DẪN NHẬP
Tôi đã đọc ở đâu đó (tôi không còn nhớ ở đâu) quả quyết này: “Quá nhiều lời về tình yêu xoay quanh mầu nhiệm, thay vì đi vào trong đó”. Tôi cho rằng chúng ta cũng phải nghĩ như vậy về lòng thương xót, một tâm tình không gì khác hơn là một sắc thái đặc biệt của tình yêu. Lời tôi sắp sửa nói đây sẽ chỉ có thể thuộc về phạm trù trước, tức là lời xoay quanh mầu nhiệm. Để đi vào trong, cần phải cảm thấy được lôi cuốn. Chúng ta có thể gõ cửa, nhưng cửa chỉ mở ở bên trong. Quả thực, trong Kinh Thánh, mầu nhiệm của lòng thương xót đồng hóa với mầu nhiệm tinh tuyền và thuần túy của Thiên Chúa. Ngài là bụi gai cháy, chúng ta không thể đến gần nếu không cởi giầy ra và nếu không từ bỏ tham vọng một mình đi tới, theo suy luận riêng của mình.
Tại sao lại viết về lòng thương xót? Sự hoài nghi của tôi là có thực. Tôi đã có thể vượt qua nhờ ký ức về một đoạn Phúc Âm, đoạn nói về người bất toại đã ba mươi tám năm bên hồ nước Bêtdatha, được Gioan kể lại.[1] Người ta xác tín rằng nước của hồ có quyền năng thuyên chữa người nào xuống đó trước, khi có thiên thần khuấy động nó. Con người đáng thương phàn nàn với Đức Giêsu là không có ai đưa anh ta xuống hồ lúc nước được khuấy động.
Hồ nước làm phép lạ, nhưng phải có ai giúp người bất toại, đẩy anh ta xuống nước. Đó là mục đích và hy vọng khiến tôi viết những trang này: khao khát và tự mình thúc đẩy mình viết, và nếu có thể, người đọc tôi đẩy tôi nhào vào trong hồ nước tái sinh lớn lao của lòng Chúa thương xót. Nước hồ này lại được “khuấy động” cho cả một năm, nhờ vào Năm Thánh Lòng Thương Xót của Chúa, do Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề ra nhân dịp kỷ niệm năm mươi năm bế mạc Công Đồng Vaticanô II.
Mối liên hệ giữa đề tài về lòng thương xót và Công Đồng Vaticanô II không có gì là võ đoán hay thứ yếu. Trong diễn văn khai mạc Công Đồng, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII đã chỉ ra rằng sự mới mẻ và kiểu cách của Công Đồng nằm ở lòng thương xót. Ngài nói:
“Giáo Hội đã luôn chống lại những sai lầm, thậm chí còn nghiêm khắc lên án. Tuy vậy ngày nay Giáo Hội của Chúa Kitô thích dùng phương dược của lòng thương xót hơn là sự nghiêm khắc.”
Một cách nào đó, với khoảng cách nửa thế kỷ, Năm Thánh Lòng Thương Xót biểu dương sự trung thành của Giáo Hội với lời hứa này.
Đôi điều về nội dung cuốn sách.
Thuật ngữ thương xót (tiếng Do thái là hesed, tiếng Hy lạp là eleos) được sử dụng trong Cựu Ước và Tân Ước theo hai ngữ cảnh và hai nghĩa khác nhau, cho dù chúng có liên hệ với nhau. Theo nghĩa đầu tiên và nguyên thủy, nó nói lên tình cảm của Thiên Chúa đối với các thụ tạo; theo nghĩa thứ hai, nó cho thấy tình cảm mà thụ tạo phải có đối với nhau, Một sự thương xót là ân huệ và một sự thương xót là bổn phận, hoặc đúng hơn là món nợ, như chúng ta sẽ thấy.
Do đó, trong phần đầu cuốn sách, chúng ta sẽ suy niệm về lòng thương xót của Thiên Chúa, về những cách bày tỏ nó trong lịch sử cứu độ và nơi Đức Kitô, và nhũng phương thế nhờ đó chúng ta bắt gặp nó trong các bí tích của Giáo Hội; trong phần thứ hai, chúng ta sẽ suy niệm về bổn phận phải thương xót và về những “công việc” của lòng thương xót, đặc biệt về bổn phận của Giáo Hội và của các thừa tác viên phải tỏ lòng thương xót đối với các tội nhân, như xưa Đức Giêsu đã thương xót họ.
1. LÚC KHỞI ĐẦU ĐÃ CÓ TÌNH YÊU (KHÔNG PHẢI LÒNG THƯƠNG XÓT!)
Thiên Chúa là tình yêu
Gioan khởi đầu Phúc Âm của mình bằng những lời này: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”. Ông không nói “sự” khởi đầu đã có Ngôi Lời, nhưng nói “lúc” khởi đầu đã có Ngôi Lời. Quả thực Ngôi Lời đã có “lúc khởi đầu với Thiên Chúa”, nhưng Ngài không phải là sự khởi đầu. Khởi đầu mọi sự không phải là Ngôi Lời, cũng không phải là yếu tính thần linh trừu tượng, hay Hữu Thể tối cao, nhưng là ngôi vị của Chúa Cha.
Theo nhãn quan cổ điển của các Giáo Phụ Hy Lạp, được thần học La tinh chia sẻ rộng rãi ngày hôm nay, nơi Thiên Chúa sự duy nhất không tách khỏi Ba Ngôi, nhưng tạo nên một mầu nhiệm độc nhất, phát xuất từ một hành vi độc nhất. Bằng những hạn từ rất nghèo nàn của con người, chúng ta có thể nói Chúa Cha là nguồn mạch, nguồn gốc tuyệt đối của chuyển động tình yêu. Chúa Con không thể tồn tại như là Con, nếu Ngài không nhận trước từ Chúa Cha mọi sự Ngài là. Chúa Cha là Đấng duy nhất, ngay cả trong khuôn khổ Ba Ngôi, không cần được yêu để có thể yêu.
Vậy Thiên Chúa duy nhất của các người Kitô hữu là Chúa Cha, không được quan niệm tự thân (làm sao có thể được gọi là “cha” nếu không vì có một người “con”?), nhưng là Chúa Cha luôn mãi vì sinh ra Chúa Con và hiến mình cho Chúa Con, bằng một tình yêu vô biên liên kết hai Ngôi và là Chúa Thánh Thần.
Tình yêu này nơi Ba Ngôi – và cấu thành Ba Ngôi – là bản tính (dùng một thuật ngữ giúp ta có thể hiểu, nhưng không đủ), không phải ân sủng; đó là tình yêu, không phải lòng thương xót. Chúa Cha yêu Chúa Con không phải là một ân sủng hay một nhượng bộ, nhưng một cách nào đó là một sự cần thiết. Chúa Cha cần yêu để hiện hữu như Cha. Chúa Con yêu Cha không phải là một nhượng bộ hay một ân sủng, nhưng là một sự cần thiết nội tại, cho dù sự cần thiết này rất tự do. Ngài cần được yêu và yêu để là Con. Chúa Cha sinh ra Chúa Con trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là bằng cách yêu Chúa Con; Chúa Cha và Chúa Con thở ra Chúa Thánh Thần bằng cách yêu nhau.
Chỉ nơi Thiên Chúa, điều mà thánh Bênađô nói về tình yêu được thực hiện đầy đủ và tuyệt đối, tức không có “bởi vì” nào khác bên ngoài Ngài:
“Tình yêu đủ cho chính nó, làm hài lòng bởi chính nó và cho chính nó. Nó là công trạng cho chính nó, là phần thưởng cho chính nó. Tình yêu không tìm bên ngoài nó cả lý do tồn tại lẫn hoa quả của nó: hoa quả của nó là chính tình yêu. Tôi yêu vì tôi yêu, tôi yêu để yêu.”[2]
Tình yêu đủ cho chính nó, nhưng không gì đủ cho tình yêu! Hành động của Thiên Chúa đối với thụ tạo minh chứng điều đó.
Tình yêu biến thành ân huệ
Điều gì xẩy ra khi Thiên Chúa tạo thành thế giới và dựng nên các thụ tạo trong đó, theo hình ảnh Ngài và giống Ngài? Tình yêu biến thành ân huệ. Tình yêu, cũng như sự thiện, do chính bản tính “hướng tới chỗ lan tỏa”, nó là diffusivum sui.[3] Từ Công Đồng đến nay, Kinh nguyện Thánh Thể IV đang được sử dụng có những lời như sau: “Cha là Thiên Chúa tốt lành và là nguồn mạch sự sống, đã tác tạo mọi loài để ban cho chúng đầy tràn ơn phúc”. Ở một trong những kinh nguyện của mình, thánh Catarina Sienna diễn tả cũng chân lý này bằng những lời đầy lửa sốt mến:
“Lậy Cha hằng hữu, làm sao Cha đã dựng nên các thụ tạo của Cha? Con rất ngạc nhiên về điều đó. Quả thực con thấy, cũng như Cha chỉ cho con thấy, Cha đã dựng nên thụ tạo không vì lý do nào khác hơn là, trong ánh sáng của Cha, Cha thấy mình bị ngọn lửa tình yêu thúc bách ban hữu thể cho chúng con, mặc cho những tội lỗi mà chúng con sắp phạm đến Cha, lậy Cha hằng hữu. Thế nên lửa đã thúc bách Cha! Ôi, tình yêu khôn tả, cho dù trong ánh sáng của Cha, Cha thấy mọi tội lỗi mà thụ tạo của Cha sắp phạm đến tình yêu vô biên của Cha, Cha vẫn như giả vờ không thấy gì, nhưng Cha nhìn tới vẻ đẹp của thụ tạo mà Cha, như điên cuồng và phải lòng chúng, Cha say mê và vì yêu mà kéo chúng ra khỏi Cha, ban cho chúng hữu thể theo hình ảnh của Cha và giống Cha. Cha là chân lý vĩnh cửu, Cha đã bày tỏ cho con chân lý này, tức là tình yêu đã thúc bách Cha dựng nên chúng.”[4]
Tình yêu lan tỏa này là ân sủng, không phải là bản tính nữa, nó có tính cho không, nó có thể không tồn tại, vậy nó là ân huệ, là thái độ ban ơn. Nó là hesed, lòng thương xót. Thánh Irênê đã viết một trang đáng kinh ngạc về chủ đề này:
“Thiên Chúa không kết thân bạn hữu với Abraham vì cần điều đó, nhưng vì tốt lành, Ngài muốn ban cho Abraham sự sống vĩnh cửu […] vì tình bạn của Thiên Chúa đem lại sự bất hoại và sự sống vĩnh cửu. Như vậy, ngay từ đầu, Thiên Chúa đã không tạo dựng Ađam vì cần con người, nhưng là để có một người mà Ngài ban ơn cho. Những ai phục vụ Ngài do chính việc họ phục vụ Ngài, và những ai theo Ngài do chính việc họ theo Ngài, đều được hưởng ơn đó, nhưng Ngài không nhận được từ họ lợi lộc nào cả, vì Ngài hoàn hảo và không cần gì.”[5]
Thánh nữ Catarina Sienna nói rằng Thiên Chúa bị tình yêu thúc bách tạo dựng nên ta; còn thánh Irênê dường như nói ngược lại, nghĩa là Ngài không cần gì phải dựng nên ta. Cả hai quả quyết đều diễn tả một khía cạnh thật của mầu nhiệm: đối với Thiên Chúa, đó là một sự cần thiết cho không và một sự cho không cần thiết. Đó là một sự thúc bách rất tự do.
Như thế lòng thương xót của Thiên Chúa có trước tội lỗi của con người, nó không chỉ là đáp lại tội lỗi này, vì nó có trước tội lỗi này. Theo thánh Athanasiô, chính vì thương xót (eleos) mà Thiên Chúa tạo dựng con người “theo hình ảnh Ngài”, được Ngài ban lý trí để có thể nhận biết Ngài, ban ngôn ngữ để có thể ca ngợi Ngài[6]; chính do ân sủng và lòng thương xót mà chúng ta được tuyển chọn trong Đức Kitô “trước cả khi tạo thành vũ trụ” và đã “tiền định cho ta làm nghĩa tử ”.[7]
Ân huệ biến thành tha thứ
Tội lỗi của con người mang lại điều gì mới trong khung cảnh này? Nói vắn tắt: từ chỗ thương xót như ân huệ, chúng ta bước sang thương xót như tha thứ. Để giúp chúng ta hiểu điều này hệ tại ở chỗ nào, hãy xem cách Nicola Cabasilas, nhà thần học byzantin ở thế kỷ XIII, phân biệt giữa tình yêu của ban tặng và tình yêu của đau khổ.
“Có hai cách chứng minh tình yêu của mình đối với một người và làm cho tình yêu ấy chiến thắng: cách thứ nhất là làm điều tốt cho người mình yêu trong tất cả những gì có thể, cách thứ hai là chịu khổ cho người đó tới chỗ chịu đựng những điều kinh khủng nhất nếu cần. Bằng chứng sau của tình yêu cao cả hơn nhiều so với bằng chứng trước, chỉ có thể đến từ Thiên Chúa là Đấng không thể bị bất cứ sự dữ nào làm khổ. […] Thiên Chúa đã không phát mình ra sự tự hủy, Ngài đã thực hiện nó, đã làm cho mình có thể chịu khổ và chịu đựng những điều kinh khủng nhất. Chính như vậy mà Thiên Chúa – với tất cả những gì Ngài chịu đựng – đã cho con người thấy tình yêu lạ lùng của Ngài đối với họ, và lôi kéo họ đến với Ngài bằng một cách thức mới, trong khi họ đã chạy trốn Chúa nhân từ vì tưởng bị Ngài ghét bỏ.”[8]
Tội lỗi như một cuộc nổi loạn của con người gây ra một vết thương nơi Thiên Chúa: khi ấy tình yêu của ân huệ trở thành tình yêu chịu đau khổ. Chúng ta hiểu tại sao N. Cabasilas đưa tình yêu của đau khổ nơi Thiên Chúa về lại lúc nhập thể và khổ nạn của Đức Kitô. Nhưng ngay từ thế kỷ III, Origen đã cho thấy một ý tưởng khác, được tái khám phá ngày nay, được thần học và cuối cùng là Huấn quyền của Giáo Hội đón nhận. Origen viết như sau:
“Đấng Cứu Thế xuống trần gian vì thương xót nhân loại. Ngài đã chịu đựng những đau khổ của ta trước cả khi chịu khổ hình thập giá, trước cả khi hạ mình mặc lấy xác phàm chúng ta. Nếu Ngài đã không chịu khổ trước, hẳn Ngài sẽ không đến dự phần vào cuộc sống con người chúng ta. Cuộc khổ nạn mà ngay từ đầu Ngài đã chịu vì chúng ta là cuộc khổ nạn nào? Đó là cuộc khổ nạn của tình yêu. Chính Chúa Cha, Thiên Chúa của vũ trụ, lượng cả bao dung và đầy lòng thương xót, không phải chịu khổ một cách khác chăng? Hoặc có lẽ bạn không biết khi Ngài bận tâm đến những chuyện của con người, Ngài chịu một nỗi khổ của con người sao? Chính Chúa Cha chịu một cuộc khổ nạn, cuộc khổ nạn của tình yêu.”[9]
Trực giác của Origène đã phải chờ đợi những đại họa của thế kỷ vừa qua để lại làm cho Giáo Hội phải ý thức. Trong hạ bán thế kỷ, một số nhà thần học nổi tiếng nhất đã nói về sự đau khổ của Thiên Chúa. Ủy vụ Thần học Quốc tế diễn tả một ý kiến rõ rệt là tích cực với sự mở đầu này.[10] Nhãn quan này được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đón nhận, khi ngài viết cách chính xác và thận trọng trong Thông điệp về Chúa Thánh Thần:
“Quan niệm về Thiên Chúa như hữu thể toàn hảo đương nhiên loại bỏ khỏi Thiên Chúa mọi đau khổ do khiếm khuyết hay do thương tích. Nhưng trong nơi sâu thẳm của Thiên Chúa, có một tình yêu của Chúa Cha là Đấng, trước tội lỗi của con người, phản ứng đến độ phải thốt lên theo ngôn ngữ của Kinh Thánh: “Ta hối hận đã làm ra con người.”[11] […] Sách Thánh nói cho chúng ta về một người Cha đầy lòng trắc ẩn đối với con người, như thể muốn chia sẻ nỗi đau khổ của con người. Rốt cuộc sự đau khổ khôn lường và khôn tả của người cha đặc biệt sẽ làm phát sinh kế hoạch lạ lùng của tình yêu cứu chuộc trong Đức Giêsu Kitô, để nhờ mysterium pietatis (mầu nhiệm thương xót), tình yêu có thể tỏ ra mạnh hơn tội lỗi trong lịch sử loài người. […] Sự “đau khổ” của Thiên Chúa được cụ thể hóa nơi nhân tính của Đức Giêsu Cứu Thế.”[12]
Đây không phải là một ý tưởng mới, nhưng là tái khám phá khuôn mặt thực của Thiên Chúa trong Cựu Ước, ẩn giấu trong nhiều thế kỷ sau ý tưởng về một “Thiên Chúa của các triết gia”, người khởi động mà bất động, người xê xích mọi sự mà chính mình lại không xê dịch và không gì có thể làm cho Người lay chuyển. Một giáo trưởng Do Thái đã có cùng một kết luận như các nhà thần học Kitô giáo, khi ông không làm gì hơn là nghiên cứu và bình giải Kinh Thánh. Ông đã viết trước cả các tác giả kể trên:
“Thiên Chúa có chịu khổ không? Theo tôi, việc nghĩ tới điều đó là như một bổn phận của trái tim. […] Thiên Chúa luôn bị thương tích, Thiên Chúa luôn chịu khổ, hoặc trong sự công chính hoặc trong sự thương xót của Ngài (nghĩa là khi Ngài phạt tội lỗi hoặc khi Ngài bỏ qua tội lỗi của con người). Ngài đau khổ vì người phạm tội và với người phạm tội.”[13]
Khi nói về sự đau khổ của Thiên Chúa, chúng ta không được chỉ nhấn mạnh sự đau khổ của Chúa Cha, nhưng của cả Ba Ngôi. Sự đau khổ nơi Thiên Chúa cũng có tính ba ngôi. Chính Chúa Thánh Thần – vì Ngài là tình yêu của Thiên Chúa có ngôi vị – là sự đau khổ của Thiên Chúa có ngôi vị.”[14]
Cuối cùng thì chính tình yêu chiến thắng mọi loại đau khổ dung hòa sự đau khổ của Thiên Chúa với sự tin tưởng không lay chuyển của chúng ta vào sự hoàn hảo vô biên và quyền năng của Ngài; “sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa”[15] nơi ta cũng như nơi Thiên Chúa. Tình yêu chiến thắng theo cách của nó, nghĩa là không phải bằng cách xua tan sự dữ, đẩy nó ra ngoài biên giới của nó (một điều không thể xẩy ra mà không phá hủy sự tự do của con người), nhưng bằng cách biến đổi điều dữ thành điều lành, thù ghét thành yêu thương.
Tình yêu từ “lòng dạ” Thiên Chúa
Để hiểu sự đau khổ của Thiên Chúa, phải để ý đến sự phân biệt giữa bản tính và ngôi vị nơi Ba Ngôi. Là bản tính, Thiên Chúa toàn năng, tuyệt đối hoàn hảo, nơi Ngài không thể có đau khổ do việc mất đi sức sống, vì Ngài là Đấng hằng sống ban sự sống cho mọi loài, và không bao giờ mất đi sự sống. Vậy khi chúng ta nói không thể có đau khổ nơi Thiên Chúa, đó là chúng ta nói về bản tính của Ngài. Chúa Cha là một ngôi có thiên tính và do đó sống cách cụ thể tư cách ngôi vị của mình trong mọi tương quan liên vị với Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cũng như với loài người và các thiên thần được Ngài dựng nên. Trong loại tương quan đầu, tương quan gắn liền với đời sống thâm sâu của Ngài, với Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mọi hình thức đau khổ đều không có; sự hiệp nhất hoàn hảo của tình yêu và sự sống loại bỏ mọi hình thức đau khổ.
Nhưng Chúa Cha không chỉ là Cha của Chúa Con và nguồn mạch của Chúa Thánh Thần; Ngài cũng là Đấng tạo dựng vũ trụ, mà Ngài đã đặt con người đứng đầu. Ngài thiết lập với con người một tương quan tự do của tình yêu và hiệp thông, theo hình ảnh tương quan của Ngài với Chúa Con. Ngài đi vào trong tương quan này với tất cả vinh quang và tình yêu của Ngài. Vậy dây liên kết mà Chúa Cha có với vũ trụ bao hàm tương quan này tới tận thâm sâu, với tất cà tư cách ngôi vị của Ngài. Sự đau khổ được ghi sâu trong tương quan này.
Quả thực, ý định tạo dựng của Chúa Cha không thể hoàn tất nếu không có sự cộng tác và tự do tán thành của con người. Khi từ chối, con người chạm tới trái tim Ba Ngôi, ý muốn hiệp thông tình yêu của các Ngài với họ. Từ đó mà có đau khổ do sự khước từ của con người, không để cho tình yêu và sự thánh thiện của các Ngài lôi kéo. Như chúng ta thấy, sự đau khổ không làm giảm sút hay mất đi sức sống nơi Thiên Chúa, nhưng là phương thức duy nhất qua đó thể hiện sự viên mãn sự sống và tình yêu của Ngài trước sự khước từ của con người.
Điều xẩy ra cho Thiên Chúa có thể so sánh với điều xẩy ra cho một phụ nữ rất khát khao được làm mẹ, nhưng vì có một ngăn trở nơi thân xác hay vì bị chồng từ chối mà không thể làm mẹ. Sự đau khổ thâm sâu trong lòng như siết chặt chị, khiến chị bị tước đi ước muốn mãnh liệt được làm mẹ. Cũng vậy, khi con người từ chối vâng phục Thiên Chúa và yêu mến Ngài, họ ngăn cản ước muốn mãnh liệt của Ngài là làm cho con người được tham dự vào vinh quang của Ngài.
Hình ảnh sau cùng này giúp chúng ta hiểu một vài bản văn đẹp đẽ nhất – và mạnh mẽ nhất – của Cựu Ước về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta thấy ở đó phản ứng của Thiên Chúa trước sự bất trung của dân Ngài, có thể sánh được với tình cảm từ lòng dạ của tình yêu đau khổ mà một phụ nữ cảm thấy, trước thái độ phản bội hay vô ơn của con mình.
“Ephraim có phải là đứa con Ta yêu dấu, một đứa con Ta rất mực mến yêu? Vì mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức. Ta thương nó, thương nó thật nhiều – sấm ngôn của Đức Chúa.”[16]
Hạn từ được dịch là “tâm khảm”, “đáy lòng” hay “lòng dạ”, tiếng Do thái là rahamim, phát xuất từ rehem, để chỉ lòng dạ người mẹ. Đó là tình yêu đau buồn hệt như tình yêu mà chính Giêrêmia nghiệm ra khi thấy nỗi bất hạnh sắp giáng xuống trên dân:
“Ruột gan tôi, ôi ruột gan tôi, đau quá chừng quá đỗi. Trong lồng ngực tôi tim đập thình thình. Tôi không thể nào làm thinh được vì tiếng tù và rúc, tiếng hò la xung trận.”[17]
Như thể Thiên Chúa chấp nhận chịu đau khổ do hiệu quả của tội lỗi con người, và như vậy tiên báo điều sẽ xẩy ra trên thập giá. Như Hôsê nói, dân Chúa cứng lòng không chịu hoán cải. Thiên Chúa càng lôi kéo con người về phía mình, con người càng quay về phía các thần tượng. Vậy Thiên Chúa phải làm gì? Từ bỏ họ ư? Thiên Chúa nói với dân về thế tiến thoái lưỡng nan sâu xa của Ngài, về loại yếu đuối và bất lực này mà, vì tình thương từ lòng dạ, Ngài có với thụ tạo của Ngài. Thiên Chúa như bị đâm thấu lòng khi nghĩ đến dân riêng có thể bị tàn phá:
“Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi […] Ta là Thiên Chúa chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ.”[18]
Trong những hoàn cảnh tương tự, con người sẽ nổi tam bành lên và thường làm như vậy, nhưng Thiên Chúa thì không bao giờ, vì Ngài là “thánh”, Ngài thì khác; cho dù chúng ta bất trung, Ngài vẫn trung tín vì Ngài không thể chối chính mình.[19] Trước nhân loại, Thiên Chúa thấy mình thiếu mọi khả năng, không những khả năng cưỡng chế mà cả khả năng tự bảo vệ. Nếu con người ngăn cản hành động yêu thương của Ngài, không cho Ngài làm Đấng tạo thành nơi họ, Ngài không dùng quyền can thiệp áp đặt cho họ. Ngài sẽ chỉ có thể tôn trọng, trong một mức độ vô biên, sự tự do chọn lựa của con người. Người ta có thể từ chối, loại bỏ Ngài. Ngài để mặc họ làm, không tự bảo vệ mình. Hoặc đúng hơn, cách tự bảo vệ và bảo vệ con người chống lại sự tiêu vong của họ sẽ là cứ yêu và yêu mãi, yêu đến muôn đời.
Chuyện là như thế. Hồ nước hoặc, đúng hơn, sự sâu thẳm của mầu nhiệm mở ra trước mắt chúng ta. Chỉ còn việc là chúng ta nhảy xuống đó, lòng đầy sững sờ và biết ơn.
2. “NGƯỜI ĐÃ NHỚ LẠI LÒNG THƯƠNG XÓT”
Lòng thương xót của Thiên Chúa đã nhập thể
Sự mới mẻ của nhập thể
Phúc Âm mở đầu bằng một bài hát nhiều giọng ca ngợi lòng thương xót của Thiên Chúa. Phần được gọi là “Phúc Âm thời thơ ấu” của Luca là như thế. Trong bài Magnificat, Đức Maria đã ca ngợi lòng thương xót (eleos) của Thiên Chúa “trải qua từ đời nọ đến đời kia”; bài ca nói rằng Thiên Chúa “đã nhớ lại lòng thương xót của Người, như đã hứa cùng tổ phụ chúng ta, cho Abraham và dòng dõi người đến muôn đời!”[20] Ông Dacaria cũng làm như vậy trong bài ca của mình: Thiên Chúa “đã trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước […] Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn [dịch sát: lòng thương xót] cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta.”[21]
Để hiểu những kiểu nói trên thấm nhiễm sự mới mẻ như thế nào, nên biết những người Do Thái đạo đức đã chờ mong và cầu xin gì với Thiên Chúa trong kinh nguyện của họ, trước khi Đức Kitô đến. May mắn chúng ta có một trong những kinh nguyện ấy trong sách Huấn ca, một kinh nguyện xin cho Israel được “giải thoát và tái sinh” thời Macabê:
“Xin giơ tay […] Xin cho tái diễn những điềm thiêng và lại làm những dấu lạ khác […] Xin rút ngắn hạn kỳ và nhớ lời thề hứa để thiên hạ truyền rao vĩ nghiệp của Ngài […] Xin rủ lòng thương Israel là đoàn dân đã từng mang danh Chúa […] Những lời sấm đã tuyên nhân danh Ngài, xin thực hiện.”[22]
Thời ấy, người ta nói: “Xin giơ tay”, còn hôm nay Đức Maria nói: “Chúa đã giơ cánh tay”; thời ấy người ta nói: “Xin hãy làm những dấu lạ khác”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Người đã làm những điều cao cả”; thời ấy người ta nói: “Xin nhớ lại”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Người đã nhớ lại”; thời ấy người ta nói: “Xin rủ lòng thương dân Ngài”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Chúa đã thương xót Israel”; thời ấy người ta nói: “Xin hãy thực hiện những lời sấm đã tuyên”, thì giờ đây Đức Maria nói: “Chúa đã thực hiện những lời tuyên sấm”. Chỉ đơn giản thay đổi thì của động từ là tất cả một thời kỳ được thay đổi, thực tế là chuyển từ thời của chờ đợi sang thời của hoàn tất, thời thực hiện biến cố cánh chung.
Nhưng sự mới mẻ hệ tại ở điều gì, vì Cựu Ước đã nói những điều rất táo bạo và cảm động về lòng thương xót của Thiên Chúa? Chúng ta tìm thấy câu trả lời trong cách tác giả thư Do thái khởi đầu lá thư của mình: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời gian sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.”[23] Thiên Chúa đã thường phán với những giọng điệu tuyệt vời về lòng thương xót của Ngài qua miệng các tiên tri, ngày hôm nay phán với chúng ta qua “Con của Ngài”, nghĩa là không cần người làm trung gian nữa, nhưng “tự mình”, vì người Con là “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa.”[24]
Thực tế còn đẹp hơn dụ ngôn. Trong dụ ngôn người cha thương xót, người con cả ở lại nhà. Anh ghen tức khi người con út trở về. Trên thực tế, chính người con cả đi tìm đứa em đi hoang và đưa về với cha. Người Con độc nhất của Thiên Chúa đã đi xuống “nơi xa”, để mang về cho Chúa Cha “các con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi.”[25]
Không những Chúa Con “nói” cho chúng ta về lòng thương xót của Thiên Chúa, mà Ngài còn là chính lòng thương xót nhập thể. Một tác giả xưa đã giải thích thêm câu Gioan 1,14 như sau: “Tình yêu (của Chúa Cha) đã nhập thể nơi Ngài.”[26] Trước khi Đức Kitô làm bất cứ cử chỉ thương xót nào, hay nói bất cứ dụ ngôn nào về lòng thương xót, đã có biến cố về lòng thương xót là sự nhập thể. Đối với người tự hỏi Ngôi Lời đã đem đến sự gì mới mẻ khi xuống thế gian, thánh Irênê đã trả lời: “Ngài đã mang đến tất cả sự mới mẻ bằng việc chính Ngài đến.”[27] Hoàn toàn đúng như vậy. Sự mới mẻ lớn lao nhất là chính con người của Ngài, là chính việc Ngài làm người.
Thiên Chúa hạ cố
Chúng ta thử xem sự nhập thể của Ngôi Lời tạo ra biến cố căn bản của lòng Chúa thương xót theo nghĩa nào. Thánh Augustinô viết:
“Đối với những người bất hạnh, lòng thương xót nào có thể hơn lòng thương xót đã làm cho Đấng Tác Tạo trời từ trời mà xuống, đã mặc cho Đấng Tác Tạo đất một thân xác bằng đất, đã làm cho Đấng vẫn ngang hàng với Cha mình trong bản tính vĩnh cửu của Ngài ngang hàng với chúng ta trong bản tính phải chết của chúng ta, đã ban một bản tính nô lệ cho Chủ nhân thế giới.”[28]
Theo thánh Irênê, “con chiên lạc mất” trong một dụ ngôn của Luca là toàn thể nhân loại biểu thị bằng Ađam sa ngã, và nhập thể là lúc Ngài đi tìm nó để vác trên vai đưa về đàn.[29] Nhiều Giáo Phụ đã gán cho hình ảnh này một ý nghĩa không những ẩn dụ mà còn siêu hình nữa. Theo các ngài, khi nhập thể, Ngôi Lời không chỉ mặc lấy một bản tính nhân loại cá nhân, mà một cách nào đó tất cả bản tính nhân loại được quan niệm theo cách của Plato như một cái cụ thể phổ quát. Theo nhãn quan quen thuộc với nhiều Giáo Phụ Hy Lạp, sự cứu độ Kitô giáo được thực hiện, nói tắt, hoàn toàn vào lúc Con Thiên Chúa mặc lấy xác thịt con người và trao cho nó một mầm mống bất tử.
Dưới một khía cạnh khác, nhập thể cũng thực hiện vĩnh viễn lòng thương xót của Thiên Chúa. Đáp lại lời xin của Môsê “Xin thương cho con được thấy vinh quang của Ngài”, Thiên Chúa phán:
“Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống”. Đức Chúa còn phán: “Đây là chỗ gần Ta; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. Khi vinh quang của Ta đi ngang qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được thấy.”[30]
Trong việc nhập thể, Thiên Chúa che mặt để con người có thể thấy Ngài mà không phải chết. Thiên Chúa mạc khải mình bằng cách giấu mặt. Đó là lý do vì sao, sau khi đã nói “Ngôi Lời đã trở nên người phàm”, Gioan đã kêu lên: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người.”[31] Các Giáo Phụ Hy Lạp diễn tả khía cạnh này của lòng Chúa thương xót bằng cách dùng từ synkatabasis, có nghĩa là hạ cố.[32] Trong một tác phẩm ở thế kỷ III được gán cho thánh Giáo Hoàng Clêmentê, người ta đọc thấy chủ đề này:
“Bản tính vô thể của Thiên Chúa không thể được chiêm ngưỡng bằng đôi mắt phải chết, bởi vì ánh sáng của nó quá lớn. Việc Thiên Chúa không cho phép con người nhìn thấy Ngài không phải là dấu hiệu của sự ghen tị, mà đúng hơn là của lòng thương xót, bởi vì ai nhìn thấy Ngài đều không thể sống. Chính vì ánh sáng quá mức của nó mà mọi xác thịt sẽ tan biến, trừ khi do sự xếp đặt cao cả của Thiên Chúa, hoặc xác thịt được biến thành ánh sáng để có thể chiêm ngưỡng ánh sáng, hoặc ánh sáng được biến thành xác thịt để được nhìn thấy bởi xác thịt.”[33]
Sự nhập thể đã hoàn tất điều có thể thứ hai.
Kim tự tháp lộn ngược
Người ta đã luôn quan niệm lên tới Thiên Chúa như leo lên một kim tự tháp, cố gắng lên tới đỉnh bằng sức lực riêng của mình, nhờ suy lý hoặc khổ chế. Nhưng như thế là vô ích, vì như Đức Giêsu nói với Nicôđêmô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.”[34] Qua việc nhập thể, Thiên Chúa đã lật ngược kim tự tháp; Ngài đứng ở dưới chân, đặt ta trên Ngài, có thể nói được là mang ta trên vai Ngài, đúng như người chăn chiên mang trên vai con chiên bị lạc. Chúng ta có thể đi đến với Ngài vì Ngài đã đến với ta trước.
Ý tưởng về Thiên Chúa nổi bật nhất thời Tân Ước trong số những người có học là điều người ta gọi là “thiên chúa của các triết gia”. Plato quả quyết ngài “không trà trộn với con người”[35], còn Aristot thì nói ngài “vận hành thế giới vì Ngài được yêu”[36] (không phải vì Ngài yêu). Chính từ nhãn quan này mà phát sinh ý tưởng tôn giáo về việc bắt chước Thiên Chúa, do đồng hóa với Thiên Chúa ngần nào có thể.[37]
Qua việc nhập thể, Thiên Chúa hoàn toàn làm đảo lộn tư tưởng này.
“Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta […] Chúng ta yêu thương vì Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước.”[38]
Thi sĩ Charles Péguy diễn tả bằng lối văn riêng của ông (ông luôn cho Thiên Chúa nói ở ngôi thứ nhất) việc Thiên Chúa xuống trước việc con người lên với Ngài. Thiên Chúa nói:
“Người ta luôn nói về việc con người bắt chước Đức Giêsu Kitô, là trung thành bắt chước Con của Ta… Nhưng đừng quên là chính Con của Ta đã khởi sự bằng việc đặc biệt bắt chước con người. Đặc biệt trung thành. Sự bắt chước được thúc đẩy đến chỗ đồng hóa hoàn toàn khi Ngài mang lấy số phận phải chết, cũng trung thành và hoàn hảo. Ngài bắt chước sự sinh ra. Và sự sống. Và sự chết.”[39]
Trước khi con người bắt chước Thiên Chúa thì Thiên Chúa đã bắt chước con người.
Như tôi đã nói, kim tự tháp đã lộn ngược một lần vĩnh viễn, khi Ngôi Lời đã trở nên người phàm. Tuy vậy từ đây nó còn phải lộn ngược nơi ta. Kim tự tháp một khi lộn ngược, bất hạnh thay lại hướng tới chỗ luôn trở lại với vị trí cũ, vị trí mà tội lỗi và sự tự phụ của con người đã đặt nó vào. Do sinh sản và lai giống, chúng ta thuộc về một chủng tộc nghĩ rằng có thể trở lại với Thiên Chúa và có được ân sủng của Ngài bằng những công trình riêng hoặc những suy luận của mình. Chúng ta thuộc vào cùng một loại người (trong Phúc Âm, đó là những người Biệt Phái) mà Phaolô lấy làm buồn khi ghi nhận là “họ không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ tìm cách nên công chính tự sức mình.”[40] Nói khác đi, họ nghĩ có thể được cứu nhờ công trạng của mình. Chính thánh Augustinô, trong Tự thú, cho thấy ngài đã phải cố gắng để đón nhận sự đảo ngược do việc nhập thể thực hiện: “Và con đã không khiêm nhường, để biết vị thầy khiêm nhường của con là Đức Giêsu Kitô.”[41]
Vậy “muốn hướng tới Thiên Chúa” có phải là tự dối mình chăng? Phải chăng thánh Bonaventura đi sai hướng khi ngài viết cuốn Hành trình của linh hồn lên tới Thiên Chúa, quan niệm hành trình đó như một việc nâng hồn lên tới Thiên Chúa nhờ những dấu vết của Thiên Chúa trong thiên nhiên và nơi chúng ta? Không phải, vì một lý do rõ ràng. Từ đây việc nâng hồn lên đã xẩy ra với Đức Kitô và theo chân Đức Kitô. Khảo luận của Bonaventura hoàn tất với Đức Giêsu, Đấng đã lại mở ra con đường để lên trời cùng với Ngài, nhờ cuộc Vượt Qua cái chết và sự sống lại của Ngài.[42]
Triết gia và tín hữu Kierkegaard đã viết một lời kinh tuyệt vời về Thiên Chúa, Đấng đã yêu trước. Chúng ta hãy coi đó là lời kinh của chúng ta khi kết thúc bài suy niệm này về lòng thương xót của Thiên Chúa lúc nhập thể:
“Lạy Chúa, Chúa đã yêu con trước.
Chúng con nói về Chúa
như thể Chúa đã chỉ yêu chúng con trước
một lần duy nhất trong quá khứ.
Thực ra, suốt mọi ngày
và suốt cuộc đời,
Chúa yêu con trước.
Khi chúng con thức giấc buổi sáng
và chúng con hướng tâm hồn lên tới Chúa,
Chúa đi trước chúng con,
Chúa đã yêu chúng con trước.
Nếu con thức dậy lúc bình minh
và cùng giây phút đó hướng về Chúa
tâm hồn con và kinh nguyện của con,
Chúa đi trước con, Chúa đã yêu con trước.
Khi con tránh xa những chia trí,
và hồi tâm để nghĩ tới Chúa,
Chúa vẫn là người đầu tiên.
Lạy Chúa, xin tha thứ cho những vô ơn của chúng con
không phải chỉ một lần
Chúa đã yêu chúng con trước,
nhưng là mỗi khoảnh khắc
trong cuộc đời chúng con.”[43]
3. “NGƯỜI ĐÃ ĂN UỐNG TẠI NHÀ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI!”
