Dẫn nhập

 Niềm hy vọng cho một Lễ Hiện Xuống mới

Con người tâm linh: niềm mơ ước và sự thực hiện

1. Ý nghĩa của “sensus fidelium”

2. Niềm mơ ước “sensus fidelium” của ông Môsê

3. Niềm mơ ước “sensus fidelium” trở nên hiện thực thời Đấng Messia

4. Niềm mơ ước được thể hiện trong đời sống Hội Thánh qua xác định “sensus fidelium”

5. Niềm mơ ước “sensus fidelium” được tái thể hiện trong một Hội Thánh hiệp hành của Thượng Hội đồng Giám mục XVI

6. Niềm mơ ước về một lễ Hiện Xuống mới trong Hội Thánh đang trở thành hiện thực

Dẫn nhập

 Niềm hy vọng cho một Lễ Hiện Xuống mới

Đó là ước mơ của Đức Thánh Cha Lêô XIV trong Tông thư “Sự trung tín tạo nên tương lai” (2025) nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày ban hành hai sắc lệnh Đào tạo Linh mục (Optatam Totius) và Tác vụ và Đời sống Linh mục (Presbyterorum Ordinis) trong cùng năm 1965:

“Tôi hy vọng rằng việc cử hành kỷ niệm hai sắc lệnh Công đồng này, và hành trình chúng ta được mời gọi cùng nhau thực hiện để triển khai và hiện thực hóa chúng, sẽ mang lại một lễ Hiện Xuống mới của ơn gọi trong Giáo hội” (số 27).

Đức Thánh Cha nói đến việc đào tạo linh mục và đời sống cũng như việc thực thi sứ vụ linh mục luôn được đặt dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Các chủng sinh và linh mục ấy sẽ trở thành những con người dễ bảo với Chúa Thánh Thần, và do đó trở thành những con người của Thánh Thần. Ngài nói đến lối sống hiệp hành như lối sống của những con người đáp lại “lời mời gọi mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần”, biết “mở lòng mình và tham gia vào các tiến trình này”.[1] Đó là lối sống của những con người biết lắng nghe Chúa Thánh Thần khi lắng nghe nhau với sự phân định, để rồi cùng nhau thực hiện. Đó là lúc mà Giáo hội sẽ có một lễ Hiện Xuống mới. Đó là ước mơ của Đức Thánh Cha Lêô XIV. Khi thực hiện được điều đó nơi hàng ngũ linh mục, nơi những người theo ơn gọi, nhưng nơi toàn thể Dân Thiên Chúa nữa, thì đó quả thật là lễ Hiện Xuống mới.

Câu hỏi được đặt ra: đó có phải là một ước mơ phi thực tế, là một thứ không tưởng chăng? Có vẻ là như thế! Người ta không thể chờ mong một kết quả hoàn hảo, nhưng đó có thể là một tiến trình của mỗi ngày và liên tục để đi gần tới ước mơ đó. Nhưng cũng phải nói rằng ước mơ này không nằm trên mây, vì có điều gì đó như đã nằm sẵn nơi sâu thẳm của bản tính con người và nơi niềm tin vào Thiên Chúa.

Con người tâm linh: niềm mơ ước và sự thực hiện

Niềm mơ ước về con người tâm linh (l’homme spirituel) như cứ “đeo đẳng” suy tư của con người. Niềm mơ ước ấy thể hiện nơi con người qua nhiều hình thức khác nhau, từ những con người có thể bay bổng, đến những con người có trí thông minh siêu việt. AI thực hiện trí thông minh siêu việt, phải chăng đó cũng là một thể hiện của khát vọng siêu việt nơi con người? Con người tạo ra trí tuệ nhân tạo (AI = Artificial Intelligence) để hỗ trợ cho trí khôn giới hạn của con người. Đó là một khát vọng vươn cao, vượt lên trên cả chính mình.

