Từ thế kỷ XVI, Việt Nam đã bắt đầu giao thương với các nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp... và với Nhật Bản ở châu Á để buôn bán, trao đổi hàng hóa và vũ khí quân sự. Cùng thời gian đó, Giáo hội Công giáo với căn tính truyền giáo, mở rộng bước chân gieo Tin mừng đến khắp nơi trên thế giới, đến tận miền Viễn Đông Á châu, trong đó có Việt Nam.
Theo sử sách ghi lại, Giáo hội Công giáo có mặt tại Việt Nam từ thế kỷ XVI vào khoảng năm 1533.
“Đạo Giatô, theo bút ký của tư nhân, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, có người Tây dương tên Inêkhu, lén đến truyền đạo Giatô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy”.[1]
Lịch sử Giáo hội Công giáo ở Việt Nam với công cuộc truyền giáo có một lịch sử phong phú và oai hùng bậc nhất, với trên 130.000 đấng Tử đạo. Tuy nhiên, theo nhiều sử liệu có thể là trên 300.000 người đã ngã xuống để làm chứng cho đức tin từ ngày Tin Mừng hiện diện ở Việt Nam.[2] Giáo hội Công giáo ở Việt Nam là một Giáo hội được xây dựng bằng xương máu của các chiến sĩ đức tin[3] như Đức Thánh Cha Lêô XIII, trong Sắc ghi danh tánh 77 vị Tử đạo Đông Á (64 Việt Nam) vào Sổ bộ các Chân phước, ngày 27.5.1900 đã viết:
“Những chiến sĩ trung liệt và can trường không kém các chiến sĩ ngày xưa trong thế kỷ khai nguyên của Giáo hội."
|
I. “GIEO TRONG LỆ SẦU, GẶT TRONG NIỀM VUI…” Gương sáng về đức tin và sự trung tín Giáo dục trong các trường học Công giáo II. TRUYỀN GIÁO VÀ GIÁO DỤC, BA TRĂM NĂM BỊ BÁCH HẠI TRONG GIÁO HỘI VIỆT NAM |
I. “GIEO TRONG LỆ SẦU, GẶT TRONG NIỀM VUI…”
Thật vậy, trong suốt gần ba trăm năm đầu, Giáo hội Việt Nam bị bách hại từ khi đón nhận Tin mừng.
“Hỡi Giáo hội Việt Nam, một trong những Giáo hội đã bị bắt bớ hà khắc nhất trong Giáo hội toàn cầu, kể từ khi công cuộc của Chúa Cứu Thế bị bắt bớ, một trong những Giáo hội kiên cố lạ lùng nhất... ta kính chào ngươi! Và bởi vì hy sinh càng lớn lao, thì vinh quang càng sáng chói. Ngươi thật xứng đáng được danh thơm muôn thuở, ngang hàng với những Giáo hội anh hùng nhất phương Tây” (Sử gia A. Launay).[4]
Bách hại khốc liệt nhất là thời kỳ của các vua nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Tổng cộng 300 năm, có khoảng 130.000 tín hữu Công giáo chết vì đạo Chúa (tử vì đạo).
Lịch sử Giáo hội Việt Nam ghi nhớ tất cả 53 Sắc chỉ chính thức do các chúa (hai dòng họ Trịnh, Nguyễn: trong Nam ngoài Bắc), do nhà Tây Sơn và do các vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức ban hành nhằm khai trừ và tiêu diệt đạo Thiên Chúa. Qua bảy thời đại cấm đạo khác nhau, từ thời các chúa Nguyễn (1615-1778) ở Đàng Trong, các chúa Trịnh (1627-1786) ở Đàng Ngoài, qua nhà Tây Sơn (1775-1800), các vua nhà Nguyễn: Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1840-1847), Tự Đức (1847-1883), đến nhóm Văn Thân (1885-1886)...
– 30.000 anh hùng Việt Nam tử đạo dưới thời Chúa Trịnh Ðàng Ngoài; Chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn ở Ðàng Trong.
– 40.000 chiến sĩ đức tin đã anh dũng tuyên xưng đức tin dưới ba triều đại: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Ðức.
– 60.000 tín hữu kiêu hùng chết vì tin vào Chúa Kitô do việc bắt bớ, thảm sát, phân sáp của phong trào Văn Thân (1862-1885).[5]
Các anh hùng tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn.
Thật sự không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Những tâm tình của các anh hùng tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người dám coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khoát thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Gương sáng ấy của các ngài đã để lại những giá trị giáo dục đến với tín hữu Công giáo và ảnh hưởng tích cực đến xã hội Việt Nam trong dòng lịch sử:
Gương sáng về đức tin và sự trung tín
Các anh hùng tử đạo Việt Nam là những mẫu gương sáng, khuyến khích mọi người sống và giữ vững đức tin trong hoàn cảnh khó khăn: thể hiện một lòng trung thành vững chắc với đức tin Công giáo, bất chấp hiểm nguy và áp lực từ xã hội.
Những cuộc bách hại diễn ra đặc biệt mạnh mẽ vào các thế kỷ XVII-XIX qua nhiều triều đại và trên khắp đất nước, nhiều Kitô hữu đã đối mặt với sự bắt bớ, giam cầm và tử hình nhưng vẫn đứng vững trước áp lực và đe dọa, giữ vững niềm tin.
Đức tin của các tử đạo là một nguồn cảm hứng cho các thế hệ sau: lòng kiên trì, tình yêu thương, và sự hy sinh vì lý tưởng cao cả. Sự hy sinh của các ngài nhắc nhở rằng đức tin có thể dẫn dắt con người vượt qua mọi thử thách.
Điển hình như gương sáng của linh mục Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc:
“Đông qua tiết lại thời xuân tới.
Khổ tạm mai sau hưởng phúc an.
Làm kẻ anh hùng chi quản khó.
Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”.
Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như Micae Hồ Đình Hy, trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô”.
Truyền bá Tin mừng Chúa Kitô
Lòng can đảm, sự hy sinh cao cả của các anh hùng tử đạo là tấm gương sáng cho các tín hữu Công giáo về lòng trung thành với đức tin. Thúc đẩy các tín hữu xây dựng và phát triển các cộng đồng Kitô hữu, tạo ra các nhóm, hội đoàn để kết nối và nâng cao đời sống đức tin. Từ đó khuyến khích các tín hữu tích cực tham gia vào các hoạt động trong giáo xứ, từ việc thờ phượng đến các công tác bác ái xã hội.
Sự hy sinh cao cả của các ngài là những chứng từ mạnh mẽ, thu hút nhiều người tìm hiểu và tiếp nhận Tin mừng Kitô giáo.
Các anh hùng tử đạo đã tạo ra sức mạnh tinh thần cho cộng đồng tín hữu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá giáo lý Công giáo. Minh chứng cho gương sáng này có gương Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644. Lời ngài căn dặn mọi người đang chứng kiến hôm đó còn vang vọng đến ngày hôm nay: “Hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu, hãy đem mạng sống báo đền mạng sống. Anh chị em ơi, thủy chung một lòng ta giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu, cho đến hết hơi cho đến trọn đời ta giữ nghĩa cùng Chúa Giêsu”.