Đức Giêsu và ông Dakêu
Đức Giêsu và những người tội lỗi
Chúng ta bắt đầu giai đoạn thứ hai khảo sát lòng thương xót bao la xuyên suốt dòng Lịch sử; đúng hơn, chúng ta thực hiện bước nhảy thứ hai vào hồ nước Bêdatha mà từ đây sẽ là Phúc Âm.
Qua việc nhập thể, Đức Giêsu trở thành “khuôn mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình.”[44] Chính Đức Giêsu sẽ nói cho các Tông Đồ: “Ai thấy Thấy là thấy Chúa Cha.”[45] Từ đây người ta chỉ có thể chiêm ngắm “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giầu nhân nghĩa và thành tín”[46] nơi khuôn mặt của Chúa Con làm người. Đó là điều chúng ta sẽ bàn trong những chương sau đây, khi suy niệm trước hết về các cử chỉ thương xót của Đức Kitô, rồi đến những lời giảng dạy của Ngài về chủ đề này.
Đức Giêsu gặp gỡ nhiều người trên những con đường ở Palestin. Các sách Phúc Âm kể cho ta nghe trình thuật về một số những người ấy, có khi còn nói rõ ngay cả tên của họ. Ngay từ đầu có một chi tiết đặc biệt thấy rõ: các người Đức Giêsu gặp gỡ hầu như tất cả sống trong một hoàn cảnh khó khăn, đáng thương, một bệnh tật, một đám tang, những tình huống thương tâm. Hoặc tệ hơn, đó là những con người sống trong một tình trạng luân lý mâu thuẫn với những đòi hỏi của Luật Môsê, và như vậy đi ngược với ý muốn của Thiên Chúa.
Vì nhãn quan người ta có về Đấng Mêsia sẽ đến, kể cả các Tông Đồ, người ta có thể tin là Đức Giêsu sẽ đưa cơn thịnh nộ của Thiên Chúa ra đe dọa. Nhưng không, ngược lại. Ngài tự nguyện đi theo đường lối tình yêu của Chúa Cha đối với dân. Tình yêu này không phải do công lao của dân Israel. Chính các tiên tri, ngay sau khi thốt ra những lời đe dọa trước sự cứng lòng của dân Israel, đã tự xưng là những người báo trước tình yêu này chưa từng bao giờ bị Thiên Chúa bóp nghẹt hay từ bỏ. Trong sách các tiên tri và thánh vịnh, Thiên Chúa đã công bố tình yêu của Ngài là cho không, người ta không thể biến nó thành thứ sản phẩm mua bán. Tuy nhiên, mặc cho những lời nhấn mạnh này, người ta vẫn đi tới chỗ thực hành một thứ tôn giáo cứng ngắc và vụ luật, trong đó không có chỗ cho lòng thương xót.
Thế nên, chính xác đó là khía cạnh khác thường đã lôi cuốn những đám đông nghèo khổ, tội lỗi, những người bị xã hội và tôn giáo khai trừ. Đức Giêsu vứt bỏ tất cả những truyền thống này. Các tội nhân là những người, do hạnh kiểm cá nhân hoặc do công việc ô nhục của họ, bị coi là những người ô uế và Ngài lui tới với họ. Những lời bàn tán với nhiều ác ý, mà các luật sĩ và Biệt Phái trao đổi với nhau khi có dịp, không phải là không có lý do.
Ngay thuật ngữ “Biệt Phái” cho thấy một hạng người tách biệt, khác hẳn. Đó là những người trong sạch, bị buộc phải tránh xa những người tội lỗi, dù chỉ là tiếp xúc không đáng kể với những người này. Ngược lại, Đức Giêsu không những không tránh xa những người ô uế, mà dường như còn cảm thấy hoàn toàn thoải mái đồng hành với họ, đi tới chỗ đồng bàn với họ nữa. Bởi vậy, trước mắt những luật sĩ và Biệt Phái, Ngài không thể từ Thiên Chúa mà đến, vì Thiên Chúa không thể tán thành một sự thiếu tôn trọng Lề Luật như vậy.
Dường như điều đó đã làm cho Gioan Tẩy Giả ray rứt, khiến ông phải sai các môn đệ đến hỏi Ngài không úp mở: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”[47] Ông đã loan báo Đấng sẽ đến thiêu hủy thế gian, và giờ đây ông phải tính toán sao với một Đấng “không đành bẻ gẫy cây lau bị dập, không nỡ tắt đi tim đèn leo lét.”[48] Người ta dễ hiểu nỗi bối rối của ông, và Đức Giêsu không ngạc nhiên về điều đó, biết ông thực tâm, nhưng cho ông thấy những dấu chỉ giúp ông có thể nhận ra nơi Ngài đúng là Đấng Mêsia các tiên tri đã loan báo.
Nhưng những người tội lỗi này là ai? Người ta đã chỉ định như thế về ai? Để phù hợp với xu hướng hiện nay là hoàn toàn gạt những người Biệt Phái ra khỏi Phúc Âm, gán hình ảnh tiêu cực mà người ta có về họ cho những cách giải thích gượng ép sau này của các tác giả sách Phúc Âm, một ai đó đã khẳng định rằng hạn từ “những người tội lỗi” được hiểu là “những người cố ý vi phạm luật mà không hối cải”[49], nói cách khác, đó là những kẻ phạm pháp và kẻ cướp theo luật chung thời ấy. Nếu là như vậy thì các đối thủ của Đức Giêsu thực sự có lý do cảm thấy bị vấp phạm, và coi Ngài như vô trách nhiệm và nguy hiểm về mặt xã hội. Giống như ngày nay một linh mục thường hay lui tới những người nhóm mafia và các nhóm tội phạm đủ loại, và nhiều lần nhận lời mời của họ đến ăn uống, viện lẽ để có thể nói về Chúa cho họ.
Thực ra, chuyện không xẩy ra như thế. Trước hết Đức Giêsu không thường xuyên “lui tới” nhà những người thu thuế và tội lỗi; Ngài chỉ một lần đến với họ, nhưng điều đó là đủ để giúp họ thay đổi. Thực tế là những người Biệt Phái có nhãn quan riêng của họ về Lề Luật, về những những gì hợp hay không hợp với Lề Luật, và họ bài bác tất cả những ai không tuân theo praxis của họ. Đức Giêsu không phủ nhận là có tội lỗi và tội nhân. Như chúng ta sẽ thấy, Ngài không hề biện minh cho những hành vi gian lậu của Dakêu hoặc của người phụ nữ ngoại tình. Chúng ta thấy điều ấy qua chữ mà Ngài sử dụng: “những người đau yếu”.
Điều Đức Giêsu lên án là sự tự phụ của những người Biệt Phái, khi ấy cũng như hôm nay, là thiết lập sự công chính đích thực theo ý họ và, dựa theo tiêu chuẩn này, coi tất cả những người khác là “trộm cắp, bất chính và ngoại tình”[50], thậm chí phủ nhận ngay cả khả năng thay đổi của những con người này. Vả lại, khi nói về những người quá hăng hái bảo vệ Lề Luật, thánh Phaolô cho chúng ta thấy chính họ làm đúng những gì họ trách cứ nơi người khác.[51] Cách mà Luca dẫn vào dụ ngôn người Biệt Phái và người thu thuế rất có ý nghĩa: “Đức Giêsu còn kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác.”[52] Đức Giêsu nghiêm khắc với những người khinh bỉ lên án tội nhân hơn là với chính những tội nhân.[53]
Dakêu xuống mau!
Chúng ta hãy đọc lại trình thuật về một trong những cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với những người tội lỗi, cuộc gặp xẩy ra tại nhà ông Dakêu trong Phúc Âm Luca chương 19. Trình thuật gồm hai phần, một ở ngoài nhà và một ở trong nhà, một ở giữa đám đông và một giữa Đức Giêsu và ông Dakêu, chỉ có hai người.
Đức Giêsu đến thành Giêricô. Không phải lần đầu tiên Ngài đến đây, và khi đến lần này, Ngài cũng chữa lành một người mù.[54] Điều này cho thấy vì sao rất nhiều người đang chờ đợi Ngài. Dakêu “đứng đầu những người thu thuế và là người giầu có”[55], muốn nhìn Ngài cho rõ hơn, nên đã trèo lên một cây sung bên đường đoàn người đi qua (ở lối cửa vào thành Giêricô, ngày nay người ta còn thấy một cây sung hẳn là trước đây Dakêu đã trèo lên đó!). Và đây là câu chuyện:
“Khi Đức Giêsu tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: ‘Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!’ Ông vội vàng tụt xuống và mừng rỡ đón rước Người. Thấy vậy mọi người xầm xì với nhau: ‘Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ.’[56]”
Những đồng bào của Dakêu khinh rẻ ông, vì ông liên lụy tới tiền bạc và quyền lực, và có lẽ cũng vì vóc dáng ông thấp bé; đối với họ, Dakêu chỉ là một “người tội lỗi”. Phần Đức Giêsu, Ngài sắp đến thăm nhà ông. Ngài bỏ qua đám người hâm mộ đón tiếp Ngài ở Giêricô và một mình đi tới nhà của Dakêu. Ngài xử sự như người Mục Tử tốt lành bỏ 99 con chiên lại để đi tìm một con chiên đi lạc. Đối với Ngài, Dakêu tiên vàn là “con cháu tổ phụ Abraham”.
Ngày Chúa nhật đọc đoạn Phúc âm này (Chúa nhật XXXI mùa thường niên năm C), có một đoạn về “lòng thương xót của Thiên Chúa” được đọc cho chúng ta như chìa khóa:
“Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, vì Chúa làm được hết mọi sự. Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nhìn đến tội lỗi loài người, để họ còn ăn năn hối cải. Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra.”[57]
Vậy Đức Giêsu xử sự theo hình ảnh của Thiên Chúa, là Đấng đón nhận những người bị loại ra khỏi hệ thống chính trị – những người nghèo và những người bị áp bức – hoặc những người bị loại ra khỏi hệ thống thôn giáo, tức những người ngoại, người thu thuế, gái điếm. Ai không chấp nhận cách hành xử này của Thiên Chúa là tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ; muốn phân biệt đối xử mọi giá, người đó tự phân biệt đối xử chính mình. Xem như thế, chúng ta thấy câu chuyện Dakêu giống như dụ ngôn người Biệt phái và người thu thuế trong thực tế. Ở đó, Đức Giêsu biện minh cho người thu thuế hối cải và đuổi người Biệt phái trở về tay không; ở đây, Ngài mang ơn cứu độ cho nhà Dakêu và để bên ngoài những người Giêricô tưởng mình nghĩ đúng nhưng kiêu ngạo, lên tiếng xầm xì.
Chúng ta hãy cùng với Đức Giêsu vào nhà ông Dakêu để nghe đoạn cuối câu chuyện:
“Ông Dakêu đứng đó thưa Chúa rằng: ‘Thưa Ngài, đây phân nửa gia tài của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn’. Đức Giêsu mới nói về ông ta rằng: ‘Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Abraham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất’[58]”.
Chính lòng thương xót (chứ không phải sự trách móc) tạo ra phép lạ
Chúng ta hãy dừng lại ở đây để suy nghĩ một chút về câu chuyện này. Có vô số lý do khiến những người thu thuế bị dân chúng khinh bỉ. Đó là những con người khá giả và không chút ngại ngùng. Do đó mà những người bị đánh thuế nặng ghen ghét.
Dakêu, đứng đầu những người thu thuế, nghe nói Đức Giêsu là một tiên tri không giống các tiên tri khác, chính vì vậy mà ông muốn gặp Ngài. Chắc chắn nơi ông có một điều gì đó khác hơn là tò mò thuần túy; một sự quan tâm thực sự, cho dù ông chưa có thể nghĩ là muốn hối cải, ngay cả chỉ là manh nha. Nhưng Dakêu lại thấp bé, không nhìn thấy gì. Ông trèo lên cây. Đức Giêsu đến và đưa mắt nhìn ông (theo nhiều trình thuật trong Phúc Âm, dường như mắt của Đức Giêsu có một quyền năng lạ lùng, chúng diễn tả thậm chí nhiều hơn lời nói) và Ngài gọi tên ông.
Chúng ta sẽ trông chờ điều này: trước khi tha thứ cho ông, Ngài đòi hỏi nơi ông năm điều kiện thường cần thiết để có thể được ơn tha tội: xét mình, ăn năn, quyết tâm không phạm tội nữa, xưng thú tội lỗi, đền tội. Đàng này không có gì hết. Đức Giêsu nói với Dakêu: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” Đây là một chuyện cấp bách, phải hành động ngay. Ngài muốn lưu lại tại nhà Dakêu, không chỉ đi qua nhà ông để thấy nơi ông ở; Ngài muốn vào, nghỉ ngơi một chút, chia sẻ một bữa ăn, thậm chí có lẽ qua đêm nữa.
Đức Giêsu làm liên lụy đến bản thân cách công khai và nguy hiểm, qua đó có nguy cơ thậm chí trở thành ô uế. Chúng ta biết ông Phêrô không muốn vào nhà viên đại đội trưởng Cornêliô vì sợ bị ô uế.[59] Sự việc gây ra tai tiếng là chuyện đương nhiên. Ngài đến nhà một người tội lỗi, không đặt ra cho người này một điều kiện tiên quyết nào, không đòi ông thanh tẩy, giữ đúng quy tắc của Lề Luật, không đòi ông phải từ bỏ nghề nghiệp ô nhục, cũng không đòi ông quay về và sám hối.
Tuy vậy Dakêu đã có thể đọc được trong mắt Đức Giêsu cũng tình yêu mà, ở chỗ khác, Ngài đã dành cho chàng thanh niên giầu có.[60] Chính cái nhìn này đã làm ông đảo lộn, thừa sức để Dakêu được tràn đầy niềm vui khác thường. Ông đón nhận sự hiện diện này, một sự hiện diện đem đến cho ông một tình yêu vô điều kiện; ông để cho tình yêu này thấm qua nơi mình. Chính nhờ tình yêu này mà ông cảm thấy được sống lại, lại trở thành con người. Ông không còn cảm thấy vỏ bọc luôn phải mang đè nặng trên ông nữa, ngay cả khi ông làm việc với đồng nghiệp và với cấp dưới của mình.
Dakêu đã hiểu ngay. Nếu ông muốn tình yêu này trở thành sống động và nguồn sống cho ông, ông phải để nó tràn ngập cả cuộc đời ông, ông phải để nó ảnh hưởng trên các mối liên hệ của ông với những con người khác. Do đó mà một cách bộc phát, không cần Đức Giêsu đòi hỏi bất cứ điều gì, Dakêu đã nói trước là ông sẽ cho người nghèo phân nửa tài sản của mình, và nếu ông hà lạm của ai về thuế má thì ông sẽ đền gấp bốn.
Đúng là một sự sửa chữa, nhưng là một sự sửa chữa được thực hiện trên bình diện tương quan giữa những con người, trong lãnh vực công bình giữa những con người. Và chính trong lãnh vực này mà ông xứng đáng được tôn trọng. Nhưng đây không phải là điều kiện Đức Giêsu đặt ra trước, để có thể yêu thương ông. Đúng hơn đó là kết quả của tình yêu này. Vì Đức Giêsu đã yêu trước một cách nhưng không, Dakêu cảm thấy được thúc đẩy hướng tới những người khác, tới những người mà, cho tới lúc đó, ông đã cướp đoạt; ông học lại cách tôn trọng và yêu thương họ. Cách thức hoạt động của lòng Chúa thương xót là như thế. Chúng ta đừng bao giờ quên.
4. “TÔI CŨNG VẬY, TÔI KHÔNG KẾT ÁN CHỊ”
Đức Giêsu và người phụ nữ ngoại tình
Đức Giêsu và các người tố cáo
Câu chuyện người phụ nữ phạm tội ngoại tình là một kịch bản nhỏ gồm hai hồi hay hai màn. Hồi thứ nhất quy tụ nhiều nhân vật: những người tố cáo, người phụ nữ, Đức Giêsu; hồi thứ hai là hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ. Chúng ta hãy đọc những gì được thuật lại trong hồi thứ nhất:
“Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ. Lúc đó các kinh sư và người Pharisiêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: ‘Thưa Thày, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?’ Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giêsu cúi xuống lấy ngón tay viết trê đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên người ngẩng lên và bảo họ: ‘Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi’. Rồi Người lại cúi xuống vết trên đất. Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi. Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa.”[61]
Chúng ta hình dung lại hoạt cảnh này. Đức Giêsu đang giảng dạy trong Đền Thờ. Thình lình, vòng tròn những người đang nghe Ngài mở ra, để một phụ nữ đi vào, người đang bị một nhóm Biệt Phái ồn ào xô đẩy. Họ đặt chị ta trước mặt Ngài và đứng nửa vòng quanh chị, có lẽ trong tư thế khoanh tay. Họ nói người phụ nữ bị bắt “quả tang” ngoại tình, nhưng dường như đúng hơn, người phụ nữ thực sự bị bắt “quả tang”, nhưng đã bị rình rập từ nhiều đêm (câu chuyện xẩy ra ngay lúc tảng sáng như bản văn nói), để cho chắc ăn. Người ta dùng bạo lực để lôi người phụ nữ ra khỏi cánh tay người tình và dẫn đến trước mặt Đức Giêsu.
“Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” Họ không đến xin ý kiến, nhưng giăng bẫy. Theo cùng một cách thức như họ hỏi Ngài xem có được phép nộp thuế cho Cêsar hay không. Bẫy là thế này: nếu Ngài nói không được ném đá tức là Ngài chống lại luật Môsê và có thể bị tố cáo là phạm luật, vì trong 10 giới răn, không những luật cấm ngoại tình mà còn xác định rõ phải phạt tội này như thế nào: bị ném đá cho đến chết. Nếu ngược lại, Ngài nói phải ném đá, Ngài sẽ mất hào quang của một Thầy nhân lành thương cảm kẻ có tội, một điều lôi kéo dân chúng đến với Ngài. Họ đã chuẩn bị chu đáo và chắc chắn chiến thắng trong bẫy này.
Người ta ngạc nhiên trước cách phản ứng của Đức Giêsu. Ngài không nói gì, cúi mặt xuống viết chữ gì đó trên đất. Có lẽ Ngài không chỉ vạch những dấu hiệu, như có người nghĩ, nhưng là viết chữ. Đôi khi người ta nghĩ Ngài viết ra tội lỗi những kẻ tố cáo, hoặc khi làm việc này, Ngài muốn tỏ ra dửng dưng với những luật sĩ và Biệt Phái; nhưng Đức Giêsu không bao giờ tỏ ra dửng dưng, càng không tỏ vẻ khinh bỉ người khác, bất kể đó là ai.
Về tội bị bắt quả tang cách hợp pháp, lẽ ra cả người đàn ông cũng phải bị dẫn đến trước mặt Đức Giêsu cùng với người phụ nữ. Lề Luật có chép: “Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử.”[62] Vậy tại sao các luật sĩ và Biệt Phái lại hành động như thế? Câu khẳng định của họ: “Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá đàn bà đó” là một câu “quả tang” làm méo mó khoản luật. Đức Giêsu không muốn hạ nhục quá những đối thủ trước mặt dân chúng, chỉ ra rằng chính họ cũng thiếu sót đối với Lề Luật. Ngài muốn cho họ thấy tốt hơn là họ xét lại chính họ. Ngài cúi xuống viết trên đất những đoạn của Lề Luật về tội ngoại tình bị bắt quả tang.
Thoạt tiên, các luật sĩ và Biệt Phái không hiểu. Lúc ấy Đức Giêsu ngẩng cao đầu và đưa họ về đúng đường: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ lấy đá mà ném trước đi.” Mắt họ cuối cùng mở ra và họ đọc điều Ngài đã viết trên đất. Người thông thạo Lề Luật nhất, tức các người lớn tuổi nhất, là những người đầu tiên hiểu những gì Ngài vừa nói. Họ không cần chú ý nữa, vì họ biết câu trích kế tiếp như thế nào. Họ chỉ còn việc nhẹ nhàng bỏ đi, vì sa vào bẫy của chính họ.
Một cách tế nhị nhưng không kém phần cương quyết, Đức Giêsu muốn cho người ta hiểu rằng, nếu con người đứng trong lãnh vực có vẻ chắc chắn của Lề Luật và của luân lý được thử thách nhất, nhằm tố giác những sai lầm của người khác, họ mau chóng có nguy cơ – như trước một tấm gương – đối mặt với Lề Luật và thậm chí luân lý, là những quy tắc quay lại chống họ. Hỏi ai còn dám tự phụ mình công chính trước mặt Thiên Chúa?
Chỉ còn hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ
Chúng ta sang hồi thứ hai, chỉ có hai người: Đức Giêsu và người phụ nữ.
“Chỉ còn lại một mình Đức Giêsu, và người phụ nữ thì đứng ở giữa. Người ngẩng lên và nói: ‘Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao? Người phụ nữ đáp: ‘Thưa ông, không có ai cả.’ Đức Giêsu nói: ‘Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”[63]
Tòa án trống trơn. Chỉ còn lại quan tòa và bị cáo. Cho tới lúc đó, Đức Giêsu cúi xuống đất. Bây giờ Ngài ngẩng lên, nhìn người phụ nữ và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” “Này chị”: trên môi miệng Đức Giêsu, danh hiệu này không còn hàm ý khinh bỉ như trên môi miệng những người tố cáo (“người đàn bà này”) nhưng đầy vinh dự và tôn trọng. Ngài sẽ còn dùng danh hiệu này khi từ trên thập giá hướng về Mẹ Ngài mà nói: “Thưa bà, đây là con của bà.”[64]
Ai biết được người phụ nữ run sợ thế nào, lúc các người tố cáo bỏ đi hết, chỉ còn chị trong thinh lặng đáp lại Đức Giêsu: “Thưa ông, không có ai cả”. Và Đức Giêsu nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” Đó là một câu lạ lùng, khi chúng ta nghĩ rằng Đức Giêsu đã tỏ ra nghiêm khắc hơn Môsê liên hệ đến tội ngoại tình: “Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người đó rồi.”[65]
Là người duy nhất không có tội, Đức Giêsu hẳn là người sẽ ném viên đá đầu tiên. Nhưng Ngài đã không làm thế, Ngài không lên án, không thể lên án chị ta. Nhìn vào chị, Ngài hiểu rằng người phụ nữ này chưa thể đạt tới một cuộc sống thuộc con người, cuộc sống mà Thiên Chúa muốn nơi chị. Chị đã chưa bao giờ thực sự được yêu, vì chính chị. Điều đó chị đã không có với chồng của chị, vì chị có một người tình. Người này có yêu chị vì chị hay vì anh ta? Và trong tay những luật sĩ và Biệt Phái, người phụ nữ này không gì hơn là một đối tượng, một cái “cớ” để họ tố giác Đức Giêsu.
Không được yêu vì chính chị, làm sao người phụ nữ này có thể thực sự yêu người khác và yêu bằng tình yêu như Thiên Chúa muốn giữa đàn ông và đàn bà? Ở đây chúng ta có một biểu hiện cụ thể cho thấy con người trở nên như thế nào vì tội lỗi: ghen tương nhau, lợi dụng nhau vì lợi ích của mình, như thể chỉ là những đồ vật.
Đức Giêsu đến là để kéo con người ra khỏi tình trạng này, tỏ cho họ thấy họ được yêu vì chính họ, một cách cho không, không đòi bất cứ điều kiện nào trước. Do đó Đức Giêsu không thể lên án người phụ nữ này. Ngài phải cho chị thấy trước hết Ngài yêu chị không như những người khác yêu chị, nghĩa là coi chị như của họ, sử dụng chị như tài sản của họ. Trái lại, Ngài cống hiến cho chị một tình yêu cho không, muốn chị cuối cùng tìm lại được phẩm giá của chị là phụ nữ, là một con người có trọn quyền như Chúa Cha muốn. Chỉ sau khi khám phá ra sự triển nở của tình yêu này mà người phụ nữ sẽ tìm thấy nơi nguồn mạch phát xuất từ lòng chị khả năng yêu người khác vì chính họ, như chị được yêu.
Câu Đức Giêsu nói với chị: “Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” không phải là một lời đe dọa, nhưng đúng hơn là một lời mời gọi – chắc chắn là cấp thiết – cho phép tình yêu cho không mà Ngài ban cho chị từ Chúa Cha, thấm nhiễm tất cả cuộc đời của chị và những tương giao của chị với người khác. Kể từ lúc chị biết mình được yêu, và được yêu tới mức đó, chính người phụ nữ cũng phải học yêu thương trong ánh sáng và sự thật. Nếu Đức Giêsu chỉ dạy “luân lý” cho chị, chị sẽ không bao giờ có thể đạt tới cuộc sống đích thực. Chính ở đây mà, ngay cả ngày hôm nay, người ta thấy lời rao giảng của Giáo Hội thành công hay thất bại.
Người phụ nữ này có thể thay đổi triệt để đời sống và không còn phạm tội nữa chăng? Có thể lắm, nhưng không bảo đảm. Thiên Chúa tôn trọng tự do của mỗi người. Dù chúng ta đã gặp Ngài, đã đón nhận tình yêu cho không của Ngài, chúng ta vẫn có thể rơi lại vào trong tội. Vì vậy mà lời khuyên: “Chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa” vang vọng bên tai chúng ta như một lời đe dọa, một điều có nguy cơ làm cho chúng ta thất vọng. Chúng ta hãy luôn nhớ tới lời Đức Giêsu nói với Phêrô: “Thầy không bảo là đến bẩy lần, nhưng là đến bẩy mươi lần bẩy.”[66] Về việc tha thứ, phải đi rất xa, vì sự thù ghét luôn đi rất xa. Phải tha đến bẩy mươi lần bẩy, để cho thấy trạng thái đầy đủ của viên mãn. Nói khác đi, đừng bao giờ lên án, nhưng luôn tha thứ, không đặt giới hạn cho lòng thương xót, cả về thời gian lẫn trong ý định.
Nói không với tội lỗi, nói có với tội nhân
Khi đã hết sợ, người phụ nữ cảm thấy cái nhìn đầy thương xót của Đức Giêsu chảy dài trong tâm hồn chị như một chất nhựa thơm. Chưa từng có người đàn ông nào nhìn chị như thế. Lời “Chị cứ về đi” phải thổi vào trong chị một sự tin tưởng thật mới mẻ: cứ làm lại cuộc đời, cứ bắt đầu lại hy vọng, cứ trở về nhà mình; cứ lấy lại phẩm giá phụ nữ của chị, cứ loan báo cho người ta biết, chỉ nguyên bằng sự hiện diện của chị ở giữa họ, là không chỉ có Lề Luật, mà còn có ân sủng, không chỉ có công lý, mà còn có lòng thương xót.
Để hiểu điều người phụ nữ này cảm nhận, chỉ cần hình dung một người đang bị kết án tử hình được một bạn thân bất ngờ đến báo tin là mình được ân xá. Một phút trước đây, người phụ nữ ngoại tình vẫn còn là một người bị kết án tử hình và án sắp sửa được thi hành; hôm nay chị được tự do ra đi. Nhưng còn hơn thế nữa; trong trường hợp của chị, hình phạt không chỉ bị treo, mà tội lỗi cũng bị hủy. Người phụ nữ không những được tự do bên ngoài trước mặt người ta, nhưng còn được tự do bên trong trước mặt Thiên Chúa. Chị được công chính hóa, như người thu thuế khi ra khỏi Đền Thờ.
Đoạn Phúc Âm này luôn đem lại cho người Kitô hữu một chút bối rối. Nó được đọc trong phụng vụ Chúa nhật chỉ mới đây thôi. Lý do đơn giản là vì nhiều thủ bản ngày xưa bỏ qua đoạn này, điều đó cắt nghĩa việc khó chấp nhận nó vào trong qui điển Kinh Thánh. Vào thời mà ngoại tình được coi như một trong những tội không thể lãnh nhận ơn tha thứ của Giáo Hội, thái độ của Đức Giêsu thậm chí không đặt ra một việc đền tội cần thiết nào chỉ có thể làm cho người ta chưng hửng. Thế nên có nhiều lý do bỏ đoạn này ra khỏi Phúc Âm nếu người ta bắt gặp, hơn là thêm vào khi không thấy có nó. Vậy không có lý do nghiêm túc nào để hồ nghi về tính lịch sử của sự kiện, cho dù không phải Gioan đã kể lại sự kiện.
Trong đoạn Phúc Âm về người phụ nữ ngoại tình này, Đức Giêsu không làm trái với Lề Luật, nhưng cho thấy một số quy định của Lề Luật chỉ có tính chất tạm thời và không quan trọng, và trong trường hợp này là hình phạt ném đá. Chính về một quy định tương tự chống lại các phụ nữ – cho phép rẫy vợ – mà Đức Giêsu nói: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ.”[67] Cũng vậy trong trường hợp này, Đức Giêsu không đến để bãi bỏ Lề Luật, những kiện toàn, đưa nó tới chỗ hoàn thiện.
Đức Giêsu không nói ngoại tình không còn là một tội hoặc là chuyện không đáng kể. Ngài minh nhiên lên án nó dưới hình thức rất mực tế nhị qua lời nói: “Đừng phạm tội nữa”. Quả thực ngoại tình vẫn là một tội phá hoại, không ai có thể giữ nó yên ổn lâu dài trong lương tâm mà không gây thiệt hại cho gia đình cũng như cho linh hồn người đó. Nó làm cho người ta không còn sống trong sự thật, hầu như luôn giả vờ, sống hai mặt, đầy dối trá và mưu mẹo. Nó khiến tâm hồn ra chai đá đến độ tìm mọi cách đổ lỗi cho chồng hay vợ mình, dù sao cũng luôn là đổ lỗi cho người khác. Đây không chỉ là phản bội bạn mình, nhưng còn phản bội chính mình. Thế nên Đức Giêsu không có ý tán thành hành động của người phụ nữ, nhưng lên án thái độ của người luôn rình mò, để bắt gặp và kết án tội lỗi của người khác.
Chúng ta cần lưu ý, vì chúng ta có nguy cơ thuộc vào số những người sẽ ném viên đá đầu tiên. Chúng ta lên án những người Biệt Phái trong Phúc Âm, vì họ không có lòng thương xót đối với những sai lầm của người thân cận, và có lẽ chúng ta không biết rằng mình thường hay làm giống như họ. Chúng ta không còn thuộc vào số những người ném đá kẻ nào sai lỗi (luật dân sự không cho phép như vậy nữa!), nhưng vào số những người sỉ nhục, nói xấu, chỉ trích. Nếu ai đó xung quanh ta sa ngã hoặc khiến người khác phải đồn thổi về mình, chúng ta mau mắn lên án người đó, thấy mình bị tai tiếng như những người Biệt Phái. Thường ra đó là vì thù ghét tội nhân hơn là tội người đó phạm, vì trước hạnh kiểm của người khác, một cách vô thức, chúng ta muốn đánh bóng hạnh kiểm của chúng ta. Phúc Âm về người phụ nữ ngoại tình đề ra cho chúng ta một phương dược hữu hiệu chữa trị thói quen rất xấu xa này. Chúng ta hãy chú ý xét mình trước mặt Thiên Chúa, và chúng ta cảm thấy cần phải chạy đến với Đức Giêsu để xin Ngài, không phải lên án kẻ khác, nhưng là tha thứ cho chúng ta.
5. “TA MUỐN LÒNG NHÂN TỪ CHỨ KHÔNG MUỐN CỦA LỄ”
Cuộc hoán cải của Matthêu
Matthêu đứng dậy và đi theo Ngài
Có một điều gì đó khiến cho người ta xúc động trong lời kêu gọi Matthêu người thu thuế.[68] Đây là một trang tự thuật, câu chuyện về cuộc gặp gỡ của ông với Đức Kitô, cuộc gặp gỡ đã làm thay đổi cuộc đời của ông.
“Bỏ nơi ấy, Đức Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Matthêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông: ‘Hãy theo tôi’. Ông đứng dậy đi theo Người.”
Họa sĩ Caravagio đã vẽ một bức tranh nổi tiếng về cảnh này.[69] Vị tông đồ tương lai ngồi ở bàn thu thuế, trên đó người ta thấy ngoài tiền bạc còn có một bút lông và một nghiên mực (cả hai một ngày kia sẽ phục vụ cho một công việc khác!). Một luồng sáng từ khuôn mặt Đức Kitô đi theo cử động của bàn tay Ngài và chiếu sáng khuôn mặt của Matthêu cũng như của những người ngồi với ông ở bàn thu thuế. Đó là một cách gợi ý cho thấy lời kêu gọi bên ngoài có một ánh sáng bên trong kèm theo. Vả lại, không có ánh sáng ấy người ta không hiểu được thái độ của Matthêu mau mắn đứng dậy, bỏ mọi sự để theo Đức Kitô, không cần một giải thích nào khác. Cuộc đối thoại vô hình giữa Đức Kitô và vị tông đồ tương lai, tất cả đều ở trong cử chỉ bàn tay liên hệ của các ngài. Bàn tay của Đức Kitô, đứng đó, hướng về Matthêu, được coi là dấu chỉ lựa chọn hơn là truyền lệnh (Ngài không giơ ngón tay ra, nhưng chỉ dùng bàn tay). Đáp lại cử chỉ này là cử chỉ của Matthêu đặt bàn tay mình vào Ngài như một người ngạc nhiên thấy mình được chọn nên nói: “Là tôi sao? Có chắc là muốn gọi tôi không?”
Trước lời từ chối theo Ngài của chàng thanh niên giầu có, Đức Giêsu đã buồn bã mà thấy rằng “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu có vào Nước Trời.”[70] Và khi các Tông Đồ thưa với Ngài: “Thế thì ai có thể được cứu?”, Ngài trả lời: “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được.”[71] Lời kêu gọi Matthêu chứng tỏ Thiên Chúa có thể cứu ngay cả một người giầu có. Việc so sánh với lời mời gọi chàng thanh niên giầu có làm nổi bật nét tương phản với việc Matthêu mở lòng cho Thiên Chúa. Không có gì chắc chắn trước đó là Matthêu sẽ nhanh chóng đáp lại như vậy trước lời đề nghị của Đức Giêsu. Trước lời mời gọi của Đức Kitô: “Hãy theo Ta”, người thanh niên giầu có “buồn rầu bỏ đi”, còn Matthêu thì “đứng dậy và đi theo Ngài”.
Cách hành xử của Matthêu có điều gì đó khó tin. Chúng ta hình dung ông đang ngồi đó thoải mái, để ý thu thuế, vui mừng nhìn những đồng tiền các thương gia đặt trên bàn thu. Ông khoan khoái tột độ, cho tới lúc mọi sự đã từng làm cho cuộc đời của ông tới lúc ấy có ý nghĩa, mất hết giá trị. Matthêu đứng dậy, từ bỏ mọi sự mà theo Đức Giêsu. Ông đã không chứng kiến phép lạ nào, vì đây là lúc khởi đầu thừa tác vụ công khai của Đức Giêsu chưa được nhiều người biết đến. Vậy cắt nghĩa thái độ mau mắn của ông như thế nào? Caravagio đã tìm ra câu trả lời trong cái nhìn của Đức Giêsu. Các bản dịch nói rằng “Đức Giêsu thấy”, nhưng có lẽ đúng hơn phải dịch là “Đức Giêsu chăm chú nhìn”. Thánh Bêđa Đáng Kính viết rằng “Đức Giêsu lấy tình yêu thương xót chăm chú nhìn Matthêu và chọn ông”, miserando et eligendo: chính Đúc Giáo Hoàng Phanxicô đã chọn những chữ này làm khẩu hiệu.[72]
Tôi không đến kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi
Câu chuyện Chúa gọi Matthêu không được thuật lại đầu tiên cho chúng ta vì tầm quan trọng mà tự nó dành cho tác giả sách Phúc Âm, vì thực sự Maccô và Luca cũng thuật lại, gọi Matthêu bằng tên thứ hai của ông là Lêvi.[73] Sự quan tâm đúng hơn được thấy trong câu Đức Giêsu nói trong bữa tiệc Matthêu khoản đãi “tại nhà”, trước khi ông chia tay các đồng nghiệp là các người thu thuế và tội lỗi”. Như vẫn thường xẩy ra, câu chuyện Phúc Âm được kể lại nhờ vào một câu nói của chính Đức Giêsu gắn liền với nó. Trả lời cho phản ứng của những người Biệt Phái cảm thấy bị vấp phạm vì Ngài vào nhà một người thu thuế và ăn uống với những người tội lỗi, Đức Giêsu nói:
“Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần, Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”
Chúng ta quá quen với những lời của Phúc Âm đến nỗi thấy chúng hiển nhiên, đương nhiên, cho dù chúng khách quan “gây tai tiếng”, ít nhất cũng phải gây ra thắc mắc. Phải chăng Thiên Chúa yêu người tội lỗi hơn người công chính? Nếu vậy thì đâu là mục đích của Lề Luật, của các lệnh truyền? Đó là những câu hỏi đáng lo ngại đôi khi đưa chúng ta đến chỗ khám phá ra những cách trả lời của Phúc Âm.
Cắt nghĩa lời của Đức Giêsu thật đơn giản. Đức Giêsu không đến kêu gọi người công chính (như thể có những người như vậy trước Ngài và không cần Ngài), nhưng Ngài đến tạo ra người công chính. Cũng như tông đồ Phaolô nói trong thư Rôma:
“Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin.”[74]
Đức Giêsu không phủ nhận trước Ngài có một sự công chính nào đó, “sự công chính mà Lề Luật có thể ban cho”[75]; Ngài dễ dàng công nhận sự công chính này nơi người Biệt phái, những người mà Ngài tiếp tục gọi là “những người công chính”, không chút mỉa mai. Ngài chỉ muốn cắt nghĩa cho họ thấy sự công chính này không đủ để cứu, vì không thể ban sự sống. Nó chỉ được dùng để giúp người ta “ước muốn ân sủng” và nhận ra nó đúng lúc. Nếu không đạt được mục đích này, nó trở thành công chính giả, một sự công chính làm cho người ta hư mất thay vì cứu vớt họ. Đó quả là bi kịch của những người chống lại Đức Kitô; thánh Tông Đồ buồn bã nói về họ là họ “không nhận biết rằng chính Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, và họ tìm cách nên công chính tự sức mình”.[76]
Tất cả những điều đó, chúng ta thấy trong cuộc đời của Matthêu. Cuộc gặp gỡ của ông với Đức Kitô đã biến ông từ một “người thu thuế và tội lỗi” trở thành một “người công chính” và thậm chí qua đó thành một con người mới, một tông đồ của Đức Kitô. Nếu ông vẫn còn là người thu thuế, Caravagio hẳn sẽ không quan tâm tới ông, thế giới hẳn sẽ không biết đến một người đã từng hiện hữu, có tên là Matthêu, cũng gọi là Lêvi.
