời Chúa “… và họ đã đi theo một con đường khác” (Mt 2,12) không?

Vấn đề thứ nhất đã được đem ra cho các tham dự viên thảo luận theo nhóm với câu hỏi sau: Những nguyên tắc của Hướng dẫn Dạy Giáo lý như Lời loan báo Tin mừng đầu tiên (kerygma), Gặp gỡ (Encounter), Đồng hành (Accompaniment), Sự ưu việt của Mầu nhiệm (Primacy of Mystery), Lắng nghe (Listening), Đối thoại (Dialogue), Hiệp hành (Synodality), đã được áp dụng trong các giáo phận/các giáo xứ/bối cảnh của quý vị như thế nào?

Kết quả của việc trao đổi mau chóng chỉ ra những lộ trình mới trong việc dạy giáo lý bắt nguồn từ những chuyển đổi không thể thoái thác. Đó là các chuyển đổi từ lối dạy giáo lý theo truyền thống tập chú vào việc truyền đạt kiến thức, sang cách giảng dạy mới tập chú vào cuộc gặp gỡ với Đức Kitô cũng như với mọi người; từ chỗ thuần túy dạy và học, sang lắng nghe để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh, vấn đề của người học và đồng hành với họ bằng cảm thông, nâng đỡ, ủi an, khích lệ; từ hướng cổ vũ cho các việc đạo đức cá nhân, sang hướng hòa nhập vào đời sống cộng đoàn, vào các cử hành phụng vụ và các hoạt động tông đồ; từ độc quyền chân lý và áp đặt người nghe, sang trải nghiệm đối thoại và tôn trọng tự do của họ; từ cách rao giảng truyền thống sang lối kể chuyện để việc thông truyền đức tin dễ chạm đến lòng người; từ đào tạo đơn thuần những môn đệ, sang đào tạo những môn đệ thừa sai.

Vấn đề thứ hai cũng được đem ra thảo luận với hai câu hỏi sau:

1. Những lộ trình mới nào mở ra cho việc dạy giáo lý trước những thực tế đang nổi lên tại Á châu như vấn đề di dân, gia đình, phụ nữ, giới tính, người trẻ, kỹ thuật số, thúc đẩy nền kinh tế công bằng, khủng hoảng khí hậu, đối thoại liên tôn?

2. Văn phòng Giáo dục và Huấn luyện Đức tin thuộc FABC có thể hỗ trợ quý vị trong việc dạy giáo lý như thế nào?

Kết quả của việc trao đổi cho thấy ngay mối bận tâm chung của các tham dự viên: nâng cao ý thức trách nhiệm dạy giáo lý của các bậc làm cha làm mẹ trong gia đình đồng thời trang bị cho họ những gì cần thiết để chu toàn trách nhiệm này, nhất là trải nghiệm được biến đổi nhờ Lời Chúa để trở thành chứng nhân của đức tin cho con cái và có khả năng vượt qua thách đố gây ra bởi sự bão hòa kỹ thuật số và căng thẳng trong hôn nhân khiến gia đình trở thành nơi chung sống nhưng các thành viên lại sống trong sự cô lập; phụ nữ chiếm số đông trong các lãnh vực hoạt động mục vụ, đặc biệt trong việc dạy giáo lý, cần được trao đổi và đối thoại; người trẻ gắn với vấn đề giới tính và văn hóa kỹ thuật số cần được đồng hành trong sự cảm thông và nhẫn nại; công nghệ truyền thông cần được sử dụng cách khôn ngoan và sáng tạo, đặc biệt trong việc tạo platform về huấn giáo, không chỉ để thông tin nhưng còn tạo cơ hội để tương tác và cộng tác; cổ vũ cho đối thoại liên tôn bằng cách xây những nhịp cầu của gặp gỡ và phục vụ nhân sinh, chia sẻ niềm tin và kinh nghiệm tâm linh; tạo ý thức cũng như cung cấp kiến thức và kỹ năng trong việc bảo vệ ngôi nhà chung. FABC-OEFF nên đưa ra những chỉ dẫn cụ thể (guidelines) hơn là dừng lại ở những nguyên tắc (principles), đồng thời gia tăng sự nối kết giữa các phụ trách huấn giáo qua mạng lưới mục vụ (pastoral network) để tất cả có thể hiệp hành với nhau.

Điều thú vị nhất mà tôi ghi nhận được từ những chia sẻ của các phái đoàn là việc dạy giáo lý “từ trong bụng mẹ đến nấm mồ” (from the womb to the tomb). Cách diễn tả này thật tuyệt bởi nó không chỉ đề cập đến việc dạy giáo lý cho con trẻ từ trong bụng mẹ hoặc kéo dài suốt cả đời người, nhưng còn cho thấy việc dạy giáo lý không chỉ là truyền đạt một mớ giáo thuyết khô khan mà là truyền cảm hứng từ tận cõi lòng, vì sự khôn ngoan (wisdom) đối với người Á châu không bắt nguồn từ não bộ mà đến từ cái bụng (gut). Hơn nữa, việc dạy giáo lý cũng không nhằm chuẩn bị cho một cái chết an bình mà là mở ra cho cuộc sống dồi dào ngay trong hiện tại và viên mãn trong tương lai, vì nấm mồ đối với Chúa Giêsu đâu còn là nơi chôn kẻ chết nhưng là cửa ngõ bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Vì thế, kiểu nói này diễn tả sống động sứ mạng của việc dạy giáo lý: lan tỏa niềm hy vọng không làm cho thất vọng. Điều thú vị không kém trong những điều tôi ghi nhận được, là đóng góp của các tham dự viên về hạn từ “loan báo Tin mừng” (proclamation of the Gospel): hai từ “loan báo” còn nhấn mạnh đến việc thông tin, công bố cách vô tư, khách quan; đúng hơn phải là “thì thầm”, là “rỉ tai”, là “kể cho nghe” với tất cả sự tha thiết, chân thành.