Hình thành văn hóa Kitô giáo Việt Nam góp phần xây dựng văn hóa Việt Nam
Các anh hùng tử đạo Việt Nam không chỉ là biểu tượng của đức tin, mà còn là những nhân vật lịch sử, gắn liền với sự phát triển của Giáo hội ở Việt Nam, góp phần vào việc hình thành nên văn hóa Kitô giáo tại Việt Nam. Tham gia vào các hoạt động giáo dục, văn hóa, và nghệ thuật liên quan đến tôn giáo như thơ ca, tác phẩm văn học, từ đó văn hóa Kitô giáo đã được hình thành. Nhiều nhà thơ, nhạc sĩ Kitô giáo đã lấy cảm hứng từ cuộc đời và hy sinh anh dũng của các thánh anh hùng tử đạo để viết nên những tác phẩm thể hiện đức tin sâu sắc. Phát triển chữ Quốc Ngữ, chữ Nôm…
Giáo dục trong các trường học Công giáo
Trong hệ thống giáo dục Công giáo tại Việt Nam trong mọi hoàn cảnh từ trường Công giáo (trước năm 1975), đến lớp giáo lý xưa và nay thường nhấn mạnh về lịch sử, bài học từ gương các anh hùng tử đạo, giúp các thế hệ hiểu rõ hơn về niềm tin, giá trị đạo đức, và trách nhiệm của một tín hữu Kitô. Điều này thúc đẩy ý thức về sự hy sinh và phục vụ trong cộng đồng Giáo hội Công giáo và ngoài xã hội.
Các anh hùng tử đạo đã trở thành hình mẫu cho học sinh trong việc sống trung thực, kiên trì, can đảm và yêu thương. Những câu chuyện về cuộc đời và hy sinh vì tình yêu Thiên Chúa và Giáo hội truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ.
Các tín hữu kế thừa từ các vị tử đạo tinh thần gánh vác Thánh giá như Chúa Kitô, biến những gian nan thử thách thành nguồn ơn cứu độ - cuộc sống cho chính mình, cũng như cho Giáo hội và cho quê hương đất nước Việt Nam thân yêu bằng tinh thần dấn thân phục vụ. Việc tử đạo của tín hữu ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.
Vào ngày 19.6.1988 tại Rôma, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngài có 96 vị người Việt Nam và 21 vị thừa sai nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất.
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong thánh lễ phong thánh cho 117 anh hùng tử đạo Việt Nam nhắn nhủ:
“Máu các Tử đạo là nguồn ân sủng cho anh em trước tiên, để anh em thăng tiến trong đức tin. Giữa anh em đức tin của tổ tiên vẫn tiếp tục và còn truyền tụng sang nhiều thế hệ tương lai. Đức tin này tồn tại để làm nền tảng xây dựng sự kiên trì cho tất cả những người là Việt Nam thuần túy sẽ trung thành với quê hương đất nước, nhưng đồng thời vẫn là người tín hữu của Chúa Kitô.
Các ngài là những bậc Thầy, ... trước toàn thể Giáo hội sức sinh hoạt và hình vóc hùng tráng của Giáo hội Việt Nam: ý chí kiên cường, sự nhẫn nại và khả năng vượt mọi khó khăn để tuyên xưng danh Chúa Kitô. Chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì tất cả mọi ơn lành mà Thánh Linh của Ngài hiện đang thực hiện một cách dồi dào giữa chúng ta”.
Chính Giáo dục Công giáo mà các thừa sai mang đến khi loan báo Tin Mừng đã đào tạo, rèn luyện, hun đúc các tín hữu tử đạo Việt Nam trở nên những chứng nhân anh hùng và là bậc thầy đức tin:
“Vinh danh Chúa vì qua bao thế hệ,
Ðức tin lồng vào trang sử đau thương.
Hạt chết đi ôm sức sống Tin Mừng,
Nhập vào đất, nở nên hoa Giáo hội”.[6]
Mặc dù bị bách hại và gặp phải phản ứng quyết liệt của tầng lớp Nho sĩ, giáo hội Công giáo vượt qua được sự thử thách khắc nghiệt ấy để tiếp tục tồn tại và phát triển. Chắc chắn trong tôn giáo này hiện diện một hệ thống giá trị mà nhiều người Việt Nam cảm nhận thấy và sẵn lòng tiếp nhận.
“Hệ thống giá trị của văn hoá phương Tây mà đạo Công giáo mang vào dường như có thể bổ sung cho nhu cầu phát triển của con người và xã hội Việt Nam đương thời. Vì vậy nó đã được một bộ phận người Việt Nam tiếp nhận bất chấp sự cấm đoán gắt gao của triều đình phong kiến nhà Nguyễn”.[7]
Trong số những nhà truyền giáo, nhất là các thừa sai Dòng Tên, là những nhà khoa học tinh thông nhiều lĩnh vực, đã góp công đưa nền khoa học phương Tây đến tiếp cận xã hội Việt Nam.
Alexandre de Rhodes năm 1627 đã mang biếu chúa Trịnh Tráng chiếc đồng hồ chạy bằng bánh xe và cuốn Kỷ hà nguyên bản của nhà toán học Euclid.
Các giáo sĩ Da Coxta, Langerloi đã mang vào Đàng Trong phương pháp chữa bệnh theo lối Tây y nên được chúa cho mở nhà thương (bệnh viện). Tại Thăng Long - Kẻ Chợ, khi giáo sĩ Đắc Lộ truyền giáo đến đây cũng đã thiết lập một nhà thương chữa bệnh cho người nghèo ở Cầu Dền. Đây là những cơ sở từ thiện và chữa bệnh theo lối Tây y sớm nhất ở Việt Nam.
Hai giáo sĩ là J.B Sanna (người Ý) và S. Piere (người Bồ) được phong ngự y dưới thời Minh Vương. Các giáo sĩ cũng phổ biến kỹ thuật dệt vải mịn và khổ rộng bằng khung dệt mang từ nước ngoài vào để sản xuất tại dòng Mến Thánh giá Di Loan (Quảng Trị) và sản phẩm đã được trưng bày tại hội chợ Paris năm 1867.[8]
Nhìn thấy cách sống phương tây từ các thừa sai, mới mẻ, tiến bộ và nhân văn, trong con mắt của nhiều người Việt Nam khi đó, các giáo sĩ đạo Công giáo là những người đại diện cho nền văn minh mới.
“Tính hiệu quả của hoạt động xã hội và văn hoá-giáo dục của các giáo sĩ-chủ thể của quá trình truyền giáo, cũng đóng vai trò không nhỏ trong sự truyền bá đạo Công giáo vào Việt Nam. Các hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ đạo Công giáo thường được gắn liền với các hoạt động văn hoá-giáo dục và các hoạt động xã hội khác. Đó là việc thành lập các bệnh viện, trường học, các trại trẻ mồ côi, nhà dưỡng lão, v.v... Những hoạt động giải quyết các vấn đề xã hội này đã không được đặt ra, không được tổ chức thành hệ thống trong xã hội phong kiến. Khi hoạt động này được đẩy mạnh trong quá trình truyền giáo, các giáo sĩ phương Tây đã góp phần không nhỏ trong tiến trình hiện đại hoá xã hội Việt Nam”.[9]
Tiến sĩ Nguyễn Nguyên Hồng dù có cái nhìn theo chủ nghĩa Mác xít về tôn giáo, trong Tạp chí triết học với bài “Vì sao đạo Công giáo được tiếp nhận ở Việt Nam?”, cũng đã dựa vào cách tiếp cận từ góc độ xã hội học, văn hóa để lý giải việc đạo Công giáo được truyền bá và tiếp nhận ở Việt Nam. Theo đó, tác giả cho rằng, vấn đề trên xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có ba lý do chính:
– Tư tưởng văn hóa tâm linh: con người hướng thượng làm việc tốt để được cuộc sống vĩnh cửu mai sau.