Lòng thương xót và hy lễ
Chúng ta còn phải làm sáng tỏ một điểm còn mờ tối. Dưới ánh sáng của những gì đã nói, câu của Hôsê “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ”[77], được Đức Kitô lặp lại, có ý nghĩa thế nào? Có phải mọi hy lễ và hãm mình đều vô ích và chỉ cần yêu người khác là đủ để mọi sự ở vào đúng vị trí? Không thiếu những cách giải thích theo kiểu này, và còn được giảng dạy như vậy nữa. Từ đó, người ta có thể đi đến chỗ loại bỏ mọi khía cạnh khổ chế của Kitô giáo, bị coi như tàn tích của một não trạng làm khổ thân xác (afflictif)[78] và nhị nguyên manikê, ngày nay đã lỗi thời.
Cũng ở đây, một câu hỏi đáng lo ngại tạo cơ hội cho một phát kiến soi sáng. Phải lưu ý trước hết tới sự thay đổi viễn tượng sâu xa từ Hôsê đến Đức Kitô trong câu nói trên. Nơi Hôsê, lời đó quy chiếu tới con người và những gì Thiên Chúa chờ đợi nơi họ. Thiên Chúa đòi hỏi nơi con người tình yêu và sự hiểu biết, chứ không phải hy lễ bên ngoài và tế vật chiên bò. Nơi môi miệng Đức Giêsu, lời đó, đúng hơn, quy chiếu tới Thiên Chúa. Tình yêu Ngài nói đến không phải là tình yêu mà Thiên Chúa chờ đợi nơi con người, nhưng là tình yêu Ngài ban cho họ. Câu “Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ” có nghĩa là: Ta muốn làm công việc của lòng thương xót, chứ không lên án. Câu tương đương trong Kinh Thánh hẳn là câu chúng ta thấy nơi Êdêkien: “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống.”[79] Thiên Chúa không muốn “hy sinh” con người, nhưng muốn cứu vớt họ.
Những xác định rõ nghĩa này cũng cho phép chúng ta hiểu lời của Hôsê hơn. Thiên Chúa không muốn hy lễ “bằng mọi giá”, như thể Ngài vui mừng thấy chúng ta chịu khổ; Ngài cũng không muốn hy lễ để xác lập những quyền lợi và công trạng trước mặt Ngài, hoặc qua một ý nghĩa hiểu sai về bổn phận. Ngược lại, Ngài muốn hy lễ do tình yêu và việc tuân giữ các giới răn đòi hỏi. “Người ta không thể sống trong tình yêu mà không có đau khổ”[80], lời của sách Gương Chúa Giêsu Kitô được kinh nghiệm mỗi ngày xác nhận. Theo nghĩa này, thánh Phaolô khuyên chúng ta biến cả đời sống chúng ta thành “một của lễ sống động, thánh thiện, làm đẹp lòng Thiên Chúa.”[81]
Hy sinh và thương xót, cả hai đều là những việc tốt, nhưng cả hai đều có thể trở nên xấu nếu chúng không được điều chỉnh cho đúng. Chúng là những việc tốt, nếu chọn cho mình sự hy sinh và cho người khác sự thương xót (điều mà Đức Kitô đã làm); cà hai trở nên xấu nếu người ta làm ngược lại, chọn cho mình sự thương xót và cho người khác sự hy sinh. Nếu chúng ta khoan dung với chính mình và nghiêm khắc với người khác, thì cũng sẽ nhanh chóng bào chữa cho mình và mau chóng phán xét người khác. Về điểm này, phài chăng chúng ta thực sự không có gì để nhìn lại trong hành vi của chúng ta?
Chúng ta không thể kết thúc bình luận về việc kêu gọi Matthêu mà không có một ý tưởng trìu mến và biết ơn đối với tác giả Phúc Âm rất thường đồng hành với chúng ta, qua sách Phúc Âm của mình, trong suốt năm phụng vụ. Chúng ta hãy làm việc này với một vài câu thơ của Paul Claudel dành cho ngài (mặc dù thi sĩ biết rằng biểu tượng truyền thống về Matthêu là thiên thần, nhưng như ông nói, ông vẫn thích biểu tượng con bò hơn):
“Chính Matthêu người thu thuế
là người đầu tiên có ý tưởng này,
Biết sức mạnh của một văn phẩm,
của việc ghi trên giấy trắng mực đen
Đức Giêsu, chính xác những gì Ngài đã nói
và những gì mắt chúng tôi đã nhìn thấy.
Vì thế khi tìm lại được dụng cụ cũ kỹ
được sử dụng ngày xưa cho dự tính của mình,
ý thức, yên lặng, điềm tĩnh,
như con bò,
Ngài bắt đầu chậm rãi cầy bừa
cánh đồng lớn lao của giấy mới.
Ngài làm thành luống, trở đi trở lại, làm luống khác
để không bỏ sót điều gì.
Điều trí nhớ cung cấp cho ngài
và điều Chúa Thánh Thần gợi ý cho ngài viết,
không phải cho một thời gian mà thôi,
nhưng cho tất cả Giáo Hội không thể phân chia.”[82]
6. “MỘT PHỤ NỮ TIẾN LẠI GẦN ĐEM THEO MỘT BÌNH BẠCH NGỌC ĐỰNG DẦU THƠM”
Đức Giêsu và người phụ nữ tội lỗi
Có những trang Phúc Âm mà giáo huấn gắn liền với hành động đến nỗi không thể hiểu ý nghĩa của giáo huấn nếu tách ra khỏi hành động. Câu chuyện về người phụ nữ tội lỗi tại nhà ông Simon trong Phúc Âm Luca[83] không là một ngoại lệ. Trong trường hợp này chúng ta không thể rút ra sứ điệp chính yếu rồi sau đó đi theo diễn tiến câu chuyện. Trái lại, chúng ta phải theo diễn tiến của hành động rồi sau mới rút ra sứ điệp chính yếu.
Trang này rất sôi động gồm ít nhất bốn thay đổi viễn tượng, tùy theo những nhân vật khác nhau dần dần lộ diện: người phụ nữ, người Biệt Phái, Đức Giêsu, những thực khách. Chúng ta bỏ qua một bên những gì khách dự tiệc nói (“Ông này là ai mà lại tha được tội?”), chúng ta sẽ đế cập chủ đề này sau, và tập trung vào ba nhân vật trước.
Đức Giêsu và người phụ nữ
Cảnh thứ nhất là một cảnh câm, diễn tiến mà không có lời nào, chỉ có những cử chỉ trong thinh lặng:
“Có người thuộc nhóm Pharisiêu mời Đức Giêsu dùng bữa với mình. Đức Giêsu đến nhà người Pharisiêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisiêu, liền đem theo một bình bạch ngoc đựng dầu thơm.”[84]
Bất chấp mọi cấm kỵ, người phụ nữ đến gần Đức Giêsu và quỳ dưới chân Ngài. Cảnh này khiến cho người ta ngạc nhiên. Thoạt nhìn, nó chỉ có thể làm cho người ta cảm thấy bị vấp phạm. Quả thực, người phụ nữ này được mọi người biết đến như một người mắc tội nặng. Có thể chị ta không phải là một gái điếm chuyên nghiệp, nhưng là một phụ nữ phóng túng, khêu gợi. Đó là một phụ nữ biết cách xử sự với đàn ông. Những cử chỉ của chị làm cho cảnh này mang tính chất rất nhục cảm. Tất cả hợp lại khiến cho một người đàn ông bình thường cảm thấy bối rối: những giọt nước mắt, lọn tóc dài, những cái hôn, ve vuốt, dầu thơm. Và Đức Giêsu không phản ứng, Ngài để cho chị ta làm!
Chúng ta có thể hình dung chị đã thấy Ngài và đã bị Ngài đánh động sâu xa. Chị đã phải hỏi tin tức về Ngài vì chị biết tìm thấy Ngài ở đâu. Chị đã trực giác thấy rằng, với người này, cuộc đời chị sắp tìm lại được sự trong sạch và chân thật mà chị đã đánh mất. Chị cảm thấy Ngài sẽ không lên án hay khinh bỉ mình, hay sử dụng mình như đồ vật. Thế rồi chị đến gần Ngài và lờ mờ cố gắng diễn tả tất cả những tình cảm này. Nhưng chị không biết xử sự cách nào khác hơn là cách nước đôi này. Để bày tỏ ước muốn được tha thứ, người phụ nữ này chỉ biết hiến tặng những gì chị thường hiến tặng cho những người đàn ông khác.
Đức Giêsu chấp nhận hết, vì để chị ra về hẳn sẽ giống như nhốt chị trong “cuộc sống mà không phải cuộc sống” của chị. Còn như để cho chị làm, Ngài giúp cho chị hiểu rằng, còn hơn rất nhiều lời nói dài dòng, Ngài nhận những gì chị có thể hiến tặng Ngài, vì Ngài đã yêu chị ngay cả trước khi chị ngồi dưới chân Ngài. Và Ngài yêu chị mà không lấy cho mình điều gì từ chị, dù là điều nhỏ nhất. Chị có sao thì Ngài đón nhận thế ấy, chỉ vỉ chị trước hết cần cảm thấy mình được yêu, cuối cùng được tôn trọng. Ngài không phán xét chị, không lên án chị. Ngài làm cho chị tái sinh vào một đời sống đích thực là của con người.
Chính điều đó giúp cho người phụ nữ hiểu rằng con người này sắp làm đảo lộn cuộc sống của chị. Chị không còn ở đó nữa để lôi cuốn những người đàn ông, để làm cho họ vui thú. Chính Đức Kitô là người đầu tiên trao tặng cho chị tình yêu mà chị biết là đã không bao giờ nhận được cho tới lúc đó. Tình yêu chị đã sống chỉ là cách phóng họa của tình yêu. Người phụ nữ này đứng trước mặt Đức Giêsu như một thụ tạo đáng thương, nhận ra trước hết phải đón nhận mọi sự, nếu chị muốn sau đó cho đi mọi sự.
Đức Giêsu và người Biệt Phái
Tiếp đến, mục tiêu hướng về người Biệt Phái đã mời Đức Giêsu dùng bữa. Đây vẫn còn là cảnh câm, nhưng chỉ có vẻ bên ngoài thôi. Người Biệt Phái “nghĩ bụng”, nhưng chính là ông nói trong lòng:
“Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!”[85]
Ngoài mặt, người Biệt Phái tỏ ra nhân từ, ông tìm cách bào chữa cho Đức Giêsu, cho việc Ngài để cô ta làm là vì không biết: “Tội nghiệp! Ngài không biết ai đang đụng tới Ngài!”, nhưng với cái giá của một lời tố cáo còn nghiêm trọng hơn: vậy ra Đức Giêsu không phải là một tiên tri, càng không phải là một tiên tri được mong đợi trong những ngày cuối cùng. Vậy là Ngài chiếm đoạt danh tiếng của mình. Ngài đã lầm và làm cho người khác lầm.
Vào lúc này của Phúc Âm và chỉ đến lúc này, Đức Giêsu mới lên tiếng để cho biết điều Ngài nghĩ về hành động của người phụ nữ và về những gì người Biệt Phái nghĩ:
“Đức Giêsu lên tiếng bảo ông: ‘Này ông Simon, tôi có điều muốn nói với ông’. Ông ấy thưa: ‘Dạ, xin Thầy cứ nói’. Đức Giêsu nói: ‘Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nêm chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?’ Ông Simon thưa: ‘Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.’ Đức Giêsu bảo: ‘Ông xét đúng lắm!’”[86]
Trước hết, Đức Giêsu giúp cho chủ nhà có thể hiểu rằng Ngài đích thực là một tiên tri, vì Ngài đã đọc được tư tưởng trong lòng ông; đồng thời, với dụ ngôn, Ngài chuẩn bị cho mỗi người hiểu điều Ngài sắp nói để bảo vệ người phụ nữ này, người mà, khi rửa chân cho Ngài, hôn chân Ngài và lấy dầu thơm mà xức, đã làm cho Ngài điều mà lẽ ra chính chủ nhà đã phải làm:
“Vì thế tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít. Rồi Đức Giêsu nói với người phụ nữ: ‘Tội của chị đã được tha rồi.’”[87]
Người ta luôn ghi nhận một phép nhị phân nào đó giữa dụ ngôn của Đức Giêsu và áp dụng của Ngài cho người phụ nữ. Trong nhị phân thứ nhất, tha thứ là lý do của tình yêu: người phụ nữ yêu nhiều vì chị đã được tha thứ nhiều; trong nhị phân thứ hai, tình yêu là lý do của tha thứ: tội lỗi nhiều của chị được tha thứ vì chị đã yêu nhiều. Trong nhị phân trước, sáng kiến là từ Thiên Chúa; trong nhị phân thứ hai, sáng kiến dường như là từ người phụ nữ. Không cần phải nại đến một thứ kỳ tài nào đó để giải quyết khó khăn. Chính là vì, trong lãnh vực sự việc thuộc tâm trí, luôn có một sự hỗ tương nào đó. Sự tha thứ nhận được từ Thiên Chúa làm phát sinh nơi thụ tạo một tình yêu biết ơn, và tình yêu của thụ tạo, khi khiêm tốn thú nhận tội lỗi, hoàn thiện và gia tăng tình yêu. Cả hai việc đều thật.
Đức Giêsu và chúng ta…
Câu chuyện Phúc Âm ngừng lại ở đây. Người đọc đoạn này ngày hôm nay chờ đợi điều gì? Rõ ràng câu chuyện về người phụ nữ tội lỗi, trong ý định của Luca khi thuật lại, phải có thể giúp cho người ta hiểu tâm trí của Đức Kitô và sứ điệp cứu độ của Ngài cho những người nghèo khó, tội lỗi, bị khai trừ. Luca không viết Phúc Âm cho người Biệt Phái, nhưng cho các Kitô hữu, cách riêng các Kitô hữu phát xuất từ dân ngoại. Đối với ngài, bài học này của Đức Kitô không chỉ nói với người Biệt Phái đương thời, nhưng với mọi người sẽ đọc Phúc Âm. Kể cả chúng ta.
Thực ra, chúng ta đứng trước một vấn đề luôn mang tính thời sự. Vấn đề là biết tính tôn giáo thật sự nằm ở đâu, đâu là những tình cảm và thái độ chính đáng nhất trước mặt Thiên Chúa, biết Thiên Chúa thích trên hết điều gì nơi thụ tạo. Theo một kiểu cách suy nghĩ nào đó, mọi sự được giải quyết trong việc tuân giữ Lề Luật, và thậm chí theo cách giảm trừ. Người Biệt Phái tập chú vào những giới luật bị người thu thuế và gái điếm vi phạm và lướt qua những luật khác, chẳng hạn luật yêu thương người thân cận, được nói rõ trong Lề Luật.
Tiêu chuẩn vụ luật cho phép phân chia người ta thành hai hạng rõ rệt: người công chính và người tội lỗi. Thật sự, không có chỗ cho lòng thương xót là thuộc tính đích thực của Thiên Chúa: trên thực tế người tội lỗi không đáng hưởng lòng thương xót, còn người công chính lại không cần. Từ đó người ta xác tín sai lầm (lạc giáo Pêlagiô dựa vào xác tín này) là chỉ cần Thiên Chúa mạc khải ý muốn của Ngài và ban những lệnh truyền, để con người, chỉ nhờ thiện ý của mình, có thể chu toàn chúng, mà không cần sự gì khác.
Người phụ nữ cho chúng ta thấy – một cách lặng lẽ – cả một thế giới tôn giáo khác, được tạo ra bằng sự khiêm tốn nhận biết tội lỗi mình, bằng ý muốn thay đổi, bằng cách biết ơn Thiên Chúa, Đấng không ngừng ban cho các thụ tạo những khả thể mới mẻ chuộc lỗi, Đấng muốn lòng thương xót hơn hy lễ và thích tình yêu của một tâm hồn ăn năn hơn mọi của lễ và hy tế. Thụ tạo không cảm thấy mình là chủ nợ của Thiên Chúa, nhưng là con nợ, mãi mãi là con nợ, và nợ Ngài mọi sự.
Mục đích xác thực và mang tính thời sự nhất của trang Phúc Âm này được thực hiện khi một người, nam hay nữ, đồng hóa mình cách rất tự nhiên với người phụ nữ tội lỗi, hoàn toàn nhận ra mình nơi chị và muốn tái hiện lại trong cuộc đời mình kinh nghiệm nội tâm của người phụ nữ này. Chị đã sống một cuộc hoán cải thực sự trong tâm hồn. Để chuyển từ một cuộc sống bị chi phối bởi mọi thứ quan tâm và suy nghĩ sang những tình cảm quá khác nhau như thế, ai biết được cuộc cách mạng nào đang xẩy ra trong tâm hồn chị! Tất cả những điều đó là vì chị đã thấy con người Nadarét này, và vì có lẽ từ xa chị đã nghe lời Ngài. Bằng cử chỉ, chị kêu xin với Đức Kitô chỉ một điều thôi: “Tôi cần Ngài”. Khi ấy Ngài có thể trả lời chị: “Lòng tin của chị đã cứu chị, chị hãy về bình an”. Đấy là kiểu cách của Đức Giêsu.
Người phụ nữ tội lỗi, diễn viên chính trong câu chuyện Phúc Âm, được truyền thống đồng hóa với Maria Mađalêna, chúng ta thấy như là tiên mẫu của mọi cuộc hoán cải vĩ đại, nhờ được gặp gỡ Đức Kitô: chẳng hạn cuộc hoán cải của Phaolô, khiến cho ngài đành “mất hết”, coi là “rơm rác” những gì trước đây ngài coi là “mối lợi”[88]; cuộc hoán cải của Phanxicô Assisi sẽ biến “điều lúc trước xem ra nhờm tởm thành dịu ngọt trong tâm hồn và thể xác”, như chính ngài sẽ nói sau này trong di chúc.
Không nơi nào nói điều đó chỉ xẩy ra một lần duy nhất trong đời, vào lúc hoán cải lần đầu. Từ trái tim bằng đá đến trái tim bằng thịt, chuyện không xẩy ra một lần. Nhiều lần trong đời chúng ta lại thấy mình ở xa, tâm hồn lại chai cứng, rất cần hòa giải với Thiên Chúa và với chính mình. Khi ấy chính là lúc nhớ lại đoạn Phúc Âm này, lắng nghe tiếng của Thần Khí mời gọi chúng ta sống lại đoạn ấy.
Nếu có ai tìm cách gặp gỡ Đức Giêsu hôm nay, để có được kinh nghiệm của người phụ nữ tội lỗi, người đó sẽ không phải đi xa, cũng không cần thực hiện sở thích của mình. Hàng ngày trong Thánh Thể, chúng ta thấy Ngài “ngồi bàn với các người thuộc về mình”. Chúng ta có thể thu mình dưới chân Ngài, nói lên sự ăn năn và biết ơn của chúng ta, bằng cách mỗi lần trải nghiệm “niềm vui vì được cứu độ.”[89]
7. LÒNG THƯƠNG XÓT ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI “BẤT HỢP LUẬT”
Đức Giêsu và người phụ nữ Samari
Một cuộc gặp gỡ ngoài khuôn khổ
Một ngày kia, khi từ Giêrusalem trở lại xứ Galilê, Đức Giêsu đi ngang qua xứ Samari. Chính trong miền này đã xẩy ra cuộc gặp gỡ người phụ nữ xứ Samari bên bờ giếng Sichem, được Gioan mô tả với rất nhiều chi tiết.[90] Các Tông đồ vào trong phố để tìm thức ăn. Còn Đức Giêsu đi đường mệt nhọc, một mình dừng chân bên bờ giếng Giacob, thì bỗng có một phụ nữ đến kín nước.
Một người đứng đắn không bao giờ nói chuyện với một phụ nữ không quen biết, giữa nơi công cộng, và lần này lại là một phụ nữ xứ Samari. Thế nên dễ hiểu là phụ nữ này ngạc nhiên khi Đức Giêsu xin chị cho uống nước. Nhưng tất cả những cuộc gặp gỡ của Ngài luôn mang tính chất là đến gần những người “mang bệnh dịch” về thể lý, luân lý, tinh thần. Như thể chưa đủ, người ta còn biết qua cuộc đàm thoại sau đó là người phụ nữ Samari đã sống trong tình trạng hôn nhân bất hợp pháp. Sau khi đã có năm đời chồng, lúc này chị đang sống với một người đàn ông mà không có cưới hỏi. Không cần biết xem có phải chị đã thay đổi năm đời chồng (điều rất dễ đối với một phụ nữ) hay chị đã bị năm người đàn ông lìa bỏ. Cũng không cần biết xem đó có phải là những người chồng thực sự, hay chỉ là những người chị đã sống trong tình trạng tư hôn. Tác giả Phúc Âm coi việc xác định rõ điều ấy là không quan trọng để hiểu sứ điệp, và chúng ta chỉ có nguồn thông tin này.
Tất cả các lý do hẳn là thích hợp để không nên gặp gỡ một phụ nữ như thế. Vậy mà ngược lại, Con Thiên Chúa đi bước trước đến với chị ta. Chính Ngài lên tiếng xin, làm người ăn xin, khiến cho người phụ nữ đàm đạo với Ngài. Ngài minh nhiên nói với chị về tình trạng hôn nhân bất hợp luật của chị, nhưng không bảo chị rời bỏ người đàn ông đang sống với chị, cũng không xin chị sống khiết tịnh với người đàn ông này. Chính với phụ nữ này mà Đức Giêsu lần đầu tiên mạc khải mình là Đấng Mêsia. Ngài tuyệt đối không đòi hỏi gì. Ngài nhìn chị và thấy chị vô cùng đáng yêu, vì chị được Cha Ngài vô cùng thương mến, mặc cho mọi tội lỗi và tình trạng của chị là ô uế theo luật. Điều đó là đủ cho Ngài. Chính tình yêu vô điều kiện này thúc đẩy Ngài mạc khải cho người phụ nữ này tất cả những gì trong toàn bộ Phúc Âm được coi là “bí mật về Đấng Thiên Sai” phải giữ kín vì sợ bị hiểu lầm. Không một ai được coi là không thể tha thứ trước mắt Ngài; tình yêu luôn tha thứ. Trong cùng một Phúc Âm Gioan vừa có câu chuyện về người phụ nữ xứ Samari lại vừa có câu chuyện về người phụ nữ ngoại tình, quả là điều có ý nghĩa.
Một cuộc khởi hành mới
Cách hành xử của Đức Giêsu với người phụ nữ xứ Samari về vấn đề những người ly dị tái hôn và, nói chung, về tất cả những ai được gọi là “bất hợp luật” (chúng tôi sử dụng thuật ngữ thông thường này, trong lúc chờ đợi tìm ra một thuật ngữ có tính tôn trọng con người hơn) có thể dạy chúng ta điều gì? Tôi đặc biệt nghĩ đến một điều: sự thay đổi là hiệu quả của cuộc gặp gỡ Đức Giêsu, chứ không phải là điều kiện hay lý do. Cuộc gặp gỡ Đức Giêsu đã tạo ra một cuộc khởi hành mới trong cuộc đời người phụ nữ xứ Samari. Chị sẽ được xét xử, không dựa trên những gì chị đã làm trước đó, những trên những gì chị sẽ làm sau đó, đó là lý do khiến truyền thống Kitô giáo luôn nhắc nhớ về chị với lòng trìu mến. Nhờ chị mà nhiều người xứ Samari sẽ nhận biết Đấng Mêsia; chị là người chị em “loan báo Phúc Âm” với Maria Mađalêna, người đầu tiên báo tin cho các Tồng đồ về sự Phục Sinh.
Ngày nay, trong trường hợp những tín hữu ly dị và tái hôn, cuộc gặp gỡ Đức Giêsu thực sự đã xẩy ra lúc chịu phép Rửa tội và như vậy, xét bề ngoài, họ giống với người phụ nữ Samari sau khi chị gặp Ngài. Nhưng vấn đề là ở chỗ đó. Phải chăng cuộc gặp gỡ này đã là một cuộc gặp gỡ trung thực và một cuộc gặp gỡ cá nhân? Phải chăng những con người này đã thật sự biết đến tình yêu của Đức Kitô? Chúng ta coi là những người Kitô hữu chỉ trên “danh nghĩa” những ai đã chịu phép rửa tội, nhưng đã không bao giờ trở thành những Kitô hữu “đích thực” do một quyết định cá nhân. Và rồi chúng ta xử sự (luật pháp xử sự) như thể đối với những Kitô hữu đích thực, được ban mọi phương tiện ân sủng để vượt qua những trở ngại bắt gặp trong hôn nhân.
Thế nhưng, cho dù có lúc những con người này đã là những Kitô hữu “đích thực”, nghĩa là những con người xác tín và thực hành đạo, có đúng là theo tinh thần Phúc Âm không, khi coi họ không thể có lòng thống hối thực sự theo praxis (cách thực hành) thịnh hành trong những thế kỷ đầu tiên, là cách thực hành cho phép họ lại được hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội? Điều Đức Giêsu làm với người phụ nữ Samari và điều Ngài đã làm với người phụ nữ tội lỗi ôm chân Ngài, như đã thấy trên đây, lại không ít ra tương đương với việc Ngài làm khi hiến thân trong Thánh Thể sao? Nếu Thánh Thể là “thân xác thật, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria”[91], thì trong hai trường hợp, tức là trong thực tế cũng như trong bí tích, cũng chỉ là cùng một Đức Giêsu duy nhất.
Chúng ta sẽ có thể sử dụng những câu chữ khoan dung và khích lệ nhất đối với những người ly dị và tái hôn muốn sống một đời sống Kitô giáo, chân lý vẫn sẽ không thay đổi. Lúc nào cũng vậy và trong mọi trường hợp không ban cho họ ơn xá giải bí tích và Thánh Thể, cho dù họ hối lỗi và quyết định theo một con đường tái nhập vào cộng đồng, có nghĩa là nói cho họ biết họ đang ở trong tình trạng tội trọng, tức là khách quan lìa xa Thiên Chúa, và chúng ta đều biết kết quả ra sao, nếu họ phải chết trong tình trạng này. Theo khuynh hướng hiện nay, việc đó, trong số những việc khác, hẳn sẽ đi tới chỗ không bao lâu nữa sẽ có một cộng đồng Kitô giáo gồm phần lớn hoặc gần như phần lớn những phần tử “chết”, chính vì Thánh Thể, như sách Giáo Lý nói, là “bí tích của những người sống”.
Thánh Phaolô công nhận người trở thành tín hữu có thể ly dị và tái hôn, nếu người phối ngẫu từ chối đi theo người đó trong quyết định này.[92] Người ta gọi đó là “đặc ân Phaolô” hay “đặc ân đức tin”, được Giáo luật cho thực hành.[93] Điều đó không được áp dụng, trong mọi khía cạnh pháp lý, cho những người được rửa tội ly dị, nhưng chắc chắn người ta thấy có một nét loại suy trong nhiều trường hợp (nếu không muốn nói là mọi trường gợp) được đưa ra. Theo Giáo luật cũ, chỉ thuần túy trở lại với Giáo Hội công giáo, ngay cả từ một hệ phái Kitô giáo khác, Tin Lành hay hệ phái Kitô giáo nào đó, cho phép ipso facto (đương nhiên) có quyền ly dị và tái hôn. Trong trường hợp có sự hoán cải chính thực và sâu xa hướng về Đức Kitô, khi người ta không thể sống sự hoán cải ấy với người chồng đầu tiên, người ta lại không thể làm như vậy sao?
“Mỗi người hãy tự xét mình”
Kể từ nay có một chuyện rất rõ: tình hình những người ly dị tái hôn trong Giáo Hội không thể được giải quyết chỉ bằng Luật pháp hay bằng Giáo luật. Những hoàn cảnh thuộc con người là quá nhiều và quá khác nhau, nên không thể đưa vào nề nếp bằng một quy định độc nhất. Nếu các bí tích là “vì con người” (thần học gọi là propter homines), luật cũng phải là “vì con người” chứ không chống lại con người. Minh triết cổ đại đã muốn diễn tả điều đó bằng thành ngữ: “summum ius, summa iniuria”, nghĩa là: luật đẩy tới chỗ cực đoan có thể trở thành ngược lại với nó, tức là không còn chính đáng.
Trong lãnh vực này, không thể tránh chuyện nại tới lương tâm con người. Giáo Hội của Công Đồng Vaticanô II đã thừa nhận rằng lương tâm là cấp xét xử cao nhất mà mọi cấp xét xử khác phải nhường bước, kể cả Huấn quyền, vì lương tâm cáo giác trách nhiệm trực tiếp và bất khả chuyển nhượng của mọi người trước Thiên Chúa.[94] Giáo Hội và Huấn quyền phải “đào tạo” lương tâm bằng cách công bố với lòng kính trọng nhưng rất rõ những đòi hỏi của Phúc Âm và của luật tự nhiên, nhưng không thể thay thế chúng.
Tồng đồ Phaolô đưa ra vài quy tắc và trình bầy những đòi hỏi để có thế tiến đến lãnh nhận Mình Máu Chúa, nhưng ngài kết luận như sau:
“Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình.”[95]
Phải cẩn thận giúp cho người muốn lãnh nhận Thánh Thể hiểu rõ điều đó. Nếu việc rước lễ biến thành án phạt trước mặt Thiên Chúa, thì chấp nhận cho rước lễ quả là điều vô ích.
Điều này có giá trị cho mọi người, chứ không chỉ cho những ai có vấn đề trong hôn nhân của họ. Một người có thể có “mọi giấy tờ” hợp lệ: hôn nhân trước bị hủy tiêu được xác nhận, hôn nhân mới trong Giáo Hội, và có thể tiếp tục đến với Thánh Thể để chịu án phạt cho mình. Vì người đó đã không bao giờ thật sự xét mình, và để cho Thiên Chúa cũng như lương tâm xét xử; đã không bao giờ lãnh phần trách nhiệm trong thất bại của hôn nhân trước, nhưng đã đổ lỗi cho người phối ngẫu, thậm chí dùng mọi phương thế để bôi nhọ người phối ngẫu trước mắt người khác; đã không bao giờ nghĩ đến nỗi đau khổ và thiệt hại gây ra cho con cái, làm cho chúng mất cha hoặc mất mẹ; đã không bao giờ nói điều Đavít đã nói sau khi cướp vợ một người lính của mình: “Lậy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà…Con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con dám làm điều dữ trước mắt Ngài.”[96]
Kiểu mẫu Phúc Âm
Gương Đức Kitô mà chúng ta đã minh họa trong mọi tình huống được trình bầy cho tới lúc này – Dakêu, người phụ nữ ngoại tình, Matthêu, người phụ nữ tội lỗi, người phụ nữ xứ Samari – cho chúng ta thấy đôi điều mà chúng ta không bao giờ được quên. Một sự thay đổi thật trong tâm hồn sẽ chỉ có thể xẩy ra nếu tiên vàn người đàn ông hay đàn bà này trước đó thấy mình được yêu vì chính mình, thấy mình quý giá trước mắt Thiên Chúa, là Đấng sẽ không bao giờ ngừng yêu thương mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đó là trách vụ đẹp đẽ nhất của Giáo Hội và là cách rao giảng tốt nhất về lòng thương xót. Để xác tín về điều đó, chỉ cần nhìn lại một lần nữa xem Đức Giêsu đã hành xử thế nào trong suốt cuộc đời Ngài. Có kiểu mẫu nào, Lề Luật nào có thể có uy tín hơn gương của Ngài.
Đức Giêsu đi gặp gỡ những tội nhân, những con người đang trong tình trạng sống trái với Lề Luật. Chúng ta thấy Ngài hành xử thế nào? Ngài có lấy đi những rào cản không thể vượt qua giữa Ngài và họ chăng? Có đặt ra cho họ những điều kiện mà Ngài biết rằng họ sẽ không thể giữ chăng? Có làm cho họ thất vọng vì sự khăng khăng của Ngài chăng? Không! Ngài xin họ cho uống nước, trao phó cho họ bí mật sâu xa nhất của Ngài, đồng bàn với họ. Chỉ sau đó Ngài mới đi đến chỗ cho họ biết những đòi hỏi của tình yêu.
Thế nên có thể mơ về một Giáo Hội lại mang tính Phúc Âm một cách minh nhiên hơn, một cách can đảm hơn, dưới bóng Đức Kitô, không ngại tỏ ra đồng hành với người nghèo khó và tội lỗi, không ngại vì không luôn luôn được hiểu. Hãy nghĩ cách riêng đến tất cả những người nam nữ bị tổn thương vì tình yêu bị tan vỡ, những người nam nữ tìm cách “làm lại cuộc đời”. Tất cả họ có lẽ cần cảm thấy Thiên Chúa gần gũi, được thuyết phục nơi thâm sâu của mình là không bao giờ được thất vọng, vì Cha trên trời không bao giờ thôi tin tưởng vào họ. Và nếu họ được bắt gặp trên đường Đức Giêsu đang đi qua, như Dakêu và người phụ nữ xứ Samari, thì chính Ngài sẽ được mời vào bàn ăn của họ!
Giảng trong một cuộc tĩnh tâm trước sự hiện diện của Đức Gioan Phaolô II, trong Năm Thánh 2000, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, người Việt Nam, chứng nhân anh hùng của đức tin, người đã sống mười ba năm trong lao tù […] mà phần lớn thời gian bị cô lập hoàn toàn, trong những điều kiện không tưởng tượng nổi, đã nói ra những lời có một ý nghĩa đặc biệt nếu được nghe lại trong Năm Thánh về lòng thương xót:
“Tôi mơ ước một Giáo Hội là một “Cửa Thánh” luôn rộng mở, ôm lấy từng người, đầy lòng trắc ẩn, hiểu biết những âu lo và đau khổ của nhân loại, bảo vệ, an ủi và hướng dẫn mọi người đến sự dịu hiền của Chúa Cha.”[97]
8. TIN VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Phêrô và Giuđa hai câu chuyện hầu như song song
Đức Giêsu nhìn ông
Điều đánh động nhất khi đọc bài Thương khó theo thánh Maccô, chính là tầm quan trọng được gán cho sự phản bội của Phêrô.[98] Trước hết nó được Đức Giêsu loan báo trước trong bữa cuối (“Thầy bảo thật anh, hôn nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần”), rồi được mô tả trong diễn tiến làm mất thể diện: “Tôi chẳng biết, tôi chẳng hiểu cô muốn nói gì. […] Tôi thề là không có biết người các ông nói đó.”
Việc nhấn mạnh này thật có ý nghĩa, vì Maccô ít nhiều cũng làm thư ký cho Phêrô và viết sách Phúc Âm bằng cách thu thập những kỷ niệm của Phêrô và những chi tiết phát xuất trực tiếp từ Phêrô. Vậy là chính Phêrô đã cho thấy câu chuyện về sự phản bội của mình. Ông đã làm một hình thức thú tội công khai. Trong niềm vui tìm lại được ơn tha thứ, tên tuổi và tiếng tăm của Phêrô với tư cách thủ lãnh các tông đồ không quan trọng đối với ông. Ông muốn rằng không một ai trong số những người vấp ngã sau này sẽ không mất hy vọng được tha thứ.
Chúng ta dừng lại một lát về những chi tiết của câu chuyện quá đau buồn cho Phêrô, nhưng cũng đáng là bài học cho chúng ta. Nó giúp ta hiểu (và gạt bỏ) động lực đưa Phêrô tới chỗ phản bội. Khi người nữ tỳ đến gần Phêrô, trong sân vị thượng tế, để quan sát ông dưới ánh lửa, ông bắt đầu sợ. Ông chưa kịp hoàn hồn khi Đức Giêsu bị bắt, sau cú rút gươm thất bại. Ông đã theo Ngài từ xa và vào trong sân vị thượng tế với một chút e ngại. Một lời của Gioan nói với cô nữ tỳ cho phép ông đi vào trong dinh, và đến gần chỗ có lửa trong sân để sưởi.
Cô nữ tỳ để ý nhìn người lạ mặt này đi vào, và trước dáng điệu sợ sệt của ông, cô càng thêm nghi ngờ. Chúng ta biết câu hỏi của cô và câu trả lời của Phêrô. Lúc ấy ông nghĩ tốt hơn là đi ra xa về phía cổng, nhưng cô nữ tỳ lại gặp ông và rồi cùng một câu hỏi và một câu trả lời còn khiếp sợ hơn: “Tôi không biết người này”. Lúc ấy gà gáy, nhưng Phêrô đã không để ý, vì đang lo cho sự an ninh của mình. Để tránh bị nghi ngờ, ông đến chỗ đám đông người nói chuyện. Chính ở đây mà ông bị nhận diện là người đã rút gươm. Phêrô không có lời đáp nào hơn là hết sức chối!
Trong những lời chối liên tiếp này, lần sau mạnh hơn lần trước, chúng ta thấy lộ ra sự khúc mắc dẫn đến tội lỗi. Phêrô đã để mình bị lôi kéo vào một sự bất trung luôn rõ ràng hơn, tới chỗ phản bội, điều mà hẳn ông không bao giờ nghĩ mình có thể làm, khi bắt đầu theo Thầy. Và ông hy vọng có thể tránh được nguy hiểm khi chỉ tuyên bố là mình không biết gì; nhưng cách hành xử của ông chỉ khiến ông bị tố giác thêm. Vì vậy, sau khi chối Thầy lần thứ nhất, ông bị thúc đẩy chối lần thứ hai với lời lẽ mạnh hơn, rồi lần thứ ba nữa. Lần dối trá và bất trung đầu tiên đã không giúp ông gỡ xong việc khó, lại còn đặt ông vào trong một tình huống càng rối rắm hơn. Ở đây chúng ta thấy mẫu gương ấn tượng của khuynh hướng tội lỗi gia tăng và nặng nề thêm, ngay cả trong trường hợp thuần túy yếu đuối, khi dựa trên sự dối trá.
Tiếng gà gáy lần thứ hai xẩy ra kịp thời để ngăn cản Phêrô không trở nên tồi tệ hơn trong những lời phản đối giả tạo của mình. Lúc ấy ông nhớ lại lời Thầy đã báo trước. Bối rối vì lời này, ông rời xa đám người tụ tập. Chính vào lúc đó, Đức Giêsu ra khỏi pháp đình nơi Ngài bị Caipha thẩm vấn. Ngài đi theo đám vệ binh đã xiềng trói Ngài, nhưng quay mặt về phía người môn đệ.
Chúng ta thấy Đức Giêsu vô cùng thương xót người môn đệ này. Ngài không chỉ nói trước cho ông một dấu hiệu ngăn ông khỏi sa ngã, tức tiếng gà gáy lần thứ hai, mà còn đích thân can thiệp bằng một cái nhìn yêu mến, để tái chinh phục con tim của người đã chối Ngài. Cái nhìn của Ngài giúp cho Phêrô hiểu tội lỗi của mình. Cho tới lúc đó, ông đã để cho sự sợ hãi đưa đẩy, muốn chạy trốn những nghi ngờ đè nặng trên ông. Khi chối Thầy, ông chỉ nghĩ tới mình, chỉ quan tâm cứu tính mệnh của mình. Ông không thấy rõ sự bất trung của mình, chỉ là vì không muốn nghĩ tới nó, không muốn hoàn toàn ý thức về cách hành xử của mình. Nhưng Đức Giêsu bất ngờ xuất hiện trước mắt ông, đưa ông đối diện lại với thực tế.