Ước vọng về con người tâm linh còn được nhìn thấy nơi các niềm tin tôn giáo: phải có gì đó siêu việt hơn những gì được nhìn thấy nơi đời sống con người. Dù con người có thông minh mấy đi nữa, thì bởi vì là con người xác phàm, dù với sự hỗ trợ của trí khôn vượt trội, những con người ấy vẫn thể hiện tính chất thống trị và quyền lực của họ! Người ta đang sử dụng AI cho chiến tranh, cho huỷ diệt, nhằm thống trị nhau và huỷ diệt nhau! Trước thực tại phũ phàng ấy của kiếp nhân sinh, khát vọng về những con người vươn cao hơn, thanh thoát hơn, những con người tâm linh, lại trỗi dậy. Đức Lêô XIV nhận định rằng con người hôm nay không còn thoả mãn với sự an hưởng vật chất vì nó không mang lại hạnh phúc như mong đợi, không cảm thấy hài lòng với sự tự do bất chấp chân lý, những tiến bộ vật chất không làm thoả mãn lòng người, và người ta đang muốn đi vào cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô.[2]

Phải chăng câu chuyện tạo dựng vũ trụ và con người trong sách Sáng Thế là một thể hiện của khát vọng về con người tâm linh ấy? Con người là bụi đất, là xác phàm, lại được thổi hơi thần linh vào để trở thành con người sống động và có khát vọng vươn lên cao. Con người được tạo dựng, từ sự hiện hữu nhân sinh, đã mang lấy yếu tố thần linh, yếu tố tâm linh rồi.

“Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (St 2,7).

Càng ngày người ta càng khám phá ra rằng các sinh vật khác cũng thông minh lắm, và ngay cả vận hành của vũ trụ vật chất xem ra cũng “thông minh” tuyệt vời! Phải chăng nơi chúng cũng mang lấy “những k‎ý gửi” về khát vọng tâm linh của con người?

Nhưng câu chuyện tạo dựng ấy chỉ là nơi “k‎ý gửi” khát vọng nhân loại về con người tâm linh, hay do bởi cách thực hiện của Thiên Chúa khi tạo dựng khiến cho con người luôn có khát vọng về những con người tâm linh? Trong niềm tin kitô giáo thì điều này đúng hơn.

Nhưng trình thuật của Sáng Thế lại cho thấy con người dường như ngày càng giảm bớt tính chất tâm linh, và người ta diễn tả điều ấy bằng những con số của tuổi thọ ngày càng đi xuống, ngày càng ít đi!

Tuy dù như thế, khát vọng về những điều tâm linh vẫn là một phần không thể thiếu nơi hữu thể nhân sinh. Và điều gọi là “sensus fidelium” là một nhìn nhận về tính chất tâm linh của con người nơi các tín hữu.

1. Ý nghĩa của “sensus fidelium”

Hai thuật ngữ “sensus fidei” (cảm thức đức tin) và “sensus fidelium” (cảm thức của các tín hữu) có mối liên hệ với nhau cách chặt chẽ. Thuật ngữ trước nói đến cảm thức đối với đức tin nơi mỗi tín hữu, thuật ngữ sau nhấn mạnh sự đồng thuận của dân Chúa về đức tin, và do đó, liên hệ trực tiếp hơn đến việc tuyên bố tín điều của Hội Thánh. Sự liên kết giữa hai ‎ý niệm này được gọi là “sensus fidei fidelium”.

Nếu như con người có một “bản năng” hướng về những điều thiêng thánh, hướng về tâm linh, thì các tín hữu còn có “bản năng về đức tin” (instinctus fidei) nữa.[3] Thánh Tôma Aquinô viết: “...đức tin là một tập quán (hay nhân đức bền vững) của trí tuệ, nhờ đó sự sống đời đời được khởi sự trong chúng ta, khiến trí tuệ ưng thuận với những điều không thấy.”[4]

Nếu đó là một “tập quán của trí tuệ” thì phải được thao dợt để trở thành thói quen. Người có thói quen khao khát tìm kiếm chân l‎ý trong việc nghiên cứu, học hỏi, thì cũng dễ nắm bắt được chân l‎ý, dễ dàng lắng nghe với thiện chí, với tinh thần phục thiện để đón nhận được chân l‎ý. Cũng thế, người quen nhìn thấy những điều thiêng thánh trong đời sống hàng ngày thì cũng dễ dàng hơn để nhận biết những biểu lộ của Chúa trong đời sống con người. “Theo cách của mầu nhiệm Nhập Thể, chân lý cũng nảy mầm từ từ trong đời sống thực tế của con người và trong những dấu chỉ của lịch sử” (Đức Phanxicô).[5]