– Tư tưởng xã hội và nhân văn: đạo Công giáo với hệ thống các giá trị mới (ở Việt Nam) góp phần phá vỡ các quan hệ phong kiến và tạo lập những tiền đề tư tưởng cho một xã hội mới đem đến một thế giới quan và nhân sinh quan mới.
– Hoạt động văn hóa - giáo dục của các giáo sĩ với tính cách chủ thể của quá trình truyền giáo.[10]
Với ba điểm này, cụ thể giáo hóa con người “hướng thượng làm việc tốt”, “tạo lập những tiền đề tư tưởng cho một xã hội mới đem đến một thế giới quan và nhân sinh quan mới” và “Hoạt động văn hóa - giáo dục” trong xã hội Việt, đã làm nổi bật vai trò sư phạm giáo dục của Giáo hội Công giáo trong lòng của đất nước hình chữ S này dù phải trải qua bao khốn đốn, bách hại...
“Công giáo vào Việt Nam chưa đầy 5 thế kỷ. Nhưng các nhà nghiên cứu khẳng định sự đóng góp to lớn của Công giáo với văn hóa, xã hội Việt Nam trên nhiều lĩnh vực từ việc hình thành chữ Quốc ngữ đến xây dựng lối sống lành mạnh. Từ văn học, nghệ thuật, kiến trúc, âm nhạc đến vai trò cầu nối văn minh, văn hóa đông-tây. Thông qua các thừa sai, đạo Công giáo đã đem vào Việt Nam những kiến thức khoa học kỹ thuật của phương Tây lúc bấy giờ...
Các trường Công giáo ở Việt Nam cũng là nơi đào tạo không chỉ nhân lực cho tôn giáo này, mà còn đào tạo ra nhiều danh nhân văn hóa cho đất nước. Trường Công giáo cũng là nơi lưu giữ văn hóa hồn cốt nước Việt, khi nhà nước thuộc địa bãi bỏ chữ Hán thì nhiều cơ sở đào tạo Công giáo vẫn buộc dạy chữ Hán, chữ Nôm cho chủng sinh. Các trường học do Công giáo điều hành góp phần quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc gia Việt Nam cộng hòa”.[11]
Không chỉ đóng góp vào văn hóa người Việt, mà còn giúp phần bảo vệ và phát triển văn hóa các dân tộc ít người.
Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng: đạo Công giáo đã góp phần không nhỏ vào cuộc thăng hoa các nền văn hoá của người Chăm, người Khơ Me ở phương Nam. Nền văn hoá tinh thần của Kitô giáo theo đoàn người mở đất phương Nam đã thay đổi nền văn hóa vật chất, tính giao với những Linga và Yoni của dân tộc Chiêm Thành và Thuỷ Chân Lạp.[12]
Trước những thành tựu trên, không thể phủ nhận sự đóng góp cho xã hội Việt Nam về văn hóa, đạo đức, giáo dục đào tạo của Giáo hội Công giáo. Ngoài ra, cần ghi nhận trong lịch sử Công giáo ở Việt Nam, sự dấn thân trong y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện nhân đạo... Những hoạt động này thể hiện tinh thần Tin mừng Chúa Kitô, là phần không thể thiếu trong sứ mệnh của Giáo hội đóng góp tích cực vào sự phát triển của xã hội Việt Nam từ lúc đến cho đến hôm nay.[13]
II. TRUYỀN GIÁO VÀ GIÁO DỤC, BA TRĂM NĂM BỊ BÁCH HẠI TRONG GIÁO HỘI VIỆT NAM
Dù gặp bao nhiêu gian truân trên mảnh đất truyền giáo này, nhưng các vị thừa sai đã quan tâm đến đào tạo giáo dục và hình thành thành giáo dục Công giáo, phần không thể thiếu trong lịch sử truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Từ những ngày đầu truyền giáo, các nhà truyền giáo đã nhận ra tầm quan trọng của giáo dục trong việc truyền bá đức tin và đào tạo những người bản xứ tài năng phục vụ Giáo hội và xã hội. Những lớp học (trường nhỏ) Công giáo đầu tiên được thành lập ở thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX. Cụ thể các tu sĩ thuộc các Hội Dòng:
– Các giáo sĩ Dòng Đaminh đã đến Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI, học tiếng địa phương, tìm hiểu phong tục tập quán và văn hóa của người bản địa để có thể truyền giáo hiệu quả hơn. Các thừa sai thành lập các nhà thờ, lớp học và phòng khám (bệnh viện) để phục vụ người dân địa phương. Truyền bá kiến thức khoa học và kỹ thuật mới cho người dân địa phương.
– Khi đến Việt Nam, vào thế kỷ XVII các giáo sĩ Dòng Tên hoạt động ở Đàng Trong, học ngôn ngữ và văn hóa, mở nhiều lớp học ở các trung tâm truyền giáo như: Hội An, Thanh Chiêm, Sài Gòn... Các lớp học này chủ yếu dạy chữ Nho, chữ La tinh và giáo lý Công giáo. Ngoài ra, các giáo sĩ Dòng Tên còn dạy các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Các tu sĩ Dòng Tên ở Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ (chúng ta sẽ bàn đến kế tiếp).
– Các giáo sĩ Dòng Phanxicô sang Việt Nam vào thế kỷ XVII, hoạt động ở Đàng Ngoài, cũng mở nhiều lớp học, chủ yếu dạy chữ Nho và giáo lý Công giáo...
– Hội Thừa Sai Hải Ngoại được thành lập năm 1658 tại Paris, Pháp, với mục đích truyền bá Công giáo tại các vùng đất Viễn Đông. Đến Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XVII, các linh mục thừa sai học tiếng Việt và văn hóa Việt Nam để dễ dàng giao tiếp với người dân. Sử dụng nhiều phương pháp để truyền bá Công giáo, như thuyết giáo, dạy học, dịch sách và sử dụng bản đồ.
Các linh mục Hội Thừa Sai cũng rất chú trọng đến hoạt động giáo dục thành lập nhiều lớp học (khi bình yên trở lại mở trường tại các giáo xứ), dạy học cho cả trẻ em và người lớn. Mở bệnh viện và trại trẻ mồ côi để thu hút người dân đến với đạo Công giáo. Hội Thừa Sai cũng đóng góp vào sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam, với các công trình như từ điển Việt-La tinh, lịch sử Việt Nam và các bản đồ về Việt Nam.
Các bản đồ của các thừa sai vẽ, ngoài nói lên kiến thức địa lý, còn trở nên những tư liệu quý cho việc công bố chủ quyền biển đảo, đất đai của Việt Nam. Ví dụ cụ thể “An Nam đại quốc họa đồ” của giám mục người Pháp Louis Taberd (1838). Trên bản đồ này, dọc theo khu vực duyên hải và ngoài khơi An Nam có vẽ cụm đảo với dòng chữ Paracel (Cát Vàng) và đã được vua Gia Long sáp nhập vào lãnh thổ An Nam từ năm 1816.[14] Đây là một trong những bản đồ được Việt Nam trưng dẫn để hỗ trợ sự tuyên nhận chủ quyền của Việt Nam đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.