Tác giả Luca sẽ nhấn mạnh cái nhìn này của Đức Giêsu, cái nhìn khiến cho Phêrô phải khóc:
“Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: ‘Hôm nay gà chưa kip gáy, thì anh đã chối Thấy ba lần’. Và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.”[99]
Cái nhìn này giúp ông hiểu tội lỗi của mình, cảnh ngộ vô ý thức của mình, hơn là tiếng gà gáy. Cái nhìn của Đức Giêsu là một cái nhìn nhân từ ban ơn tha thứ. Không một chút tức giận, không một chút nổi xung, chỉ một chút trách móc, là trách móc – dịu dàng và thinh lặng – của một tấm lòng trìu mến bị tổn thương. Một cái nhìn thương xót có được một kết quả mà cái nhìn trách móc hẳn sẽ không có được.
Không tội lỗi nào lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa
Để hiểu rõ hơn câu chuyện Phêrô chối Thầy, phải đọc song song với câu chuyện phản bội của Giuđa. Chuyện phản bội này cũng đã được Đức Kitô báo trước ở nhà Tiệc ly, được hoàn tất nơi Vườn Cây Dầu. Về Phêrô, người ta biết lúc đi ngang qua, Đức Giêsu “chăm chú nhìn ông”[100]; Ngài còn làm hơn đối với Giuđa là ôm lấy anh ta. Nhưng phần tiếp theo hoàn toàn khác. Phêrô “ra ngoài khóc lóc thảm thiết”, còn Giuđa thì đi thắt cổ.
Chúng ta cần hiểu rõ nét khác nhau giữa hai sự kiện, tức là lý do vì sao hai câu chuyện, câu chuyện của Phêrô và câu chuyện của Giuđa, lại kết thúc khác nhau đến vậy. Phêrô hối hận về việc mình đã làm, còn Giuđa, cũng biết nói: “Tôi đã phạm tội nộp ngươi vô tội”[101] và trả lại ba mươi đồng bạc. Vậy khác nhau ở chỗ nào? Ở một việc thôi: Phêrô tin tưởng vào lòng thương xót của Đức Kitô, Giuđa thì không!
Kinh Thánh giới thiệu cho chúng ta tất cả một bộ sưu tập những trình thuật song song này về tội, những trình thuật kết thúc theo cách hoàn toàn đối ngược nhau. Kinh Thánh làm điều này với mục đích rõ ràng, là thúc đẩy chúng ta lựa chọn cho đúng. Cain đã giết Abel; nhưng Davít cũng đã giết Uria, chồng của người phụ nữ mà ông muốn lấy. Tuy nhiên, Cain bị khinh ghét, còn Đavít được tôn trọng. Lý do bao giờ cũng vẫn thế. Cain thất vọng khi nghĩ tội của mình quá lớn không thể tha thứ được,[102] còn Đavít tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa khi ông kêu lên: “Lậy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm.”[103]
Trên đồi Canvê, lại cũng cùng một tình huống. Ở đó có hai tên cướp, cả hai đều phạm tội, ghi dấu máu nạn nhân của mình. Tuy vậy một trong hai nguyền rủa, lăng nhục và chết trong tuyệt vọng, trong khi tên còn lại thưa với Đức Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và anh được Ngài trả lời ngay: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng.”[104]
Giáo huấn rút ra từ hai câu chuyện song song và đối lập nhau về Phêrô và Giuđa là đừng bao giờ thất vọng về sự thương xót. Trong trường hợp ngược lại thì điều đó có nghĩa là chúng ta coi tội lỗi của chúng ta lớn hơn lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta giới hạn quyền năng của Thiên Chúa. Ngay từ thời Cựu Ước Thiên Chúa đã nói:
“Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận. Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông.”[105]
Vậy giờ đây điều gì xẩy ra, vì lẽ giữa tội lỗi của con người và sự tha thứ của Thiên Chúa có máu của Con Ngài ở giữa, máu đó “kêu thấu trời còn mạnh mẽ hơn cả máu Abel”[106]? Mọi hoài nghi và cám dỗ thất vọng hẳn phải biến mất trước một lời như lời của Gioan:
“Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự.”[107]
Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến còn kêu lên: “Chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta”[108]! Và chúng ta chắc có thể kêu lên cũng mạnh mẽ như vậy: “Tôi đã biết lòng thương xót của Thiên Chúa, chính vì thế tôi tin vào lòng thương xót ấy!”
Những tội phạm đến Chúa Thánh Thần
Theo sách Giáo Lý cũ, duy nhất có hai tội làm cho lòng thương xót của Thiên Chúa không thực hiện được. Người ta gọi chúng là những tội phạm đến Chúa Thánh Thần. Trước hết là tội “quá tin vào sự cứu độ mà không cần công trạng” (sách Giáo Lý mới[109] hẳn nói đúng hơn: “quá tin vào sức riêng, hơn là vào ân sủng và đức tin”); tiếp đến là “thất vọng về ơn cứu độ riêng của mình”. Tự phụ và thất vọng. Ở đây chúng ta đụng chạm tới thứ tội nổi tiếng, tức tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà Đức Giêsu nói rằng không thể tha, và là tội khiến nhiều linh hồn phải lo lắng. Mạch văn xác định rõ đây là loại tội gì:
“Tôi bảo thật anh em, mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng con được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì chẳng đời nào được tha, mà con mắc tội muôn đời. Đó là vì họ đã nói: ‘Ông ấy bị thần ô uế ám.”[110]
Trước hết rõ ràng đây không phải là một quả quyết phổ quát, nhưng riêng biệt, giới hạn vào tình hình chung quanh Đức Giêsu trong cuộc đời trần gian của Ngài. Đó là tội của những người trao đổi Đấng đã đến để giải thoát chúng ta khỏi Satan bằng chính Satan, và do đó tự khai trừ khỏi ơn cứu độ. Nói rộng ra, đó cũng là tội của người nào ngày hôm nay từ chối có ý thức Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, như vậy nghĩ rằng không có ơn cứu độ nào, cũng chẳng có sự sống vĩnh cửu nào cho con người. Bao lâu còn khăng khăng trong xác tín này, thì hiển nhiên người đó không thể được ơn tha tội, chỉ vì không cầu xin cũng chẳng ước ao được tha thứ. Nói khác đi, đây không phải là một tội mà Thiên Chúa không thể tha hay không muốn tha, nhưng là tội của người không tìm cũng không muốn sự tha thứ.
Chúng ta kết thúc bằng một câu chuyện, câu chuyện này, nếu không xác thực, dầu sao cũng giáo huấn chúng ta. Ngày nọ có một đứa trẻ, được nghe người ta kể chuyện Giuđa, nói một cách ngây thơ nhưng cũng có nét khôn ngoan phù hợp với lứa tuổi của em: “Giuđa đã lầm cây để treo cổ, anh ta đã chọn cây vả.” Giáo lý viên ngạc nhiên hỏi em: “Lẽ ra anh ta phải chọn gì?” Em trả lời: “Lẽ ra anh ta đã phải treo mình vào cổ Đức Giêsu chứ!” Em nói đúng, vì nếu anh treo mình vào cổ Đức Giêsu để xin Ngài tha thứ, thì ngày nay anh đã được tôn kính, giống như Phêrô vậy.
9. “TRÊN TRỜI AI NẤY SẼ VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI TỘI LỖI ĂN NĂN SÁM HỐI”
Những dụ ngôn về lòng thương xót
Đó là cách Thiên Chúa hành động
Nếu Phúc Âm có nghĩa là “tin mừng”, nói rõ hơn là tin mừng cho người nghèo và tội nhân, thì chương 15 của Phúc Âm Luca, với ba dụ ngôn con chiên lạc, đồng bạc đánh rơi và người con hoang đàng, dẫn chúng ta vào trọng tâm của Phúc Âm. Điều bảo đảm cho sự duy nhất của ba dụ ngôn này, chính là mục đích chung mà cả ba phục vụ: bị kẻ thù tố cáo, Đức Giêsu phải bảo vệ hành động của mình đối với những tội nhân. Những dụ ngôn nhằm nói với những người Biệt Phái và luật sĩ đang xầm xì chống lại “người đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng!”[111]
Nhằm đạt được mục đích, Đức Giêsu sử dụng một phương pháp lạ lẫm: Ngài bịa ra những tình huống của con người, những dụ ngôn có vẻ thật, rút ra từ thực tế hàng ngày, nhưng thực ra lại không thật và trái với kinh nghiệm. Người chăn chiên đích thật không khi nào bỏ chín mươi chín con chiên trong hoang địa, vì khi trở lại, có lẽ anh sẽ tìm thấy con chiên đi lạc, nhưng chín mươi chín con chiên kia lại bị mất… Người phụ nữ nghèo (chị thực sự nghèo nếu gia tài chỉ có mười đồng quan) không thể cho phép mình mời bạn bè đến chung vui, vì chỉ ăn nhẹ mà thôi cũng tốn phí của chị không phải một đồng nhưng là cả mười đồng…Người cha ở đất Palestin không cho người con út, dưới mười tám tuổi (quả thực anh còn chưa có vợ), phần gia tài thuộc về anh và phần cho thêm, dưới hình thức một hoa lợi tức thời, một thanh toán. Cách thực hành đương thời quy định rằng người cha còn sống nhường cho con những của cải thuộc về chúng, nhưng không bao giờ nhường hoa lợi tức thời.
Chính qua những tình huống cụ thể này mà Đức Giêsu minh giải cho hành động của Thiên Chúa. Chính từ đó mà có ấn tượng sau đây về sự thật, về những sự việc đã thấy và nghe hằng ngày, phát xuất từ ba dụ ngôn. Chuyện tự nhiên, đúng không? Đức Giêsu dường như nói vậy. Các người chăn chiên và các người cha ở trần gian lại không làm như thế sao? Và chúng ta, những con người ngây thơ, chúng ta hăng hái dấn mình vào đó, mà không nhận ra rằng điều này không đúng trong thực tế, và không ai trong chúng ta sẽ hành động như thế. Ở đây, Đức Giêsu cho thấy mình là một thi sĩ lớn; và cũng giống như các thi sĩ, Ngài có thể làm cho chúng ta tin rằng tất cả những điều đó là thật và đã xẩy ra, trong khi chúng chỉ là tưởng tượng. Chúng ta cũng nghĩ tới các tác giả lớn viết thơ ngụ ngôn, biết cho những con vật nói chuyện khiến chúng ta lầm với con người. Vậy những tình huống Đức Giêsu tạo ra trong các dụ ngôn là thật, nhưng bằng một sự thật cao hơn, tức là không thuộc con người nhưng thuộc Thiên Chúa. Và chúng ta để mình bị bắt chộp, lấy làm phấn khởi về cái bẫy này, vì nó làm cho chúng ta hài lòng hơn là thực tế, nó làm cho chúng ta cảm thấy khá hơn. Quả là đẹp nếu sự việc thật sự là như thế.
Vậy tôi cho rằng Đức Giêsu sử dụng ba tình huống cụ thể để minh giải cách Thiên Chúa hành động trước con người. Ngài lấy khăn của con người mà che phủ hình ảnh của Thiên Chúa. Ngài nói: hãy coi Thiên Chúa hành động như thế nào! Phản ứng của Người là như thế, khía cạnh yếu của Người là như thế. Người có thế nào, chúng ta phải đón nhận Người như vậy; phải tha thứ cho Thiên Chúa sự yếu đuối này; Người tìm thấy ở đó niềm vui của mình và sẽ không đủ để hỏi Người tại sao, vì Người sẽ làm như mọi người khác và trả lời: Tôi làm như thế đó! Đó là câu trả lời của Thiên Chúa.
Đến lúc này, Đức Giêsu để cho các thính giả tự rút ra câu kết luận quan trọng nhất và gây bối rối nhất. Nếu Ngài xử sự như thế với các người tội lỗi và những kẻ lạc đường, và nếu người ta thấy tất cả những điều này là cách Thiên Chúa hành động, khi đó Đức Giêsu như là Thiên Chúa, khi đó Đức Giêsu là Thiên Chúa! Đúng vậy, chính là điều Đức Giêsu muốn nói. Bối cảnh những dụ ngôn về lòng thương xót có tính chất Kitô học, nói về Đức Kitô, về con người của Ngài và về sứ mệnh siêu việt của Ngài. Những dụ ngôn là một cách loan báo, một cách tự mạc khải, càng hữu hiệu vì gián tiếp và chỉ được gửi tới tâm trí người nào lắng nghe (những kết luận tốt nhất luôn là những kết luận chúng ta tự phải rút ra). Giống như lần Ngài chữa cho một người bại liệt khi nói với anh ta: “Này anh, anh đã được tha tội rồi.”[112] Ngay lập tức, mọi người bắt đầu nói: chỉ mình Thiên Chúa có thể hành động như thế! Và Đức Giêsu bình tĩnh trả lời, trong khi chữa lành người bại liệt và buộc chính họ rút ra câu kết luận hợp lý của tất cả câu chuyện.
Niềm vui và hy vọng trong trái tim Thiên Chúa
Chúng ta không thể cắt nghĩa từng dụ ngôn trong ba, cho dù rõ ràng không thể tách rời chúng, cũng không thể nghiên cứu về dụ ngôn này mà không nói đến dụ ngôn kia. Chúng là ba dụ ngôn nhưng liên kết mật thiết với nhau, và được tường thuật như bằng một nét duy nhất: một người chăn chiên có một trăm con chiên… một phụ nữ có mười đồng quan… một người cha có hai con trai…
Chỉ còn việc là nhìn ba dụ ngôn khi chúng diễu hành trước mắt chúng ta như trong một cuộc rước, để hiểu nốt nổi bật nhất trong dạo khúc của chúng. Nốt nổi nhất (diễn viên chính của dụ ngôn) không phải là con chiên đi lạc, không phải đồng bạc bị mất, cũng không phải người con hoang đàng. Đó quả là những tựa đề được truyền thống gán cho ba dụ ngôn, nhưng là những tựa đề sai, được đặt như thế cho tiện. Thật ra, những dụ ngôn về lòng thương xót này không chủ yếu bàn về con người, nhưng về Thiên Chúa. Chính xác hơn, về niềm vui của Thiên Chúa.
Nếu bối cảnh của các dụ ngôn có tính chất Kitô học, thì chính bản văn lại có tính chất thần học. Nói cách khác, các dụ ngôn chứa đựng một mạc khải về Thiên Chúa, một mạc khải sáng ngời. Nếu lòng thương xót và tình yêu (hesed) là đặc điểm của Thiên Chúa trong tất cả Cựu Ước, thì phải nói rằng những dụ ngôn này tạo thành tâm điểm của mạc khải Kinh Thánh về Thiên Chúa, hơn nữa chúng còn cho biết thêm một điều không được biết đến trước đây, ít ra một cách rõ ràng, là Thiên Chúa vui mừng khi tỏ lòng thương xót. Tiên tri Mikha đã nói Thiên Chúa “không giữ mãi cơn giận nhưng vui mừng ban ơn.”[113] Điều cho tới lúc đó đã được nói âm thầm, nay được công bố trên mái nhà.
Thế nên chúng ta hãy trở lại với trọng tâm của các dụ ngôn này, tức niềm vui của Thiên Chúa. Niềm vui ấy ít nhất được nói đến ba lần trong những lời vắn tắt của người chăn chiên: Tìm thấy rồi, anh mừng rỡ, trở về nhà…nói với các bạn: “Xin chung vui với tôi…” “Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng”. Trong dụ ngôn người cha nhân hậu, niềm vui tràn trề biến thành lễ lạc; người cha không còn giữ đúng địa vị của mình nữa, không biết phải phát minh ra cái gì; ông sai lấy bộ lễ phục, lấy chiếc nhẫn được đánh dấu bằng con dấu gia đình (đồ vật được bảo vệ kỹ và là dấu trọng vọng thời xưa), bắt con bê béo; ông quên đi tuổi tác, phẩm giá của mình và bắt đầu chạy như một đứa trẻ (“ông chạy đến ôm cổ con mình”) truyền lệnh cho mọi người: Mở tiệc đi nào! Chúng ta phải ăn mừng!
Những dụ ngôn này có vẻ làm yên lòng nhất, tuy vậy, khi chúng ta nghĩ lại, chúng làm dấy lên trong ta trước hết một câu hỏi đáng ngại, sau đó một thử thách thật sự. Đồng ý với niềm vui của người chăn chiên, nhưng tại sao anh ta lại tỏ ra “vui hơn” vì tìm thấy chiên lạc hơn là vì chín mươi chín con chiên không làm cho anh ta phải lo lắng. Chúng ta không là con cái của Thiên Chúa theo cách đó sao? Thế tại sao một con chiên lại có giá trị bằng chín mươi chín con khác, nhất là tại sao chính con thoát khỏi đàn và kém giá trị lại được ưu đãi? Tất cả những cái đó không phải là hơi quá đáng hay sao?
Câu trả lời đúng nhất cho vấn nạn này và thuyết phục nhất, theo tôi, không phải do những bài chú giải Phúc Âm, nhưng là do nhà thi sĩ thần học Charles Péguy. Ông nói rằng khi đi lạc, con chiên cũng như đứa con út, làm cho chính trái tim của Thiên Chúa run sợ. Thiên Chúa sợ mất nó vĩnh viễn, sợ buộc phải phạt nó, sợ mất nó muôn đời. Tất cả những điều đó đã làm Ngài run sợ. Nỗi sợ hãi đó đã làm trào lên niềm hy vọng trong tâm hồn Ngài, và niềm hy vọng, một khi được xác nhận, làm phát sinh niềm vui và lễ lạc.[114]
Khi yêu thương ta, Thiên Chúa tự đặt minh trong điều kiện phải hy vọng một điều gì đó từ chúng ta, ngay cả từ một kẻ phạm tội nặng nhất. Chính đó là một sự mới mẻ khiến chúng ta ngã ngửa, một sự đảo lộn mọi sự. Ai có thể hình dung như thế? Dĩ nhiên chúng ta không biết điều gì tạo ra niềm hy vọng nơi Thiên Chúa. Ngay cả nơi con người, tình cảm này cũng tế nhị, mầu nhiệm và không hiểu nổi. Chúng ta có thể nói là nơi Thiên Chúa, niềm hy vọng không tùy thuộc vào chỗ Ngài không biết kết quả sự chờ đợi của Ngài, nhưng vào chỗ Ngài không muốn nó nếu nó không đến từ sự tự do của con người. Đối với chúng ta, điều kiện cho phép hy vọng chính là không biết tương lai; còn đối với Thiên Chúa, chính là sự tự do của con người.
Trước đây nhiều năm đã xẩy ra một vụ việc khiến cho cả nước Ý phải xúc động. Một đứa bé hai tuổi mất tích và người ta không nghe tin gì về nó trong hai ngày. Những giả thuyết đáng sợ nhất được đưa ra. Cha mẹ nó tuyệt vọng. Ngày thứ ba, nó bất ngờ xuất hiện trở lại. Đài truyền hình từng theo dõi biến cố, đã quay phim cảnh mẹ nó, khi nhìn thấy, đã chạy về phía nó, như là bắt cóc nó, ôm nó vào lòng, hôn lấy hôn để. Đó chính là hình ảnh của hạnh phúc. Nhìn cảnh tượng này, tôi tự nhủ: chính xác đó là điều Đức Giêsu muốn dạy chúng ta khi Ngài nói về niềm vui của Thiên Chúa dành cho một trong những con cái lại tìm thấy. Tôi tin chắc là cha mẹ đứa bé hẳn là muốn cho con của họ không bao giờ lạc mất nữa (đối với Thiên Chúa cũng vậy). Một khi chuyện mất tích xẩy ra, thì chuyện tìm lại được mang đến cho họ một niềm vui mà họ sẽ không bao giờ biết đến nếu đã không có gì xẩy ra. Cũng nơi họ, nỗi lo lắng đã làm phát sinh niềm hy vọng, và niềm hy vọng, một khi hoàn thành, đã vỡ òa thành niềm vui.
Chuyện giống như vậy xẩy ra với sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu (người cha trong dụ ngôn nói rõ là con ông “đã chết mà nay sống lại”). Ngay cả trong số những người trì độn nhất, ai có thể tưởng tượng là Chúa Cha vẫn trơ trơ, không mong đợi gì, trong khoảng thời gian giữa lúc Đức Giêsu chết và sống lại? Khi sự sống lại của Đức Giêsu xẩy ra, nó đã làm phát sinh nơi Chúa Cha một niềm vui vô hạn, còn lớn hơn là nếu Đức Giêsu đã không bao giờ chết và sống lại. Cũng xẩy ta như vậy đối với con chiên lạc và với người con hoang đàng.
Như tôi đã nói trên đây, chúng ta không biết niềm hy vọng của Thiên Chúa là do điều gì; nhưng chỉ cần chúng ta biết rằng Thiên Chúa chờ đợi nơi ta điều gì đó, để không để chúng ta yên, để chắp cánh cho tâm hồn chúng ta. Chúng ta có thể làm cho thỏa mãn (hoặc không đáp ứng) sự chờ mong của Thiên Chúa. Trong một tác phẩm tiểu thuyết của mình, Dostoievski đã kể lại một câu chuyện nhỏ có vẻ như một cảnh tượng mà chính mắt ông đã chứng kiến. Một phụ nữ nhà quê ẵm trong cánh tay con nhỏ vài tuần tuổi, khi lần đầu tiên nó mỉm cười với bà. Quá cảm động, bà làm dấu thánh giá. Có người hỏi tại sao bà làm thế thì bà trả lời:
“Cũng như một người mẹ vui mừng thế nào khi thấy nụ cười đầu tiên của con mình, Thiên Chúa cũng vui mừng thế ấy mỗi khi từ trên trời Ngài thấy một tội nhân cầu xin với Ngài tận đáy lòng.”[115]
Người có tội đọc ba dụ ngôn của Đức Giêsu có thể xúc động và quyết tâm hoán cải vì những lý do khác nhau; những lời này đánh lừa, chúng len lỏi mọi chỗ như nước; chúng tác động trên tâm trí, trái tim, óc tưởng tượng, ký ức; chúng biết chạm vào những chỗ yếu khác nhau: hối tiếc, xấu hổ (đậu muồng dành cho heo), nhớ nhà (biết bao người làm công ở nhà cha tôi…); chỉ mình Thiên Chúa biết có bao nhiêu người xúc động vì những dụ ngôn này; linh mục chúng ta biết nhiều trường hợp những người như vậy. Hiếm khi những dụ ngôn này được công bố cho những người tham dự một cuộc tĩnh tâm, một sứ vụ, mà không có điều gì xẩy ra nơi một ai đó, một sự phá băng xác thực: hiệu lực của chúng luôn còn nguyên và tươi mới là ở đó. Tôi đã nói là độc giả có thể xúc động và quyết tâm hoán cải vì những lý do khác nhau; nhưng lý do đẹp đẽ nhất do chính Đức Giêsu gợi ra thì như sau: Tôi muốn làm cho Thiên Chúa được hạnh phúc, Ngài chờ đợi tôi!
Đức Giêsu quả quyết, và thánh Phaolô thuật lại cho chúng ta lời Ngài dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận.”[116] Chúng ta biết điều đó đúng với Thiên Chúa, và thực sự nhất là đối với Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa có đặc điểm là tuyệt đối cho không, vì vậy trên trời “vui mừng hơn” khi có một tội nhân hoán cải, vì cho phép Thiên Chúa tha thứ, và tha là cho hai lần; điều đó cũng cho phép Thiên Chúa yêu thương theo cách của Ngài, là yêu “trước”[117], lần nào cũng trước, không một ai thế chỗ được.
Còn người con cả thì sao?
Từ đây chúng ta có thể đương đầu với vấn đề gai góc nhất của các dụ ngôn này. Tôi đã nói là xét bên ngoài, chúng không đặt ra vấn đề nào cả. Thật ra, cũng như mọi lời khác của Thiên Chúa, chúng đầy những hốc ngoằn ngoèo bí nhiệm và những vực sâu thăm thẳm. Vấn đề là thế này: Còn chín mươi chín con chiên kia thì sao? Và người con cả trong dụ ngôn? Chúng không thể làm cho Thiên Chúa hạnh phúc sao? Chúng có bị phân biệt đối xử và bị lên án như một loại nhân công trước mặt Thiên Chúa và trong đời sống thiêng liêng chăng?
Đây không phải là một vấn nạn thuộc tu từ học. Nhiều năm trước, khi tôi cắt nghĩa Phúc Âm buổi chiều thứ bẩy trong chương trình “Theo gương Người” của kênh truyền hình Rai Uno, thì một ngày kia tôi đã phải chú giải dụ ngôn được người ta gọi là “đứa con hoang đàng”. Một thính giả đã viết cho tôi như sau:
“Trái với cách giải thích truyền thống, tôi cho rằng đứa con hoang đàng đặc biệt là một tên cướp và giả hình. Chả ra gì, nó đã phung phí trong những cuộc ăn chơi trác táng tiền bạc nó đòi cha chia phần. Một hôm, lúc túng đói, nó tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa. Tôi muốn trở về cùng cha và thưa với người là tôi đã đắc tội với Trời và với cha…” Vậy lý do của nó không phải là ăn năn, nhưng là vì đói. Nó trở về không phải do tình yêu, nhưng do nhu cầu. Còn người con kia tuy không dễ thương, nhưng ít ra đó không phải là một người giả hình. Anh ta không xử sự cách ngạo nghễ và điên rồ như đứa con thứ. Hơn nữa anh ta đã làm việc trong nhiều năm và không bao giờ có can đảm xin nghỉ làm một buổi. Thái độ càm ràm của anh có lẽ gây khó chịu, nhưng trong hai anh em, thú thực, con thích sự trung thực, có lẽ còn hạn chế, của người con ở lại nhà, hơn là sự kiêu căng ngốc nghếch và nước đôi của đứa bỏ nhà đi xa.”
Phản ứng này đủ để giúp cho chúng ta hiểu rằng dụ ngôn không đi theo lôgíc của con người, và chúng ta không thể hiểu nó nếu không đi vào trong tư tưởng của Thiên Chúa, là tư tưởng rất khác với tư tưởng của chúng ta.
Trước hết chúng ta lẫn lộn ở ngoại biên. Việc trên trời “vui mừng hơn” đối với một tội nhân hối cải không có nghĩa là công nhận tội nhân thánh thiện hơn, có công trạng hơn, nhiều vinh quang hơn so với những người công chính; tất cả những cái đó chẳng là gì cả, đúng hơn, đây là một vấn đề liên hệ tới Thiên Chúa, chứ không liên hệ tới tội nhân.
Thế nhưng chính câu trả lời mới đáng nói hơn hết. Đối vời những người công chính (hiểu là công chính thực), có điều gì đó còn hơn: dự phần vào niềm vui của Thiên Chúa! Người chăn chiên và người phụ nữ nói với bạn bè thế nào? “Xin chung vui với tôi!” Người cha nói với con cả thế nào? “Chúng ta phải ăn mừng” (tức là cả con và cha), vì em con đã trở về. “Tất cả những gì của cha đều là của con”: vậy nỗi lo lắng và niềm hy vọng của cha cũng phải là của con, cũng như niềm vui của cha ngày hôm nay! Vấn đề ở đây là em của con!
Đó cũng là đỉnh cao thứ hai của ba dụ ngôn Đức Giêsu đã chờ đợi, nghĩa là có thể cho những người Biệt Phái và luật sĩ hiểu rằng thái độ của họ đối với tội nhân không chỉ là một lời chỉ trích dành cho Thiên Chúa (Thiên Chúa không vui thích vì kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó mà được sống)[118], mà còn là một điều xúc phạm đến người thân cận của mình, chống lại một trật cả điều răn thứ nhất lẫn điều răn thứ hai. Một người anh không thể dửng dưng trước việc người em bỏ đi xa; anh ta phải cùng đau khổ với cha, và nếu nó trở về, cũng phải vui mừng với cha.
Cả ba dụ ngôn, lúc đầu, chỉ muốn nói cho chúng ta về Thiên Chúa, thì theo cách này, lại kết thúc bằng cách nói về mọi người và cho mọi người, không phân biệt: cho tội nhân cũng như cho người công chính, cho người ở xa cũng như cho người ở gần. Nhưng tôi muốn cảnh giác người nghe những dụ ngôn trên đây đừng nghĩ ngay là mình đang ở trong chuồng chiên, đang thuộc số những người “không cần ăn năn sám hối”. Tôi đột nhiên ngờ là lời này của Đức Giêsu không có một nghĩa khách quan (những người “không cần” sám hối, những người công chính, chỉ có vậy) nhưng có một nghĩa chủ quan và nhu thế là trớ trêu (người “không cảm thấy” nhu cầu phải sám hối).
Quả thực ai có thể tưởng tượng mình không cần phải hoán cải và trở về? Những người luật sĩ và Biệt Phái nghĩ mình là như thế, nhưng chúng ta biết thực tế ra sao. Thực ra, con chiên đi lạc nhất, người con đi xa nhất, cần trở lại nhà nhất, chính là người lạc đướng trong sự kiêu căng của mình, núp sau bình phong sự công chính và giữ Lề Luật của mình, như người Biệt Phái cầu nguyện trong Đền Thờ. Để “trẩy đi phương xa” như người con thứ, không cần phải phạm những tội tầy đình, không cần phải ồn ào cắt đứt với đức tin và với Giáo Hội; người ta có thể đi xa bằng một cú nhảy, nhưng cũng bằng những bước nhỏ, mỗi lần một chút, một sự thỏa hiệp hôm nay, một sự thỏa hiệp ngày mai, một sự thiếu sót hôm nay, một sự thiếu sót ngày mai.
Thế nên những dụ ngôn về lòng thương xót là dành cho mọi người: không ai được miễn nhu cầu hoán cải, do đó, nhu cầu có thể làm thỏa mãn niềm hy vọng của Thiên Chúa. Làm cho Thiên Chúa được hạnh phúc và dự phần vào hạnh phúc của Ngài: cho tới khi chúng ta đạt tới mức đó, hai vai trò – vai trò của người con thứ và vai trò của người con cả – luôn nối tiếp nhau nơi ta.
Chúng ta có thể suy ra điều gì cho đời sống chúng ta từ việc đọc cùng một lúc ba dụ ngôn? Trước hết là điều này: Thiên Chúa thật sự yêu chúng ta, những gì liên hệ đến chúng ta và xẩy ra cho chúng ta không bao giờ làm Ngài dửng dưng, nhưng luôn có tiếng vang trong tâm hồn Ngài, đến độ làm cho Ngài phải lo lắng, hy vọng, đau khổ và vui mừng. Chúng ta phải thật sự thân ái với Ngài.
Tiếp đến, chúng ta thân ái với Ngài với tư cách là những con người, chứ không với tư cách đám đông hay những con số. Sự kiện chỉ có một con chiên đi lạc, trước đàn chiên còn lại, giúp khắc sâu trong trí não chúng ta là Thiên Chúa biết chúng ta từng người một, mỗi người chúng ta là người con độc nhất của Ngài. Thiên Chúa chỉ biết tính đến từng người một, và con số “một” này chính là mỗi người chúng ta. Tự nền tảng, đó không phải là những gì mà mọi người cha cũng như người mẹ ở trần gian vẫn làm hay sao? Nếu một người mẹ có năm đứa con, bà không chia tình yêu của bà thành năm phần, ban cho mỗi đứa một phần. Bà yêu từng đứa con bằng tất cả tình yêu bà có thể có.
Ba dụ ngôn về lòng thương xót chứa đựng một sứ điệp cho tất cả chúng ta. Đối với linh mục chúng ta, chúng nhắc cho chúng ta nhớ bổn phận đi tìm những con chiên lạc, lấy lòng thương xót mà đón nhận khi chúng trở về; đối với rất nhiều đứa con hoang đàng ngày hôm nay, trẩy đi miền xa, cũng phung phí hết tài sản của cha trong cuộc sống phóng túng, những dụ ngôn ấy thoáng cho thấy khả năng về một sự thay đổi triệt để, và một cuộc đời khác, không có vị đắng của trái keo nơi miệng; đối với những người làm cha làm mẹ có những đứa con lạc đường, những dụ ngôn ấy khuyến khích họ nhẫn nại và hy vọng, bằng cách nhìn đến sự nhẫn nại và hy vọng của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta (có lẽ Ngài đã có với họ khi họ còn trẻ).
Mỗi người có thể khám phá trong dụ ngôn phần có thể áp dụng cho mình trong đời sống cá nhân của mình.
10. “THIÊN CHÚA ĐÃ BIẾN NGƯỜI THÀNH HIỆN THÂN CỦA TỘI LỖI, VÌ CHÚNG TA”
Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô bằng chứng cuối cùng của lòng thương xót của Thiên Chúa
Một bước nhảy về phẩm chất
Trong chương thứ nhất, chúng ta đã thấy tình yêu của Thiên Chúa mang hình thức nào sau khi con người phạm tội: sự tha thứ và cùng với nó là sự đau khổ. Tình yêu trở thành “trắc ẩn”, tức là đau buồn cách nào đó. Lúc ấy tôi đã nói sự đau buồn này được mạc khải chỉ vào lúc Ngôi Lời mặc lấy xác phàm và “sáng kiến tự hủy mình”. Rất lâu trước đó nơi Thiên Chúa đã có một “khổ nạn của tình yêu”, là cuộc khổ nạn sẽ gây ra, như Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói, “kế hoạch lạ lùng của tình yêu cứu độ của Đức Kitô”. Nói khác đi, nơi Thiên Chúa Khổ Nạn đi trước Nhập Thể.
Tuy vậy, chắc chắn trong cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, sự đau khổ của Thiên Chúa thực hiện một bước nhảy về phẩm chất, chính nó cũng “nhập thể”, trở thành thực tại lịch sử trong thời gian và không gian. Nó trở thành một kiểu mẫu đau khổ được chúng ta biết rõ và nói cho chúng ta cách trực tiếp, từ bên trong lịch sử riêng của chúng ta. Chúng ta phải dừng lại ở đó và suy niệm cho chính đáng. Không có trường học nào dạy chúng ta biết lòng thương xót của Thiên Chúa bằng đứng trước Thập Giá.
Nét mới mẻ lớn lao mà cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô mang lại, liên hệ đến lòng thương xót của Thiên Chúa, là như sau: Thiên Chúa không hài lòng với việc tha thứ cho con người tội lỗi của họ, Ngài còn làm nhiều hơn đến vô cùng. Ngài đã nhận lấy tội lỗi ấy trên mình, vác chúng trên vai. Và đó là điều Thiên Chúa đã loan báo trước và cam đoan, qua khuôn mặt của Người Tôi Tớ Đau Khổ.[119] Trong tác phẩm Đức Giêsu người Nagiaret, Đức Bênêđictô XVI viết:
“Người ta không thể chỉ không biết và bỏ rơi sự bất công, sự dữ, như là một thực tế. Nó phải được trừ khử, khắc phục. Chính đó là lòng thương xót thật. Đó là lòng nhân từ vô điều kiện của Thiên Chúa, bởi vì con người không có khả năng làm như thế, chính Ngài đã làm.”[120]
Một cái nhìn ngoại tại về sự việc có thể ngăn cản chúng ta hiểu biết đúng về cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, cái nhìn trong đó người ta tưởng rằng, một bên là con người với tội lỗi của họ, còn bên kia là Đức Giêsu chịu khổ và đền bồi hình phạt của tội lỗi này, nhưng vẫn đứng ở xa, không đụng đến nhau. Tương quan giữa Đức Giêsu và tội lỗi không được thực hiện ở xa, theo cách gián tiếp, hoặc trên bình diện thuần túy pháp lý, nhưng theo cách rất gần gũi và có thật. Nói cách khác, tội lỗi ở trên Ngài, Ngài mang nó trên vai: “Trên cây gỗ, chính Ngài đã mang lấy tội ta trong thân xác Ngài”[121], tức nơi con người của Ngài. Một cách nào đó, Ngài cảm thấy mình là tội lỗi của thế gian. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi.”[122]
Sự đau khổ “bất công”
Do tội lỗi, nét cao cả của thụ tạo trước mặt Thiên Chúa là mang trên mình ít lỗi phạm nhất có thể và nhiều án phạt nhất có thể, của chính tội lỗi này. Nói khác đi, trong sự kiện là “con chiên”, nghĩa là tế vật, và trong sự kiện là “vô nhiễm”, nghĩa là vô tội. Không phải trong sự việc này hay sự việc kia tách riêng ra – tức là hoặc trong sự vô tội hoặc trong sự đau khổ – cho bằng trong sự tổng hợp cả hai và sự hiện diện của cả hai nơi cùng một người. Vậy giá trị tối thượng là sự đau khổ của những người vô tội. Trên đỉnh thang cao cả mới mẻ này, chỉ có mình Đức Giêsu Nadaret, Đấng mà Kinh Thánh định nghĩa rất đúng là “Con Chiên vô tì tích.”[123] Quả thực, dù đã không phạm một lỗi phạm nào, Ngài đã mang lấy tất cả án phạt của tội lỗi: “Người không hề phạm tội […] Tội lỗi của chúng ta chính Người đã mang vào thân thể.”[124]
Nói rằng Đức Giêsu đã mang trên mình án phạt của tội lỗi không có nghĩa là Ngài đã mang trên mình hình phạt, nhưng Ngài cũng đã mang trên mình điều gì đó đáng sợ hơn nhiều, đó là chính việc quy lỗi. Ngài đã mang trên mình lỗi phạm mà đã không phạm lỗi. Con người được tạo dựng cho sự vô tội; lỗi phạm là điều, hơn bất cứ những gì khác, trái ngược với nó, hơn ngay cả sự đau khổ của nó. Không ai muốn là người có lỗi. Nếu đôi khi có người khoe khoang về lỗi phạm của mình, thì chính vì trên thực tế trước đây, người đó đã đảo ngược các giá trị vì lợi ích riêng của mình, hoặc đã tìm thấy những cách biện bạch, đến độ những gì người khác coi là lỗi phạm, người đó coi là công trạng, hoặc ít ra là một sự cần thiết.
Tất cả chúng ta, mỗi người một cách, đều có kinh nghiệm cay đắng bị tố cáo, có lẽ ngay trước mắt những người chúng ta quý mến thân thiết nhất, và chúng ta đã thấy tất cả những việc đó kéo theo điều gì trong tâm hồn chúng ta. Mỗi ngày chúng ta đều thấy nỗi đau mà chúng ta gặp phải khi không tìm cách tự vệ, khi chúng ta phạm một lỗi lầm và bị khiển trách, ngay cả khi điều đó xứng đáng. Khi ấy chúng ta có thể hiểu một vực thẳm to lớn thế nào được ẩn giấu đằng sau sự kiện là Đức Giêsu đã bị buộc tội trước Cha mình về mọi tội lỗi trên thế giới. Đức Giêsu đã trải nghiệm ở mức độ cao nhất lý do phổ quát, kinh khủng, của sự đau khổ của con người được người ta gọi là “ý thức tội lỗi”. Trong cội rễ của nó, ý thức này cũng được cứu chuộc.