Giáo huấn về cảm thức đức tin nơi dân Chúa liên hệ chặt chẽ với Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn đưa tín hữu và dân Chúa đi vào chân lý toàn vẹn (x. Ga 16,13) và chia sẻ cùng niềm tin với nhau. Như vậy, để có được sự nhạy bén đối với những điều thiêng thánh, những chân lý đức tin, tín hữu cũng cần trở nên những con người quen thuộc với Thánh Thần, quen đón nhận những thúc đẩy của Ngài, quen sống theo những thúc đẩy đó.

2. Niềm mơ ước “sensus fidelium” của ông Môsê

Người ta có thể tìm thấy “tiền thân” của lễ Hiện Xuống, của những con người được soi sáng, thúc đẩy để nói lên điều Thiên Chúa muốn nơi các vị kỳ mục thời ông Môsê (x. Ds 11,4-30). Thời Cựu Ước, người ta chưa nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nhưng người ta có thể nói về thần khí của Đức Chúa. Đức Chúa dạy ông Môsê chọn bảy mươi vị kỳ mục để Ngài chia sẻ thần khí Đức Chúa nơi ông Môsê sang cho họ: “Đức Chúa ngự xuống giữa đám mây và nói chuyện với ông Môsê. Người lấy một phần thần khí đang đậu trên ông mà đặt trên bảy mươi vị kỳ mục. Khi thần khí đậu xuống trên các ông thì các ông bắt đầu phát ngôn” (Ds 11,25).

Chuyện xảy ra là hai trong số bảy mươi vị được chọn ấy, Enđát và Mâyđát, không đến Lều Tạm để ông Môsê chia sẻ thần khí cho, họ đang ở trong trại, nhưng họ vẫn có được thần khí ấy và phát ngôn như những vị kia. Điều thú vị ở đây là Đức Chúa đã vượt trên ý nghĩ về “cơ cấu” khi ban thần khí cho cả hai vị đang ở trong trại nữa! Điều này làm cho ông Giosuê, người từng theo giúp ông Môsê bấy lâu, cũng được coi là người sáng giá nhưng không có trong số bảy mươi vị ấy, là người phục vụ cho quyền bính, lấy làm khó chịu và muốn ông Môsê cấm hai vị kia phát ngôn nhân danh Đức Chúa. Nhưng ông Môsê thật là con người với tầm nhìn tuyệt vời khi trả lời: “Anh ghen giùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban thần khí trên toàn dân của Người để họ đều làm ngôn sứ và Đức Chúa ban thần khí của Người trên họ.” (Ds 11,29). Phải chăng niềm ước mơ mọi người có được thần khí của Đức Chúa và có thể nói lời của Ngài là “tiền thân”, là báo trước của lễ Hiện Xuống sau này?

3. Niềm mơ ước “sensus fidelium” trở nên hiện thực thời Đấng Messia

Lời hứa ban Thánh Thần trên dân được tiên Gioen tiên báo:

“Sau đó, Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người phàm.

Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ,

người già được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến.

trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ thần khí Ta

trên tôi nam tớ nữ.” (Ge 3,1-2)

Lời hứa ấy được thực hiện vào thời Đấng Messia, khi Đức Giêsu được tôn vinh. Đức Giêsu báo trước về việc Thánh Thần sẽ được ban cho mọi người:

“Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhất. Đức Giêsu đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng: ‘Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.’ Đức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giêsu chưa được tôn vinh.” (Ga 7,37-39)

Thần học của Tin Mừng Gioan nói về Đức Giêsu được tôn vinh nơi mầu nhiệm Vượt Qua: thập giá, phục sinh và lên trời. Và nơi mầu nhiệm ấy, Thánh Thần được ban cho con người.

