BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA
CHÚA NHẬT LỄ LÁ NĂM A
Đây là những bài giảng của Đức Thánh Cha trong các Chúa Nhật Lễ Lá năm A.
Bài giảng
Đức Phanxicô: 02.04.2023 - Đấng Bị Bỏ Rơi không bỏ mặc ai một mình 05.04.2020 - Bị phản bội và bị ruồng bỏ 09.04.2017 - Gương mặt của Chúa Giêsu Vua Cứu Thế 13.04.2014 - Tôi là ai? Bài giảng Đức Bênêđictô XVI: 17.04.2011 - Hướng mình lên cao |
LỜI CHÚA
Bài Phúc Âm: Mt 21, 1-11 (trước
khi đi rước)
"Chúc tụng
Ðấng nhân danh Chúa mà đến".
Tin Mừng
Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi các
ngài đến gần Giêrusalem, vào địa hạt Bếtphaghê, giáp núi Cây Dầu, Chúa Giêsu
sai hai môn đệ đi và bảo rằng: "Các con hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp
ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các con hãy mở dây, dẫn về đây
cho Thầy; và nếu có ai bảo các con điều gì, thì hãy nói: Chúa cần đến chúng, và
Ngài sẽ gởi trả lại ngay". Mọi việc này xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri
đã phán:
"Các
ngươi hãy bảo thiếu nữ Sion rằng: Kìa vua ngươi nhân ái đến cùng ngươi, ngồi
trên lừa mẹ và lừa con, là con của con vật chở đồ".
Các môn đệ
ra đi và làm theo lời Chúa Giêsu dạy bảo. Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về,
trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo
xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước,
người theo sau tung hô rằng: "Hoan hô con vua Ðavit! Chúc tụng Ðấng nhân
danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời!"
Khi Ngài
vào thành Giêrusalem, thì cả thành phố náo động và nói rằng: "Người đó là
ai vậy?" Dân chúng trả lời rằng: "Người ấy là Tiên tri Giêsu, xuất
thân từ Nadarét, xứ Galilêa".
Ðó là lời Chúa.
Bài Ðọc I: Is 50,
4-7
"Tôi đã không giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười, nhưng tôi biết
tôi sẽ không phải hổ thẹn".
(Bài ca thứ ba về Người Tôi Tớ Chúa)
Bài trích sách Tiên tri Isaia.
Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được
huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh
thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã
mở tai tôi, mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho
kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh
những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi
không phải hổ thẹn; nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ
thẹn.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca:
Ðáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con?
Xướng: 1) Bao người thấy con đều mỉa
mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: "Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin
Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương".
Ðáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con?
2) Ðứng quanh con là đàn ưng khuyển,
một lũ côn đồ bao bọc lấy con. Chân tay con chúng đều chọc thủng, con có thể
đếm được mọi đốt xương con.
Ðáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con?
3) Phần chúng thì nhìn xem con và vui
vẻ, đem y phục của con chia sẻ với nhau, còn tấm áo dài, thì chúng rút thăm...
Phần Ngài, lạy Chúa, xin chớ đứng xa con, ôi Ðấng phù trợ con, xin kíp ra tay
nâng đỡ.
Ðáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con?
4) Con sẽ tường thuật danh Chúa cho
các anh em, giữa nơi công hội, con sẽ ngợi khen Người. "Chư quân là người
tôn sợ Chúa, xin hãy ca khen Chúa, toàn thể miêu duệ nhà Giacóp, hãy chúc tụng
Người, hãy tôn sợ Người, hết thảy dòng giống Israel!"
Ðáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con?
Bài Ðọc II: Pl 2,
6-11
"Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người".
Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi
tín hữu Philipphê.
Chúa Giêsu Kitô, tuy là thân phận
Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái
lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống
như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình
mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh
Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên
Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi
miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh
quang.
Ðó là lời Chúa.
Câu Xướng Trước
Phúc Âm:
Chúa Kitô vì chúng ta, đã vâng lời cho
đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban
cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.
Bài
Thương Khó: Mt 26, 14 - 27, 66
(bài dài)
"Sự Thương
Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".