Vậy điều đẹp nhất trên thế giới không phải là sự đau khổ chính đáng, nhưng là sự “đau khổ không chính đáng”[125] như tông đồ Phêrô nói trong lá Thư thứ nhất của mình. Sự đau khổ ấy là như thế, lớn lao và quý giá, vì nó là sự đau khổ duy nhất rất gần với cách mà Thiên Chúa chịu khổ. Chỉ mình Thiên Chúa, khi chịu khổ, có thể chịu khổ như một người vô tội, cách bất công. Tất cả những ai khác, khi chịu khổ, phải nói được như người trộm lành trên thập giá: “Ông này đâu có làm điều gì trái?”[126]
Chúng ta thấy ở đó sự khác biệt chính yếu mà thư Do thái nhấn mạnh giữa hy tế của Đức Kitô và hy tế của bất cứ linh mục nào khác:
“Đức Giêsu không cần […] phải dâng lễ, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân.”[127]
Khi người chịu đau khổ không có tội riêng phải đền thay, sự đau khổ của người đó thể hiện thành quyền năng đền thay tinh tuyền; không mang trong mình dấu vết u ám của tội lỗi, cách đau khổ này tinh tuyền hơn và tiếng nói của nó “gây xúc cảm hơn” tiếng máu của Abel.[128]
Điều xuất hiện trên thế giới như tai tiếng nhất – tức sự đau khổ của những người vô tội – thì trước mặt Thiên Chúa lại là khôn ngoan nhất và chính đáng nhất. Đó là một mầu nhiệm, nhưng về vấn đề này, Thiên Chúa dường như lặp lại cho chúng ta điều Đức Giêsu có lần đã nói trong Phúc Âm: “Ai hiểu được thì hiểu!”[129]
“Lạy Cha, xin tha cho họ”
Trong nhà Tiệc ly, Đức Giêsu nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”[130] Phải kêu lên: Vâng, lậy Chúa Kitô, có một tình yêu lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu của mình. Đó là tình yêu của Chúa. Chúa đã hy sinh mạng sống mình không phải cho bạn hữu, nhưng cho kẻ thù của Chúa! Phaolô nói rằng sẽ khó tìm được người sẵn sàng chết cho một người công chính, nhưng rằng người ta có thể tìm thấy.
“Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kirô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”[131]
Hạn từ “bạn hữu” theo nghĩa năng động có nghĩa là những người yêu bạn, nhưng theo nghĩa thụ động, có nghĩa là những người được bạn yêu. Đức Giêsu gọi Giuđa là bạn của Ngài[132], không phải vì Giuđa yêu Ngài, nhưng vì Ngài yêu anh ta. Không có tình yêu nào lớn hơn là hy sinh mạng sống vì kẻ thù của mình, khi coi họ là bạn hữu; câu nói của Đức Giêsu có ý nghĩa như thế. Con người có thể là kẻ thù của Thiên Chúa hoặc hành động như kẻ thù của Thiên Chúa. Về phần mình, Thiên Chúa sẽ không có thể là kẻ thù của con người. Chính đó là lợi khí đáng sợ của con cái đối với cha mẹ chúng.
Trước khi chết Đức Giêsu kêu lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.”[133] Đây không phải một lời nguyện, nhưng là một lời xin kiên quyết, đầy thế giá vì là của người Con: “Lạy Cha, xin tha cho họ!” Và vì chính Ngài đã nói là Chúa Cha nhận lời xin của Ngài[134], chúng ta phải tin rằng Chúa Cha đã lắng nghe lời cầu xin cuối cùng này của Ngài trên thập giá, và những người đóng đinh Đức Giêsu sẽ được Thiên Chúa tha thứ (chắc chắn, nhưng không phải không tiên vàn thay đổi ý kiến cách nào đó) và họ ở với Ngài trên thiên đàng, muôn đời làm chứng cho tới nơi mà lòng thương xót của Thiên Chúa đã có thể mở rộng.
Có lẽ chỉ có binh lính là những người hoàn toàn không biết gì. Nhưng lời cầu nguyện của Đức Giêsu không giới hạn nơi họ. Nét cao cả thần linh của việc Ngài tha thứ hệ tại ở chỗ Ngài ban ơn ấy cho những kẻ thù dữ tợn nhất. Chính cho họ mà Ngài đưa ra lý do là họ không biết. Cả khi họ hành động vì ác ý và độc dữ, thực ra họ không biết việc họ đã làm, không biết mình treo trên thập giá Đấng thực sự là Đấng Cứu Thế và là Con Thiên Chúa. Thay vì buộc tội những kẻ thù của mình, hoặc tha thứ cho họ, tin tưởng vào Cha trên trời lo trả thù cho Ngài, thì Ngài lại bảo vệ họ.
Gương của Ngài cho các môn đệ thấy Ngài quảng đại đến mức vô biên. Tha thứ với tâm hồn rộng lượng không thể chỉ bao gồm một thái độ tiêu cực, tức là không lấy ác báo ác; trái lại tha thứ phải được thể hiện bằng một ý muốn tích cực là làm điều tốt cho họ, ít nhất bằng lời cầu xin Thiên Chúa cho họ. “Hãy cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.”[135] Sự tha thứ này thậm chí không thể được đền bù bằng hy vọng là Thiên Chúa sẽ phạt họ. Nó phải được gợi hứng từ một đức ái tha thứ cho người thân cận, tuy nhiên, không nhắm mắt trước sự thật, nhưng tìm cách ngăn chặn kẻ ác trước khi họ làm hại nhiều hơn cho người khác hoặc cho chính họ.
Hẳn chúng ta muốn thưa: “Lạy Chúa, Chúa đòi chúng con điều không thể làm!” và Ngài sẽ trả lời: “Ta biết, nhưng Ta đã chịu chết để ban điều Ta truyền cho các con. Ta không chỉ để lại cho các con lệnh truyền tha thứ, cũng không chỉ để lại một mẫu gương tha thứ anh hùng; nhờ cái chết của Ta, Ta đã ban ơn cho các con để các con có thể tha thứ. Ta không chỉ để lại cho thế gian một giáo huấn về lòng thương xót, như nhiều người khác đã làm. Ta còn là Thiên Chúa, và nhờ cái chết của Ta, Ta đã làm nẩy sinh những dòng sông tuôn chảy lòng thương xót. Các con có thể múc được ở đó nhiều lắm, trong suốt Năm Thánh Lòng Thương Xót, cũng như bất cứ lúc nào.”
Năm nay là năm Lòng Thương Xót, tôi muốn đề nghị với các bạn nên có một cuốn Phúc Âm và yên lặng đọc và đọc hết trình thuật về cuộc Khổ Nạn. Ít nhất phải mất nửa tiếng.
Tôi có quen một phụ nữ, một nhà trí thức, xưng mình là vô thần. Một hôm, chị nhận được một tin, một loại tin làm chị choáng váng: con gái mười sáu tuổi của chị bị một khối u xương. Cô gái từ phòng mổ trở về, đau đớn, trên người đầy những ống, dây rợ, kim chích. Cô đau kinh khủng, rên rỉ, không muốn ai an ủi. Mẹ của cô, biết cô đạo đức, nghĩ là làm con hài lòng nên hỏi: “Con có muốn mẹ đọc câu gì đó trong Phúc Âm không?” “Thưa mẹ, vâng” “Con muốn nghe gì?” “Mẹ đọc cho con nghe cuộc Khổ Nạn!” Lúc ấy người mẹ, chưa từng đọc Phúc Âm trước đây, đi mua một cuốn Phúc Âm nơi cha tuyên úy. Bà ngồi cạnh con gái và bắt đầu đọc. Sau đó ít phút, con bà thiếp ngủ, còn bà vẫn tiếp tục thinh lặng đọc cho đến hết, trong cảnh tranh tối tranh sáng. Sau này chính bà nói trong một cuốn sách viết sau đó là: “Con gái thì ngủ, còn mẹ thì thức”. Bà từ bỏ chủ nghĩa vô thần. Chuyện đọc cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô vừa vĩnh viễn thay đổi cuộc đời của bà.[136]
11. NGƯỜI ĐÃ SỐNG LẠI ĐỂ CHÚNG TA ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH
Sự Phục sinh của Đức Kitô chiến thắng của lòng nhân từ của Thiên Chúa
Ôi, tội hồng phúc của Ađam!
Trong đêm Vượt Qua, Phụng vụ của Giáo Hội xướng lên bài Exultet, một trong những bàì ca gợi cảm nhất và táo bạo nhất. Bài hát ca tụng Thiên Chúa:
“Thật là chính đáng và phải đạo,
khi chúng ta đem hết tâm tình và muôn lời hoan hỷ,
để ca tụng Thiên Chúa vô hình là Cha toàn năng,
và ca tụng Đức Giêsu Kitô,
là Con Một Thiên Chúa và là Chúa chúng ta.
Người đã thay chúng ta dâng lên Cha hằng hữu
giá chuộc tội Ađam.
Người đã đổ máu đào
xóa bản án nguyện tội xưa truyền lại.
Ôi, tội hồng phúc của Ađam,
nhờ tội chúng con mới có được
Đấng Cứu Tinh cao cả dường này!”
Thiên Chúa Cha chúng ta đã đáp lại tội nặng nề nhất – tội giết Con cùa Người – bằng một hành vi thương xót lớn nhất. Đức Giêsu đã không được Người cho sống lại “để phạt chúng ta” nhưng “để cho chúng ta được nên công chính.”[137] Bổ ngữ chỉ lý do “vì tội chúng ta” (propter nos), thì trong những bản văn về cuộc Khổ Nạn thường biến thành bổ ngữ chỉ ân huệ “cho chúng ta”, cho việc cứu độ chúng ta” (pro nobis).
Một bài hát tiếng Anh, rất đơn sơ nhưng cảm động, với một giai điệu du dương, bằng những lời như sau:
“Alleluia, chúc tụng Thiên Chúa Cha của con
vì Cha đã ban cho chúng con Đức Giêsu.
Cha đã sai Ngài đến thế gian
để hiến dâng Ngài cho tất cả chúng con.
Cha biết rõ chúng con sẽ đâm thấu Ngài
và đuổi Ngài ra khỏi thế gian.
Alleluia, chúc tụng Thiên Chúa Cha của con
Trong cái chết của Ngài con được sinh ra.
Alleluia chúc tụng Thiên Chúa Cha của con
Trong sự sống của Ngài con được sống.”
“Chiến thắng vì là tế vật”
Đức Giêsu, người thứ nhất có liên quan, hành xử thế nào? Chúng ta hãy suy niệm một trong những đặc điểm của sự Phục Sinh mà ít người suy niệm: sự khiêm nhường của Ngài. Chiến thắng của sự Phục Sinh được thực hiện trong mầu nhiệm, không ai thấy. Cái chết của Ngài, nhiều người đã có thể chiêm quan; nhưng một khi sống lại, Ngài chỉ hiện ra với một nhóm hạn chế chứng nhân, luôn riêng rẽ. Sử gia người Rôma Tacitus biết hết về cái chết của Ngài, nhưng lại không biết gì về sự sống lại của Ngài; ông biết rằng thời Phongxiô Philatô, một người nào đó tên là “Kitô”[138] đã chết, nhưng lại không biết rằng ông Kitô đó đã sống lại và vẫn sống. Đối với thế gian, thì ngay cả ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn còn là một người bị kết án, một người chết trên thập giá.
Tính chất mầu nhiệm Phục Sinh chỉ ra rằng không nên chờ đợi một cuộc chiến thắng bên ngoài hữu hình, như một vinh quang trần thế, sau khi đã chịu khổ nạn: sự chiến thắng được Thiên Chúa ban cho là ở trong sự vô hình và thuộc trật tự cao hơn. Sự Phục Sinh được mạc khải qua các lần hiện ra, để làm cho đức tin có một nền tảng vững chắc. Nhưng đây không phải là một sự phục thù hạ nhục kẻ thù. Đức Giêsu không hiện ra ở giữa họ để cho thấy họ đã lầm, để đổ lỗi cho họ vì đã làm sai. Bất kỳ báo thù nào cũng sẽ không phù hợp với tình yêu Ngài muốn chứng tỏ cho con người trong suốt cuộc Khổ Nạn.
Đức Giêsu xử sự cách khiêm nhường trong vinh quang của sự Phục Sinh cũng như trong sự tự hủy ở đồi Canvê. Đó là bản chất của cuộc chiến thắng phát sinh từ đau khổ: chiến thắng siêu nhiên với tính cách chiến thắng của một Thiên Chúa và, do đó, chiến thắng ẩn giấu dưới đất nhưng có phạm vi là vĩnh cửu.
Trong mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, người ta thấy một loại chiến thắng mới, được thánh Augustinô tóm tắt trong hai chữ “victor quia victima”[139] “chiến thắng vì là tế vật”. Với Đức Giêsu, chúng ta thấy điều sau này Nietzsche sẽ định nghĩa, là “sự đảo ngược các giá trị”, nhưng theo nghĩa ngược với nghĩa ông hiểu. Đối với triết gia này, sự đảo ngược các giá trị do Phúc Âm thực hiện mang tính tiêu cực; đó là nỗi oán hận bất lực của kẻ yếu trước người mạnh, đại diện cho lý tưởng ngoại đạo – theo hình ảnh của Apollo và Dionysius – của con người cao thượng, đầy nghị lực, khát vọng những sự việc lớn, sinh ra để thắng chứ không để bại. Cùng kinh nghiệm này của con người – mới đây vẫn còn – cho thấy lý tưởng nào trong hai thật sự xứng với con người và mang lại một giải pháp cho các cuộc tranh chấp.
Với Đức Giêsu, đã có một sự “đảo ngược hoàn toàn các giá trị”, nhưng là vì thiện ích của chúng ta, chứ không làm cho chúng ta bị thất sủng. Cùng với Ngài, ý tưởng về chiến thắng, lần đầu tiên – nhưng dứt khoát – tách ra khỏi ý tưởng phục thù; đó chỉ là vấn đề xem khi nào thì thế giới hành động và rút ra hiệu quả.
Tuy nhiên chúng ta hãy suy nghĩ một chút: tại sao sự chiến thắng của lòng thương xót phải nhất thiết là như thế, kín đáo và khiêm nhường? Câu trả lời thật đơn giản: vì đây là vấn đề chiến thắng của tình yêu, và không có tình yêu nếu không có khiêm nhường. Chúng ta đã thấy điều đó trong chương thứ nhất, khi chúng ta nói về tình yêu từ lòng dạ của Thiên Chúa. Một tình yêu trung thực và hoàn toàn thì ghê sợ báo thù. Nó để mình tự thể hiện. Sự khiêm nhường của tình yêu cung cấp chìa khóa để hiểu. Không cần phải mạnh mẽ để đứng ở phía trước; ngược lại, phải mạnh mẽ hơn để đứng ở bên cạnh, để ẩn mình đi. Thiên Chúa là sức mạnh vô hạn ẩn mình đi và mầu nhiệm Vượt Qua của sự chết và sự sống lại mạc khải vĩnh viễn điều ấy.
Hai cách trình bầy sự Phục Sinh của Đức Kitô
Dựa vào những gì chúng ta vừa nói thì rõ ràng đặc tính cuộc chiến thắng của Đức Kitô được diễn tả trong nghệ thật ảnh thánh của Byzance tốt hơn là trong nghệ thuật Tây phương của thời Phục Hưng và sau đó. Trong nghệ thuật Tây phương, sự Phục Sinh của Đức Kitô là một sự “đi lên”; trong nghệ thuật ảnh thánh của Byzance, đó là một sự “đi xuống”. Trong nghệ thuật trước, chúng ta thấy một Đức Kitô chiến thắng ra khỏi mồ và lên trời, có đoàn các thiên thần hầu cận, trong khi các lính canh mồ nằm dài dưới đất, trong tình trạng bất tỉnh. Trong nghệ thuật sau, Đức Giêsu Phục Sinh không lên nhưng xuống nơi tối tăm âm phủ để đưa lên cùng với Ngài trong ánh sáng không những Ađam, Evà mà còn mọi người công chính đàng chờ ơn cứu độ. Đó là cuộc chiến thắng thế giới không nhìn thấy, liên kết chặt chẽ với bản chất chiến thắng của tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Do đó chúng ta hiểu một bản văn của phụng vụ Byzance mô tả cuộc chiến thắng Vượt Qua của Đức Kitô như thế nào:
“Một cuộc Vượt Qua thần linh được mạc khải cho chúng ta hôm nay…
Cuộc Vượt Qua mới, thánh thiện, mầu nhiệm…
Cuộc Vượt Qua mở ra cho chúng ta cửa Thiên đàng
Cuộc Vượt Qua thánh hóa mọi tín hữu…
Chính là ngày Phục Sinh
Chúng ta hãy chiếu tỏa niềm vui trong ngày lễ này, chúng ta hãy ôm lấy nhau
Hãy gọi là anh em những người thù ghét chúng ta
Hãy tha thứ cho tất cả vì sự Phục Sinh.”[140]
Phục Sinh là một trường đào tạo lòng thương xót, mời gọi chúng ta hòa giải và tha thứ cho kẻ thù. Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng một chủ đề duy nhất hẳn là xứng với tiếng hát hợp xướng kết thúc bản Giao hưởng số 9 của Beethoven, đó là sự Phục Sinh của Đức Kitô. Chỉ sự Phục Sinh của Ngài có thể tạo nên một bản văn xứng với những nốt nhạc tuyệt vời. Thế là chúng ta thấy lại trong bài thánh thi phụng vụ trên đây, được viết từ nhiều thế kỷ trước, những lời gần giống với bài Ode to Joy của Schiller được Beethoven phổ nhạc:
“Các bạn hãy ôm hôn nhau, hỡi hàng triệu người. Nụ hôn này cho toàn thế giới! Mọi người trở thành anh em khi niềm vui như có cánh êm dịu mở ra trên họ”.
Khác nhau là ở chỗ niềm vui được ca lên ở đây chỉ là mơ ước, không có, và nếu có cũng chỉ dành cho một nhóm tinh hoa, cho những ai may mắn có một phụ nữ đẹp, có được cái thú uống với bạn bè một ly rượu, một câu trong cũng thánh thi nói như vậy. Còn thánh thi Vượt Qua nói về một niềm vui được thực hiện và cống hiến cho bất cứ ai. Sự Phục Sinh của Đức Kitô đích thực là cuộc chiến thắng của lòng thương xót của Thiên Chúa.
12. “SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA ĐÃ ĐƯỢC TỎ HIỆN”
Sự công chính của Thiên Chúa là lòng thương xót của Người
Thiên Chúa công chính khi tỏ lòng thương xót
Một trong những vấn đề luôn được bàn cãi liên hệ tới lòng thương xót, là vấn đề tương quan của nó với sự công chính của Thiên Chúa. Vấn đề đã được thánh Phaolô giải quyết dứt khoát, nhưng người ta không luôn để ý khi nói về lòng thương xót. Nói tắt, câu trả lời là: “sự công chính hóa nhờ ân sủng miễn là có đức tin”.
Thánh Tông Đồ bắt đầu phần trình bầy của mình bằng một tin như sau: “Sự công chính của Thiên Chúa đã được tỏ hiện.”[141] Về sự công chính nào vậy? Phải chăng về sự công bình ban cho mỗi người thiện ích của họ, và phân chia thưởng phạt tùy theo công trạng? Tóm lại, về điều mà con người chúng ta hiểu về sự công bình? Chắc chắn cũng sẽ đến lúc sự công bình này của Thiên Chúa được tỏ hiện, lúc Ngài thưởng phạt mỗi người tùy theo công trạng của họ. Trước đó thánh Tông Đồ đã viết:
“Ngày đó, Thiên Chúa sẽ thưởng phạt tùy theo công việc họ làm. Những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang danh dự và phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẻ nổi giận lôi đình, trút cơn thịnh nộ xuống đầu họ.”[142]
Nhưng không chắc Phaolô nói về sự công bình đó khi viết: “Ngày hôm nay, sự công chính mà Thiên Chúa ban được mạc khải.”[143] Biến cố đầu tiên sẽ xẩy ra, nhưng biến cố này là biến cố đã được thực hiện, “ngày hôm nay”. Nếu không như thế, thì lời quả quyết của Phaolô là phi lý, bị chính những sự kiện phủ nhận. Về phương diện công bình phân phối, không có gì thay đổi trên thế giới lúc Đức Kitô đến. Người ta tiếp tục thấy những người phạm tội ngồi trên ngai và những người vô tội bị treo trên giá. Và để không ai tin rằng trên thế giới có một sự công bình và một trật tự, thậm chí đảo ngược, đôi khi người ta thấy điều trái ngược, nghĩa là người vô tội ngự trên ngai còn người có tội bị treo trên giá. Vì thế, người ta chắc không thấy ở đó sự mới mẻ do Đức Kitô mang lại. Chúng ta hãy nghe điều thánh Tông Đồ nói:
“Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thein6 Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin. Như vậy Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng công chính. Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ Người muốn cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính.”[144]
Thiên Chúa công chính khi tỏ lòng thương xót. Đó là một mạc khải lớn lao, đó là sự “báo thù” của Thiên Chúa đối với con người đã phạm tội. Thánh Tông Đồ nói rằng Thiên Chúa “công chính và làm cho nên công chính”, nghĩa là Ngài công chính với chính mình khi làm cho con người nên công chính. Quả thực, Ngài là tình yêu và thương xót, vì thế Ngài làm cho mình thành công chính – nghĩa là Ngài thế nào thì thực sự mạc khải mình thế ấy – khi Ngài tỏ lòng thương xót.
Tuy vậy chúng ta không hiểu gì nếu không muốn hiểu cho chính xác ý nghĩa kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa”. Thật nguy hiểm khi có người nghe nói ở đây về sự công chính của Thiên Chúa, và vì không hiểu nghĩa của nó, người đó hãi sợ và tự nhủ: “Thế ra, như người ta có thể trông chờ, sau cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, thì ngày hôm nay người ta thấy sự công chính của Ngài được mạc khải, nghĩa là hình phạt chính đáng của Ngài!”
Chính Luthêrô là người đã khám phá, hoặc đúng hơn, tái khám phá ra rằng kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa” không cho thấy ở đây hình phạt của Ngài hoặc – tệ hơn – sự báo thù của Ngài đối với con người, nhưng, ngược lại, cho thấy hành vi nhờ đó, trong sự thương xót vô hạn của mình, Thiên Chúa “làm cho con người trở nên công chính” (Luthêrô dùng chữ “tuyên bố” chứ không phải “làm cho trở nên” công chính, vì ông nghĩ tới một sự công chính hóa ngoại tại và pháp lý). Sau này ông viết: “Khi tôi khám phá ra điều này, tôi cảm thấy được tái sinh, và tôi có cảm tưởng là những cửa Thiên đàng đã mở ra cho tôi.”[145]
Tôi nói Luthêrô đã tái khám phá ra điều đó, vì trước ông, thánh Augustinô đã giải thích rõ ý nghĩa của kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa” trong cách sử dụng của Phaolô:
“Sự “công chính của Thiên Chúa” là sự công chính theo đó, nhờ ân sủng của Ngài, chúng ta trở nên những người công chính, chính xác giống như “sự cứu độ của Thiên Chúa” là sự cứu độ nhờ đó Thiên Chúa cứu độ chúng ta.”[146]
Vậy Phúc Âm, tức tin mừng mà thánh Phaolô nói với các Kitô hữu ở Rôma, là như sau: ngày hôm nay, lòng nhân từ của Thiên Chúa đã được tỏ hiện cho con người, nghĩa là ý muốn thiện hảo của Ngài đối với con người, sự tha thứ của Ngài; nói tắt, sự thương xót của Ngài. Chính Kinh Thánh cắt nghĩa như thế khái niệm về sự “công chính của Thiên Chúa”:
“Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta.”[147]
“Nhưng Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã làm cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ!”[148]
Nói rằng “sự công chính của Thiên Chúa” được biểu lộ” cũng có nghĩa là lòng nhân từ, yêu mến và thương xót của Ngài được biểu lộ. Không những sự công chính của Thiên Chúa không mâu thuẫn với sự thương xót của Ngài, nhưng còn bao gồm chính xác trong đó.
Một sứ điệp phát xuất từ kinh nghiệm
Chính Tông Đồ Phaolô không phát minh ra sứ điệp mới mẻ và cách mạng này. Việc đó có nghĩa là những người nói ngài, chứ không phải Đức Giêsu, là người sáng lập đích thật Kitô giáo, là có lý. Nhưng không phải thế. Phaolô nói rằng “Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin”[149]; ngài nói về “thời kỳ” nhẫn nại của Thiên Chúa đã “hoàn tất”[150], về sự công chính của Thiên Chúa đã đến và đã tỏ hiện. Tất cả những lời đó có giống với lời nào khác không? Cách nói này nhắc cho chúng ta Đức Giêsu, lúc khởi sự thừa tác vụ của mình, đã công bố: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần: Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”[151]
Phaolô chuyển đạt cho chúng ta giáo huấn tinh tuyền nhất của Đức Giêsu. Những gì Đức Kitô gom lại dưới kiểu nói “Triều Đại của Thiên Chúa”, tức sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa, hành dộng cho không của Ngài có lợi cho con người, thì Phaolô gọi chúng là sự “công chính của Thiên Chúa”, nhưng là cùng một thực tại nền tảng.
Khi Đức Giêsu nói: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, Ngài đã dậy về sự công chính hóa nhờ đức tin. Trước Ngài, sám hối luôn có nghĩa là “trở lại đàng sau” (như thuật ngữ hípri shub chỉ hành vi này cho thấy); điều đó có nghĩa là là trở lại với Giao ước mà mình đã vi phạm, nhờ việc lại tuân giữ Lề Luật. Qua môi miệng tiên tri Dacaria, Thiên Chúa nói: “Hãy trở lại với Ta […] Hãy từ bỏ lối sống xấu xa và những hành vi gian ác của các ngươi mà trở lại.”[152]
Trên môi miệng Đức Giêsu, ý nghĩa khổ chế và luân lý đứng ở hạng hai (ít nhất lúc Ngài khởi đầu rao giảng), trước một ý nghĩa mới mẻ cho tới lúc đó chưa được ai biết đến. Chỉ với Đức Giêsu mà thuật ngữ sám hội có thể có ý nghĩa mới này. Vậy sám hối không có nghĩa là trở lại phía sau, về với Giao ước cũ và việc tuân giữ Lề Luật, nhưng là nhảy về phía trước, đi vào Giao ước mới, vào Triều Đại đã xuất hiện. Và đi vào đó nhờ đức tin. “Hãy sám hối và hãy tin” không phải là hai việc khác nhau và kế tiếp nhau, nhưng chỉ cùng một hành động: hãy sám hối là hãy tin, sám hối bằng cách tin.
Chính Thiên Chúa đã có sáng kiến cứu độ. Ngài đã cho Triều Đại của Ngài đến. Con người chỉ có việc đón nhận trong đức tin điều Thiên Chúa ban cho, và rồi sống theo những đòi hỏi của nó. Đó chính là điều Đức Giêsu muốn cho chúng ta khắc sâu trong tâm khảm khi Ngài dạy phải đón nhận Nước Trời “như trẻ em.”[153] Một đứa trẻ sẽ không bao giờ nghĩ phải trả giá cho điều nó xin nơi cha nó hay mẹ nó.
Chứng nhân của lòng thương xót
Do đâu mà Phaolô giữ vững sứ điệp là người ta trở nên công chính nhờ lòng thương xót, chứ không phải nhờ công trạng? Không phải nhờ sách Phúc Âm (lúc ấy chưa được viết ra); đúng hơn, nhờ những lời giảng dạy truyền khẩu của Đức Giêsu, nhất là nhờ kinh nghiệm cá nhân của ngài, nghĩa là cách mà Thiên Chúa đã hành động trong cuộc đời của ngài. Viết cho các tín hữu ở Philipphê, ngài trình bầy cuộc hoán cải của mình: từ “sự công chính của ngài, sự công chính do luật Môsê mang lại” đi đến “sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin.”[154]
Trong suốt cuộc đời, Phaolô sẽ không ngừng coi mình như một hoa trái và một chiến quả của lòng Chúa thương xót. Ngài coi mình như một người, nhờ Chúa thương, đáng được anh em tín nhiệm.”[155] Ngài không chỉ trình bầy giáo lý về lòng thương xót, mà còn trở thành một chứng nhân sống động của lòng thuong xót:
“Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin [..] Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bầy tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho tất cả những ai tin vào Người, để được sống muôn đời.”[156]
Khi muốn khuyên các tín hữu của mình làm điều thánh thiêng nhất trong vũ trụ, thánh Tông Đồ khuyên họ “vì Thiên Chúa thương xót chúng ta.”[157]
Như vậy, ngài dậy cho chúng ta biết rằng phương tiện tốt nhất để rao giảng lòng thương xót là làm chứng về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta; là cảm nhận được chúng ta cũng là hoa quả của lòng Chúa thương xót trong Đức Giêsu Kitô, chỉ sống nhờ lòng thương xót ấy.
Một hôm, Đức Giêsu chữa cho một một người bị quỷ ám. Người này muốn đi theo gia nhập đoàn các môn đệ tháp tùng Ngài đi đây đi đó. Đức Giêsu không cho phép nhưng nói với anh:
“Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào. Anh ta ra đi và bắt đầu rao truyền trong miền Thập tỉnh tất cả những gì Đức Giêsu đã làm cho anh. Ai nấy đều kinh ngạc.”[158]
Đó cũng chính là ý định đã thúc đẩy Augustinô viết cuốn Confessions. Rất nhiều cuộc hoán cải xẩy ra chỉ do được nghe trình thuật về các cuộc đời trong đó lòng thương xót của Thiên Chúa đã hành động. Chứng từ cá nhân theo cách Chúa đã hành động trong cuộc sống của chúng ta, khi cuộc sống đó được khích lệ bởi sự khiêm nhường và ước ao cho vinh quang của Thiên Chúa, là một trong những hình thức hữu hiệu nhất của việc Phúc Âm hóa.
13. “NÀY CON, CON ĐÃ ĐƯỢC THA TỘI RỒI”
Bí tích của lòng thương xót
“Ai có quyền tha tội?
Như ta đã thấy, lòng thương xót của Thiên Chúa còn hơn là chỉ thuần túy tha thứ tội lỗi; tuy vậy chắc chắn nó là đối tượng chính và là cách biểu lộ cao cả nhất của lòng thương xót. Cũng về chủ đề này, từ Cựu Ước qua Tân Ước, người ta lưu ý tới một bước nhảy về phẩm chất. Do việc Ngôi Lời đến giữa ta, lòng thương xót của Thiên Chúa cũng “mặc lấy xác phàm”, biểu lộ qua những cử chỉ và lời nói cụ thể, tiên vàn trong cuộc đời Đức Giêsu, rồi trong các bí tích của Giáo Hội. Người ta không còn loan báo “qua miệng các tiên tri”, nhưng trực tiếp bởi chính Thiên Chúa.
Trong Phúc Âm, sự mới mẻ này xuất hiện không đâu rõ bằng trong câu chuyện người bại liệt được đưa từ trên mái nhà xuống.[159] Một hôm, người ta hay tin Đức Giêsu “ở nhà”. Chắc chắn đó là nhà của Simon Phêrô ở Capharnaum, nơi Đức Giêsu được coi là “ở tại nhà mình” khi Ngài lưu ngụ tại Capharnaum. Có rất đông người nên không còn chỗ, ngay cả trước cửa nhà. Một nhóm người khiêng một người bà con (hay bạn bè) bị bất toại nghĩ ra cách vượt qua trở ngại khi khám phá ra mái bằng trên chỗ Đức Giêsu đang ngồi. Sự việc không khó tin nếu chúng ta nghĩ tới những nhà người Palestin thời ấy (bây giờ cũng còn một phần) tất cả chỉ có một tầng, một mái bằng gỗ và đất nện.
“Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giêsu bảo người bại liệt: ‘Này con, con đã được tha tội rồi.’ Nhưng có mấy kinh sư đang ngồi đó, họ nghĩ thầm trong bụng rằng: ‘Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng. Ai có auyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?”
Chúng ta hãy nghe tiếp đoạn sau:
“Tâm trí Đức Giêsu thấu triệt ngay họ đang thầm nghĩ như thế, Người mới bảo họ: ‘Sao trong bụng các ông lại nghĩ những điều ấy? Trong hai điều: một là bảo người bại liệt: ‘Con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi’, điều nào dễ hơn? Vậy để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội, Đức Giêsu bảo người bại liệt: Ta truyền cho con: Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà.”
Đức Giêsu không cải chính bằng cách quả quyết là chỉ mình Thiên Chúa mới có thể tha tội, nhưng qua phép lạ này, Ngài mạc khải cho họ thấy ở dưới đất cũng có quyền của chính Thiên Chúa. Con người có thể phạm tội, nhưng chỉ mình Thiên Chúa có thể tha tội. Nghĩ ngược lại tức là coi một con nợ có thể trả hết nợ mắc với người nào đó bằng sáng kiến riêng của mình! Người thời nay đôi khi muốn làm như thế khi nói: “Tôi thú tội tôi hôm nay và tôi là người duy nhất có thể tha tội cho tôi, tôi, một con người.”[160]
Tại sao phải xưng tội?
Đức Giêsu đã muốn việc thi hành quyền tha tội không giới hạn ở trong cuộc đời trần gian vắn vỏi của Ngài. Chính trong mục đích này mà Ngài đã lập ra một bí tích, trong đó, qua thừa tác vụ của Giáo Hội, Chúa Thánh Thần tiếp tục tha tội. Ở nguồn gốc của bí tích này, vượt lên trên vô số thay đổi và thích nghi trong lịch sử, có lời của Đức Kitô nói với Phêrô[161] và với mọi Tông Đồ theo cách đồng đoàn:
“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.”[162]
Đức Giêsu tiếp tục công trình tha tội bằng nhều cách khác nhau. Giáo Hội đã luôn thừa nhận Thánh Thể có một hiệu năng tổng quát giải thoát khỏi tội lỗi. Ở đó chúng ta tới gần chính nguồn mạch của việc tha tội. Thánh Ambrôsiô viết:
“Mỗi lần bạn uống máu này, ban nhận được ơn tha thứ tội lỗi và say men Thần Khí” [..] “Bánh này là sự tha thứ tội lỗi.”[163]
Trước khi cho rước lễ, phụng vụ nhắc lại cho chúng ta chân lý này bằng những lời: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian!” Trong trường hợp đoạn giao nghiêm trọng với Thiên Chúa, chúng ta được ban một phương tiện đặc biệt, đó là bí tích thống hối mà các Giáo Phụ gọi là “chiếc bè cứu độ thứ hai” cho người đắm tầu sau phép rửa của người đó.”[164]
“Giáo Hội không thể tha thứ điều gì mà không có Đức Kitô; và Đức Kitô không muốn tha thứ điều gì mà không có Giáo Hội. Giáo Hội không thể tha cho người nào, trừ khi người đó hối cải, nghĩa là được Đức Kitô chạm đến trước. Đức Kitô không muốn ban ơn tha thứ cho người khinh chê Giáo Hội.”[165]
Không phải Giáo Hội tha tội, nhưng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ thi hành một thừa tác vụ, nhưng là thừa tác vụ cần thiết ở đây. Đức Giêsu nói với các Tông Đồ: “Anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha”, nhưng làm sao các Tông Đồ và các người kế vị có thể quyết định tha tội hay không, mà không biết những tội ấy?
Thiên Chúa đã muốn con người xưng thú tội lỗi mình để có được ơn tha tội; vả lại điều này đáp ứng với nhu cầu tự nhiên và sâu xa của tâm lý con người. Khoa phân tâm học dựa trên cùng sự kiện này, và cấu thành một sự xác nhận không tự nguyện và có lẽ một sự thay thế sự kiện ấy. Phương tiện giải thoát mình khỏi tội mình bằng cách xưng thú nó với Thiên Chúa qua trung gian thừa tác viên của Ngài đáp ứng với nhu cầu tự nhiên của tâm lý con người là được giải thoát khỏi điều áp bức lương tâm bằng cách diễn tả nó ra, đưa nó ra ánh sáng, trình bày nó bằng lời. Thánh vịnh 32 mô tả hạnh phúc mà người ta sẽ rút ra từ kinh nghiệm này:
“Hạnh phúc thay người Chúa không hạch tội, và lòng trí chẳng chút gian tà. Bao lâu con lặng thinh không thú lỗi, thì gân cốt rã rời, cả ngày con gào thét..Con đã xưng tội ra với Ngài, chặng giấu Ngài lầm lỗi của con. Con tự nhủ: “nào ta đi thú tội với Chúa”. Và chính Ngài đã tha thứ tội vạ cho con.”
Lúc xưng tội là lúc phẩm giá của người tín hữu được khẳng định rõ nhất. Trong mọi lúc khác của đời sống Giáo Hội, người tín hữu là một trong số những người khác: một trong số những người nghe lời Chúa, một trong số những người chịu lễ. Còn ở đây, anh (chị) ta là độc nhất và chỉ có một mình; Giáo Hội đáng kể lúc đó cho một mình anh (chị) ta.
Việc thú tội cho phép chúng ta có kinh nghiệm về điều Giáo Hội ca lên trong bài Exultet đêm Vọng Phục Sinh: “Ôi tội hồng phúc vì đáng cho chúng ta một Đấng Cứu Thế vĩ đại dường ấy!” Đức Giêsu biết làm cho mọi tội lỗi của con người, một khi được nhận ra, trở thành những “tội hồng phúc”, những tội người ta không nhớ đến nữa, trừ khi là để có kinh nghiệm về lòng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa trong những dịp này.
Thương xót và thống hối
Cách chúng ta đến với bí tích thống hối phải được đổi mới trong Thàn Khí, để thực sự hữu hiệu và mang tính quyết định trong cuộc tranh đấu chống lại tội lỗi. Đổi mới bí tích trong Thần Khí có nghĩa là sống bí tích này không phải như một nghi thức, một thói quen hay một bổn phận, nhưng như một nhu cầu của linh hồn, như một cuộc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh, Đấng mà nhờ Giáo Hội, chuyển đạt cho chúng ta sức mạnh phục hồi của máu Ngài và đem lại cho chúng ta “niềm vui được cứu độ.”[166]
Những cuộc trở lại quan trong tìm về với Thiên Chúa, ít nhất trong Giáo Hội công giáo, luôn kết thúc bằng việc thú tội, từ đó những con người chỗi dậy có cảm tưởng được tái sinh hoàn toàn. Mẫu gương đẹp đẽ của những con người như vậy là thi sĩ Charles Baudelaire, tác giả tập Fleurs du mal. Suốt cuộc đời, ông được coi – và chính ông cũng tự coi mình – như một trường hợp điển hình của “người con hoang đàng”. Người đảm nhận chức năng làm cha, đón nhận và yêu thương ông, chính là… mẹ ông. Ông trở về nhà bà, đau ốm, thân thể chỉ còn là “một nơi bị phá nát”[167] do những cuộc ăn chơi quá đáng của ông. Chính bên cạnh bà, người đã chăm sóc ông tận tình cách vô hạn, mà ông qua đời ngày 31 tháng 8 năm 1867, sau khi đã xưng tội, xin và lãnh các bí tích cuối cùng, “rất tỉnh táo”.