“Đức Giêsu nói: ‘Thế là đã hoàn tất!’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,30)

Sau khi phục sinh, hiện ra với các tông đồ, Đức Giêsu đã trao ban Thánh Thần cho họ:

“Người lại nói với các ông: ‘Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.’ Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.’” (Ga 20,21-23)

Đến lượt các tông đồ, các ngài cũng trao ban Thánh Thần cho những người tin vào Chúa Giêsu Kitô.

“Ông Phêrô đáp: ‘Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi.’” (Cv 2,38-39)

Thánh Thần được ban cho mọi người tin, không giới hạn nơi dân Do Thái. Chuyện xảy ra nơi gia đình ông Cornêliô:

“Ông Phêrô còn đang nói những điều đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên tất cả những người đang nghe lời Thiên Chúa. Những tín hữu thuộc giới cắt bì cùng đến đó với ông Phêrô đều kinh ngạc vì thấy Thiên Chúa cũng ban Thánh Thần xuống trên cả các dân ngoại nữa, bởi họ nghe những người này nói các thứ tiếng và tán dương Thiên Chúa. Bấy giờ ông Phêrô nói rằng: ‘Những người này đã nhận được Thánh Thần cũng như chúng ta, thì ai có thể ngăn cản chúng ta lấy nước làm phép rửa cho họ?’” (Cv 10,44-47)

Khi Thánh Thần được trao ban cho dân chúng, thì không phải chỉ là dân chúng có thể nói lời Thiên Chúa muốn họ nói, nhưng còn bằng hành động, các tín hữu đang làm cho người ta khám phá ra những chân l‎ý mới, những chân l‎ý làm cho chính họ cũng phải ngạc nhiên. Đúng như lời Đức Thánh Cha Phanxicô rằng chân lý được khám phá dần dần trong cuộc sống, và khi biết nghe nhau, người ta khám phá ra chân l‎ý.[6] Ông Barnaba đến Antiôkhia, nhìn thấy cộng đoàn kitô hữu được hình thành không do các tông đồ, mà do các tín hữu, những người chạy trốn khỏi nước do những cuộc bách hại vì niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô, và ông nhìn nhận đó là hoạt động của Thiên Chúa nơi những tín hữu này. Cũng chính tại đó mà các tín hữu được gọi tên là “Kitô hữu” (x. Cv 11,26). Ông Barnaba là người nhận ra hoạt động của Thiên Chúa nơi đây cũng được sách Công vụ mô tả là người đầy Thánh Thần và lòng tin (x. Cv 11,24). Các cộng đoàn tín hữu lan rộng đến những người theo văn hoá Hy Lạp.

Trong biến cố ông Phêrô đón nhận gia đình ông Cornêliô, và khi nghe ông Phêrô giải trình, Giáo hội nhận ra chân l‎ý về ơn cứu độ phổ quát dành cho mọi người,chứ không giới hạn vào dân tộc Do Thái. Đây là một khám phá chân lý vô cùng quan trọng trong Hội Thánh thời sơ khai. Ông Phêrô tường thuật:

“Tôi vừa mới bắt đầu nói, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên họ, như đã ngự xuống trên chúng ta lúc ban đầu. Tôi sực nhớ lại lời Chúa nói rằng: ‘Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì sẽ được rửa trong Thánh Thần.’” (Cv 11,15-16)

Trong chuyện ấy, người gặp khó khăn đầu tiên là chính ông Phêrô. Tiếng nói bởi trời trong thị kiến chiếc lưới được thả xuống từ trời với những con vật được người Do Thái coi là dơ bẩn, và không có đạo đức nếu ăn những thức ăn ấy. Thế mà Thiên Chúa bảo ông ăn. Việc làm này trái với đạo đức, theo như cách hiểu của họ thời ấy, thế mà Chúa vẫn bảo ông làm. Nhờ thị kiến này mà ông dám đón tiếp và theo đến nhà những người dân ngoại:

“Ông Phêrô vẫn còn phân vân về thị kiến, thì Thần Khí bảo ông: ‘Kìa có ba người đang tìm ngươi. Đứng lên, xuống mà đi với họ, đừng ngần ngại gì, vì chính Ta đã sai họ đến.’” (Cv 10,19-20)

Khi người nhà ông Cornêliô đến, ông Phêrô đã mời họ vào nhà mình trọ qua đêm, để sáng hôm sau, chính ông và những người theo ông đi đến nhà những người dân ngoại này.