C:
Người đọc Chung, Thánh Sử; S: Người đối thoại khác, hoặc Cộng đoàn. +:
Chúa Giêsu
C.
Bài Thương Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.
Khi
ấy, một trong nhóm Mười Hai, tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và nói
với họ:
S. "Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi
nộp Người cho các ông?"
C. Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc.
Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người. Ngày thứ nhất tuần lễ ăn bánh
không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng:
S. "Thầy muốn chúng con sửa soạn cho
Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?"
C. Chúa Giêsu đáp:
+. "Các con hãy vào thành, đến với
một người kia nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các
môn đệ tại nhà ông".
C. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu truyền và
sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ.
Và
khi các ông đang ăn, Người nói:
+. "Thầy nói thật với các con: có một
người trong các con sẽ nộp Thầy".
C. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt
đầu hỏi Người:
S. "Thưa Thầy, có phải con
không?"
C. Người trả lời rằng:
+. "Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với
Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về
Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người! Thà người đó đừng sinh ra thì
hơn!"
C. Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người
rằng:
S. "Thưa Thầy, có phải con
chăng?"
C. Chúa đáp:
+. "Ðúng như con nói".
C. Vậy khi mọi người còn đang ăn, Chúa
Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán:
+. "Các con hãy cầm lấy mà ăn, vì này
là Mình Ta".
C. Ðoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn, rồi
trao cho các môn đệ mà phán:
+. "Tất cả các con hãy uống chén này,
vì này là Máu Ta, Máu Tân Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Thầy bảo
các con: Từ nay, Thầy sẽ không còn uống chất nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ
uống rượu mới cùng các con trong nước Cha Thầy".
C. Sau khi hát thánh vịnh, Thầy trò liền
lên núi Ôliu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông:
+. "Tất cả các con sẽ vấp phạm vì
Thầy trong chính đêm nay, vì có lời chép rằng: "Ta sẽ đánh chủ chăn, và
các chiên trong đoàn sẽ tan tác". Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến
xứ Galilêa trước các con".
C. Phêrô liền thưa:
S. "Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, riêng
con, con sẽ không bao giờ vấp phạm".
C. Chúa Giêsu đáp:
+. "Thầy bảo thật con, chính đêm nay,
trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần".
C. Phêrô lại thưa:
S. "Dù có phải chết cùng Thầy, con sẽ
không chối Thầy".
C. Và tất cả các môn đệ cùng nói như vậy.
Rồi
Chúa Giêsu cùng đi với các ông đến một chỗ gọi là Ghếtsêmani, và Người bảo các
môn đệ:
+. "Các con hãy ngồi đây để Thầy đến
đàng kia cầu nguyện".
C. Ðoạn Chúa đưa Phêrô và hai người con
ông Giêbêđê cùng đi, Người bắt đầu cảm thấy buồn bực và sầu não. Lúc ấy, Người
bảo các ông:
+. "Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi
chết được; các con hãy ở lại đây và thức với Thầy".
C. Tiến xa hơn một chút, Người sấp mặt
xuống, cầu nguyện và nói:
+. "Lạy Cha, nếu được, xin cho Con
khỏi chén này! Nhưng đừng như ý Con muốn, một theo ý Cha muốn".
C. Người trở lại cùng các môn đệ và thấy
các ông đang ngủ, liền nói với Phêrô:
+. "Chẳng lẽ các con không thức cùng
Thầy được lấy một giờ ư? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi lâm cơn cám dỗ: vì
tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu đuối".
C. Rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai
mà rằng:
+. "Lạy Cha, nếu chén này không thể
qua đi được mà Con phải uống, thì xin theo ý Cha".
C. Ðoạn Người trở lại và thấy các ông còn
ngủ, vì mắt các ông nặng trĩu. Người để mặc các ông và đi cầu nguyện lần thứ
ba, vẫn lại những lời như trước. Sau đó Người trở lại với các môn đệ và bảo:
+. "Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ
ngơi đi! Này sắp đến giờ Con Người sẽ bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Các
con hãy chỗi dậy. Chúng ta hãy đi: này kẻ nộp Thầy đã tới gần".