Với những cố gắng trên, Giáo dục Công giáo Việt Nam tạo nền tảng cho quá trình phát triển giáo dục Việt Nam, tiếp thu những thành tựu khoa học giáo dục của phương Tây. Giáo dục Công giáo Việt Nam đã đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước, trong đó có nhiều người trở thành nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nhà văn hóa nổi tiếng như chúng ta sẽ thấy ở các phần tiếp theo.
Giáo dục Công giáo đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của Giáo hội Việt Nam. Các trường Công giáo ngoài đào luyện nên những giáo sĩ có tâm, có tài, còn đào tạo những thế hệ giáo dân có trình độ cao, hiểu biết về đạo giáo và có khả năng phục vụ cộng đồng. Những người này đã trở thành những nhà lãnh đạo, những nhà trí thức, những người văn nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam.
Giáo dục Công giáo Việt Nam đã góp phần làm giàu nền văn hóa Việt Nam, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam mang bản sắc riêng, vừa dân tộc vừa hiện đại. Dù đối diện bao khốn khó gian nan, các thừa sai vẫn hết lòng nghiên cứu thực địa lịch sử, văn hóa của đất nước xa xôi này như những con người trí thức nghiên cứu, góp phần vào sự phát triển văn hóa xã hội Việt Nam:
Đầu thế kỷ XVII, các cha dòng Tên còn xuất bản ở Âu châu nhiều sách giá trị về sử địa đất Việt Nam. Đáng kể nhất là các cuốn: Histoire du Royaume du Tonkin – Lịch sử xứ Tonkin của cha Đắc Lộ; Delle Missioni de padri della Compagnia di Giesu – Sứ vụ truyền giáo của các cha dòng Tên của cha Marini cũng như các tập “Relationes” của cha Borri và Tissanier đã giúp biết bao người hiểu biết nước Việt.[15]
Ngay khi những thời gian đầu đến Việt Nam loan báo Tin mừng, các thừa sai (những nhà truyền giáo) dùng mẫu tự La tinh ghép thành để hình thành ra tiếng Việt, làm cho tiếng Việt dễ đọc, dễ viết, xóa nạn mù chữ góp phần cho việc dễ dàng chuyển tải các bài học trong truyền giáo và giáo dục.
Lịch sử giáo dục của Công giáo với nền tảng đã bắt đầu hình thành dưới thời linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) và các cộng sự của Ngài tới Cửa Bạng, Thanh Hóa năm 1627. Tuy thế, giáo dục của Công giáo đầu thế kỷ XVII hầu như chỉ tập trung vào việc sáng tạo chữ Quốc ngữ để dạy giáo lý và nhằm mục đích rao giảngTin mừng.[16]
Liên quan đến việc phát triển chữ Quốc ngữ, người đi tiên phong là linh mục (Lm.) Francisco de Pina (1585-1625), thừa sai dòng Tên (SJ), góp phần vào sự giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây.
Lm. Francisco de Pina sinh tại Guarda, Bồ Đào Nha, đến Đàng Trong (Miền Nam Việt Nam) vào năm 1617 qua ngả Macao để hiệp sức với các thừa sai SJ người Ý Cristoforo Borri và Francesco Buzomi.
Trước khi đến Việt Nam, trong thời gian 1611-1617, Pina theo học ở Đại học Thánh Phaolô, Ma Cao. Tại đây Francisco tiếp xúc với Lm. João Rodrigues, nhà ngữ học tiếng Nhật tiên phong, soạn cuốn văn phạm tiếng Nhật chuyển tự sang chữ cái La tinhh dựa vào cách phát âm tiếng Bồ, nay gọi là Romaji. Pina đã theo phép chuyển tự này để ghi chép tiếng Việt khi vào Đàng Trong.[17] Pina là người Châu Âu đầu tiên biết nói tiếng Việt và thông thạo để giảng đạo trực tiếp bằng ngôn ngữ này.[18]
Pina khởi đầu phương pháp ghi âm tiếng Việt (Quốc ngữ), bằng ký tự La tinh và dạy Alexandre de Rhodes học tiếng Việt. Có học giả cho rằng Pina đã viết một cuốn văn phạm mà dựa vào đó Honufer Bürgin (Onuphre Borgès) biên soạn thành Manuductio ad Linguam Tunkinensem (Nhập môn tiếng Đàng Ngoài).[19] Tuy nhiên, có học giả cho rằng Pina chưa hoàn thành cuốn văn phạm, và soạn giả của cuốn Manuductio là Philippus Sibin.[20]
Lm. Francisco de Pina đã đặt nền tảng cho công trình chữ viết tiếng Việt, tiếp theo các thừa sai bồi đắp và Lm. Alexandre de Rhode - Đắc Lộ (1591-1660) là học trò tiếng Việt của Lm. Francisco de Pina.
Trong giai đoạn đầu thế kỷ XVII từ năm 1615-1665 với các vị thừa sai Dòng Tên, ở cả hai miền Nam Bắc, lấy sông Gianh làm ranh giới. Phía Nam gọi là Đàng Trong, do chúa Nguyễn cai quản. Phía Bắc gọi là Đàng Ngoài do vua Lê, chúa Trịnh nắm quyền… các thừa sai quan tâm đến việc học ngôn ngữ, phong tục tập quán dân Việt và giảng đạo bằng tiếng Việt mà các ngài nỗ lực học tập và hội nhập.
Để trợ giúp các linh mục trong mục vụ, Hội Thầy Giảng được các thừa sai dòng Tên thành lập ở Miền Bắc (năm 1630) và Miền Nam (năm 1643).
Hội Thầy giảng
Tổ chức Thầy giảng Việt Nam cũng được cả thế giới kính phục. Các thầy rất đắc lực: dạy giáo lý, chủ sự giờ kinh, thăm viếng người bệnh, khích lệ người khô khan, nhắc nhở các trùm trưởng, rửa tội người hấp hối và cả người khoẻ mạnh nếu vắng thừa sai. Các thầy là chỗ dựa của giáo đoàn khi các thừa sai bị trục xuất, và nhà Đức Chúa Trời trở thành chủng viện đào tạo linh mục cho tương lai.[21]
Thừa sai Deydier, Giám mục Đông Đàng Ngoài trong thời gian 1679–1693, quan tâm đặc biệt tới việc đào tạo các thầy giảng.
Khi mới tới Việt Nam, giám mục Deydier đã cho triệu tập các thầy giảng và khởi đầu công việc huấn luyện. Ngài đã soạn cuốn sách nhỏ để dùng vào việc huấn luyện này. Sách gồm 15 chương bàn về lối sống cũng như phận vụ của các thầy giảng. Theo như tài liệu cho biết thì cuốn sách này khởi đầu đã được soạn bằng tiếng Bồ Đào Nha và Đức cha Deydier hy vọng “sớm dịch ra ngôn ngữ của họ để có thể sử dụng như kim chỉ nam”.[22]
Ngoài giúp dạy giáo lý, các thầy dạy chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, làm thông ngôn… Các thầy giảng giúp cho các thừa sai hiểu được quan niệm sống, phong tục, ngôn ngữ của người dân Việt để qua đó Tin mừng được giới thiệu, được dễ dàng đón nhận.