Lòng thương xót của Thiên Chúa, bên ngoài và bên trong bí tích hòa giải không bị điều gì quy định, nhưng giả thiết phải thống hối tội lỗi. Không có lòng thống hối, không thể có thương xót. Khẳng định điều ngược lại là muốn “đùa” với Thiên Chúa. Nhưng có lời chép: “Anh em đừng có lầm tưởng, Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu.”[168] Trong sự toàn năng của mình, Thiên Chúa có thể làm mọi sự, trừ ra một sự. Chỉ một mình mà thôi, Ngài không thể trả lại một tấm lòng “tan nát giày vò”. Đề làm điều này, Ngài cần chúng ta tự do đồng ý. Đây không phải là một điều kiện, nhưng là một giới hạn chính Thiên Chúa tự đặt ra, khi Ngài dựng nên ta là những con người tự do.
Ngài có thể dùng ân sủng mà thúc giục chúng ta, gõ cửa nhưng không phá, nếu người bên trong núp ở đó để từ chối. Điều cản trở thực sự lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là tội lỗi nặng nề của con người, nhưng là vì họ cứng lòng, một tấm lòng “không thống hối”. Trong Thánh vịnh 51 (Miserere), vịnh gia thưa lên:
“Lậy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm” nhưng kẻ có tội thưa tiếp ngay: “Vâng, con biết tội mình đã phạm [..]. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.”
Chúng ta không thể thuần túy không biết đến sự dữ hoặc che đậy nó, phải phá hủy nó, và chỉ có thể làm việc này nếu chịu trách nhiệm về nó, “thừa nhận” nó là của mình. Chỉ mình tội nhân có thể làm việc này chứ không phải Thiên Chúa. Khi thừa nhận tội lỗi mình, con người tuyên bố Thiên Chúa vô tội, giải thoát chân lý đang “bị giam hãm trong sự bất chính.”[169] Từ đó mà có quyền năng lạ lùng của Thiên Chúa.
Hối nhân và cha giải tội
Điều quan trọng là cha giải tội phải là người ban phát thật sự lòng thương xót của Đức Kitô trong bí tích này. Giáo Hội La tinh đã tìm cách cắt nghĩa việc thú tội với ý tưởng pháp lý về một tiến trình qua đó người ta được xá giải hay không được xá giải. Trong tiến trình này, thừa tác viên giữ chức năng quan tòa. Chức năng này, nếu chi được nhấn mạnh một phía, có thể có những hệ quả tiêu cực. Người ta khó có thể nhận ra hành động của Chúa Giêsu nơi cha giải tội. Trong dụ ngôn người con hoang đàng, người cha không xử sự với tư cách quan tòa, nhưng như một người cha; ngay cả trước khi đứa con thú lỗi xong, thì ông đã ôm lấy nó, và truyền cho người nhà mở tiệc. Phúc Âm là “thủ bản” chính thực của cha giải tội, Giáo luật có đó để ngài sử dụng chứ không phải để thay thế.
Đức Giêsu không bắt đầu dùng giọng điệu kiên quyết theo pháp lý để hỏi người phụ nữ ngoại tình, ông Dakêu và tất cả các tội nhân mà Ngài gặp, “số lần và kiểu tội” mà họ phạm, như: “Phạm bao nhiêu lần?”, “Phạm với ai?”, “Phạm ở đâu?” Ngài quan tâm trước hết sao cho từng người trải nghiệm về lòng thương xót, về sự âu yếm và cuối cùng về niềm vui của Thiên Chúa được đón tiếp kẻ có tội. Ngài biết sau kinh nghiệm này, chính tội nhân sẽ phải cảm thấy nhu cầu cần xưng hết tội mình. Trong cả Kinh Thánh, chúng ta thấy đường lối sư phạm cua Thiên Chúa bằng hành động, không đòi con người mọi sự và đòi hỏi ngay bằng những hạn từ của khoa luân lý, nhưng chỉ những gì vào lúc này người đó có thể hiểu được. Phaolô nói về sự “nhẫn nại của Thiên Chúa”[170] trong vấn đề này. Chủ yếu là một khởi đầu thật sự thống hối, muốn thay đổi và sửa chữa tội ác đã phạm.
Phanxicô Assisi càng thương xót anh em khi càng nghiêm khắc và triệt để với chính mình. Ngài viết cho một bề trên dòng của ngài lời khuyên sau đây áp dụng cho bất cứ cha giải tội nào:
“Tôi nhận ra cha yêu mến Chúa, cha yêu thương chính tôi là tôi tớ Ngài và tôi tớ của cha ở điểm nào, đó là nếu bất cứ anh em nào trên đời này, sau khi đã phạm tội ngần nào có thể, có thể bắt gặp cái nhìn của cha, xin cha tha tội, và từ biệt cha mà được tha tội. Nếu người đó không xin tha tội, hãy hỏi xem anh ta có muốn được tha tội không. Cho dù sau đó anh còn phạm tội cả ngàn lần chống lại cha, cha hãy yêu anh ta còn hơn cha yêu cha, và làm điều đó để đưa anh ta đến với Chúa. Hãy luôn thương xót những người bất hạnh này.”[171]
Năm 1983, nhân dịp Thượng Hội Đồng Giám Mục về “Sám Hối và Hòa Giải” nhóm họp, trước sự hiện diện của các Nghị Phụ, thánh Gioan Phaolô II muốn phong thánh cho chân phước Leopoldo Mandié, tu sĩ khiêm nhường dòng Capucinô, suốt đời làm cha giải tội.[172] Người ta biết sự nhã nhặn, tình yêu và sự khích lệ của thánh Leopoldo khi đón nhận và cho về mỗi hối nhân của mình. Có ai trách ngài quá “tốt bụng” và Thiên Chúa hẳn sẽ hỏi ngài lý do vì sao lại quá rộng rãi với hối nhân như vậy, thì ngài trả lời: “Không phải chúng ta đã chết cho các linh hồn. Chính Chúa đã đổ máu mình ra. Thế nên chúng ta phải đối xử với các linh hồn như Ngài đã dùng gương của Ngài mà dạy ta. Nếu Chúa trách tôi quá quảng đại, tôi sẽ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, chính Chúa đã làm gương xấu cho con!”[173]
Cũng hoàn toàn đúng khi, bên cạnh thánh Leopoldo rất hiền lành lúc giải tội, còn có cha thánh Pio de Pietrelcina, cũng thuộc dòng Capucinô, mà người ta biết cách đón nhận và cho về đôi khi hơi cục cằn đối với hối nhân – trong một vài trường hợp thậm chí không giải tội cho họ nữa. Nhưng để bắt chước ngài trong cách đó, chúng ta cũng phải bảo đảm được ơn như ngài, là gắn bó với các linh hồn còn mật thiết hơn, và khiến tức khắc trở lại tòa giải tội của ngài với tâm thái mới.
Việc ban bí tích thống hối có thể trở thành một cơ hội giúp cho cha giải tội hoán cải và được ơn, cũng như nhà giảng thuyết được như vậy trong việc loan báo lời Chúa. Trong những tội lỗi của hối nhân, ngài có thể không khó nhận ra tội lỗi của mình, có lẽ dưới những hình thức khác. Cũng vậy, khi giải tội, ngài chỉ có thể nói nơi chính mình: “Lậy Chúa, cả con nữa, con cũng đã làm như thế, xin cũng thương xót con.” Có biết bao nhiêu tội lỗi chúng ta quên mất khi xét mình, và khám phá ra khi nghe tội lỗi của người khác. Với một hối nhân khá đau khổ, thánh Leopoldo nói để khích lệ: “Ở đây chúng ta có hai tội nhận, xin Chúa thương xót chúng ta!”
Tôi kết thúc bài suy niệm này bằng một bài thơ của Paul Claudel kể lại một lần thú tội, sử dụng chính những hình ảnh Phúc Âm dùng để mô tả ngày trở về của đứa con hoang đàng, và phụng vụ dùng những hình ảnh ấy để cử hành cuộc Phục Sinh của Đức Kitô:
“Lạy Thiên Chúa của con, con đã sống lại
và con vẫn ở với Chúa!
Con đã ngủ và đã nằm yên
như một người chết trong đêm.
Thiên Chúa nói: Hãy có ánh sáng!
Và con bật dậy như người ta bật ra một tiếng kêu!
Con đã trỗi dậy và đã bật dậy…
Tim con tự do và miệng con trong sạch,
tim con và thần trí con nhịn đói,
Con được tha thứ mọi tội lỗi của con
mà con đã lần lượt xưng thú.
Nhẫn cưới đeo ở ngón tay con
và mặt con được rửa sạch.
Con như một sinh vật vô tội
trong ân sủng mà Chúa ban cho con.”[174]
14. “CÁC NGƯƠI SẼ HÂN HOAN MÚC NƯỚC NƠI SUỐI ƠN CỨU ĐỘ”
Lòng thương xót của Thiên Chúa trong phụng vụ
Trong phụng vụ lời Chúa, Thánh lễ tưởng niệm việc rao giảng của Đức Kitô, còn trong phụng vụ Thánh Thể, là tưởng niệm cái chết của Ngài, do đó cũng là tưởng niệm lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh lễ là nơi không những chúng ta nhắc nhớ lòng thương xót của Thiên Chúa, mà còn là nơi chúng ta đón nhận Ngài, có kinh nghiệm về Ngài, ăn uống Ngài. Chúng ta chỉ lấy một vài yếu tố liên hệ trực tiếp nhất tới chủ đề lòng thương xót, trước hết trong Thánh lễ, sau đó trong năm phụng vụ.
Lòng thương xót của Thiên Chúa trong phụng vụ Thánh Thể
Bất cứ Thánh lễ nào hôm nay cũng đều bắt đầu bằng hành vi thống hối. Yếu tố xưa và chung nhất cho mọi nghi thức và phụng vụ của Giáo Hội là lời khẩn cầu Kyrie eleison (Xin Chúa thương xót). Thật không may, giống như bất cứ điều gì được thường xuyên lặp đi lặp lại, nội dung nguyên thủy của lời kêu cầu này trở thành nghèo đi.
Lời kêu cầu “Xin Chúa thương xót” giữ nhịp cho kinh nguyện Kitô giáo và trong một số phụng vụ đi kèm theo Thánh lễ từ đầu đến cuối, gợi lên trong chúng ta điều gì chăng? (Những ai đôi khi tham dự phụng vụ Nga nhớ tới lời kêu cầu “Gospodi pomiluj” vang lên bao nhiêu lần). Cuối cùng lời đó hầu như chỉ còn là lời xin tha thứ của thụ tạo thấy Thiên Chúa luôn luôn sắp phạt chúng (và Ngài có quyền làm như vậy). Chữ “thương xót” bị đánh giá thấp vì rất hay được sử dụng theo nghĩa tiêu cực, như điều gì đó ti tiện và đáng khinh: “thương hại”, “cảnh tượng thảm hại”.
Theo Kinh Thánh, nên dịch Kyrie eleison là: “Lạy Chúa, xin đổ xuống trên chúng con lòng thương xót của Chúa.” Chỉ cần xem Thiên Chúa nói về dân Ngài thế nào trong Giêrêmia: “Mỗi lần nhắc tới nó, Ta lại thấy nhớ thương, nên lòng Ta bồi hồi thổn thức, Ta thương nó, thương (eleos) nó thật nhiều.”[175] Khi những người đau ốm, phong cùi, mù lòa kêu lên với Đức Giêsu: “Lạy Con vua Đavit, xin thương xót chúng tôi!”[176] lời đó không có nghĩa là: “xin tha cho chúng tôi”, nhưng “xin cảm thương chúng tôi”. Ngoài việc tha thứ tội lỗi, câu kết của hành vi thống hối cũng bảo đảm sự thương xót: “Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta tới sự sống muôn đời.”
Phụng vụ Rôma dạy chúng ta lặp lại lời kêu cầu “Xin Chúa thương xót” ba lần chỉ trong lúc đầu của cử hành. Đến nhà thờ ngày Chúa nhật, sau khi đã đi trên những con đường lầy lội, chúng ta chùi giầy trước khi vào nhà thờ, trút bỏ mọi dơ bẩn, Nhưng một khi đã vào rồi, chúng ta không mất thời giờ kiểm tra xem giầy chúng ta đã sạch sẽ chưa. Trái lại, chúng ta nhìn lên bàn thờ nơi cử hành mầu nhiệm thánh. Họa có điên mới làm khác.
Thánh Lễ Chúa Nhật XXVI Mùa Thường Niên năm phụng vụ khởi đầu bằng một lời nguyện được Đức Giáo Hoàng Phanxicô trích trong Thông điệp tuyên bố Năm Thánh Lòng Thương Xót. Giáo Hội hướng về Thiên Chúa, “cho thấy chứng cớ tối thượng về quyền năng của Ngài khi Ngài tha thứ và thương xót (parcendo et miserando).”[177] Đó là một lời quả quyết thời nào cũng khiến cho các nhà thần học chú ý vì thấy nó táo bạo. Sự tha thứ bày tỏ sự toàn năng của Thiên Chúa có lẽ còn hơn cả việc tạo dựng, vì đưa thụ tạo ra khỏi một sự hư vô còn “hư vô” hơn sự hư vô của sự không hiện hữu; nó đưa con người ra khỏi tội lỗi là việc xa lìa Thiên Chúa, cội rễ và lý do hiện hữu của chúng ta.
Để ca ngơi lòng thương xót của Thiên Chúa, phụng vụ mới cung cấp cho chúng ta hai Kinh Nguyện Thánh Thể gọi là “hòa giải”; Kinh thứ nhất có tựa đề “Hòa giải, trở về với Chúa Cha”, và Kinh thứ hai là “Hòa giải với Thiên Chúa, nền tảng của một sự hòa hợp nơi con người”. Mỗi Kinh có thể gợi ý cho một bài huấn giáo đầy đủ về lòng thương xót của Thiên Chúa theo dòng lịch sử Cứu Độ. Trong Kinh thứ nhất, chúng ta có thể đọc thấy:
“Chúng con là những người hư mất, không thể đến gần Chúa. Chúa đã yêu chúng con bằng tình yêu hải hà: Con Chúa, Đấng duy nhất Công Chính, đã phó nộp mình vào tay chúng con và bị đóng đinh trên thập giá.”
Lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa
Tiếp theo Thông điệp về Thiên Chúa Giầu lòng thương xót (Dives in misericordia) ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1980, thánh Gioan Phaolô II đặt ra lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa buộc cử hành Chúa nhật sau lễ Phục Sinh. Ý tưởng của ngày lễ phát xuất từ những mạc khải tư của Chúa Giêsu cho thánh nữ Faustina Kowalska (1905-1938) và những thực hành thiêng liêng được khai triển sau đó. Ở đây tôi muốn cố gắng hiểu ý nghĩa – thần học và mục vụ – sâu sắc của lễ này, xem nó có thể góp phần ở những điểm nào vào nỗ lực hiện nay của Giáo Hội cho việc tân Phúc Âm hóa.
Giống như trường hợp lễ Mình Máu Thánh Chúa, lể Thánh Tâm Chúa Giêsu và các lễ khác, nói chung Giáo Hội đón nhận sứ điệp của Chúa, được chuyển đạt cho một vài người dưới hình thức tư, biến sứ điệp ấy thành của mình, làm cho nó phong phú với một nội dung thần học, đặt nó trong bối cảnh toàn bộ mạc khải và lịch sử Cứu Độ. Đó là điều đã xẩy ra với lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa. Để hiểu rõ ý nghĩa của ngày này theo ý muốn của thánh Gioan Phaolô II, phải để ý đến thông điệp của ngài, cũng như những mạc khải của Chúa Giêsu cho thánh nữ Faustina.
Ở đây, chính xác Huấn quyền đã đóng góp điều gì? Đó là xen phạm vi Kitô học của lòng đạo đức này vào trong phạm vi lớn hơn, tức phạm vi Ba Ngôi. Thiên Chúa “giầu lòng thương xót” của Gioan Phaolô II không phải là ngôi vị của Đức Giêsu đứng riêng rẽ, nhưng là Thiên Chúa-Ba Ngôi, cách riêng là Thiên Chúa Cha. Thông điệp bắt đầu như sau:
“Thiên Chúa giầu lòng thương xót[178] là Đấng mà Đức Giêsu Kitô đã mạc khải cho chúng ta biết là Cha: chính Ngài, Con của Người, đã bày tỏ Người và cho chúng ta biết Người nơi bản thân Ngài.”[179]
Đức Giêsu chịu đóng đinh và sống lại mà chúng ta chiêm ngắm trên hình ảnh của ngày lễ, không phải ở nguồn gốc, nhưng ở tận cuối lịch sử lòng thương xót của Thiên Chúa. Ngài là sự bày tỏ trong lịch sử một lòng thương xót còn sâu thẳm hơn, có nguồn mạch cuối cùng là trái tim của Chúa Cha, trong lòng Ba Ngôi. Tiếp đến, Đức Giáo Hoàng đi vào trọng tâm mạc khải cho thánh nữ Faustina. Trong số những lời Đức Giêsu nói cho thánh nữ, ngài đã xác định lời cắt nghĩa tất cả những lời khác:
“Chúa nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh là ngày lễ kính Lòng Thương Xót. Nhờ Ngôi Lời nhập thể, Ta cho mọi người biết sự vô biên của Lòng Thương Xót của Ta.”[180]
Đấng nói như thế chỉ có thể là Chúa Cha! Nhìn như vậy thì ngày lễ và việc sùng mộ Lòng Thước Xót của Chúa có thể là một dụng cụ Phúc Âm hóa quý giá cho Giáo Hội. Nó giúp chúng ta thay đổi ý kiến về Thiên Chúa Cha ăn sâu trong vô thức của con người và có lẽ – như sẽ thấy sau – lý do chính khiến những người vô tín khước từ Thiên Chúa.
Tuy nhiên, lễ kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa có giới hạn: không có phụng vụ riêng. Nói cho đúng, Giáo Hội không dám thay đổi tính chất cũng như nội dung phụng vụ của Chúa nhật thứ nhất sau lễ Phục Sinh, được biết đến từ thời Thượng cổ là “Chúa nhật in albis” (Chúa nhật áo trắng)[181], với những bản văn riêng, ngay cả trên bình diện niên đại, cho Chúa nhật này, như việc Chúa hiện ra ở nhà Tiệc ly và câu chuyện Tôma. Đúng hơn đây không phải một lễ mới, lễ kính Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, cho bằng một ý nghĩa mới thêm vào một Chúa nhật trong năm, cũng như trường hợp Chúa nhật “Chúa Chiên Lành”.
Lễ thật sự kính nhớ lòng thương xót của Đức Kitô là lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, được cử hành thứ sáu sau lễ trọng kính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu. Lễ trọng này không phải là lễ nghỉ, khiến cho lễ này có điều gì đó bí nhiệm. Đó là lễ của “những người bạn thân thiết”. Việc chọn các bản văn, dù là cho phụng vụ các Giờ Kinh (bản văn của thánh Bonaventura về Trái Tim Chúa Kitô bị đâm thâu, nơi nương ẩn của các tâm hồn yêu dấu!) hay cho phụng vụ Thánh Thể, thích hợp cách đặc biệt.
Chúng ta biết trong Kinh Thánh trái tim là trung tâm của trí khôn, ý muốn và tình cảm của con người. Những bản văn cảm động nhất về tình yêu dịu dàng và thương xót của Thiên Chúa trong Cựu Ước rõ ràng nhắc tới trái tim của Thiên Chúa. Cũng vậy ở đây các bài đọc Cựu Ước và Tân Ước đánh dấu một bước nhảy về phẩm chất, và lần này là từ ẩn dụ tới thực tại. Trái tim của Thiên Chúa cũng mặc lấy xác phàm!
Đối với chúng ta, trái tim sau việc nhập thể của Chúa là một biểu tượng có thực – vừa là biểu tượng đồng thời cũng là một thực tại – vì chúng ta biết Đức Kitô có một trái tim nhân loại; giữa lòng Ba Ngôi có một trái tim nhân loại đang đập. Quả thực, nếu Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, trái tim của Ngài cũng sống lại từ cõi chết; trái tim ấy sống như phần còn lại của thân xác, trong một chiều kích khác với trước đây – thiêng liêng chứ không xác thịt – nhưng là một trái tim sống. Nếu Con Chiên ở trên trời “như thể đã bị giết mà vẫn đứng”[182], trái tim của Con Chiên ấy tham dự vào cùng một tình trạng này; đó là một trái tim bị đâm thủng nhưng vẫn sống, hằng bị đâm thủng vì hằng sống.
Có lẽ chúng ta có sự xác thực, điều còn thiếu (hoặc đã không được diễn tả đủ) trong việc tôn sùng truyền thống Thánh Tâm Chúa và có thể góp phần vào việc canh tân và làm sống lại việc tôn sùng này. Thánh Tâm không chỉ là trái tim đập trong lòng Đức Kitô trong cuộc đời trần gian của Ngài và đã bị đâm thủng trên thập giá và chỉ có đức tin và việc tôn sùng hoặc, đúng hơn, chỉ có Thánh Thể mới có thể làm cho sự hiện diện của trái tim ấy tồn tại mãi giữa chúng ta. Thánh Tâm không chỉ sống trong sự tôn sùng, mà cả trong thực tế; không chỉ định vị mình trong quá khứ, mà cả trong hiện tại nữa.
Trong thân thể con người, trái tim là động cơ của tất cả; khi nó ngừng đập là tất cả ngừng lại; nó nhận máu có chất dỉ của bộ máy, làm sạch máu qua lá phổi và trả lại cho mọi chi thể máu đã được tái tạo và trong sạch. Trái tim của Đức Kitô trong nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội làm tất cả những việc đó. Tiếp theo Augustinô, người ta nói rằng “Chúa Thánh Thần là linh hồn của Giáo Hội”[183], nhưng cả hai việc hài hòa với nhau. Chúa Thánh Thần ở trong nước và máu chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô.[184]
Việc tôn sùng Thánh Tâm không làm cạn kiệt mục đích của nó với sự biến mất của chủ thuyết Jansen, một chủ thuyết đã là một trong những lý do khiến Giáo Hội đặt ra việc tôn sùng này; cho đến ngày nay, nó vẫn là liều thuốc giải độc tốt nhất cho tính chất trừu tượng, cho chủ nghĩa duy trí và cho chủ nghĩa hình thức, một chủ nghĩa làm khô cạn rất nhiều thần học và đức tin. Một trái tim đang đập là điều phân biệt rõ ràng nhất một thực tại sống với khái niệm về nó, bởi vì khái niệm có thể chứa mọi thứ của một người, ngoại trừ trái tim đang đập của người này.
Làm tươi mới nội dung của ngày lễ “trong Thánh Thần”
Để giải phóng tiềm lực thánh hóa và Phúc Âm hóa của hai lễ về lòng thương xót, chúng ta phải không ngừng làm nó tươi mới “trong Thánh Thần”, nghĩa là giải thoát nó khỏi mọi cách giải thích một phần và những méo mó do chúng ta không có khả năng giữ cho những sự việc của Thiên Chúa được tinh tuyền và đa dạng. Ca nhập lễ cũ của lễ Thánh Tâm Chúa trích một Thánh vịnh như sau: “Ý định của lòng Người vạn kiếp trường tồn.”[185] Ý định của lòng Chúa không thay đổi, nhưng các thế hệ thì có!
Phải đổi mới hai yếu tố của lễ kính lòng thương xót. Yếu tố thứ nhất liên hệ đến ý nghĩa và chỗ đứng của những việc “thực hành đạo đức” gắn liền với lễ này: những thứ sáu của tháng kính Thánh Tâm Chúa, những tuần cửu nhật và những tràng hạt khác nhau cho ngày lễ kính Lòng Thương Xót của Chúa. Nếu tất cả những việc đó không có một huấn giáo chắc chắn kèm theo, thì có nguy cơ là làm cho người ta tưởng rằng sự thương xót của Thiên Chúa là phần thưởng và kết quả của những thực hành đạo đức này: làm điều này điều kia thì sẽ có được cái này cái nọ. Đó là xu hướng bẩm sinh muốn “trả giá thục hồi cho Thiên Chúa”[186], làm hỏng hoàn toàn mối tương quan giữa đức tin và việc làm. Những thực hành đạo đức, cũng như mọi “việc lành”, được coi là hợp lý và thánh thiện nếu coi chúng như một cách đáp lại ân sủng, chứ không phải lý do của ân sủng.
Tất cả những thực hành đạo đức này cho phép những người đơn sơ mộc mạc bày tỏ lòng tin và tôn sùng của họ; vậy chúng ta không thể gạt bỏ chúng. Đúng hơn nên nhẫn nại đặt chúng vào đúng vị trí, giải thích rằng lòng thương xót của Thiên Chúa luôn luôn vô điều kiện, mặc dù nó không bao giờ không có hậu quả. Điều kiện cần thiết mặc nhiên không thể là: “Nếu bạn đọc những kinh này theo con số và cách thức đã chỉ, Thiên Chúa sẽ ban cho bạn ơn tha thứ, xá tội, được vào thiên đàng ngay và liền một lúc như vậy”, nhưng đúng hơn: “Thiên Chúa đã tha thứ và thương xót bạn: hãy tạ ơn Ngài, ca ngợi Ngài, chúc tụng Ngài vì những ơn này. Hãy làm như Giáo Hội trong kinh Vinh Danh: “Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa, chúng con cảm tạ Chúa”. Thiên Chúa không xử sự với chúng ta theo quy tắc “do ut des” (tôi cho để nhận được), chúng ta cũng không xử sự như vậy với Ngài. Với Chúa, chúng ta chỉ có thể sống đạo theo kiểu “do quia dedisti” (tôi cho vì tôi đã nhận được), vì Ngài đã được ban cho tôi.
Tảng đá ngầm thứ hai phải tránh chung quanh các lễ và mọi cử hành về lòng thương xót của Chúa liên hệ đến nội dung của từ này. Như ta đã thấy, lòng thương xót của Thiên Chúa không chỉ là agapè, mà còn là eros! Nó không chỉ là tha thứ các tội lỗi mà còn là âu yếm, tình yêu từ lòng dạ; nơi các tiên tri và tác giả sách Diễm ca, nó là tình yêu đam mê, ghen tương. Nói khác đi, Thiên Chúa không chỉ bác ái đối với ta nhưng còn yêu thương ta, ao ước ta. Ngài muốn cho tình yêu của ta đối với Ngài cũng phải như vậy.
Chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa bằng một tình yêu thương xót, theo nghĩa tha thứ (chúng ta có thể tha thứ cho Thiên Chúa điều gì?), nhưng chúng ta có thể yêu Ngài bằng một tình yêu thương xót theo nghĩa một tình yêu khởi đi từ tâm hồn và lòng dạ, cảm động đến chảy nước mắt. Một tình yêu biết ơn xúc động.
Hoan hô các lễ kính lòng thương xót, nếu chúng giúp cho chúng ta nhớ lại tất cả những điều đó.
15. “PHÚC CHO NHỮNG AI CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT, VÌ HỌ SẼ ĐƯỢC XÓT THƯƠNG”
Từ ân huệ tới bổn phận
Đã đến lúc từ lòng thương xót của Thiên Chúa chúng ta bước sang lòng thương xót của chúng ta; từ ân huệ tới bổn phận. Khác với bất cứ một tôn giáo hay triết học tôn giáo nào, Kitô giáo không bắt đầu bằng cách nói với con người điều họ phải làm để được cứu, nhưng bắt đầu bằng cách nói với con người điều Thiên Chúa đã làm để cứu họ. Nó không bắt đầu bằng bổn phận, nhưng bằng ân huệ. Chắc chắn có những bổn phận và giới răn – đòi hỏi hơn bao giờ hết – tuy nhiên không chiếm hạng đầu nhưng là hạng hai. Trước bổn phận, có ân huệ; trước việc làm là ân sủng.
Ví dụ rõ ràng nhất là ví dụ về “giới răn thứ nhất và quan trọng nhất”, giới răn mến Chúa yêu người. Thánh Gioan quả quyết: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu chúng ta trước. Chúng ta yêu vì Ngài đã yêu chúng ta.[187] Chúng ta sẽ thấy điều xẩy ra theo cùng một cách như lòng thương xót. Hạn từ thương xót do hai từ La tinh misereor và cor ghép lại, có nghĩa là động lòng thương, xúc động vì nỗi đau khổ hay sai lầm của người anh chị em mình. Chính như thế mà, như ta đã thấy, Thiên Chúa giải thích lòng thương xót của mình trước sự lầm lạc của dân Ngài: “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi.”[188]
Lòng thương xót của con người, lý do hay hiệu quả của lòng Chúa thương xót
Đức Giêsu nói: “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”[189], và trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy chúng ta cầu nguyện như sau: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Ngài còn nói: “Nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”[190] Những lời trên có thể làm cho chúng ta tưởng rằng lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta là hiệu quả của lòng thương xót của chúng ta đối với người khác, và tương xứng với lòng thương xót ấy. Nhưng nếu như vậy thì tương quan giữa ân sủng và việc lành hoàn toàn bị đảo ngược, chúng ta phá hủy tính chất cho không của lòng Chúa thương xót, đã được Thiên Chúa long trọng công bố trước mặt Môsê: “Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót..”[191]
Chúng ta phải thương xót, vì chúng ta đã được thương xót, không phải để chúng ta được thương xót. Chúng ta phải thương xót, nếu không, lòng thương xót của Thiên Chúa không có hiệu quả nào đối với chúng ta, và sẽ được rút ra khỏi chúng ta. Ân sủng luôn “báo trước” và tạo ra bổn phận. Phaolô viết cho tín hữu Colossê: “Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.”[192] Nếu trong mối phúc, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta dường như là hậu quả của việc chúng ta thương xót anh em mình, thì chính là vì Đức Giêsu tự đặt mình trong viễn tượng về ngày chung thẩm (“họ sẽ được thương xót”, thì tương lai!).
“Vì Thiên Chúa không thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót. Còn ai thương xót thì chẳng quan tâm đến việc xét xử.”[193]
Dụ ngôn về hai người đầy tớ[194] là chìa khóa giúp hiểu cho đúng tương quan này. Chúng ta thấy thái độ của ông vua là người đầu tiên tha cho đầy tớ của mình một món nợ rất lớn (mười ngàn yến vàng!), không đặt ra điều kiện nào cả. Chính lòng quảng đại của ông lẽ ra phải thúc đẩy người đầy tớ này thương xót người chỉ mắc nợ anh ta một trăm quan tiền. Ông vua trong dụ ngôn dĩ nhiên là Thiên Chúa, và những người đầy tớ là con người. Con người mắc nợ Thiên Chúa mọi sự, họ nhận được mọi sự từ Ngài. Nhưng Thiên Chúa không đòi quyền lợi nào cho mình. Ngài không yêu cầu điều gì có thể làm lợi cho Ngài. Ngài cho không, cho dư dật, không ra điều kiện tiên quyết. Nhưng nếu tình yêu này tuyệt đối vô điều kiện, thì, tôi lặp lại, nó không phải là không có hậu quả. Thiên Chúa muốn con người nhận tình yêu cho không mà Ngài ban trước cho con người, không tính toán. Nhưng Ngài cũng muốn con người cho phép tình yêu này sống trong họ, xâm nhập cả con người của họ. Và chính đó là điều mà người đầy tớ trong dụ ngôn từ chối. Đúng là anh ta nhận hưởng món quà rất lớn của chủ, nhưng lại có ý định giữ riêng cho mình, chặn nó nơi thâm sâu của mình. Anh phá vỡ đường chuyển động của tình yêu.
Thương xót như Cha chúng ta trên trời
Tại sao Thiên Chúa lại đặt ra mối liên hệ chặt chẽ giữa lòng thương xót của Ngài đối với chúng ta và lòng thương xót của chúng ta đối với người khác? Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Như Thầy đã yêu thương anh em, anh em hãy yêu thương nhau”[195] (không phải: anh em cũng phải yêu thương Thầy). Gioan quả quyết: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.”[196] Chúng ta hẳn sẽ nói Thiên Chúa quan tâm tới tình yêu của chúng ta đối với người thân cận hơn là tới tình yêu của chúng ta đối với Ngài. Ở đây chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa tình yêu của con người là mạch kín, và tình yêu của Thiên Chúa là mạch hở. Trong Triviata của Verdi, nàng Violette đã ca lên: “Yêu em đi, anh Alfred. Hãy yêu em như em yêu anh.” Ở đây chúng ta có quy luật: em yêu anh, anh hãy yêu em; còn với Thiên Chúa, quy luật là: con yêu Chúa, hãy yêu anh em mình.
Tại sao lại có sự đổi hướng đặc biệt này của tình yêu, từ Thiên Chúa hướng tới người thân cận? Lý do trực tiếp nhất là vì chúng ta còn sống trong xác thịt; tất cả đều phải qua xác thịt. Tình yêu cũng phải nhập thể để trung thực, chứ không trên mây trên gió, như vậy sẽ ra khói sương tan biến trong hư vô. Vì chúng ta không thể yêu Thiên Chúa cách cụ thể và thực tế này, với hồn và xác – do không thấy Thiên Chúa – chúng ta phải quay về với người thân cận mà chúng ta thấy được.[197] Người thân cận, người khác, là khuôn mặt hữu hình của Thiên Chúa đối với tôi.
Thánh Catarina Sienna viện dẫn một lý do khác cũng rất cơ bản. Ngài đặt vào miệng Thiên Chúa những lời sau đây:
“Ta truyền cho con yêu ta bằng cùng một tình yêu như Ta yêu con. Thật ra con không thể làm điều đó cho đầy đủ. Ta đã yêu con trước khi được yêu, và từ đó, bất cứ tình yêu nào con có đối với Ta, đều là một món nợ con phải trả, không phải một ơn mà con làm cho Ta, trong khi tình yêu mà Ta có cho con lại là một ân huệ Ta ban cho con, chứ không mắc nợ con. Con không thể trả lại Ta tình yêu Ta đòi hỏi nơi con. Nhưng Ta đã đặt con bên cạnh người thân cận của con, để con có thể làm cho người đó điều con không thể làm cho Ta: yêu người đó vì thiện ý, vô vị lợi, không mong đợi bất kỳ lợi lộc nào. Khi ấy Ta coi điều con làm cho người thân cận là làm cho Ta.”[198]
Hiển nhiên là chúng ta, những thụ tạo tội lỗi, không thể yêu Thiên Chúa bằng một tình yêu “thương xót”, chúng ta không thể tỏ lòng thương xót với Thiên Chúa. Đó là lý do vì sao người thân cận đã được ban cho chúng ta. Đó là điều cho phép chúng ta thi hành lệnh truyền của Đức Giêsu có vẻ là không thể: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ.”[199] Như vậy, chúng ta có thể làm cho người khác đúng những gì Thiên Chúa làm cho chúng ta. Và Ngài coi điều đó (một đặc điểm khác trong sự thương xót vô biên của Ngài!) như thể chúng ta đã làm cho chính cá nhân Ngài. “Là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy!”[200]
Tuy nhiên, khác với lòng thương xót của Chúa đối với chúng ta, lòng thương xót của ta đối với người thân cận không phải là một ân huệ chúng ta ban cho người đó, mà là một món nợ chúng ta trả cho người đó: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái.”[201] Tại sao lại là món nợ? Chúng ta đã nhận được một mức độ vô biên tình yêu phải chia sẻ với anh em mình. Dù yêu một người anh em mấy đi nữa, chúng ta sẽ không bao giờ sánh bằng với mức độ nhận được cho người đó và thuộc về người đó. Thiên Chúa đã bày tỏ cho chúng ta một lòng thương xót vô biên khi ban cho ta người Con của Ngài là Đức Giêsu. Ngài đòi ta không được giữ lòng thương xót ấy cho mình, nhưng làm cho nó lưu chuyển. Ngài đòi nước mà Ngài đã ban cho ta phải trở nên nơi ta “một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”[202] Vậy mỗi người trong các anh em gõ cửa nhà bạn đều là một chủ nợ đòi nợ của họ. Cho dù bạn không thể lúc nào cũng cho họ những gì họ đòi, vẫn phải để ý đừng bao giờ để họ ra về mà không có được những gì họ cần.
Ở đây chúng ta lưu ý là động lực chính yếu thúc đẩy chúng ta yêu người thân cận không phải là ngoại tại, nhưng nội tại nơi ta. Không phải vì Thiên Chúa đòi ta yêu họ, cũng không phải vì họ xứng đáng được Thiên Chúa yêu mà xứng đáng được ta yêu. Chính vì Thiên Chúa đã đặt nơi ta, đã giao phó cho ta, tình yêu của Ngài ngay cả đối với các anh em ta, Căn bản đó là đức bác ái đối thần với tư cách là nhân đức thiên phú: nhân đức ấy tham dự vào chính tình yêu của Thiên Chúa, được “thông phần bản tính Thiên Chúa”[203], bản tình này là tình yêu, vì vậy là một khả năng yêu mới như Thiên Chúa yêu.
Lòng thương xót, nơi gặp gỡ các tôn giáo
Có lẽ đây là điều làm cho Kitô giáo xích lại gần Phật giáo nhất. Trong Phật giáo, lòng trắc ẩn đối với mọi sinh vật tạo nên “chính hành”, một trong bát chính đạo đưa tới giác ngộ. Nhưng động lực lại khác nhau trong hai tôn giáo này. Trong Kitô giáo, nền tảng là con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, “là Cha giầu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an”[204], Đấng “yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào khác Chúa đã làm ra.”[205] Trong Phật giáo – một tôn giáo không biết đến ý tưởng về một Thiên Chúa có ngôi vị và sáng tạo – nền tảng có tính cách nhân học và vũ trụ: con người phải từ bi do liên đới và trách nhiệm liên kết họ với mọi sinh vật.
Sự khác biệt này không được ngăn cản chúng ta cùng nhau hành động trên bình diện thực tế, đặc biệt ngày nay, lúc đời sống bị bạo hành đe dọa, và tương quan giữa con người nhau trở nên quá khó khăn và “tàn nhẫn”. Người Kitô hữu chúng ta học nhiều từ những sách của Dalai-Lama Tenzin Gyatso, người đã đề nghị một thứ “đạo đức học hòa bình và trắc ẩn” cho thiên niên kỷ thứ ba. Mỗi trang sách toát ra một ý thức lớn về sự liên đới, hầu như âu yếm đối với mọi sinh vật, và gợi ý đưa nhãn quan này vào trong chính trị, kinh tế và trong tất cả những lãnh vực khác của cuộc sống.