C. Người còn đang nói, thì đây, Giuđa, một
trong nhóm mười hai, và cùng với y có lũ đông mang gươm giáo gậy gộc, do các
thượng tế và kỳ lão trong dân sai đến. Vậy tên nội công đã dặn họ ám hiệu này:
S. "Hễ tôi hôn người nào, thì đó
chính là Người, các ông hãy bắt lấy".
C. Tức khắc Giuđa tới gần Chúa Giêsu và
nói:
S. "Chào Thầy".
C. Và nó hôn Người. Nhưng Chúa Giêsu bảo:
+. "Hỡi bạn, bạn đến đây làm
chi?"
C. Lúc đó chúng xông tới, tra tay bắt Chúa
Giêsu. Ngay sau đó, một trong những người vẫn theo Chúa Giêsu, giơ tay rút gươm
và chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu liền bảo:
+. "Con hãy xỏ ngay gươm vào bao: vì
tất cả những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Nào con tưởng rằng Thầy không thể
xin Cha Thầy và Ngài sẽ tức khắc gởi đến hơn mười hai cơ binh thiên thần sao?
Mà như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh bảo: Sự thế phải như
vậy?"
C. Lúc đó Chúa Giêsu nói cùng đám đông
rằng:
+. "Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc
đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ, giữa các ngươi,
mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng tất cả sự đó xảy ra là để ứng nghiệm lời các
tiên tri đã chép".
C. Bấy giờ các môn đệ bỏ Người và chạy
trốn hết.
Những
kẻ đã bắt Chúa Giêsu điệu Người đến thầy thượng tế Caipha. Nơi đây các luật sĩ
và kỳ lão đã hội họp. Phêrô theo Người xa xa cho tới dinh thầy thượng tế. Rồi
ông vào trong dinh ngồi cùng bọn đầy tớ, xem việc xảy ra thế nào. Vậy các
thượng tế và tất cả công nghị tìm chứng gian cáo Chúa Giêsu để lên án xử tử
Người. Và họ đã không tìm được, mặc dù đã có một số đông chứng nhân ra mắt. Sau
cùng, hai người làm chứng gian đến khai rằng:
S. "Người này đã nói: Ta có thể phá
đền thờ Thiên Chúa và xây cất lại trong ba ngày".
C. Bấy giờ thầy thượng tế đứng lên nói:
S. "Ông không trả lời gì về các điều
những người này đã cáo ông ư?"
C. Nhưng Chúa Giêsu làm thinh, nên thầy
thượng tế bảo Người:
S. "Nhân danh Thiên Chúa hằng sống,
ta truyền cho ông hãy nói cho chúng ta biết: Ông có phải là Ðấng Kitô, Con
Thiên Chúa không?"
C. Chúa Giêsu trả lời:
+. "Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói
thật với các ông: rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Ðấng Toàn
Năng, và sẽ đến trên đám mây".
C. Bấy giờ thầy thượng tế xé áo mình ra và
nói:
S. "Nó đã nói lộng ngôn! Chúng ta còn
cần gì đến nhân chứng nữa? Ðây các ngài vừa nghe lời lộng ngôn. Các ngài nghĩ
sao?"
C. Họ đáp lại:
S. "Nó đáng chết!"
C. Bấy giờ chúng nhổ vào mặt Người, đấm
đánh Người, lại có kẻ tát vả Người mà nói rằng:
S. "Hỡi Kitô, hãy bói xem, ai đánh
ông đó?"
C. Còn Phêrô ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ
gái lại gần và nói:
S. "Ông nữa, ông cũng đã theo Giêsu
người xứ Galilêa".
C. Nhưng ông chối trước mặt mọi người mà
rằng:
S. "Tôi không hiểu chị muốn nói
gì?"
C. Khi ông lui ra đến cổng, một đầy tớ gái
khác thấy ông, liền nói với những người ở đó:
S. "Ông này cũng theo Giêsu người
Nadarét".
C. Ông thề mà chối rằng:
S. "Tôi không biết người ấy".
C. Một lúc sau, mấy người đứng đó lại gần
mà nói với Phêrô rằng:
S. "Ðúng rồi, ngươi cũng thuộc bọn
ấy. Vì chính giọng nói của ngươi tiết lộ tông tích ngươi".