Cha Daniello Bartoli nói về thầy giảng Agostinô, người trợ giúp đắc lực của cha Buzomi:
“Khi cha không đủ tự tin vào khả năng ngôn ngữ của mình để rao giảng chân lý đức tin, cha dùng thông ngôn, người mà trước đó đã được cha đào tạo vững vàng về kiến thức đức tin để có thể giải nghĩa cho dân chúng. Trước tiên cha cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của mình, sau đó thông ngôn người Đàng Trong nói lại bằng ngôn ngữ Đàng Trong của anh bằng những từ diễn đạt chính xác ý nghĩa, nói được như bản sao của bản chính”.[23]
Trong cuốn Hành Trình và Truyền Giáo, Cha Đắc Lộ nói về công cao đức trọng của các thầy giảng ở Đàng Trong trong sự phát triển Giáo hội ở đây:
“Điều giúp tôi đắc lực để vun trồng vườn nho đẹp đẽ này và mở rộng đức tin, đó là trợ lực của các thầy giảng. Thực ra sau Thiên Chúa thì chính là các thầy đã làm tất cả công việc, trong tất cả những tiến triển vĩ đại ở giáo đoàn này”.[24]
Trong giai đoạn này, với sự cộng tác của các thầy giảng, sự phát triển của Giáo hội được ghi nhận như sau:
Nhờ các “Thầy Giảng” và “Cậu Trùm” là những tông đồ giáo dân nhiệt thành, việc truyền giáo đã đạt được những kết quả ngoài sức tưởng tượng. Sau 37 năm truyền giáo ở Đàng Ngoài (25 linh mục và 5 trợ sĩ) và 50 năm truyền giáo ở Đàng Trong (39 linh mục và 1 trợ sĩ), các thừa sai Dòng Tên đã rửa tội khoảng 100.000 tín hữu (20.000 ở Đàng Trong và 80.000 ở Đàng Ngoài.[25]
Nhờ niềm tin vững vàng và các kiến thức khoa học phổ thông được các nhà thừa sai và sau đó là các thầy giảng và nữ tu dạy dỗ, các tín hữu Chúa sống mạnh khỏe và phát triển thể xác và tinh thần, đó cũng là chứng tá, sức hút có sức hoán cải người lương dân:
Niềm tin vào đời sống vĩnh cửu lại thể hiện rất trong sáng và tích cực trong đời sống thường ngày và nó trở nên một sức hút kỳ lạ của tôn giáo mới đối với mọi người dân Việt thời đó vì họ chưa hiểu biết nhiều về khoa học, chưa biết giữ vệ sinh nên nhiều trẻ sơ sinh bị chết yểu, nhiều sản phụ mắc bệnh hậu sản. Hằng ngày, người ta thường dùng nước ao tù để tắm rửa, ăn uống, nên dễ bị các bệnh toét mắt, ghẻ lở, giun sán, đường ruột… Các người Công giáo, nhờ được các giáo sĩ Tây Phương, các thầy giảng, các dì phước Mến Thánh Giá (MTG) dạy các kiến thức về khoa học phổ thông, nên biết lọc nước bằng than cát sỏi để dùng và nấu nước chín để uống, giữ vệ sinh thân thể nên trở thành những người khoẻ mạnh, xinh đẹp. Các nữ tu Mến Thánh Giá thời ấy trở thành những nữ hộ sinh và y tá nông thôn kèm thêm việc dạy chữ quốc ngữ cho đồng bào.[26]
Ngoài các thầy giảng là các nam cộng sự đắc lực, Đấng Bản quyền còn lập các tổ chức thánh hiến cho các cộng tác viên nữ. Trước hết Đức cha Lambert thành lập Dòng Mến Thánh Giá, sau đó các cha thừa sai Dòng Đa Minh thành lập Nhà Phước Đa Minh, tiền thân Dòng Nữ Đa Minh Việt Nam.
Dòng Mến Thánh Giá
Đầu năm 1670 (thứ tư Lễ Tro), Đức cha Lambert đã nhận lời khấn của hai nữ tu tiên khởi Anê và Paula tại Kiên Lao; đã soạn thảo và ban hành hiến pháp Dòng. Đức cha Phêrô Maria Lambert de la Motte đã chỉ rõ mục đích và sứ mạng Dòng Mến Thánh Giá:
– Suy niệm cuộc đời đau khổ của Đức Giêsu Kitô để hiểu biết và yêu mến Người.
– Tiếp nối cuộc đời lữ thứ hy sinh của Người và thực thi tinh thần trung gian, bằng đời sống chuyển cầu cho thế giới và Giáo hội, nhất là Giáo hội địa phương.
– Là cánh tay hữu hình của Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, nữ tu Mến Thánh Giá dấn thân phục vụ, ưu tiên giới trẻ và giới nữ, trong lãnh vực văn hóa, xã hội, lãnh vực y tế, luân lý và đức tin.
– Tất cả đời sống hoán cải, khổ chế, chiêm niệm và tông đồ của chị em được liên kết với công nghiệp Chúa Cứu Thế, sẽ trở thành lời kinh chuyển cầu, xin ơn hoán cải cho lương dân và những kitô hữu sống xa lìa Chúa. Như thế, chuyển cầu là nghĩa vụ thứ nhất giữa các nghĩa vụ làm nên sứ mạng đặc biệt của Dòng Mến Thánh Giá. Theo sát dấu chân Đức Kitô, Đấng Khiết tịnh, Nghèo khó và Vâng Phục trên bước đường phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân, chúng ta nhiệt tâm chu toàn sứ mạng, với ý thức về sự cao quý của ơn gọi Chúa dành cho ta trong đời sống tu trì, theo linh đạo Mến Thánh Giá.[27]
Dòng Mến Thánh Giá là hội dòng nữ đầu tiên mang bản sắc Á Châu và hướng hẳn về việc truyền giáo cho lương dân, dĩ nhiên trong sứ mạng đó có việc giáo dục.
Quả thực, ngay từ năm sau, ngài thiết lập thêm một cộng đoàn tại Quảng Ngãi. Kể từ đó, dần dần nữ tu Mến Thánh Giá có mặt trên các miền đất nước, giữ ba lời khấn, sống cộng đoàn và liên kết với nhau: giáo dục giới trẻ về văn hóa và đức tin, phục vụ bệnh nhân, bảo vệ trẻ thơ và góp phần thăng tiến nữ giới bằng giáo dục và hướng nghiệp.[28]
Trong suốt các giai đoạn bách hại đạo gay gắt (thế kỷ XVIII-XIX), các nữ tu Mến Thánh Giá đã âm thầm giữ vững đức tin, tiếp tục các hoạt động mục vụ trong hoàn cảnh khó khăn nhất. Nhiều chị em đã tử đạo hoặc chịu đựng gian khổ vì đức tin, trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng.