Nếu lòng thương xót như một thái độ và một đức tính nhân loại đưa Kitô giáo xích lại gần Phật giáo cách nào đó, thì lòng thương xót như một thuộc tính của Thiên Chúa đưa nó tới gần Do thái giáo và Hồi giáo, nghĩa là hai tôn giáo lớn độc thần. Chính Đức Phanxicô nhấn mạnh điều này trong Thông điệp công bố Năm Thánh. Ngài viết như sau:
“Giá trị của lòng thương xót vượt qua các ranh giới của Giáo Hội. Nó có liên hệ với Do Thái giáo và Hồi giáo, là những tôn giáo coi nó như một trong những thuộc tính có ý nghĩa nhất của Thiên Chúa. Israel đã tiên vàn lãnh nhận mạc khải này, một mạc khải như một khởi điểm trong lịch sử cho một sự phong phú vô biên được ban cho tất cả nhân loại. […] Về phần mình, Hồi giáo gán cho Đấng Tạo Hóa những phẩm tính thương xót và nhân từ. Người ta thường thấy những lời kêu cầu này trên môi miệng người Hồi giáo, là những người cảm thấy mình được lòng thương xót đồng hành và nâng đỡ trong sự yếu đuối hàng ngày. Cũng chính họ tin rằng không ai có thể giới hạn lòng thương xót của Allah vì các cửa của Ngài luôn rộng mở.”[206]
Dầu chảy xuống từ chòm râu Aaron
Thánh Augustinô nói: “Chúng ta là những con người phàm trần, mong manh, ốm yếu, mang những bình đất sét, khó chịu với nhau.”[207] Chúng ta không thể sống hài hòa với nhau, trong gia đình hoặc trong bất cứ kiểu sống cộng đồng nào, không biết tha thứ và thương xót nhau. Chúng ta phải phản ứng bằng cách tha thứ và, cho tới lúc còn có thể, bằng lời xin lỗi, hơn là bằng cách lên án. Khi là về chúng ta, chúng ta chỉ cần áp dụng câu ngạn ngữ: “Ai tha cho mình, thì Thiên Chúa buộc tội người ấy; ai buộc tội mình, thì Thiên Chúa tha cho người ấy; nhưng khi là về người khác thì câu trên trở thành: “Ai tha cho anh em mình, thì Thiên Chúa tha cho người ấy; ai buộc tội anh em mình, thì Thiên Chúa buộc tội người ấy”.
Tha thứ trong một cộng đồng cũng giống như nhớt trong một bộ máy. Nếu chúng ta bắt đầu lên đường trong một chiếc xe không có một giọt nhớt nào trong máy, thì chỉ sau vài phút tất cả đều nóng rực. Cũng như nhớt, tha thứ làm giảm những ma xát. Thương xót nhau phải là tình cảm tự nhiên nhất cho chúng ta, những thụ tạo con người. Không có lòng trắc ẩn dù chỉ chút xíu, thì phải bịt mắt bưng tai trước những tiếng kêu ai oán mà chúng ta nghe thấy từ tứ phía.
Tôi đã sử dụng hình ảnh dầu nhớt. Một trong những Thánh vịnh ca ngợi vẻ đẹp và niềm vui của những anh em được sống bên nhau, giống “như dầu quý đổ trên đầu, xuống râu xuống cổ áo chầu Aaron.”[208] Aaron của chúng ta, Vị Thượng tế của chúng ta, chính là Đức Kitô; sự thương xót và tha thứ, chính là dầu chảy từ “đầu” được đưa lên cao trên thập giá, và tràn xuống toàn thân là Giáo Hội tới những mép áo, tức là tới những người ở ngoài lề.
Chúng ta hãy tìm cách cụ thể nhận ra, trong những mối quan hệ của chúng ta với mỗi người, mối quan hệ nào có vẻ cần thiết nhất để đưa dầu của lòng thương xót và hòa giải thấm sâu vào trong đó, âm thầm đổ dầu cho dồi dào. Nơi nào chúng ta sống như thế, thì như lời Thánh vịnh kết thúc, nơi đó có “ân huệ Chúa ban, chính là sự sống chứa chan muôn đời”.
16. “HÃY MẶC LẤY LÒNG DẠ THƯƠNG XÓT”
Tình cảm nhân hậu và việc làm nhân hậu
Có lòng nhân hậu không chỉ có nghĩa là tha thứ cho người thân cận. Giáo Hội dạy điều quen gọi là “thương xác bẩy mối”: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng kẻ liệt, thăm viếng kẻ tù, cho khách đỗ nhà, chôn xác kẻ chết.
Sáu mối đầu được Đức Giêsu nói đến trong Matthêu chương 25; mối thứ bẩy – chôn xác kẻ chết – dựa vào sách Tôbia.[209] Cùng với thương xác, sách Giáo Lý còn thêm cũng bằng ấy “mối thương linh hồn”: lấy lời lành mà khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
Như thường lệ, bảng liệt kê trên đây chỉ gợi ra một số việc chứ không nói hết. Chúng ta sẽ phải cập nhật hóa và thích nghi với thời đại và với những khốn khổ mới về thể xác và tinh thần của nhân loại. Chẳng hạn với những việc thương xác, ngày nay nên thêm vào mối thương “đừng để cho người già cả phải neo đơn”, và với những việc thương linh hồn, nên thêm vào mối thương “giáo dục trẻ em”.
Tuy nhiên điều tôi muốn suy niệm trong chương này không phải về những “việc” thương xót cho bằng về “lòng dạ” thương xót. Không phải về sự thương xót bằng bàn tay, nhưng về sự thương xót bằng con tim. Nói cách khác, về những tình cảm và những tâm thái bên trong phải đi kèm với chuyện “thể hiện” lòng thương xót. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Colossê:
“Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiến hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.”[210]
“Lòng thương cảm” đó là cách dịch giảm nhẹ của kiểu nói mạnh mẽ và thực tiễn hơn của bản văn gốc nói về “lòng dạ thương xót” (splangna oiktirmou). Như chúng ta vừa thấy, hình ảnh được sử dụng ở chỗ khác trong Kinh Thánh để mô tả lòng thương xót của Thiên Chúa; như thể thánh Tông Đồ nói: Hãy thương xót như Thiên Chúa thương xót, tức là không chỉ làm điều thiện, nhưng còn muốn điều thiện.
Liên hệ tới lòng thương xót, chúng ta có thể nói về một trực giác đặc biệt của Phaolô. Trực giác này hệ tại ở chỗ, đàng sau thế giới hữu hình và bên ngoài của bác ái, thể hiện bằng hành vi và lời nói, mạc khải một thế giới khác hoàn toàn bên trong; thế giới này đối với thế giới bên ngoài cũng như linh hồn đối với thân xác. Làm điều thiện, hoặc thực hành những việc thương xót, phải phát xuất từ chỗ muốn điều thiện. Tình cảm nhân hậu phải đi trước việc làm nhân hậu.
Thánh Tông Đồ nói: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ.”[211] Hạn từ nguyên thủy được Phaolô sử dụng và được dịch là “không giả hình giả bộ”, là anhypòkritos, có nghĩa là không đạo đức giả. Từ ngữ này là một loại tiên kiến; quả thực, đó là một từ hiếm hoi chúng ta bắt gặp trong Tân Ước, hầu như chỉ để xác định tình yêu Kitô giáo. Kiểu nói còn được sử dụng trong 2Cr 6,6 và 1Pr 1,22. Bản văn thư Phêrô cho phép chúng ta hiểu cách chắn chắn ý nghĩa của hạn từ đang bàn, vì cắt nghĩa hạn từ bằng một kiểu giải thích dài dòng. Theo thánh Phêrô, tình yêu chân thành ở chỗ yêu nhau “bằng một con tim tinh tuyền”.
Chính Phaolô cắt nghĩa sự khác biệt giữa hai loại bác ái, cho biết hành vi lớn nhất thương xót bên ngoài – cho người nghèo mọi của cải của mình – không giúp ích gì nếu không có bác ái bên trong.[212] Đó là đối nghịch với bác ái “chân thành”. Quả thực bác ái giả hình chính là thứ bác ái làm điều thiện mà không muốn điều thiện, bày tỏ ra bên ngoài một điều không có cái tương đương trong tâm hồn. Trong trường hợp này, người ta được thấy một vẻ bên ngoài của bác ái, có thể che giấu sự ích kỷ, tìm kiếm mình, biến người thân cận thành dụng cụ, hoặc đôi khi chỉ thuần túy vì hối hận trong lương tâm.
Tất nhiên, sẽ là một sai lầm chết người nếu đối lập sự thương xót của trái tim với sự thương xót của việc làm, hoặc nếu trú ẩn nơi sự thương xót bên trong, để tìm ở đó một cái cớ vì đã thiếu sót không thương xót bằng việc làm. Vấn đề không phải là giảm nhẹ tầm quan trọng của các việc của lòng thương xót, cho bằng bảo đảm cho những việc ấy một nền tảng chắc chắn chống lại sự ích kỷ và những mưu mẹo vô tận của nó.
Đó là lòng thương xót sáng chói trong hoạt động của Đức Kitô. Trước khi thuật lại một việc chữa lành hay một phép lạ Đức Giêsu làm, các tác giả Phúc Âm hầu như lúc nào cũng nói về sự xúc động và thương cảm của Ngài, về cách thức lòng dạ Ngài xúc động: “Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh ta và bảo: “Tôi muốn, anh sạch đi!”[213] Trông thấy bà góa ở Naim đau buồn, Đức Giêsu “chạnh lòng thương bà”[214] (dịch sát: “cảm thấy lòng dạ mình rúng động” “esplangnisthe”). Tương tự như vậy trước khi Ngài làm cho bánh hóa ra nhiều[215] và trong nhiều hoàn cảnh khác. Trong những trường hợp ấy, Đức Giêsu chỉ giúp người ta thấy được những tình cảm của Cha trên trời đối với các thụ tạo. Phúc Âm cho biết là người cha trong một dụ ngôn, khi thấy đứa con hoang đàng trở về, đã “chạnh lòng thương.”[216]
Hạn từ hay nhất dùng để dịch ẩn dụ Kinh Thánh thông thường này, tức cảm thấy lòng dạ rúng động, là “xúc động”. Đây là từ không được hiểu theo nghĩa phiến diện, đôi khi thậm chí tiêu cực, như thể về một điều gì đó mà những người mạnh mẽ hẳn sẽ phải xấu hổ. Xúc động, một khi chân thành và phát xuất từ tâm hồn, là câu trả lời gây xúc cảm nhất và xứng đáng nhất của con người trước mạc khải về một tình yêu lớn nhất hoặc về một nỗi khổ lớn nhất, một mạc khải dầu sao cũng đem lại nhiều thiện ích nhất cho người đón nhận nó. Không một lời nào, một cử chỉ nào, một ân huệ nào có thể thay thế xúc động, vì nó là một món quà đẹp đẽ nhất. Người ta mở rộng chính con người của mình cho người khác. Đó là lý do vì sao chúng ta có thể cảm thấy e thẹn, như cảm thấy những sự việc thâm sâu nhất và thánh thiêng nhất trong đó người ta có kinh nghiệm hoàn toàn không thuộc về mình nữa, nhưng thuộc về một người khác. Chúng ta không thể hoàn toàn che giấu xúc động của mình mà không làm cho người khác mất đi một điều gì đó thuộc về họ, vì xúc động phát sinh là cho họ.
Thương xót trong phán đoán
Trong Thông điệp công bố Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Phanxicô nhấn mạnh lãnh vực trong đó điều quan trọng là thực hành thương xót bằng tâm hồn: lãnh vực xét đoán. Ngài viết:
“Nếu người ta không muốn bị Thiên Chúa xét xử, thì không ai được trở thành người xét xử anh em mình. Quả thực, khi xét xử, con người dừng lại ở những gì ngoài mặt, trong khi Chúa Cha thấy tận tâm hồn.”[217]
Đức Giêsu nói:
“Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị xét đoán; [..] Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới?”[218]
Những lời trên không có nghĩa là: đừng xét đoán người ta, như vậy người ta sẽ không xét đoán anh em (qua kinh nghiệm chúng ta biết không phải luôn như vậy), nhưng đúng hơn: đừng xét đoán anh em, để Thiên Chúa không xét đoán bạn. Chúa so sánh tội của người khác (tội bị xét đoán), bất cứ tội nào, với một cọng rơm, trước tội của người xét đoán (tội xét đoán) giống như cái xà. Cái xà là chính sự kiện xét đoán, vì tật xấu này nghiêm trọng trước mắt Thiên Chúa.
Thế nhưng nói về sự xét đoán cũng tế nhị và phức tạp và người ta không thể nói nửa vời mà không thấy ngay là ít thực tế. Quả thực làm thế nào có thể sống mà không bao giờ xét đoán? Sự xét đoán tiềm ẩn nơi chúng ta, chỉ trong nháy mắt. Chúng ta không thể quan sát, lắng nghe, sống mà không đánh giá, nghĩa là không xét đoán. Thực ra, điều phải khai trừ khỏi lòng khi xét đoán không phải là sự xét đoán cho bằng sự độc địa trong xét đoán, nghĩa là thù oán, lên án. Theo Luca, ngay sau lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị xét đoán” là lệnh truyền: “Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị lên án”[219], như để giải thích cho ý nghĩa của những từ trên
Tự nó, xét đoán là một hành động vô thưởng vô phạt. Xét đoán có thể kết thúc bằng sự lên án, hoặc tha lỗi và biện minh. Chính những xét đoán tiêu cực mới đáng trách và lời Chúa không chấp nhận, những xét đoán lên án tội nhân cùng với tội lỗi. Một người mẹ và một người ngoài có thể xét đoán đứa con về cùng một lỗi nó phạm, một cách khách quan. Thế nhưng xét đoán của người mẹ và xét đoán của người ngoài khác nhau xa. Quả thực, người mẹ đau khổ về lỗi của con mình, như thể đó là lỗi của bà, bà cảm thấy đồng trách nhiệm, quyết giúp con sửa lỗi, không muốn có nhiều người biết lỗi của con… Vậy sự xét đoán của ta về những người anh em cũng phải giống như xét đoán của bà mẹ, vì chúng ta “tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể”[220]; những người khác đều là “bà con của chúng ta”.
Thương xót của cái nhìn
Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy rõ điều này: tầm quan trọng của đôi mắt Đức Giêsu và cái nhìn của Ngài. Nhiều cuộc gặp gỡ Ngài bắt đầu và được quyết định do cái nhìn đầy yêu mến và thương xót của Ngài. Đó là trường hợp của người thanh niên giầu có[221], của Dakêu[222], của Phêrô sau khi chối Thầy.[223] Cái nhìn của Ngài không phải là cái nhìn vội vã; đôi khi Phúc Âm nói là “Ngài đưa mắt nhìn” hoặc “rảo mắt nhìn quanh.”[224] Chũng không phải là một cái nhìn phiến diện, nhưng nhìn con người nơi trung tâm sâu thẳm nhất của họ. Ngài “thấy tận tâm can” con người. Cái nhìn của Ngài luôn là cái nhìn thương xót và đón nhận, khi Ngài đứng trước những người mở rộng lòng hay đang tìm kiếm, nhưng Ngài trở thành “đáng sợ” trước những người thù nghịch hay giả hình.[225]
Người ta nói rằng sự vật thay đổi nhiều qua các thế kỷ, nhưng bước đầu của cái nhìn không đổi thay: nụ cười, nước mắt, sợ hãi, lạ lùng, tin tưởng, nơi nào cũng đều như nhau. Đức Giêsu đã nói: “Đèn của thân thể là con mắt.”[226] Con mắt là tấm gương của linh hồn. Nhìn vào mắt là như gõ cửa. Khi có ai gõ cửa nhà chúng ta, chúng ta có thể có nhiều cách phản ứng: không trả lời, ngó qua lỗ nhỏ ở cửa, hé mở nhưng không cho vào. Sợ hãi, dửng dưng, mệt mỏi, hoặc vui mừng, phấn khởi, sẵn sàng là những tình cảm phản ánh nơi đôi mắt của người chúng ta gặp gỡ. Những đôi mắt không để ánh sáng dọi vào, cũng không để lộ ra tình cảm, thực đáng buồn biết mấy; chúng giống như những của sổ đã bị bịt kín.
Y học hiện đại đã đi tới chỗ chẩn đoán bệnh tật của một người bằng cách nhìn vào sâu trong mắt họ, Những bệnh tật của linh hồn cũng phản ánh ngay nơi đôi mắt: mắt của người không cảm thấy an tâm thì không bao giờ trực tiếp dán mắt vào cái nhìn của người khác và không chịu đựng lâu cái nhìn ấy; mắt của người kiêu căng và của người tự phụ luôn tạo ra một khoảng cách giữa họ và người khác; mắt của người khoe khoang, ngay cả khi họ nhìn người khác, thì cũng chỉ nhìn thấy chính họ; mắt của người ích kỷ nhin người khác như thấy một mối lợi tiềm tàng; mắt của người dối trá khi nhìn là tìm những nhược điểm của người khác để đánh lừa họ; mắt của người dâm dục không bao giờ thấy con người, nhưng một đồ vật có thể làm thỏa mãn ước muốn của mình.
Tất cả những điều trên là để nói lên rằng hết thảy chúng ta đều có trong tầm tay một phương tiện ưu đãi để thương xót, là cái nhìn của chúng ta. Đó có thể là một nhựa thơm thoa dịu vết thương hoặc một thứ dấm chua đổ trên đó. Điều thánh Giacôbê nói về miệng lưỡi[227], chúng ta cũng phải nói về đôi mắt, vì với đôi mắt, chúng ta có thể giết chết hoặc làm cho sống, gieo rắc nọc độc hoặc an ủi tâm hồn anh em ta.
Lòng thương xót cũng là nhân đức của người không có gì để cho
Sự thương xót của cái nhìn là thứ thương xót mà mọi người có thể và phải thi hành. Kierkegaard không chỉ là một triết gia mà còn là một tín hữu lớn, người bạn của Đức Giêsu, đã viết những trang tuyệt vời về lòng thương xót như một nhân đức, đặc biệt của người không có gì để cho, nếu không phải chính xác là cái nhìn của lòng thương xót. Ông viết như sau:
“Người ta có thể thương xót, cho dù người ta không thể cho bất cứ cái gì. Điều này rất quan trọng, bởi vì chắn chắn rằng có thể tỏ lòng thương xót là một sự hoàn thiện còn lớn hơn là có của cải và có thể cho [..] Hãy thương xót, rồi bạn sẽ có thể cho của cải bạn có mà không xấu hổ, vì không có lòng thương xót, của cải của bạn sẽ hư thối.”[228]
Người ta làm thiệt hại lớn cho người nghèo khi coi họ chỉ như một đối tượng và người nhận lòng thương xót của kẻ khác, như người bất quá chỉ có thể cúi đầu và cám ơn, khi người giầu rủ lòng thương xót họ. “Thiếu thương xót biết bao!” Chúng ta hãy nghe tiếp những lời được triết gia tưởng tượng là đang nói với một người nghèo giả định lắng nghe ông:
“Người ta có thể thương xót ở mức độ cao nhất và theo một ý nghĩa cao thượng và trổi vượt ngay cả khi người ta không có gì để cho [..]. Hãy thương xót, hãy là như thế với người giầu! Hãy nhớ rằng điều đó ở trong khả năng của bạn, trong khi người giàu, chính ông ta, có dư của cải! Đừng lạm dụng khả năng này, và đừng thiếu lòng thương xót đến mức cầu cho sấm sét từ trời đánh trên người thiếu lòng thương xót! [..] Nếu người có keo kiệt và hà tiện, và ngay cả khi không keo kiệt đi nữa mà anh ta có một hành vi ghê tởm, thì nhiệm vụ của bạn vẫn là tỏ ra giàu lòng thương xót [..]. Lòng thương xót, chính là cách chúng ta cho. Tôi có thể thấy rõ lòng thương xót trong một nửa đồng bảng cũng như trong một trăm ngàn đồng tiền.”[229]
Đó là điều Đức Giêsu muốn dạy các môn đệ khi ngài nói về người đàn bà nghèo bỏ hai đồng tiền kẽm vào thùng tiền ở Đền Thờ, là bà ta đã cho nhiều hơn những người giầu dâng cúng.[230] Để cho ta được hạnh phúc, lòng thương xót không phân biệt giầu nghèo, giữa người có của và người không. Nó là nhân đức của mọi người. Nhất là của người không có gì để cho, như triết gia của chúng ta vừa nhắc lại trên đây.
17. LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA NGƯỜI NGOÀI
Dụ ngôn người Samari tốt lành
Thương xót và Lề Luật
Trong âm nhạc cũng như văn chương, có những đoạn “mở đầu” nổi tiếng. Chỉ cần bốn nốt, được sắp xếp theo một cách liên tiếp nào đó, và tất cả các thính giả nói ngay: “Bản giao hưởng số 5 của Beethoven”: Định mệnh đến gõ cửa! Kể từ đây, bốn nốt này là một dấu ấn, như một nhãn ghi giúp người ta có thể nhận ra. Nhiều dụ ngôn của Đức Giêsu cũng có đặc điểm này. Tôi muốn chú giải ở đây một trong những dụ ngôn đó. Nếu tôi bắt đầu nói: “Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô”…, người Kitô hữu nào cũng nói: dụ ngôn người Samari tốt lành!
Chúng ta muốn đọc lại dụ ngôn này, để qua đó thấy điều Đức Giêsu muốn dạy chúng ta về lòng thương xót, nghĩa là Lề Luật đôi khi phải nhường bước cho lòng thương xót, và lòng thương xót, trước khi là một nhân đức Kitô giáo, đã là một đòi hỏi và một nhân đức nhân bản, có thể thi hành được và được thi hành, ngay cả bên ngoài Kitô giáo. Chúng ta thấy những hoàn cảnh thúc đẩy Ngài kể câu chuyện dụ ngôn này:
“Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng: ‘Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đới làm gia nghiệp?’ Người đáp: ‘Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?’ Ông ấy thưa: ‘Người phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn người, và yêu mến người thân cận như chính mình’. Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.’ Nhưng ống ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giêsu rắng: ‘Nhưng ai là người thân cận tôi?’”[231]
Ở đây chúng ta chứng kiến không biết lần thứ mấy người ta cố gài bẫy Đức Giêsu. Người thông luật tỏ cho thấy ông ta biết rõ phải làm gì để được sống đời đời. Vậy ông đặt câu hỏi là để đưa Đức Giêsu đến chỗ phải mang họa. Nếu Đức Giêsu trả lời theo luật mà mọi người đều biết, thì rõ ràng Ngài không đem lại điều gì mới mẻ cho Luật Môsê, và không xứng đáng với danh tiếng của Ngài; còn nếu Ngài trả lời khác đi, người ta có thể tố cáo Ngài là lạc đạo.
Đáp lại câu hỏi của nhà thông luật, Đức Giêsu trả lời bằng một dụ ngôn, hoặc đúng hơn, bằng một mẫu gương:
“Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, tồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cớ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Tồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thên bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’ Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?’ Người thông luật trả lời: ‘Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy.’ Đức Giêsu bảo ông ta: ‘Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy.”’[232]
Lưu ý ở đây việc làm thương xót của người Samari cũng phát xuất từ “lòng dạ” thương xót như thế nào. “Ông chạnh lòng thương”, dịch kiểu nói quen thuộc chỉ sự run rẩy của lòng dạ. Điều thường được nhấn mạnh nhất nơi dụ ngôn này là khái niệm truyền thống về người thân cận hoàn toàn đảo lộn. Người thân cận là người Samari, chứ không phải người bị nạn, như chúng ta có thể nghĩ. Điều này có nghĩa là không cần gì phải chờ đợi cách thụ động người thân cận xuất hiện trên đường chúng ta đi. Bổn phận của ta là sẵn sàng nhận thấy người ấy có mặt, sẵn sáng khám phá ra họ. Người thân cận, chính là mỗi người chúng ta được mời gọi để trở nên người ấy! Người ta hẳn sẽ nói rằng vấn đề của nhà thông luật bị đảo lộn: ông ta nêu ra một câu hỏi trừu tượng và khoa bảng, nhưng lại được trả lời bằng một vấn đề cụ thể và thực tế. Câu hỏi đặt ra không phải là: “Ai là người thân cận của tôi?” nhưng là: “Tôi có thể làm người thân cận của ai?”
Một cách mặc nhiên, Đức Giêsu cũng trả lời cho câu hỏi: làm người thân cận như thế nào, bằng hành động chứ không chỉ bằng lời nói. Gioan sẽ nói: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.”[233] Nếu người Samari chỉ đến gần và nói với người bất hạnh đang nằm trên vũng máu: “Anh bạn đáng thương của tôi! Tội nghiệp cho anh quá! Đã xẩy ra điều gì vậy? Can đảm lên!” hoặc những kiểu nói nào khác, rồi bỏ đi, những việc đó phải chăng có tính chất mỉa mai và lăng nhục?
Đó là giáo huấn của dụ ngôn, nhưng không phải chỉ có thế. Điều dụ ngôn nói về tương quan giữa Lề Luật và lòng thương xót không phải là chuyện nhỏ. Điều kịch tính là vị tư tế và thầy Lêvi, chiếu theo Luật, đã phải hành động như họ đã hành động. Người trên đường có vẻ như đã chết và Luật Môsê cấm tư tế đụng vào xác chết, nếu không sẽ không còn trong sạch và không thể thi hành thừa tác vụ của mình.[234] Điều họ đã không hiểu chính là, nếu luật chính đáng và cần thiết, vì bất cứ xã hội nào cũng cần phải có quy luật, thì có những trường hợp người ta phải vượt qua Lề Luật.[235] Không bao giờ như trong trường hợp này, “summum ius, summa iniuria”, áp dụng luật quá đáng dẫn tới bất công; Công lý thật sự trong trường hợp này không phải là giữ Luật, nhưng là vi phạm Luật. Đó là điều Đức Giêsu muốn làm cho những kẻ đối đầu với Ngài được hiểu rõ, khi Ngài chữa bệnh ngày sabbat: luật hưu lễ thì thiêng thánh, nhưng là “cho con người”[236], nên người ta phải vi phạm nếu liên quan đến sự sống của con người.
Một người Samari
Không phải lần đầu tiên Đức Giêsu đưa ra làm gương thái độ của một người Samari, tức của một người bị người Do Thái coi là lạc đạo và người ngoài. Nhưng trong trường hợp này, nét đặc thù có một ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta. Từ đó chúng ta suy ra rằng lòng thương xót không phải là đặc quyền riêng của người Kitô hữu, và đôi khi cách hành động của người ngoài là một tấm gương cho ta; nó giúp ta đặt những nhu cầu của người ta trước những quy tắc giáo sĩ của chúng ta.
Do cách lựa chọn người Samari làm anh hùng của câu chuyện, Đức Giêsu muốn nói rằng không cần phải chia sẻ cùng một đức tin và xác tín tôn giáo để thực hành lòng thương xót. Lòng thương xót có một nền tảng và một sự biện minh trước cả đức tin, được đức tin dạy bảo và không phải là không biết; vậy nó là tình cảm của tình liên đới nhân loại. Điều này cho phép chúng ta vui mừng nhận ra và thán phục lòng thương xót được thực hành bên ngoài Giáo Hội, dưới những danh xưng khác, do những định chế thế tục như Hội Chữ Thập Đỏ, Hội Cấp Cứu[237], Thầy Thuốc Không Biên Giới, và những tổ chức tương tự. Trong Mt 25, dường như Đức Giêsu không coi là khác biệt giữa những người bố thí nhân danh Ngài và những người chỉ thuần túy cho kẻ đói ăn và săn sóc bệnh nhân. Ngài nói về tất cả như sau: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.”[238]
Ngày nay, dụ ngôn người Samari tốt lành có một lãnh vực áp dụng hoàn toàn mới mẻ và gần gũi với lịch sử theo đúng nghĩa. Đó là về những tên cướp thời nay, bỏ mặc người ta dở sống dở chết trên đường, được biết đến như là những “tên cướp trên xa lộ”, những tài xế có cách hành xử vô trách nhiệm, hoặc hung hãn làm đường lộ tắc nghẽn hàng ngày bằng những tai nạn lắm khi chết người. Trong những tình huống ấy, linh mục và thầy Lêvi là những người bỏ đi mà không giúp đỡ vì ngại phiền phức, ngại làm bẩn tay hoặc không muốn mất thời giờ. Ngoài những người dừng lại để giúp dỡ nạn nhân của các vụ tai nạn, người Samari tốt lành là tất cả những ai đang làm cho những con đường của chúng ta được an toàn hơn, những ai đang kiểm soát giao thông và bảo đảm cứu hộ đường bộ, và tất cả các nhân viên hiến binh. Chúng ta nợ họ một lời cám ơn, cho dù đôi khi chúng ta cũng tốn phí về chuyện đó vì một khoản tiền phạt xứng đáng.
Một hành tinh rơi vào bẫy của bọn cướp
Thông điệp Laudato Si của Đức Phanxicô về môi trường gợi ra cho tôi một áp dụng cuối cùng của dụ ngôn Người Samari Tốt Lành. Chắc chắn điều này không nằm trong ý định của Đức Giêsu khi Ngài đưa ra dụ ngôn, nhưng nằm trong chính bản chất của những lời Ngài nói là “mở rộng”, có thể đón nhận một ý nghĩa mới và có những áp dụng mới theo những thay đổi thời kỳ và hoàn cảnh. Đức Giáo Hoàng viết như sau:
“Bạo lực nằm trong trái tim bị tội lỗi gây thương tích của con người, mà chúng ta có thể ghi nhận trong đất đai, trong không khí và nơi các sinh vật. Vì thế, giữa những người nghèo bị bỏ rơi và bị đối xử tàn tệ nhất, chúng ta sẽ thấy trái đất của chúng ta bị bóc lột và bị tàn phá, đang “rên siết và quằn quại trong cơn sinh nở” (Rm 8,22).”[239]
Ngày trước, Phanxicô Assisi, mà Thông điệp dựa vào, đã gán cho mọi thụ tạo một bộ mặt con người, biến thụ tạo thành anh em hay chị em: anh mặt trời, chị mặt trăng, mẹ trái đất… Quả thật trái đất ngày nay giống như con người đáng thương bị kẻ cướp tấn công và bỏ lại trên đường nửa sống nửa chết. Trái đất bị tàn phá, bầm dập, bị lấy hết tài nguyên quý giá nhất: nước, cây cối, các loại sinh vật và thực vật có nguy cơ tuyệt chủng. Nhiều người đi qua và chạy thẳng, hoặc giả vờ như không thấy gì, hoặc đơn giản là để những người đến sau họ giải quyết vần đề.
Nếu là như vậy thì Đức Giáo Hoàng, bằng lời tố cáo can đảm của mình, thực sự là một Người Samari Tốt Lành” đối với “chị, mẹ trái đất” của chúng ta. Với vai trò mà trong Thông điệp ngài gán cho sự đóng góp của khoa học và của các đinh chế khác nhau đã quan tâm tới vấn đề (thậm chí các định chế thế tục và không thuộc tôn giáo), ngài công nhận, theo sau Đức Giêsu, sự đóng góp của “những người bên ngoài” cho những vấn đề chung của nhân loại. Họ có lòng thương xót mà không biết. Và cả đối với ta nữa, đó là cách tốt nhất tỏ lòng thương xót.
18. CHÚA CHA SẼ BAN CHO ANH EM MỘT ĐẤNG BẢO TRỢ KHÁC
Chúa Thánh Thần và lòng thương xót của Thiên Chúa
Một năm lòng thương xót của Chúa
Trở lại quê nhà Nagiarét sau khi chịu lễ rửa ở sông Giođan, Đức Giêsu long trọng áp dụng cho mình những lời tiên tri Isaia:[240]
“Thần Khí của Đức Chúa ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã si tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, [trong Isaia: băng bó những tấm lòng tan nát], cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.”[241]
Với việc xức dầu cùa Chúa Thánh Thần, Đức Giêsu rao giảng tin mừng, chữa lành bệnh nhân, an ủi kẻ sầu khổ, làm mọi việc của lòng thương xót. Thánh Basiliô viết: “Chúa Thánh Thần là bạn đồng hành chí thiết của Đức Giêsu trong tất cả các công trình của Ngài.”[242] Trong Ba Ngôi, Chúa Thánh Thần là hiện thân tình yêu. Người cũng là hiện thân lòng thương xót của Thiên Chúa. Thậm chí Người là “nội dung” của lòng thương xót ấy. Không có Thánh Thần, lòng thương xót là một hạn từ trống rỗng.
Danh xưng Đấng Bảo Trợ rõ ràng chỉ ra điều đó. Khi loan báo Người sẽ đến, Đức Giêsu nói: “Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.”[243] “Một Đấng Bảo Trợ khác” hiểu ngầm sau khi đã ban chính Thầy. Vậy Chúa Thánh Thần là Đấng mà, qua Người, Đức Giêsu tiếp tục hành động của mình sau khi sống lại, là “đi tới đâu thì thi ân giáng phúc tới đó và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế.”[244] Những lời Ngài nói “Người [Đấng Bảo Trợ] sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em”[245] cũng áp dụng cho lòng thương xót. Chúa Thánh Thần sẽ mở ra cho các tín hữu mọi thời những kho tàng thương xót của Đức Giêsu. Người sẽ lo sao cho không những người ta nhớ lại lòng thương xót của Đức Giêsu, mà còn có kinh nghiệm về nó.
Đấng Bảo Trợ hoạt động tiên vàn trong bí tích thương xót là bí tích Cáo Giải. Theo một lời cầu nguyện của Giáo Hội, “Người chính là sự tha thứ mọi tội lỗi.”[246] Chính vì thế, trước khi ban phép xá giải cho hối nhân, cha giải tội đọc những lời sau đây:
“Thiên Chúa là Cha hay thương xót. Chúa đã nhờ sự chết và sự sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an.”
Một số Giáo Phụ coi dầu người Samari Tốt Lành đổ trên vết thương của nạn nhân là biểu tượng của Chúa Thánh Thần.[247] Một bài dân ca tôn giáo của người nô lệ da đen ở châu Mỹ (negro spiritual)[248] diễn tả ý tưởng này bằng hình ảnh gợi ý về một thứ nhựa thơm ở Galaad: “Ở Galaad có một thứ nhựa thơm chữa lành các tâm hồn bị thương tích”. Galaad, một địa danh được nói đến trong Cựu Ước, nổi tiếng về các loại dầu thơm.[249] Nghe bài hát này, người ta nghĩ đến một người bán hàng rong trên các đường phố, vừa đi vừa rao tên và giá trị món hàng của mình. Tất cả Giáo Hội sẽ phải là “người bán hàng rong” này. Dầu thơm mà Giáo Hội cống hiến ngày hôm nay không còn phải là dầu ở Galaad nữa, nhưng là chính Chúa Thánh Thần.
Chữ viết và Thần Khí, luật và lòng thương xót
Chúa Thánh Thần là chìa khóa mở vấn đề rất tế nhị của tương quan giữa luật và lòng thương xót. Chú giải những lời của Phaolô nói về chữ viết thì giết chết và Thần Khí làm cho sống[250], thánh Tôma viết như sau:
“Ở đây, chữ viết chỉ tất cả luật thành văn ở bên ngoài con người, kể cả những lệnh truyền luân lý trong Phúc âm. Kết quả là ngay cả chữ viết của Phúc Âm cũng sẽ “giết chết”, nếu bên trong con người không có ân sủng chữa lành của đức tin.”[251]
Trước đó, cũng thánh tiến sĩ cho biết “ân sủng của đức tin” có nghĩa gì; ngài viết: “Đó chính xác là ân sủng của Chúa Thánh Thần, được ban cho những ai tin vào Đức Kitô, cấu tạo trước tiên thành luật mới.[252] Đó là một khẳng định gay go mà không ai trong chúng ta dám định thức, nếu không phát xuất từ hai vị đại tiến sĩ của Giáo Hội La tinh, Augustinô và Tôma Aquinô. Vả lại, chính lời của Đức Kitô và kinh nghiệm của các Tồng Đồ xác nhận điều đó. Nếu chỉ cần công bố các Mối Phúc và những giáo huấn luân lý chứa đựng trong Phúc Âm là đủ để được sống đời đời, tại sao Đức Giêsu đã phải chết và sống lại để ban chúng ta có được Chúa Thánh Thần? Chính vì vậy mà Ngài sẽ nói cho các Tông Đồ là Ngài đi để gửi Đấng Bảo Trợ đến thì tốt hơn.[253] Chúng ta hãy nhìn kinh nghiệm của các Tông Đồ, đã từng nghe tất cả các lệnh truyền của chính tác giả Phúc Âm, tuy vậy chỉ có thể đem chúng ra thực hành khi Chúa Thánh Thần xuống trên họ vào ngày lễ Ngũ Tuần.
Kết luận chúng ta rút ra ở đây là rất rõ: nếu chính các lệnh truyền Phúc Âm mà không có Chúa Thánh Thần đã là “chữ giết chết”, phải nói sao về những luật Giáo Hội, quy luật của đan viện, những khoản Giáo luật, kể cả những khoản quy định về hôn nhân? Thần Khí không bãi bỏ cũng không bước qua Lề Luật[254]; ngược lại, Thần Khí giáo huấn khi Lề Luật phải đứng sang một bên nhường chỗ cho lòng thương xót. Dĩ nhiên không phải mọi “chữ viết” đều giết chết, nhưng chỉ chữ nào cho rằng chỉ mình nó và một lần dứt khoát quy định sự sống, thậm chí thay thế cho sự sống.
Chúa Thánh Thần mạc khải lòng thương xót của Chúa Cha
Một trong những hoạt động chủ yếu của Chúa Thánh Thần đối với lòng thương xót là thay đổi trong tâm hồn con người hình ảnh của Thiên Chúa mà họ có, tiếp theo sau tội lỗi. Một trong những lý do, thậm chí có lẽ là lý do chính nhất, về sự tha hóa của con người hiện đại bởi tôn giáo và đức tin, như đã nói ở trên, là hình ảnh rất xấu xí mà họ có về Thiên Chúa. Nó cũng là lý do của một thứ Kitô giáo yếu ớt, thiếu đà tiến và niềm vui, được sống như một bổn phận hơn là như một quà tặng, do cưỡng ép hơn là do lôi cuốn.
Quả thực, đâu là hình ảnh “được xác định trước” về Thiên Chúa trong vô thức tập thể của con người, một vô thức hoạt động cách tự động (trong ngôn ngữ máy tính gọi là “mặc định”)? Để khám phá ra nó, chỉ cần đặt ra câu hỏi này: “Đâu là những ý tưởng, lời nói, tình cảm tự phát nơi bạn, lúc đọc đến câu này trong Kinh Lạy Cha: ‘Ý Cha thể hiện’”? Nói chung, khi đọc câu đó, người ta thầm cúi đầu như cam chịu, chuẩn bị cho điều tệ nhất.
Một cách vô thức, ý muốn của Thiên Chúa gắn liền với tất cả những gì khó chịu, đau đớn, với tất cả những gì, cách này hay cách khác, có thể được coi là hạn chế tự do hoặc phát triển cá nhân. Gần như thể Thiên Chúa là kẻ thù của mọi lễ lạc, hoan hỉ, vui thú. Người ta không nghĩ rằng ý muốn của Thiên Chúa trong Tân Ước được gọi là eudokia[255], nghĩa là thiện tâm, yêu thương. Như vậy, nói “ý Cha thể hiện” cũng là nói: “xin cho ý định yêu thương của Cha được hoàn tất nơi con”. Đức Maria, cũng như Đức Giêsu, nói lời “Fiat” (xin vâng) là như thế.