Khi nghe những lời tường thuật lại của ông Phêrô sau đó, những người ở Giêrusalem khám phá ra chân lý mới:

“Nghe thế, họ mới chịu im, và họ tôn vinh Thiên Chúa mà nói: ‘Vậy ra Thiên Chúa cũng ban cho các dân ngoại ơn sám hối để được sự sống!’” (Cv 11,18).

Chân l‎ý đức tin được khám phá từ cuộc sống và lớn lên cũng từ cuộc sống. Khi biết lắng nghe nhau, đón nhận những chia sẻ từ cuộc sống, người ta nhận ra Thánh Thần đang làm việc ở đó và mở ra những cánh cửa mà đối với các kitô hữu gốc Do Thái thời bấy giờ là hết sức khó đón nhận!

4. Niềm mơ ước được thể hiện trong đời sống Hội Thánh qua xác định “sensus fidelium”

Những manh nha về điều được gọi tên sau này là “sensus fidelium” đã có từ trong Cựu Ước, được Chúa Giêsu và các tông đồ nói đến trong Tân Ước, được khai phá từ từ nơi các thánh dọc theo dòng lịch sử Hội Thánh, đã được minh định trong giáo lý của công đồng Vaticanô II. Nhưng để thực hành cách rộng rãi hơn thì vẫn còn là lộ trình phía trước.

“Đức Giêsu bảo họ: ‘Trong Lề Luật các ông, đã chẳng có chép lời này sao: ‘Ta đã phán: các ngươi là những bậc thần thánh’? Nếu Lề Luật gọi những kẻ được Thiên Chúa ngỏ lời là những bậc thần thánh, mà lời Kinh Thánh không thể bị huỷ bỏ, thì tôi là người Chúa Cha đã thánh hiến và sai đến thế gian, làm sao các ông lại bảo tôi: ‘Ông nói phạm thượng!’ vì tôi đã nói: ‘Tôi là Con Thiên Chúa’?” (Ga 10,34-36)

Đức Giêsu trích Thánh Vịnh 82,6 nói về những thẩm phán bất công. Tuy dù họ là như thế, họ sẽ bị xét xử về sự bất công trong nhiệm vụ được giao phó, nhưng dù sao thì họ cũng được sinh ra từ Đấng Tối Cao, nên họ là “những bậc thần thánh”. Như vậy, nếu họ nói được những lời do từ Thiên Chúa thúc đẩy, thì đó vẫn là những lời đáng lưu ‎ý, đáng lắng nghe. Nhiều năm nghiềm ngẫm sau biến cố Đức Giêsu được tôn vinh, tác giả Tin Mừng thứ tư viết về ông Caipha như sau:

“Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân...” (Ga 11,51)

Trước khi được công đồng Vaticanô II tuyên bố chính thức, giáo lý về sensus fidelium đã được nói cách nào đó nơi các thánh, tuy dù chưa dùng từ “sensus fidei” hay “sensus fidelium”. Thánh Augustino thành Hippo trong tác phẩm “De praedestinatione sanctorum”, 14, 27 đã viết: “Toàn thể các tín hữu không thể sai lầm.”[7]

Thánh Tôma Aquinô viết: “... đức tin là một tập quán (hay nhân đức bền vững) của trí tuệ (habitus mentis)”. Tư tưởng này cho thấy nền tảng nhân học nơi các tín hữu, khiến họ có thể đi đến sensus fidelium, như đã được nói đến ở trên.[8]

Thánh John Henry Newman (1801-1890) vừa được phong tiến sĩ Hội Thánh cách đây không lâu (1/11/2025) cũng nói ý tưởng về sensus fidelium, và có ảnh hưởng đến tư tưởng của Công đồng Vaticanô II sau đó. Trong tác phẩm On Consulting the Faithful in Matters of Doctrine, ngài cho rằng: Trong một số thời kỳ khủng hoảng (như lạc giáo Ariô), chính đức tin của giáo dân đã góp phần bảo vệ chân lý và cả Giáo hội (giáo sĩ và giáo dân) đều tham gia vào việc gìn giữ đức tin.[9]