Nhà Phước Đa Minh
Cộng tác với các thừa sai trong việc truyền giáo và mục vụ trong đó có giáo dục, ngoài các nữ tu Mến Thánh Giá, còn có các chị em Đa Minh Dòng Ba Sống Chung, sống trong cộng đoàn gọi là Nhà phước. Nhà phước Đa Minh đầu tiên được lập ở Trung Linh năm 1715. Về tinh thần, chị em học theo gương Thánh Đa Minh và các Thánh Dòng; về tổ chức, chị em như một tu hội có lời khấn tư, còn về hoạt động thì tương tự các nữ tu Mến Thánh Giá.[29]
Các cha xứ thường trao cho chị em việc dạy kinh bổn cho trẻ nhỏ, và các nữ dự tòng. Các chị lớn tuổi thì thường chia nhau đi thành từng đôi, bán thuốc tại các làng, để có thể tiếp xúc và loan báo Tin mừng, rửa tội cho trẻ em nguy tử, hoặc chuộc lấy đem về nuôi tại các “nhà thiên thần”. Trong giáo phận Trung (gồm Bùi Chu và Thái Bình) năm 1916, chị em chuộc được tất cả 2.819 trẻ, và tại 15 nhà thiên thần, chị em chăm sóc 3.353 trẻ. Cũng năm đó, thì chị em phụ trách 15 trong số 17 cơ sở bác ái của giáo phận (3 trại phong, 1 viện dưỡng lão và 11 bệnh xá).[30]
Trong thời cấm đạo, chị em là những người đưa tin, chuyển thư, lo liệu cơm nước, thuốc men, và đôi khi đưa Mình Thánh cho những vị ẩn nấp hoặc bị giam cầm vì đức tin. Sau thời bách hại, chị em tham gia công tác xã hội, hoặc mở các lớp học văn hóa cho các em thiếu nhi tại nhiều nơi.[31] Tòa Thánh cho phép nhà phước cải tổ thành hội dòng, hội dòng cải tổ đầu tiên được ban phép thành lập ngày 21.3.1951 là các nữ tu Đa Minh Bùi Chu, thánh hiệu Catarina Siena.[32] Các nữ tu Đa Minh hiện diện truyền giáo khắp đất nước và phát triển ra hải ngoại với hơn mười hội dòng độc lập.
III. GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM MÙA GẶT 300 NĂM
Từ những bước chân truyền giáo đầu tiên ở Việt Nam từ thế kỷ XVI với sự xuất hiện của các thừa sai Dòng Phanxicô, Đa Minh, Dòng Tên… và sự nhiệt thành của các thầy giảng người Việt, số lượng tín hữu tăng lên đáng kể. Sự phát triển của Giáo hội tại đất nước đang truyền giáo này khai sinh ra những giáo phận đầu tiên:
Ngày 09.9.1659, Đức Thánh Cha Alexander VII, qua Sắc chỉ Super Cathedram, quyết định thiết lập ở Việt Nam hai giáo phận và chọn hai vị thừa sai thuộc Hội Truyền giáo Paris (MEP) làm Đại diện Tông Tòa. Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào Nam, gồm cả phần đất Chiêm Thành, Chân Lạp do Đức cha Pierre Lambert de la Motte cai quản. Giáo phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra Bắc, bao gồm cả Lào và 5 tỉnh miền Nam Trung Quốc do Đức cha François Pallu coi sóc.[33]
Giai đoạn (1679-1800), Giáo hội Công giáo Việt Nam xây dựng và phát triển được đặt trong bối cảnh Bộ Truyền giáo mới thành lập (năm 1622), với mục đích “củng cố tính chất giáo hội của việc truyền giáo”. Giáo hội Rôma có sáng kiến “thành lập hệ thống các địa phận truyền giáo”. Với riêng truyền giáo ở Việt Nam, năm 1659, Bộ truyền giáo ban Huấn thị gởi các đại diện tông tòa tại Đàng Ngoài và Đàng Trong - Instructions aux vicaires apostoliques des royaumes du Tonkin et de la Cochinchine những chỉ dẫn canh tân công cuộc truyền giáo. Trong đó Huấn thị nhấn mạnh đến việc:
Tôn trọng truyền thống bản xứ:
“Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đổi những phép xã giao, tập tục, phong hóa của họ, trừ khi nó hiển nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luân lý. Có gì vô lý bỉ ổi hơn mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, nước Ý, hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho dân Trung Hoa chăng? Không phải mang thứ ấy đến cho họ, bèn là mang chân lý đức tin, một chân lý không loại trừ nghi lễ và tập tục của bất cứ một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến những nghi lễ ấy, miễn là chúng không xấu; ngược lại, chân lý ấy, muốn cho người ta bảo tồn và duy trì chúng là đàng khác.
Có thể nói, tự nhiên ai ai cũng cho những cái của mình và nhất là của quê hương xứ sở mình là hơn tất cả, và yêu mến những báu vật đó hơn những cái của ngoại lai. Nguyên việc sửa chữa những quốc lệ của người ta cũng đủ gây lòng oán hận sâu đậm rồi, nhất là những tập tục cổ đã có lâu đời nhất mà các tiền nhân vẫn có thể nhớ tông tích. Càng tệ hơn nữa nếu chư huynh hủy bỏ những tập tục đó để đem phong tục quý quốc mà thay thế vào! Vậy đừng bao giờ nên đem những tục lệ Âu châu đến đối lập với tục lệ của các dân tộc ấy; trái lại hãy hết lòng sống cho quen với tập tục của họ”.[34]
Về vấn đề tri thức, văn hóa, giáo dục:
“Hơn nữa, để cổ võ việc viết sách và khảo cứu đạo giáo trong những miền đó, cần phải dịch từ tiếng La tinh hoặc Hy Lạp sang tiếng địa phương một số sách thần học của các thánh nhân và những sách khác như vậy. Cho nên, chư huynh hãy cẩn thận tìm tại nơi chư huynh ở hoặc nơi khác một cộng sự viên nào khả dĩ chu toàn công việc ấy, nghĩa là thạo cả hai ngôn ngữ và cả đạo lý. Tìm được người nào, hãy trình cho Thánh bộ được rõ. Chư huynh hãy tận tâm và gắng lo sáng lập nhiều trường học để dạy miễn phí La ngữ cho thanh thiếu niên bản xứ, còn giáo lý thì dạy bằng tiếng bản quốc. Hãy lo sao cho các phụ huynh Công giáo giao con em theo học với chư huynh cùng với các cộng sự viên của chư huynh…[35]
Riêng về giáo dục, Huấn thị kêu gọi các thừa sai tích cực tham gia vào công tác giáo dục tại địa phương, đề xuất thành lập các trường Công giáo cung cấp kiến thức, phát triển nhân cách và đức tin cho tín hữu Việt Nam, cũng như hiểu biết văn hóa dân tộc. Huấn thị đã góp phần định hình nền giáo dục Công giáo tại Việt Nam, với thời gian tạo ra một hệ thống trường học và chương trình giảng dạy phù hợp trong môi trường văn hóa xã hội Việt Nam như chúng ta sẽ thấy sau này.
Dưới sự điều hành của Bộ truyền giáo, thành phần các thừa sai tại Việt Nam giai đoạn 1679-1800 rất đa dạng… Trong danh sách giám mục ta thấy có thừa sai Paris (14 vị), Đa Minh (7 vị), Phanxicô, Augustin, Barnabit[36] mỗi dòng một vị ... với quốc tịch: Pháp (14 vị), Tây Ban Nha (5 vị), Ý (4), Đức (1 vị). Đặc biệt, có Đức cha Pérez thuộc Bộ Truyền giáo, quốc tịch Bồ lai Thái. Như một thử nghiệm đặt Giám mục địa phương. Tuy nhiên để hoạt động sứ vụ được thống nhất hơn, hạ bán thế kỷ XVIII, Thánh bộ trao hẳn trách nhiệm cho Hội Thừa sai Paris (Đàng Trong, Tây Đàng Ngoài) và dòng Đa Minh (1757, Đông Đàng Ngoài). Một số cha dòng Tên vẫn hoạt động: tại Đàng Trong đến 1783 và Đàng Ngoài đến 1802.[37]
Vào giai đoạn gần một thế kỷ (1802-1886), dù chịu nhiều thử thách và bách hại vì tin vào Chúa, số tín hữu không ngừng gia tăng. Vào năm 1802, Giáo hội Việt Nam đã thành hình cơ cấu tổ chức gồm 3 giáo phận với 121 linh mục Việt Nam, 17 thừa sai gồm cả giám mục và linh mục, khoảng 320.000 tín hữu.