Nói chung, Thiên Chúa được coi như Hữu Thể tối cao, Đấng Toàn Năng, Chúa của thời gian và Lịch sử, nghĩa là như một thực thể cần thiết cho mỗi người từ bên ngoài; không chi tiết nào của đời sống con người thoát khỏi tay Ngài. Sự vi phạm Lề Luật, tức sự bất tuân ý muốn của Thiên Chúa, nhất thiết dẫn tới mất trật tự trong sự sắp đặt từ muôn đời mà Thiên Chúa muốn. Do đó, sự công bình vô biên của Ngài đòi phải được sửa chữa, phải đem lại cho Thiên Chúa một sự gì đó để tái lập trật tự rối loạn trong tạo thành. Sự sửa chữa này đòi phải mất mát, hy sinh. Tuy vậy vì không bao giờ có thể bảo đảm là sự “đền bồi” được cân xứng, nên mới có tâm trạng lo âu trước cái chết và sự xét xử. Thiên Chúa là một ông chủ đòi phải được đền trả đến cùng!
Chắc chắn người ta đã không bao giờ không biết đến lòng thương xót của Thiên Chúa! Nhưng người ta đã chỉ giao phó cho Ngài nhiệm vụ làm dịu bớt những khắc nghiệt không thể tránh khỏi của công lý. Đó là một người điều chỉnh, một ngoại lệ, không phải là quy tắc. Trên thực tế, người ta thường cho tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa tùy thuộc vào tình yêu và sự tha thứ của một người đối với những người khác; nếu bạn tha thứ cho người xúc phạm tới bạn, thì Thiên Chúa sẽ có thể tha thứ cho bạn. Như vậy phát sinh mối tương quan trao đổi với Thiên Chúa. Người ta đã không bảo phải tích lũy công đức để được vào Thiên đàng đó sao? Người ta đã không coi là rất quan trọng những nỗ lực phải chu toàn, những Thánh lễ phải cử hành, những ngọn nến phải thắp lên, những tuần cửu nhật phải làm đó sao?
Tất nhiên tất cả những việc trên đây đã từng giúp cho nhiều người trong quá khứ bày tỏ cho Thiên Chúa tình yêu của họ, không thể vứt vào sọt rác, nhưng phải được tôn trọng. Thiên Chúa cho hoa nở trong mọi khí hậu, cho các vị thánh của Ngài xuất hiện trong mọi mùa. Tuy vậy không thể phủ nhận rằng có nguy cơ rơi vào trong một thứ tôn giáo duy lợi, tôn giáo của “do ut des.”[256] Ở nền tảng của tất cả những cái đó, người ta giả thiết trước là mối tương quan với Thiên Chúa tùy thuộc vào con người. Một cách vô thức, con người tự phụ là đã “trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa”[257], không muốn mình là con nợ, nhưng là chủ nợ của Thiên Chúa.
Từ đâu mà có hình ảnh méo mó này về Thiên Chúa? Chúng ta để qua một bên những lý do tùy tiện và cá nhân do mối liên hệ không tốt với người cha dưới đất đôi khi gây ra những hậu quả trong mối tương quan với Chúa Cha trên trời. Lý do cơ bản cắt nghĩa hình ảnh đáng sợ “được xác định trước” này về Thiên Chúa rõ ràng là do Lề Luật. Bao lâu sống dưới chế độ tội lỗi, chế độ Lề Luật, con người thấy Thiên Chúa như một ông chủ khó tính, không thỏa mãn với các ước muốn trần tục của mình bằng những quả quyết: “Ngươi phải…, ngươi không được…” là những lệnh truyền: người không được thèm muốn tài sản của người thân cận, vợ của người thân cận… Trong tình trạng này, con người xác thịt chất chứa trong đáy lòng nỗi oán hận ngấm ngầm đối với Thiên Chúa, họ thấy Ngài như một kẻ thù nghịch với hạnh phúc của họ, và nếu điều đó tùy thuộc vào họ thì thật may mắn nếu Ngài không hiện hữu.[258]
Việc đầu tiên được Chúa Thánh Thần làm khi Người đến với ta là mạc khải cho ta khuôn mặt khác của Thiên Chúa; giúp ta khám phá ra Người như một đồng minh, một người bạn, một người, vì chúng ta, “đã không tiếc chính Con Một”[259]; tóm lại, như một người Cha nhân từ đã ban cho chúng ta Lề Luật để bảo vệ, không phải để bóp nghẹt, tự do của chúng ta. Khi ấy tình con thảo dâng lên trong lòng tự nhiên biến thành một tiếng kêu: Abba, Cha ơi! Như thể nói: “Con không biết cha, con biết cha chỉ nghe đồn; nhưng giờ đây con biết cha, biết cha là ai, biết rằng cha yêu con thật tình và ủng hộ con.” Người con thế chỗ cho tên nô lệ, tình yêu thế chỗ cho sợ hãi. Chính như thế mà trên bình diện chủ quan và hiện sinh, chúng ta có thể “sinh bởi Thần Khí.”[260]
Trong những thời cuối cùng, thêm vào Lề Luật còn có một động lực khác khiến người ta oán giận Thiên Chúa: sự đau khổ của con người, nhất là sự đau khổ của những người vô tội. Một người không có đức tin viết: “Sự đau khổ của những người vô tội là đá tảng của vô thần”. Tính lưỡng nan là như sau: “Hoặc Thiên Chúa có thể chiến thắng sự dữ, nhưng Ngài không muốn, vậy Ngài không phải là cha; hoặc Ngài muốn thắng nhưng không thể, vậy Ngài không toàn năng.” Vấn nạn này có từ xưa, nhưng làm người ta nhức óc sau những biến cố bi thảm của Thế chiến thứ hai. Một tác giả đã viết: “Người ta không thể tin vào một Thiên Chúa là Cha sau Auschwitz”.
Trong chương nhất, tôi đã tìm cách minh giải cho câu trả lời mà Chúa Thánh Thần đã nói cho Giáo Hội về vấn đề này, tức là Thiên Chúa chịu khổ với con người. Thiên Chúa không đứng ở xa mà nhìn, với thái độ dửng dưng, con người chịu khổ trên mặt đất. Trước câu hỏi tôi vừa nhắc lại, câu trả lời phải là: Thiên Chúa có thể chiến thắng sự dữ, nhưng Ngài không muốn làm như thế (ít nhất theo cách thông thường và nói chung) để không làm mất đi sự tự do của con người. Thiên Chúa muốn chiến thắng sự dữ – và Ngài sẽ làm – nhưng bằng một kiểu chiến thắng mới, chiến thắng của tình yêu bằng cách chấp nhận sự dữ cho mình và biến nó thành sự thiện, mãi mãi.
Năm Lòng Thương Xót sẽ có thể có được hiệu quả tuyệt vời biết bao, nếu nó giúp tái lập sự thật về khuôn mặt của Thiên Chúa là Cha mà Đức Giêsu đã đến trần gian mạc khải cho chúng ta.
Trở thành những người bảo trợ
Tước hiệu Đấng Bảo Trợ không chỉ nói cho ta về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với ta, mà con mở ra cả một cánh đồng hoạt động cho lòng thương xót của con người đối với nhau. Nói khác đi, chính chúng ta cũng phải trở thành những người an ủi! Nếu đúng người Kitô hữu phải là một alter Christus, thì cũng đúng họ phải là một “Đấng Bảo Trợ khác”.
Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa được đổ vào lòng ta[261]; nghĩa là hoặc tình yêu nhờ đó Người yêu ta, hoặc tình yêu làm ta có khả năng mến Thiên Chúa và yêu người thân cận. Áp dụng cho lòng thương xót – là hình thức của tình yêu trước sự đau khổ và tội lỗi của người được yêu – lời này của Thánh Tông Đồ còn cho chúng ta biết một điều rất quan trọng: không những Đấng Bảo Trợ an ủi chúng ta, Người còn thúc đẩy chúng ta an ủi, làm chúng ta có khả năng an ủi và tỏ lòng thương xót. Quả thực thánh Phaolô viết:
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giầu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi con gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó.”[262]
Thuật ngữ Hy lạp của từ Đấng Bảo Trợ (parakaleo) bắt gặp bốn lần, dưới hình thức động từ hay danh từ, trong bản văn chứa đựng nét chủ yếu cho một thần học về sự an ủi. Sự an ủi từ Thiên Chúa mà đến, Đấng là “Cha mọi niềm an ủi”. Sự an ủi đến với người đang đau khổ, nhưng không dừng lại ở người đó; nó đạt tới mục đích cuối cùng khi người đã có kinh nghiệm về sự an ủi đến lượt mình biết dùng nó để an ủi người khác.
Nhưng an ủi thế nào? Chính đó là điều quan trọng. An ủi với niềm an ủi nhận được từ Thiên Chúa, một sự an ủi của Thiên Chúa chứ không phải của con người. Không phải chỉ biết lặp lại những lời vô bổ hợp với tình huống (“Cứ can đảm lên, đừng gục ngã, rồi bạn sẽ thấy, mọi sự rồi sẽ ổn thôi!”), nhưng nói những lời “thực sự an ủi” như đã chép trong Kinh Thánh, “nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy.”[263] Chính như thế mà người ta hiểu được những phép lạ mà chỉ một lời hay một cử chỉ, trong bầu khí cầu nguyện, có thể thực hiện nơi đầu giường một bệnh nhân. Chính Thiên Chúa an ủi qua trung gian là chúng ta.
Một cách nào đó có thể nói rằng Chúa Thánh Thần cần đến chúng ta để là Đấng Bảo Trợ. Người muốn an ủi, bảo vệ, khuyên nhủ, nhưng Người không có miệng, không có tay để sự an ủi được thực hiện cách hữu hình. Hoặc, đúng hơn, Người dùng tay của ta, mắt của ta, miệng của ta. Cũng như linh hồn hành động, di chuyển, cười nói qua các chi thể của thân thể ta, cũng vậy Chúa Thánh Thần làm với các phần tử của Thân Thể Người là Giáo Hội và chúng ta. “Vì thế, anh em hãy an ủi nhau”, như lời thánh Phaolô khuyên các Kitô hữu tiên khởi.[264] Câu này dịch theo mặt chữ, thì động từ an ủi sẽ là “làm cho anh em thành những người an ủi” nhau. Nếu chúng ta không làm cho sự an ủi và thương xót mà chúng ta nhận được từ Chúa Thánh Thần lan tỏa quanh ta, nếu chúng ta chỉ ích kỷ giữ lại cho riêng mình, thì chúng sẽ mau chóng bị mốc.
Chúng ta hãy xin với Đức Maria để lòng đạo đức Kitô giáo làm vinh dự cho hai tước hiệu cùng nhau tạo nên ý nghĩa của Đấng Bảo Trợ nơi Mẹ: Đấng an ủi kẻ ưu phiền” và “trạng sư” bênh vực kẻ có tội. Mẹ thực sự trở thành “Đấng an ủi” cho ta. Một bản văn Công Đồng Vaticanô II viết: “Mẹ Chúa Giêsu […] chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành.”[265]
KẾT LUẬN
Lòng thương xót sẽ cứu thế giới
Người ta biết rõ và thường nói đi nói lại câu châm ngôn được Dostoievski đặt vào miệng một trong những nhân vật ông yêu thích nhất: “Cái đẹp sẽ cứu thế giới.”[266] Nhưng rồi sau quả quyết này, ông hỏi ngay: “Cái đẹp sẽ cứu thế giới là cái đẹp nào?” Hiển nhiên là đối với tác giả không phải cái đẹp nào cũng sẽ cứu thế giới. Có một cái đẹp có thể cứu thế giới, và một cái đẹp có thể làm mất thế giới. Từ đó ông kết luận: “Trên thế giới chỉ có một hữu thể tuyệt đối đẹp, là Đức Kitô, đến độ sự xuất hiện của hữu thể đẹp đến vô cùng vô biên này chắc chắn là một phép lạ vô tận.[267] Vẻ đẹp của Đức Kitô là lòng thương xót của Ngài và chính lòng thương xót đó sẽ cứu thế giới. Không phải tình yêu vẻ đẹp, nhưng là vẻ đẹp của tình yêu.
Thánh Giacôbê nói: “Ai thương xót thì chẳng quan tâm đến việc xét xử.”[268] Có lẽ tác giả nói về lòng thương xót của con người, nhưng câu này càng đúng nếu áp dụng cho lòng thương xót của Thiên Chúa. Chính lòng thương xót này cuối cùng coi thường mọi bất công và thiếu lòng thương xót của con người. Tác giả cuốn tiểu sử Silouane ở núi Athos có kể một câu chuyện tương đối có ý nghĩa. Một đan sĩ, con người thánh thiện của Thiên Chúa, đã có lòng thương cảm đối với nhân loại, đến nỗi ngài khóc liên tục và nài xin lòng thương xót của Thiên Chúa cho ngài và cho mọi người. Một hôm. Lúc ngài gần đi đến chỗ tuyệt vọng, Chúa đã hiện ra và hỏi:
“Tại sao con khóc như vậy? Con không biết chính Ta sẽ xét xử thế gian sao? Ta sẽ thương xót bất cứ ai cầu khẩn Thiên Chúa, dù chỉ một lần trong đời.”[269]
Linh đạo Chính thống giáo có rất nhiều gương mẫu như ngài, hoàn toàn thương xót, trải qua cuộc đời của mình khóc thương cho sự lầm than của con người, về tinh thần cũng như vật chất, bắt đầu từ sự lầm than của Ađam, và khẩn cầu lòng thương xót của Thiên Chúa. Một trong số các ngài là Silouane ở núi Athos, đan sĩ được Thiên Chúa, khi thấy ngài rất đau khổ, một hôm nói cho nghe lời bí nhiệm này: “Cứ giữ hồn con trong địa ngục và đừng thất vọng.”[270]
Thế nhưng không phải chỉ theo nghĩa cánh chung mà lòng thương xót sẽ cứu thế giới. Nó cũng là điều duy nhất có thể cứu “thế giới hiện nay của chúng ta”. Đâu là luật khắc nghiệt quy định những tương quan giữa những con người và các quốc gia? Vẫn còn là luật ăn miếng trả miếng: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Đức Giêsu đến phá vỡ những xiềng xích này. Ngài đã thay thế quy tắc “Người khác làm cho bạn điều gì, hãy làm như thế cho họ” bằng quy tắc “Thiên Chúa đã làm cho bạn điều gì, hãy làm như thế cho người khác”. Trên thập giá, Đức Giêsu “đã tiêu diệt sự thù ghét.”[271] Ngài đã tiêu diệt sự thù nghịch chứ không phải kẻ thù. Ngài đã tiêu diệt nó nơi Ngài, không phải nơi người khác. Ngài cũng đã dạy chúng ta tiêu diệt sự thù nghịch chứ không phải kẻ thù. Nhân tiện, đó cũng là cách duy nhất tiêu diệt kẻ thù. Abraham Lincoln đã hiểu rõ điều đó, nên một hôm, bị chỉ trích do một kẻ tố cáo ông là quá khoan dung với các đối thủ chính trị, ông đã trả lời: “Khi tôi biến kẻ thù thành bạn, đó lại không phải là tôi tiêu diệt họ sao?”
Đã đến lúc lưu ý rằng đối nghịch với thương xót không phải là công bình nhưng là trả thù. Đức Giêsu đã không đối nghịch sự thương xót với công bình, nhưng với luật ăn miếng trả miếng: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Khi tha thứ tội lỗi cho ta, Thiên Chúa không từ bỏ sự công bình. Ngài từ chối báo thù, nghĩa là muốn cho tội nhân phải chết. Đúng hơn Ngài chuốc lấy cho mình hình phạt do tội lỗi. Chính đó là mầu nhiệm chúng ta đã thấy loan báo trong Cựu Ước và được Đức Giêsu thực hiện trong lịch sử qua cái chết thục tội của Ngài.
Chúng ta phải lên tiếng kêu gọi thế giới: hãy giải huyền thoại báo thù. Sự báo thù đã trở thành một thứ huyền thoại làm hư hỏng mọi sự và mọi người, bắt đầu từ trẻ em. Phần lớn các phim (tất cả các phim viễn tây cổ điển!), những câu chuyện được đưa lên màn ảnh – không quên những trò chơi điện tử – ca ngợi sự báo thù, coi nó như “chiến thắng của sự thiện” hoặc “chiến thắng của người anh hùng dễ mến”.
Chúng ta thấy nhiều tấm gương cho phép ta khám phá ra con đường “rộng” của báo thù dẫn tới đâu, và con đường “hẹp” của tha thứ và thương xót dẫn tới đâu. Luật ăn miếng trả miếng đã làm cho tình hình ở Trung Đông xấu đến mức làm cho chúng ta hầu như thất vọng không biết khi nào thì tranh chấp chấm dứt trên phần đất này của thế giới. Về phần mình, Nelson Mandela thỏa thuận với chính quyền của ông, không báo thù những người đã giam giữ một phần lớn cuộc đời của ông, và như vậy không những ông chấm dứt được nạn phân biệt chúng tộc, mà còn giúp cho mọi chủng tộc ở Nam Phi hòa giải với nhau và sống chung hòa thuận. Chúng ta cũng có những mẫu gương nơi chúng ta về điều xẩy ra trong các băng đảng mafia, khi có người dám phá vỡ xiềng xích và tha thứ.
Lòng thương xót cứu thế giới cũng cứu điều quý giá và mong manh nhất của thế giới là hôn nhân và gia đình. Điều xẩy ra trong hôn nhân tương tự như điều đã xẩy ra trong mối tương giao giữa Thiên Chúa và nhân loại, được Kinh Thánh mô tả chính đáng bằng hình ảnh hôn lễ. Như đã nói, khởi đầu mọi sự là tình yêu chứ không phải thương xót. Lòng thương xót chỉ đến sau việc tạo dựng và sự phản loạn của con người. Đối với hôn nhân cũng vậy. Khởi đầu không có thương xót giữa vợ chồng, nhưng có tình yêu, và thường là tình yêu làm cho điên đảo. Và rồi, năm tháng trôi qua, những giới hạn không tránh được đối với nhau, những vấn đề sức khỏe và kinh tế, thói quen với nếp cũ…Chỉ có lòng thương xót mới có thể tránh cho đôi vợ chồng khỏi trượt dài trên con dốc không lối thoát. Tôi nói về lòng thương xót theo ý nghĩa Kinh Thánh, không phải chỉ là tha thứ lỗi lầm, nhưng còn bao gồm sự thương cảm và nhân hậu. Thêm vào eros là agapè, thêm vào tình yêu nhục cảm là tình yêu dâng hiến và chịu đựng mà không mất đi eros, là yếu tố phải tồn tại mãi nơi vợ chồng.
Ngày nay hôn nhân chịu ảnh hưởng của não trạng thông thường “dùng xong là vất”. Nếu một chiếc máy hay một dụng cụ bị hư hỏng hay vết xước nào đó, người ta không nghĩ đến việc sửa chữa (vả lại ngày nay ngày càng ít thợ sửa), nhưng nghĩ ngay đến việc thay thế. Người ta muốn có cái mới toanh. Áp dụng cho hôn nhân, não trạng này hoàn toàn sai lầm và chết người. Hôn nhân không phải là một trong những bình bằng sứ, chỉ có thể hao mòn với thời gian, không cải thiện được, và một khi hao mòn, dù hàn gắn được, vẫn mất đi nửa giá trị. Hôn nhân thuộc lãnh vực sự sống và tuân theo quy luật sự sống. Duy trì và phát triển sự sống như thế nào? Có lẽ bằng cách giữ nó bất động dưới một cái chuông thủy tinh, tránh những cú chạm, thay đổi và tác nhân khí quyển chăng? Sự sống được làm bằng những mất mát liên tục mà cơ thể phải học sửa chữa mỗi ngày, bằng những cuộc tấn công của các tác nhân hay vi khuẩn thuộc đủ loại mà cơ thể phải tiên liệu và chiến thắng một cách thông minh, bằng cách đưa vào hoạt động những kháng thể riêng của mình. Ít nhất bao lâu cơ thể còn lành mạnh. Hôn nhân sẽ phải giống như rượu, càng để lâu càng ngon và không hư. Chỉ có lòng thương xót đối với nhau có thể làm được phép lạ này.
Chúng ta có thể gợi ý gì cho các đôi vợ chồng ít ra muốn thử qua lộ trình này? Một việc rất đơn giản: tái khám phá một nghệ thuật đã bị bỏ quên trong đó bà nội và mẹ của chúng ta giỏi hơn cả: vá lại! Thay cho não trạng “dùng xong rồi vất”, là não trạng “dùng và vá”. Không cần phải giải thích vá những chỗ toạc trong đời sống lứa đôi nghĩa là gì. Thánh Phaolô cho những lời khuyên rất hay về vấn đề này: “Chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn; đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng”[272], “Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia”[273], “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau.”[274]
Đừng để cho kẻ thù tạo ra một khoảng cách giữa vợ chồng. Hãy học cho biết điều rất quan trọng này là hiểu rằng trong tiến trình toạc ra và may lại, khủng hoảng và bình an, hôn nhân không tàn lụi nhưng lớn lên, được trở nên tinh tế, được cải thiện. Chính xác như sự sống. Bí mật là biết luôn khởi đầu lại. Cũng như đời sống bắt đầu lại mỗi sáng và mọi lúc. Biết rằng cho dù thế nào đi nữa, nếu cả hai đều muốn, vẫn có thể bắt đầu lại, xóa bỏ quá khứ, bắt đầu một lịch sử mới.
Đức Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên tại Cana xứ Galilê, để cứu vãn niềm vui của đôi vợ chồng. Ngài đã biến nước thành rượu, và cuối cùng mọi người đều đồng ý là rượu đưa ra sau cùng lại là rượu hảo hạng. Tôi cho rằng Đức Giêsu sẵn sàng, ngay cả ngày hôm nay nếu người ta mời Ngài đi ăn cưới, làm cũng phép lạ này, và lo cho rượu đưa ra sau cùng – tình yêu và sự duy nhất của những năm trưởng thành và tuổi già – được tốt hơn rượu của những giờ phút đầu tiên.
***
Chúng ta kết thúc suy niệm bằng cách đọc lời kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót của Đức Phanxicô:
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa dạy chúng con phải có lòng thương xót
như Cha trên trời,
và ai thấy Chúa là thấy Chúa Cha.
Xin tỏ cho chúng con thấy dung nhan của Chúa
và chúng con sẽ được cứu độ.
Ánh mắt đầy yêu thương của Chúa
đã giải thoát ông Zakêu và thánh Matthêu
khỏi ách nô lệ bạc tiền;
làm cho người đàn bà ngoại tình và thánh Mađalêna
không còn tìm hạnh phúc nơi loài thụ tạo;
cho thánh Phêrô khóc lóc ăn năn sau khi chối Chúa,
và hứa ban thiên đàng cho kẻ trộm có lòng hối cải.
Xin cho chúng con được nghe
những lời Chúa đã nói với người phụ nữ Samari,
như thể Chúa đang nói với mỗi người chúng con:
“Nếu con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa!”.
Chúa chính là gương mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình,
Đấng biểu lộ quyền năng của Ngài
trước hết bằng sự tha thứ và lòng thương xót:
xin làm cho Hội Thánh
phản chiếu gương mặt hữu hình của Chúa trên trái đất này.
Chúa là Đấng phục sinh vinh hiển.
Chúa đã muốn các thừa tác viên của Chúa
cũng mặc lấy sự yếu đuối
để có thể cảm thông với những người mê muội lầm lạc,
xin làm cho tất cả những ai tiếp cận với các ngài
đều cảm thấy họ đang được Thiên Chúa quan tâm,
yêu mến và thứ tha.
Xin sai Thần Khí Chúa đến
xức dầu thánh hiến mỗi người chúng con,
để Năm Thánh Lòng Thương Xót này
trở thành năm hồng ân của Chúa cho chúng con;
và để Hội Thánh Chúa, với lòng hăng say mới,
có thể mang Tin Mừng đến cho người nghèo,
công bố sự tự do cho các tù nhân và những người bị áp bức,
trả lại ánh sáng cho kẻ mù lòa.
Lạy Chúa Giêsu,
nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria,
Mẹ của lòng thương xót,
xin ban cho chúng con những ơn chúng con đang cầu xin.
Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha
và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.
Raniero Cantalamessa
LE REGARD DE LA MISÉRICORDE
EdB 2016
Dịch theo bản tiếng Pháp
Chuyển ngữ: Lm. Micae Trần Đình Quảng
Nguồn: giaophandalat.com
[1] x. Ga 5,1 tt.
[2] Saint Bernard, Homélies sur le Cantique des Cantiques, 83, 4-6, Desclée, Paris, 1979, p. 159.
[3] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, I, q.5, a.4, ad 2.
[4] Prières de sainte Catherine de Sienne, maxencecaron .fr/wp-content/uploads/2010/09/dialogue-et-oraisons.pdf
[5] Saint Irénée de Lyon, Adversus haereses, IV, 20, 7.
[6] Saint Athanase, De incarnatione, 3 et 11 (PG 25, 101, 116).
[7] Ep 1,4-5.
[8] N. Cabasilas, La vie en Christ, VI, 2 (PG 150, 645).
[9] Origène, Homélies sur Ézéchiel, 6, 6 (SCh 532).
[10] cf. “Théologie, christologie, anthropologie”, 1981, dans www. vatican.va/roman_curia/congrégations/cfaith/cri_documents/rc_cri_index-doc-pubbl_fr.hrml.
[11] cf. St 6,7.
[12] Encyclique Dominum et vivificantem, no 39.
[13] E. Zolli, Avant l’aube: Autobiographie spirituelle, FX de Guibert, Paris, 2002.
[14] H. Mohlen, Das Herz Gottes, Neue Aspekte der Trinitatslehre, dans Theologie und Glaube, no 78, 1988, p. 141-159.
[15] Kh 21,4.
[16] Gr 31,22.
[17] Gr 4,19.
[18] Hs 11,8-9.
[19] cf. 2Tm 2,13.
[20] Lc 1,50-54.
[21] Lc 1,72-73.
[22] Hc 36,1-20.
[23] Dt 1,1-2.
[24] Dt 1,3.
[25] Ga 11,52.
[26] Evangelium veritatis, số 23 (J.P. Mahé et P.H. Poirier, Écrits gnostiques. La bibliothèque de Nag Hammadi, Gallimard, coll. “Bibliothèque de la Pléiade”, Paris, 2007).
[27] Adv, Haer., IV, 34, 1.
[28] Saint Augustin, Sermon 207, 1.
[29] cf. saint Irénée, Adv. Haer., III, 23, 1. Bản văn này của Irênê đã gợi hứng cho cha Marko Rupnik vẽ Đức Giêsu mang trên vai Ađam cũ, hình ảnh được chọn làm logo cho năm thánh lòng thương xót.
[30] Xh 33,19-23.
[31] Ga 1,14.
[32] cf. saint Jean Chrysostome, Sur la nature incompréhensible de Dieu, SCh 28.
[33] Pseudo-Clémentin, Homélie XVII, 16.
[34] Ga 3,13.
[35] Platon, Symposium, 203.
[36] Aristote, Métaphysique, XII, 7, 1072.
[37] Platon, Théétète, 176 a, b; cf. Plotin, Ennéades I, 2, 4; I, 6, 6.
[38] 1Ga 4,10.19.
[39] Ch. Péguy, Le Mystère des saints Innocents, Oeuvres poétiques complètes, Gallimard, Paris, 1957, tr. 692.
[40] cf. Rm 10,3.
[41] Saint Augustin, Confessions, VII, XVIII, 24.
[42] Saint Bonaventure, Itinéraire de l’âme vers Dieu, VII, 1-2.
[43] S. Kierkegaard, Journal, X3 A 421.
[44] Saint Irénée, Adv. Haer., IV, 6, 6 (visibile Patris Filius)
[45] Ga 12,45.
[46] Xh 34,6.
[47] Mt 11,3.
[48] Mt 12,20.
[49] x. E.P. Sanders, Jesus and Judaism, SCM Press, London, 1985.
[50] Lc 18,11.
[51] cf. Rm 2,17-24.
[52] Lc 18,9.
[53] x. J.D.G Dunn, Jesus remembered : Christianity an the Making, vol. 1, Wm. B. Eerdmans Publishing Co., Grans Rapids, 2003.
[54] cf. Lc 18,35sq.
[55] Lc 19,2.
[56] Lc 19,5-7.
[57] Kn 11,23-24.
[58] Lc 19,8-10.
[59] Cv 10.
[60] Mc 19,16sq.
[61] Ga 8,2-9.
[62] Lv 20,10.
[63] Ga 8,9-10.
[64] Ga 19,26.
[65] Mt 5,29.
[66] Mt 18,22.
[67] Mt 19,8.
[68] cf. Mt 9,9-13.
[69] La vocation de saint Matthieu, 1600, église de Saint Louis des Francais (Rome)
[70] Mt 19,24.
[71] Mt 19,26.
[72] Bulle Misericordiae Vultus, số 8.
[73] cf. Mc 2,14; Lc 5,27.
[74] Rm 3,22-25.
[75] Pl 3,6.
[76] cf. Rm 10,3.
[77] Hs 6,6.
[78] Afflictif: xúc phạm tới phẩm giá thể lý của một người.
[79] Ed 33,11.
[80] Imitation de Jésus-Christ, III, 5.
[81] Rm 12,1.
[82] P. Claudel, “Saint Matthieu”, dans Corona benignitatis anni Dei, Gallimard, Paris, 1967, tr. 421; cf. Le Soulier de satin, IV journée, scène 6.
[83] Lc 7,36-50.
[84] Lc 7,36-38.
[85] Lc 7,39.
[86] Lc 7,40-43.
[87] Lc 7,47-48.
[88] cf. Pl 3,8.
[89] Tv 51,14.
[90] Ga 4,5-42.
[91] Hymne Ave verum.
[92] cf. 1Cr 7,15.
[93] Code de Droit canon, 1143-1147.
[94] Concile Vatican II, Dignitatis humanae, số 2 tt.
[95] 1Cr 11,28-29.
[96] Tv 51,5-6.
[97] F.X. Nguyen Van Thuan, Témoin de l’espérance, Nouvelle Cité, Bruyères-le-Châtel, 2000.
[98] Mc 14,66-72
[99] Lc 22,61-62.
[100] Lc 22,61
[101] Mt 27,4.
[102] x. St 4,13.
[103] Tv 51,3.
[104] Lc 23,42-43.
[105] Is 1,18.
[106] Dt 12,24.
[107] 1Ga 3,19-20.
[108] 1Ga 4,16.
[109] CEC, no 2092.
[110] Mc 3,28-30.
[111] Lc 15,2.
[112] Lc 5,17.
[113] Mk 7,18.
[114] Ch. Péguy, Le Porche du mystère de la deuxième vertu, Oeuvres poétiques complètes, Gallimard, Paris, 1975, p. 610.
[115] F. Dostoievski, L’idiot, 2e partie, ch, 4, Livre de poche, Paris, 1994.
[116] Cv 20,35.
[117] 1Ga 4,19.
[118] cf. Ed 18,23.
[119] x. Is 53,4.
[120] x. J. Ratzinger – Benoit XVI, Jésus de Nazareth, IIe partie, Parole et Silence, Parie, 2012.
[121] 1Pr 2,4.
[122] 2Cr 5,21.
[123] cf. 1Pr 1,19.
[124] 1Pr 2,22.24.
[125] cf. 1Pr 2,19.
[126] Lc 23,41.
[127] Dt 7,27.
[128] cf. St 4,10; Dt 12,24.
[129] Mt 19,12.
[130] Ga 15,13.
[131] Rm 5,7-8.
[132] Mt 26,50.
[133] Lc 23,34.
[134] Ga 11,42.
[135] Mt 5,44.
[136] cf. R. Garofalo, Sopra le ali dell’aquila, Ancora, Milano, 2005.
[137] Rm 4,15.
[138] cf. Tacitus, Annales, XV, 44.
[139] Saint Augustin, Confessions, X, 43.
[140] Stychères de Pâques, texte cité par G. Gharib dans Le icone festive della Chiesa Ortodossa, Ancora, Milano, 1985.
[141] Rm 3,21.
[142] Rm 2,6-8.
[143] Rm 1,7.
[144] Rm 3,23-26.
[145] M. Luther, Prefazione alle opere in latino, éd. Weimar, 54.
[146] Saint Augustin, L’Esprit et la lettre, 32, 56 (PL 44, 237).
[147] Tt 3,4-5.
[148] Ep 2,4.
[149] Rm 1,16.
[150] Rm 3,26 tt.
[151] Mc 1,15.
[152] Dcr 1,3-4; cf. aussi Gr 8,4-5.
[153] Mc 10,15.
[154] Pl 3,9.
[155] 1Cr 7,25.
[156] 1Tm 1,13-16.
[157] Rm 12,1.
[158] Mc 5,19-20.
[159] Mc 2,1-12.
[160] J. P. Sartre, Le Diable et le Bon Dieu, X, 4, Livre de poche, Paris, 1964.
[161] Mt 16,19.
[162] Ga 20,22-23.
[163] Saint Ambroise, De sacr. V, 3, 17 (CSEL 73; De ben. Patr, 9, 39 (CSEL 32,2).
[164] Tertullien, De paenitentia, 4, 2; 12, 9 (CCL I).
[165] Isaac de l’Etoile, Sermon 11 (In dominica III post Epiphaniam, I): PL 194, 1729.
[166] Tv 51,14.
[167] Ch. Baudelaire, Les fleurs du mal, IV (Causerie).
[168] Gl 6,7.
[169] Rm 1,18.
[170] cf. Rm 3,26.
[171] Saint Francois d’Assise, “Lettre à un ministre”, dans Oeuvres de saint Francois d’Assise (trad. A. Masseron), Albin Michel, Paris, 2006.
[172] Qua đời năm 1942, được phong thánh năm 1983, nổi tiếng là một cha giải tội không mỏi mệt.
[173] Textes cités dans L. da Fara, Leopoldo Mandié. L’unamità, la santità, Éd. San Leopoldo, Padova, 1987.
[174][174] P. Claudel, Corona benegnitati anni Dei, Oeuvre poétique, Gallimard, Paris, 1976, p. 377.
[175] Gr 31,20.
[176] Mt 9,27.
[177] Misericordia vultus, no 6.
[178] cf. Ep 2,4.
[179] cf. Ga 1,18.
[180] Petit journal de soeur Faustine no 88, Hovine, 1985.
[181] Chúa nhật in albis deponendis: Ngày các người tân tòng, được rửa tội trong đêm Vọng Phục Sinh, cởi bỏ áo dài trắng.
[182] cf. Kh 5,6.
[183] cf. Saint Augustin, Discours, 267, 4 (PL 38, 1231).
[184] 1Ga 5,7-8.
[185] cf. Tv 33,11.
[186] Tv 49,8.
[187] cf. 1Ga 4,10.19.
[188] Hs 11,8.
[189] Mt 5,7.
[190] Mt 6,15.
[191] Xh 33,19.
[192] Cl 3,13.
[193] Gc 2,13.
[194] Mt 18,23 tt.
[195] Ga 13,34.
[196] 1Ga 4,11.
[197] x. 1Ga 4,20.
[198] Sainte Catherine de Sienne, Dialogue de la Divine Providence, 64, Seuil, Paris, 2002.
[199] Lc 6,36.
[200] Mt 25,40.
[201] Rm 13,8.
[202] Ga 4,14.
[203] 2Pr 1,4.
[204] 2Cr 1,3.
[205] Kn 11,24.
[206] Pape Francois, Bulle Misericordiae Vultus, no 23. Về lòng thương xót trong cuộc đối thoại liên tôn, cf. W. Kasper, La Miséricorde, Notion fondamentale de l’Evangile, Clé de la vie chrétienne, EdB, Nouan-le-Fuzelier, 2015.
[207] Saint Augustin, Discours, 69, I (PL 38, 441).
[208] cf. Tv 133.
[209] Tb 2,1-5.
[210] Cl 3,12-13.
[211] Rm 12,9.
[212] cf. 1Cr 13,3.
[213] Mc 1,41.
[214] Lc 7,13.
[215] Lc 15,32.
[216] Lc 15,26.
[217] Misericordiae Vultus, no 14.
[218] Mt 7,1-3.
[219] Lc 6,37.
[220] Rm 12,5.
[221] Mc 10,21.
[222] Lc 19,15.
[223] Lc 22,61.
[224] Mc 3,34.
[225] x. Mc 3,5.
[226] Mt 6,22.
[227] Gc 3,5-10.
[228] S. Kierkegaard, Les actes de l’amour. Quelques méditations chrétiennes sous forme de discours, IIe série, 7, 1848.
[229] Ibid.
[230] Mc 12,42-43.
[231] Lc 10,25-29.
[232] Lc 10,30-37.
[233] 1Ga 3,18.
[234] cf. Lv 21,1.
[235] A. Maillot, La parabole de Jésus, éditions Olivétan, Lyon, 2006.
[236] Mc 2,27.
[237] Hội “Cấp Cứu” ở Ý.
[238] Mt 25,40.
[239] Pape Francois, Encyclique Laudato Si, no 2.
[240] Is 61,1-2.
[241] Lc 4,18-19.
[242] Saint Basile, Sur l’Esprit, XVI, 39 (PG 32, 140).
[243] Ga 14,16.
[244] Cv 10,38.
[245] Ga 16,14.
[246] Sách Lễ Rôma, thứ ba sau lễ Hiện Xuống.
[247] Origène, Homélies sur saint Luc, 34 (SCh 87, p. 401tt).
[248] Nguyên bản: “There is a balm in Gilead, to heal the wounded souls”.
[249] x. Gr 8,22.
[250] 2Cr 3,3-6.
[251] Saint Thomas d’Aquin, Somme théologique, I-IIae, q. 106, a. 2.
[252] ibid., q.106, a.1 ; cf. aussi saint Augustin, De spiritu et littera, 21, 36.
[253] Ga 16,7.
[254] Saint Augustin, De spiritu et littera, 19, 34: “Luật đã được ban cho ta để ta tìm kiếm ân sủng; ân sủng đã được ban cho ta để bảo đảm việc chu toàn đức tin.”
[255] Ep 1,9; Lc 2,14.
[256] “Tôi cho anh để anh cho lại tôi.”
[257] Tv 49,8.
[258] cf. M. Luther, Sermon de Pentecôte (WA, 12, tr. 568 tt).
[259] Rm 8,32.
[260] Ga 3,5.8.
[261] cf. Rm 5,5.
[262] 2Cr 1,3-4.
[263] Rm 15,4.
[264] 1Tx 5,11.
[265] Lumen Gentium, số 68.
[266] F. Dostoievski, L’idiot, Librairie Générale Francaise, coll. “Le Livre de Poche”, Paris, 1972, p. 559.
[267] “Lettre à Sofia Ivanova”, dans op.cit.
[268] Gc 2,13.
[269] Archimandrite Sophrony, Silouane du Mont Athos, éditions Présence, Sistéron, 1974.
[270] Ibid.
[271] Ep 2,16.
[272] Ep 4,16-27.
[273] Cl 3,13.
[274] Gl 6,2.