Công đồng Vaticanô II đã phát triển niềm tin này và tuyên bố chính thức về giáo lý này:

“Dân thánh của Thiên Chúa cũng tham dự vào phận vụ ngôn sứ của Đức Kitô, bằng cách thể hiện khắp nơi chứng từ sống động về Ngài cách đặc biệt bằng đời sống đức tin và đức ái, và bằng cách dâng lên Thiên Chúa lễ tế ca tụng, dùng miệng lưỡi ngợi khen thánh danh Người, (x. Dt 13,15). Toàn thể tín hữu được Đấng Thánh xức dầu (x. 1 Ga 2,20 và 27) nên không thể sai lầm trong đức tin, họ biểu lộ thuộc tính đặc biệt này qua cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể Dân Chúa, khi ‘từ các Giám mục đến những người bé mọn nhất trong các tín hữu’ đều đồng thuận về những điều liên quan đến đức tin và phong hoá. Thật vậy, nhờ cảm thức đức tin do chính Thánh Thần Chân lý khơi dậy và nâng đỡ, khi tuân phục theo sự hướng dẫn của Huấn quyền Giáo hội, Dân Thiên Chúa đón nhận không phải lời của người phàm, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa (x. 1 Ts 2,13), trung thành gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các thánh chỉ một lần là đủ (x. 1,3), thấu hiểu cách sâu xa hơn với một nhận thức chính xác và thực thi đức tin cách hoàn hảo hơn trong đời sống hằng ngày.” (LG 12)[10]

Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (1992) lặp lại các ý tưởng về sensus fideisensus fidelium của Lumen Gentium (1964). Cả hai cùng lưu ý đến sự hiệp thông đức tin của Hội Thánh, đồng thời cũng cho thấy cảm thức ấy đến từ Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn đưa toàn thể Dân Chúa đi vào đức tin vẹn toàn. Sách Giáo lý số 93 trích nguyên văn của LG 12 như đã trích ở trên: “Thật vậy, nhờ cảm thức về đức tin được Thánh Thần chân lý khơi dậy và nâng đỡ, khi tuân phục theo sự hướng dẫn của Huấn quyền Giáo hội,..., và áp dụng đức tin ấy cách đầy đủ hơn trong đời sống”.

Giáo huấn này của Công đồng Vaticanô II còn được nghiên cứu, trình bày để làm sáng tỏ bởi Ủy ban Thần học Quốc tế (International Theological Commission) trong tài liệuSensus Fidei in the Life of the Church (2014)[11].

Giáo huấn của Công đồng Vaticanô II dựa trên nền tảng thần học về Dân Thiên Chúa.[12] Giáo lý này là chân lý được Hội Thánh khám phá trong dòng lịch sử của mình, trong dòng Truyền thống sống động của Hội Thánh. Đây là một bước dẫn của Thánh Thần để từng bước đi vào chân lý vẹn toàn như lời hứa của Chúa Giêsu (x. Ga 16,13). Nền giáo lý về Dân Thiên Chúa này rất hay và sâu sắc, nhưng xem ra Hội Thánh còn những bước dài để có thể hiểu được hết chiều sâu của nó và thực hiện trong đời sống cùa Hội Thánh nói chung và trong đời sống của mỗi tín hữu nói riêng. Niềm tin của các tín hữu không phải là niềm tin lẻ loi của cá nhân để “được lên thiên đàng”, nhưng là niềm tin được hiệp thông trong niềm tin của Hội Thánh. Nền thần học về sự hiệp thông trong Hội Thánh là nét thần học quan trọng của Vaticanô II. Giáo lý về Dân Thiên Chúa hiệp thông trong đức tin không dừng lại ở một lý thuyết, nhưng đó là niềm tin được thể hiện trong toàn bộ đời sống của các tín hữu trong Hội Thánh: qua chứng từ sống động của đời sống, qua các cử hành của đời sống cầu nguyện và “qua cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể Dân Chúa” (x. LG 12).