C. Bấy giờ ông rủa mà thề rằng: ông không
hề biết người ấy. Tức thì gà gáy. Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói: "Trước
khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần", và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.
Trời
vừa sáng, các thượng tế và kỳ lão trong dân hội họp bày mưu giết Chúa Giêsu. Họ
trói Người và điệu đi nộp cho tổng trấn Phongxiô Philatô. Bấy giờ Giuđa, kẻ nộp
Người, thấy Người bị kết án thì hối hận, đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các
thượng tế và kỳ lão mà nói rằng:
S. "Tôi đã phạm tội vì nộp máu người
công chính".
C. Nhưng họ trả lời:
S. "Can chi đến chúng tôi! Mặc kệ
anh!"
C. Anh ta ném những đồng bạc đó vào trong
đền thờ và ra đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy bạc đó và nói:
S. "Không nên để bạc này vào kho vì
là giá máu".
C. Sau khi bàn bạc, họ lấy tiền đó mua
thửa ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất những người ngoại kiều. Bởi thế,
ruộng ấy cho đến ngày nay được gọi là Haselđama, nghĩa là ruộng máu. Như vậy là
ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia nói: "Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là
giá do con cái Israel đã mặc cả mà bán Ðấng cao trọng. Và họ mang tiền đó mua
ruộng của người thợ gốm như lời Chúa đã truyền cho tôi".
Vậy
Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn, và quan hỏi Người rằng:
*
S. "Ông có phải là
Vua dân Do-thái không?"
C. Chúa Giêsu đáp:
+. "Ông nói đúng!"
C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố
cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người:
S. "Ông không nghe thấy tất cả những
điều họ tố cáo ông sao?"
C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một
điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.
Vào
mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù
tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói
với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng:
S. "Các ngươi muốn ta phóng thích ai,
Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?"
C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng
đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan
rằng:
S. "Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ
người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ
rất nhiều vì người ấy".
C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục
dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ:
S. "Trong hai người đó các ngươi muốn
ta phóng thích ai?"
C. Họ thưa:
S.
"Baraba!"
C. Philatô
hỏi:
S. "Vậy
đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?"
C. Họ đồng thanh đáp:
S. "Ðóng đinh nó đi!"
C. Quan lại hỏi:
S. "Nhưng người này đã làm gì nên
tội?"
C. Chúng càng la to:
S. "Ðóng đinh nó đi!"
C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm
náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói:
S. "Ta vô can về máu người công chính
này, mặc kệ các ngươi".
C. Toàn dân đáp:
S. "Hãy để cho máu nó đổ trên chúng
tôi và trên con cái chúng tôi".
C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ,
còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.
Bấy
giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ
đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng
đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây
sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng:
S. "Tâu
vua dân Do-thái!"
C. Ðoạn họ
khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người
xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng
đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền
bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.
Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha,
nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua
nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm
chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: "Chúng đã chia nhau
áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm". Rồi họ ngồi lại canh
Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua
dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên
hữu, một tên bên tả.
Những người đi ngang qua, lắc đầu chế
diễu Người và nói:
S. "Kìa,
ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu
là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!"
C. Các thượng
tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng:
S. "Nó
đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì
bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên
Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: "Ta là
Con Thiên Chúa!"
C. Cả những
tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ
giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ
chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng:
+. "Eli,
Eli, lema sabachtani!"
C. Nghĩa là:
+. "Lạy
Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!"
C. Có mấy
người đứng đó nghe vậy nói rằng:
S. "Nó
gọi tiên tri Elia".
C. Lập tức
một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào
đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo:
S. "Hãy
chờ xem Elia có đến cứu nó không?"
C. Ðoạn Chúa
Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.
(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi
từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của
nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi
mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ
cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất
kinh sợ hãi và nói:
S. "Ðúng
người này là Con Thiên Chúa". *
C. Ở đó cũng
có nhiều phụ nữ đứng xa xa; họ là những người đã theo giúp Chúa Giêsu từ xứ
Galilêa. Trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và mẹ
các người con của Giêbêđê.