Dù phải đối diện các cuộc bách hại đạo như đã nói ở trên, người tín hữu phải bị xử tử nếu giữ đạo, Giáo hội Công giáo vẫn không ngừng phát triển. Hoa trái của việc tông đồ, cụ thể về giáo dục trên mảnh đất hình hình chữ S thống nhất ba miền được ghi nhận như sau:
Theo thống kê 1855, Giáo hội Việt Nam có 426.000 tín hữu, chiếm tỷ lệ 4% dân số, rải rác từ trấn Kinh Bắc (Kinh Bắc là tên một địa danh cũ ở phía bắc Việt Nam, nay bao gồm toàn bộ ranh giới hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Lạng Sơn (Hữu Lũng); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm); Hà Nội (gồm toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn), Thái Nguyên (Phổ Yên) và Vĩnh Phúc (Phúc Yên), qua miền Thượng du cho đến Châu Đốc, An Giang:
– Giáo phận Đàng Trong 86.000;
– Giáo phận Tây Đàng Ngoài 140.000,
– Giáo phận Đông Đàng Ngoài 200.000.[38]
Thống kê vào năm 1889 của tám giáo phận như sau :
1- Giáo phận Tây Ðàng Trong (gồm lục tỉnh Nam Kỳ cho đến hết xứ Cambodia (Campuchia)): Giám mục Jean Dépierre Ðễ (MEP), 52 thừa sai, 42 thầy cả, 189 nhà thờ và nhà nguyện, 2 chủng viện với 214 chủng sinh, 1 nhà Dòng Kín, 12 cơ sở xã hội dòng Phaolô thành Chartres với 130 nữ tu, 4 nhà Dòng Mến Thánh Giá với 295 dì phước, 110 trường học dạy 7.236 học sinh, 5 viện mồ côi chăm sóc 620 trẻ em, 5 bệnh viện thường xuyên điều trị 4.000 bệnh nhân và 56.000 giáo hữu .
2- Giáo phận Ðông Ðàng Trong (từ Nam Quảng Bình đến Bình Thuận): Giám mục Désiré Van Camelbeke (MEP), 25 thừa sai, 14 thầy cả, 40 nhà thờ, 1 chủng viện với 54 chủng sinh, 12 nhà dòng nữ với 440 nữ tu, 2 viện mồ côi chăm sóc 894 em, 10 trường học dạy 472 học sinh và 17.773 giáo dân.
3- Giáo phận Bắc Ðàng Trong (Quảng Bình Quảng Trị, Thừa Thiên): Giám mục Louis Marie Caspar Lộc (MEP) 20 thừa sai, 26 thầy cả, 58 nhà thờ và nhà nguyện, 2 chủng viện với 51 chủng sinh, 7 tu viện với 420 chị em dòng Mến Thánh Giá, 34 trường học dạy 920 học sinh, 2 viện mồ côi chăm sóc 200 em và 19.932 giáo dân.
4- Giáo phận Cao Miên : 1 Giám mục, 26 thừa sai, 3 thầy cả, 24 thầy giảng, 58 nhà thờ và nhà nguyện, 1 chủng viện với với 96 chủng sinh, 3 tu viện Dòng Chúa Quan Phòng với 42 nữ tu, 3 tu viện dòng Mến Thánh Giá, 4 viện mồ côi 2 bệnh viện, 5 trường học dạy, 1.947 học sinh và 17.500 bổn đạo .
5- Giáo phận Tây Ðàng Ngoài (từ sông Hồng Hà tới ranh giới Ai Lao (Lào) bao gồm Hà Nội...): Giám mục Pierre Jean Marie Gendrau Ðông (MEP), 43 thừa sai, 97 thầy cả, 3 chủng viện với 355 chủng sinh, 425 nhà thờ và nhà nguyện và 200.000 tín hữu.
6- Giáo phận Ðông Ðàng Ngoài (Hải Phòng): Giám mục José Terres Hiến (OP), 8 giáo sĩ Ða Minh, Tây Ban Nha và 2 Việt Nam, 32 thầy cả, 82 thầy giảng, 40 đại chủng sinh, 281 tiểu chủng sinh, 3 tu viện với 58 nữ tu Ða Minh, 6 nữ tu dòng Phaolô thành Chartres, 1 bệnh viện, 4 viện mồ côi, 21 hạt với 208 họ đạo và 41.120 tín hữu.
7- Giáo phận Nam Ðàng Ngoài (Nghệ An, Thanh Hóa...): Giám mục Louis Pineau Trị (MEP), 22 thừa sai, 59 thầy cả, 2 chủng viện với 160 chủng sinh, 58 trường học với 2.410 học trò và 72.000 tín hữu.
8- Giáo phận Trung Ðàng Ngoài (tỉnh Nam Định và Hưng Yên): Giám mục Mazime Fernandez Ðịnh (OP), 12 giáo sĩ Ða Minh Tây Ban Nha và 4 Việt Nam, 66 thầy cả, 52 đại chủng sinh, 66 tiểu chủng sinh, 19 tu viện nữ Ða Minh, 3 bệnh viện, 710 họ đạo và 189.110 giáo dân.[39]
Dù bị bách hại, chèn ép, không được tạo cơ hội học hành như bao nhiêu công dân khác, nhưng người tín hữu học đạo, học chữ theo cách của mình như những hạt giống âm thầm không chỉ về đức tin và còn trên cánh đồng tri thức.
Thời đó, chữ nghĩa “quý giá” và đắt đỏ, cả làng may ra chỉ có một vài người giàu mới có đủ điều kiện cho con cháu đi học chữ Nho, hy vọng đỗ trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình do nhà vua tổ chức để ra làm quan cho triều đình. Nhưng các tín hữu Công giáo, với lý lịch không tốt vì lý do theo “tả đạo”, với bản án đó khắc trên trán, trên mặt, họ không thể đi học, đi thi, buôn bán hay làm bất cứ nghề nghiệp chính thức nào. Tuy nhiên tất cả “người có đạo”, dù là nam hay nữ, trẻ hay già, đều được khuyến khích học hành, lúc đầu là chữ Nho, chữ Nôm, sau là chữ Quốc ngữ. Kinh sách đọc hằng ngày, giáo lý học hằng tuần, càng làm cho người có đạo dễ học hành và truyền bá chữ nghĩa cho nhau hơn2.
Việc hình thành tờ báo Quốc ngữ đầu tiên: Gia Định Báo có góp phần của những tín hữu Công giáo, cống hiến vào sự phát triển tri thức qua ngôn ngữ - văn dĩ tải đạo.