5. Niềm mơ ước “sensus fidelium” được tái thể hiện trong một Hội Thánh hiệp hành của Thượng Hội đồng Giám mục XVI

· Cảm thức đức tin của tín hữu dựa trên nền tảng của nền thần học Dân Thiên Chúa của công đồng Vaticanô II được khai triển và đưa vào cụ thể trong đời sống, trong cách vận hành của Hội Thánh được đề nghị bởi Thượng Hội Đồng XVI (2021-2024), với lời mời gọi bước vào giai đoạn thực hiện lối sống hiệp hành (2025-2028). Và phải chăng Đức Thánh Cha Lêô XIV muốn tiến trình thực hiện lối sống hiệp hành này như là một cách thức để sống ý thức về Dân Thiên Chúa, được thể hiện mạnh mẽ nơi hàng ngũ giáo sĩ để làm lực đẩy cho tiến trình này.

Thật vậy, Đức Lêô XIV muốn các linh mục đưa lối sống hiệp hành này vào đời sống và trong cách thi hành mục vụ và coi đó là lời mời gọi mạnh mẽ từ Chúa Thánh Thần.

“...trong những năm gần đây, Giáo hội vẫn được Chúa Thánh Thần hướng dẫn phát triển giáo huấn của Công đồng về bản chất hiệp thông của mình theo chiều kích hiệp hành và sứ vụ.”[13]

“Động lực của tiến trình hiệp hành là một lời mời gọi mạnh mẽ của Chúa Thánh Thần để thực hiện những bước quyết định theo hướng này.”[14]

Sự hiệp hành mà Hội Thánh mong muốn hôm nay không phải là một thái độ nhân bản hay chỉ là một phương pháp làm việc tập thể, nhưng là một ý thức lắng nghe Thánh Thần từ bất cứ ai, từ mọi thành phần Dân Chúa. Như thế, đây đích thực là đưa vào thực hiện ý thức về Dân Thiên Chúa, chính là sống sự hiệp thông của Dân Chúa để cùng tham gia vào đời sống của Hội Thánh và cùng nhau thi hành sứ vụ chung của Hội Thánh. Đây là thái độ lắng nghe Chúa Thánh Thần, để cho Ngài dẫn dắt trong đời sống cũng như sứ vụ. Khi đối thoại trong Thánh Thần là lúc nói lên điều Thánh Thần soi sáng, thúc đẩy nơi mình và là lúc lắng nghe những soi sáng của Ngài nơi người chung quanh, rồi cùng nhau trao đổi để phân định đâu thực sự là soi sáng của Thánh Thần để cùng nhau thực hiện ý Thiên Chúa. Đây đích thực là việc thực hiện ý nghĩa của sensus fideisensus fidelium trong đời sống, trong cách vận hành của Hội Thánh hôm nay. Không thể để những điều này dừng lại ở trên giấy hay nơi lời nói, nhưng niềm tin về sensus fideisensus fidelium phải được thể hiện trong đời sống và sứ vụ của Hội Thánh.

“Trong bối cảnh này, hiệp hành được coi là con đường chính dành cho Giáo hội, vốn được kêu gọi canh tân dưới tác động của Chúa Thánh Thần và nhờ lắng nghe Lời Chúa. Khả năng hình dung ra một tương lai khác cho Giáo hội và cho các định chế của Giáo hội xứng tầm sứ vụ mà Giáo hội nhận lãnh, tùy thuộc phần lớn vào quyết định khởi động những tiến trình lắng nghe, đối thoại và biện phân cộng đồng, trong đó tất cả và mỗi người đều có thể tham gia và góp phần.”[15]

Để đi vào tiến trình cùng nhau bước theo Thánh Thần này, Hội Thánh được mời gọi trở nên tự do hơn, phải chấp nhận phiêu lưu và có khi liều lĩnh nữa.

“... chúng ta phải lắng nghe Chúa Thánh Thần là Đấng như gió ‘thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng chẳng biết gió từ đâu đến và đi đâu’ (Ga 3,8), phải mở ngỏ cho những điều lạ lùng mà Chúa Thánh Thần chắc chắn sẽ chuẩn bị cho chúng ta trên suốt hành trình.”[16]

Ý thức về sự hiện diện của Thánh Thần nơi dân Chúa, nơi các tín hữu, Tài Liệu Chuẩn Bị dùng từ ngữ “thỉnh ý (consultation) dân Chúa”.