Tới chiều có một người giàu sang quê ở
Arimathia tên là Giuse, cũng đã làm môn đệ Chúa Giêsu, ông đi gặp Philatô và
xin xác Chúa Giêsu. Bấy giờ Philatô truyền giao xác cho ông. Vậy ông Giuse lấy
xác, liệm trong một khăn sạch, và đặt trong mồ mà ông đã cho đục trong đá, rồi
ông lăn một tảng đá lớn lấp cửa mồ lại và ra về. Còn Maria Mađalêna và bà Maria
kia cùng ngồi đó nhìn vào mộ.
Hôm sau, tức là sau ngày chuẩn bị mừng
lễ, các thượng tế và biệt phái đến dinh Philatô trình rằng:
S. "Thưa
ngài, chúng tôi nhớ, lúc sinh thời tên bịp bợm ấy có nói: "Sau ba ngày, Ta
sẽ sống lại". Vậy xin ngài truyền lệnh cho canh mộ đến ngày thứ ba, kẻo
môn đệ nó lấy trộm xác rồi phao đồn với dân chúng rằng: Người đã từ cõi chết
sống lại! Và như thế, sự gian dối này lại còn tai hại hơn trước".
C. Philatô
trả lời:
S. Các ông đã
có lính canh thì cứ đi mà canh như ý.
C. Họ liền đi
và đóng ấn niêm phong tảng đá và cắt lính canh giữ mồ.
Đó là lời Chúa.
Hoặc đọc bài vắn này: Mt 27, 11-54
Lấy bản văn trên và đọc:
C. Bài Thương
Khó Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đứng trước tổng
trấn Philatô, và quan hỏi Người rằng:
S. "Ông có phải là Vua dân Do-thái
không?"
C. Chúa Giêsu đáp:
+. "Ông nói đúng!"
C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố
cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người:
S. "Ông không nghe thấy tất cả những
điều họ tố cáo ông sao?"
C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một
điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.
Vào
mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù
tuỳ ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói
với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng:
S. "Các ngươi muốn ta phóng thích ai,
Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?"
C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng
đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan
rằng:
S. "Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ
người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ
rất nhiều vì người ấy".
C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục
dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ:
S. "Trong hai người đó các ngươi muốn
ta phóng thích ai?"
C. Họ thưa:
S.
"Baraba!"
C. Philatô
hỏi:
S. "Vậy
đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?"
C. Họ đồng thanh đáp:
S. "Ðóng đinh nó đi!"
C. Quan lại hỏi:
S. "Nhưng người này đã làm gì nên
tội?"
C. Chúng càng la to:
S. "Ðóng đinh nó đi!"
C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm
náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói:
S. "Ta vô can về máu người công chính
này, mặc kệ các ngươi".
C. Toàn dân đáp:
S. "Hãy để cho máu nó đổ trên chúng
tôi và trên con cái chúng tôi".
C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ,
còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.
Bấy
giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ
đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng
đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây
sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng:
S. "Tâu
vua dân Do-thái!"
C. Ðoạn họ
khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người
xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng
đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền
bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.
Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha,
nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hoà với mật đắng, Người chỉ nếm qua
nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm
chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: "Chúng đã chia nhau
áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm". Rồi họ ngồi lại canh
Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua
dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên
hữu, một tên bên tả.
Những người đi ngang qua, lắc đầu chế
diễu Người và nói:
S. "Kìa,
ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu
là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!"
C. Các thượng
tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng:
S. "Nó
đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì
bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên
Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: "Ta là
Con Thiên Chúa!"
C. Cả những
tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ
giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ
chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng:
+. "Eli,
Eli, lema sabachtani!"
C. Nghĩa là:
+. "Lạy
Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!"
C. Có mấy
người đứng đó nghe vậy nói rằng:
S. "Nó
gọi tiên tri Elia".
C. Lập tức
một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào
đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo:
S. "Hãy
chờ xem Elia có đến cứu nó không?"
C. Ðoạn Chúa
Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.
(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi
từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của
nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi
mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ
cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất
kinh sợ hãi và nói:
S. "Ðúng
người này là Con Thiên
Chúa".
Đó là lời Chúa.