Một bằng chứng cho thấy quần chúng yêu mến và đón nhận những giá trị văn hóa của đạo Công giáo là việc phát hành tờ báo Quốc ngữ đầu tiên, tờ Gia Định Báo, ngay từ năm 1865, chỉ sau vài năm người Pháp xâm chiếm Việt Nam (1861). Tờ báo phát hành số đầu tiên vào ngày 15/04/1865 tại Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài (giám đốc) và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Tờ báo tồn tại mãi đến năm 1897 mới chấm dứt hoạt động.[40]
Dù trải qua cuộc bách hại đạo trong giai đoạn 1820 -1886, cho đến năm 1883, Giáo hội Việt Nam không ngừng gia tăng có 9 giáo phận với số tín hữu gần 600.000 người. Trong giai đoạn thử thách này, dù bị giết hại rất nhiều (gần 100.000 người) nhưng số tín hữu vẫn không sụt giảm và đã giới thiệu cho cả người bách hại mình một sự sống mới mẻ và toàn diện.[41]
Năm 1888, hòa bình được tái lập, các thừa sai thuộc Hội Thừa sai Paris, Dòng Đa Minh tiếp tục sang Việt Nam và kiến thiết các giáo phận được trao chăm sóc. Song song với công cuộc truyền giáo ở xứ Bắc, các giáo sĩ hội Thừa sai Paris cũng đạt được nhiều kết quả tại hai miền Trung và Nam.[42]
Kết
Tóm lại có thể nói rằng, Công giáo Việt Nam khai sinh trong đau khổ (thế kỷ XVI-XVII và XVIII): 300 năm bị bách hại, Tin mừng được gieo, Giáo dục Công giáo đã khai sinh và đã trưởng thành trong máu đào (thế kỷ XIX), không chỉ lĩnh vực đức tin mà còn đơm hoa trái tri thức và văn hóa sau này..
Giáo dục Công giáo giai đoạn 300 năm đầu ở Việt Nam dù rất khó khăn, bị truy bức như chúng ta đã bàn đến, vẫn đóng góp quan trọng vào sự phát triển của giáo dục Việt Nam, đương thời và sau này: Đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước, phát triển ngôn ngữ và văn hóa, phục vụ trong các lĩnh vực khác nhau, đóng góp vào sự phát triển của đất nước. Hoa trái của Tin mừng được gieo trên đất Việt, cùng những nỗ lực trong lĩnh vực giáo dục đã để lại dấu ấn sâu đậm, góp phần quan trọng vào sự phát triển giáo dục và xã hội Việt Nam.
Lm. Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng, HVCGVN
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 149 (tháng 9 & 10 năm 2025)
[1] Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, tờ 6a và 6b.
[2] “Những vị tử đạo chưa được phong thánh”, http://www.cgvdt.vn
[3] Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo hội Công giáo, Q II, California, USA, 2001.
[4] sđd.
[5] “Sử lược Giáo hội Công giáo Việt Nam”, https://hdgmvietnam.com
[6] Thánh Thi Kinh Sách, Lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam
[7] “Thử bàn về vấn đề đổi đạo hay nguyên nhân du nhập và tiếp nhận đạo Công giáo ở Việt Nam”, https://vusta.vn
[8] Phạm Huy Thông, “Những đóng góp của đạo Công giáo với văn hóa Việt”, http://ubdkcgvn.org.vn
[9] “Thử bàn về vấn đề đổi đạo hay nguyên nhân du nhập và tiếp nhận đạo Công giáo ở Việt Nam”, https://vusta.vn
[10] Nguyễn Nguyên Hồng, “Vì sao đạo Công giáo được tiếp nhận ở Việt Nam?”, Tạp chí Triết học, số 3 (190), tháng 3.2007.
[11] TS. Phạm Huy Thông, “Cần tranh thủ sự đóng góp của các tôn giáo vào lĩnh vực giáo dục”, http://ubdkcgvn.org.vn/
[12] Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, “Cuộc hội nhập văn hóa của Giáo hội Công giáo Việt Nam (1533-2019)”, https://tgpsaigon.net
[13] “Vai trò của người Công giáo tham gia vào công tác xã hội trên lĩnh vực giáo dục, y tế và bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo”, https://btgcp.gov.vn
[14] Nguyễn Quang Hưng, “Kitô giáo và địa chính trị mới ở Đông Á: trường hợp Việt Nam và một vài tham chiếu với Hàn Quốc”, Tập San Triết Học Và Tư Tưởng, số 6, 22 tháng 11, 2021.
[15] Đào Trung Hiệu, Cuộc lữ hành Đức tin, Chân Lý, 1997.
[16] Lê Thị Hoa Marie, “Giá trị giáo dục tại các trường tư Công giáo dưới thời Pháp thuộc (1860-1945) trong tinh thần xây dựng xã hội Việt Nam”, Nghiên cứu Tôn giáo, Số 4 -2022.
[17] Jacques, Roland. Portugese Pioneers of Vietnamese Linguistics. Bangkok: Orchid Press, 2002, pp 61-64.
[18] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ, Sài Gòn: Ra Khơi, 1972., tr. 22.
[19] Zwartjes, Otto, Portugese Misionary Grammars in Asia, Africa and Brazil, 1550-1800, John Benjamins Publishing Co, 2011
[20] Pham, Ly Thi Kieu, “The True Editor of the Manuductio ad linguam Tunkinensem (Seventeenth-to Eighteenth-Century Vietnamese Grammar)”, Journal of Vietnamese Studies. (2), Spring 2019, 14 68–92.
[21] Đào Trung Hiệu, Cuộc lữ hành Đức tin, Chân Lý, 1997.
[22] A. Launay, Histoire de la Mission du Tonkin, Documents historiques, Paris, 1927, pp. 33-34.
[23] Daniello Bartoli, Dell’ Istoria della Compagnia di Gesù, Vol.17, Terza Parte, Libro Terzo, Torino 1825, p.126.
[24] Alexandre de Rhodes, Hành Trình và Truyền Giáo, NXB Tp. HCM, 1994, tr. 78.
[25] Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm 1945–1995, Công giáo & Dân tộc, 1996, tr.86.
[26] Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, “Cuộc hội nhập văn hóa của Giáo hội Công giáo Việt Nam (1533-2019)”, https://tgpsaigon.net
[27] Trích Hiến Chương Dòng MTG - Bộ luật chung 1990, tr 18-19.
[28] Luật tiên khởi II, 2-5, Xc Hiến chương Dòng MTG, Đ. 96 tr. 86.
[29] Bùi Đức Sinh OP, Dòng Đa Minh trên đất Việt, Q. II, Saigòn 1995, tr. 219.
[30] Sử Ký Địa Phận Trung, Phú Nhai Đường 1916, tr. 237, 243.
[31] “Ôn Cố Tri Tân”, http://daminhvn.net
[32] Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học Viện Đa Minh, 2013, tr. 492-503.
[33] Launay Adrien, Histoire de la Mission de Cochinchine: Documents historiques I, 1659-1728, Paris : MEP, 2000, p. 9-10
[34] Giuse Trương Đình Hiền, Bình vẫn chưa hề cũ, Huấn thị 1659-Công nghị 1664, Kim chỉ nam truyền giáo thế kỷ 17, NXB An Tôn & Đuốc sáng 2021, Phụ lục 1, tr. 159-160.
[35] Giuse Trương Đình Hiền, Bình vẫn chưa hề cũ, Huấn thị 1659-Công nghị 1664, Kim chỉ nam truyền giáo thế kỷ 17, NXB An Tôn & Đuốc sáng 2021, Phụ lục 1, tr. 163-164.
[36] Dòng Barnabit là tên gọi phổ biến của Dòng Giáo sĩ Triều Thánh Phaolô (tiếng Latin: Clerici Regulares Sancti Pauli, viết tắt là CRSP) được thành lập vào năm 1530 tại Milan, Ý.
[37] Đào Trung Hiệu, Cuộc lữ hành Đức tin, Chân Lý, 1997.
[38] Bùi Đức Sinh, Dòng Đa Minh Trên Đất Việt, q.I, tr. 281.
[39] Adrien Launay, Atlas des Missions de la société des MEP, Lille, 1890.
[40] sđd.
[41] sđd.
[42] Bùi Đức Sinh, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Q II, California, USA, 2001.