Cuối cùng, qua cuộc gặp gỡ này, tôi cảm nghiệm được thế nào là sức mạnh của truyền thông. Công cụ truyền thông hôm nay có khả năng phá đi sự ngăn cách và bắc một nhịp cầu giữa những con người khác nhau về màu da và ngôn ngữ. Qua smartphone, các tham dự viên có thể “nghe và thấy” thuyết trình viên nói bằng ngôn ngữ riêng của mình, cho dù họ thực sự đang nói bằng một thứ ngôn ngữ khác, hơn nữa còn có thể lưu giữ ở dạng văn bản bài thuyết trình của người ấy. Thư ký của các nhóm cũng không phải vất vả ghi nhận tất cả những phát biểu trong nhóm, vì smartphone đã chuyển ngay những lời phát biểu ấy thành văn bản và họ chỉ cần highlight các ý tưởng chính, sau đó đúc kết lại và gửi ngay biên bản cho ban tổ chức, thậm chí với sự trợ giúp của AI, họ còn có thể chuyển ngay biên bản thành bài thuyết trình bằng PowerPoint, được minh họa sống động bởi những hình ảnh và âm thanh. Tôi thích thú với sự năng động của bạn trẻ đến từ Macau và Taiwan thuộc thế hệ của kỹ thuật số, có 9 tổ thảo luận mà các bạn này đã xung phong làm thư ký cho 7 tổ và hầu như cả đoàn đều xuất hiện trên diễn đàn. Phần tôi, rút kinh nghiệm từ những cuộc gặp gỡ trước đây, người Á châu khó mà nghe và hiểu được tiếng Anh của nhau, nên tôi đã đưa tất cả những gì muốn nói và những hình ảnh cần thiết để minh họa lên màn hình, nhờ đó mọi người có thể theo dõi và nắm bắt cách dễ dàng. 

Thật là thiếu sót nếu như tôi không chia sẻ những gì chúng ta đã đóng góp cho cuộc gặp gỡ và được các tham dự viên tiếp nhận như thế nào. Trong phần trình bày, trước hết tôi giới thiệu sơ qua tình hình xã hội và hoạt động mục vụ huấn giáo của Giáo hội tại Việt Nam, kế đến trả lời những câu hỏi của ban tổ chức về những khó khăn và thuận lợi trong việc áp dụng hai văn kiện liên quan đến việc dạy giáo lý, cuối cùng trình bày những nỗ lực chúng ta sẽ thực hiện để vượt qua những thách đố trong việc áp dụng hai văn kiện này. Qua phần trình bày của tôi, các tham dự viên cảm thấy vui khi thấy chúng ta vẫn âm thầm phát triển trong một đất nước xã hội chủ nghĩa, chẳng những trong việc xây dựng Giáo hội mà còn góp phần xây dựng quốc gia, phát triển con người, cách riêng trong việc đối phó với đại dịch Covid 19. Họ thích thú với kiến trúc của nhà thờ Phát Diệm, ngạc nhiên với số giáo lý viên (80.273 tính đến cuối năm 2024, theo thống kê chính thức của HĐGM) cũng như số các em theo học giáo lý, tham dự thánh lễ và sinh hoạt phong trào Thiếu nhi Thánh Thể vào Chúa nhật, chưa kể số học viên trong các lớp dự tòng và hôn nhân hằng năm. Họ cùng chia sẻ với chúng ta những thách đố liên quan đến việc chuyển đổi trong cách dạy giáo lý và việc tuyển chọn các giáo lý viên đa số là thiện nguyện vào Thừa tác vụ Giáo lý viên.

Tôi ước mong có thật nhiều anh chị em cùng “đi ra” với tôi trong những cuộc gặp gỡ ở cấp châu lục. Với công cụ truyền thông hiện đại, chúng ta có thể vượt qua rào cản của ngôn ngữ cách dễ dàng. Hơn nữa, vấn đề chính yếu không phải là tiếp thu được những gì cho bằng được truyền cảm hứng từ lòng nhiệt thành và kinh nghiệm mục vụ quý giá của những chị em láng giềng. Trong một thế giới phát triển nhờ nối kết và hợp tác với nhau qua platforms và networks, cũng như trong một Giáo hội chọn hiệp hành như một lối sống để cùng nhau loan báo Tin mừng, thì chúng ta – theo thiển nghĩ của tôi – khó mà tồn tại chứ đừng nói gì đến phát triển nếu không chịu “đi ra” và cùng tiến bước với mọi người.

Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hiền, ngày 15/02/2026