“Thực tế có không ít Giáo hội đã bắt đầu thực hiện những cuộc gặp gỡ và đưa ra những tiến trình ít nhiều mang hình thức thỉnh ý dân Chúa (meetings and consultation processes with the People of God). Đây là lý do để hy vọng, tràn trề hy vọng. Ở đâu có dấu ấn của phong cách hiệp hành, ở đó cảm thức về Hội Thánh triển nở, và sự tham gia của tất cả mọi người đem lại cho đời sống Hội Thánh một sức năng động mới”.[17]

Mặc dù là những bước đầu, nhưng người ta như đang thấy ước mơ của ông Môsê ngày xưa đang bắt đầu trở thành hiện thực. Dĩ nhiên, hành trình còn dài và phải nói là còn mãi, bởi vì Hội Thánh lữ hành đang đi trong dòng lịch sử, còn có những diễn biến mới và luôn luôn mới của cuộc sống, do đó, Thánh Thần luôn tiếp tục công việc của Ngài nơi các tín hữu để mở cho họ những con đường, và do đó, việc lắng nghe Thánh Thần nơi mọi thành viên của đoàn lữ hành hội thánh ấy vẫn luôn phải được thực hiện.

· Văn kiện Chung kết của Thượng Hội Đồng XVI đưa ra một bản tóm kết nền tảng và đầy đủ của cảm thức đức tin của tín hữu trong sự hiệp thông với toàn thể Dân Chúa và Huấn Quyền.

“Nhờ Bí tích Rửa tội, ‘Dân thánh của Thiên Chúa cũng tham dự vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô, bằng cách thể hiện khắp nơi chứng từ sống động về Người cách đặc biệt bằng đời sống đức tin và đức ái’ (LG 12). Việc được xức dầu bởi Chúa Thánh Thần khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội (x. 1 Ga 2,20.27) giúp mọi tín hữu có một bản năng về chân lý của Tin Mừng. Điều này được gọi là cảm thức đức tin (sensus fidei). Cảm thức này hệ tại ở một sự tương hợp nào đó với các thực tại thần linh, dựa trên sự thật rằng, trong Chúa Thánh Thần, người đã nhận Phép rửa được ‘thông phần vào bản tính Thiên Chúa’ (DV 2). Chính nhờ sự thông phần này mà người tín hữu có khả năng nắm bắt bằng trực giác những gì phù hợp với chân lý mạc khải trong sự hiệp thông của Giáo Hội. Vì thế, Giáo hội xác tín rằng Dân thánh của Thiên Chúa không thể sai lầm trong đức tin, họ biểu lộ thuộc tính đặc biệt này khi họ đều đồng thuận về những điều liên quan đến đức tin và phong hoá (x. LG 12). Tuy nhiên, việc thực thi cảm thức đức tin không được nhầm lẫn với dư luận công chúng. Cảm thức đức tin luôn gắn liền với sự phân định của các mục tử ở các cấp độ khác nhau trong đời sống Giáo hội, như được minh chứng qua các giai đoạn liên kết chặt chẽ của tiến trình Thượng Hội đồng. Cảm thức đức tin nhắm tới việc đạt được sự đồng tâm nhất trí của các tín hữu (consensus fidelium), điều này tạo nên ‘một tiêu chí chắc chắn để xác định liệu một giáo lý hay một thực hành cụ thể có thuộc về đức tin tông truyền hay không’ (ITC, Cảm thức đức tin trong đời sống Giáo hội, 2014, 3).[18]

 · Để thực hiện tiến trình hiệp hành bước theo Chúa Thánh Thần này, Hội Thánh đưa ra một nền linh đạo hiệp hành, trong đó mời gọi việc hoán cải về hai phương diện: hoán cải các mối tương quan và hoán cải các tiến trình.

Hoán cải các mối tương quan đòi hỏi tín hữu phải thay đổi cách suy nghĩ về người khác với những khác biệt của họ về niềm tin, phái tính, hoàn cảnh... và thay đổi cách nhìn về các thụ tạo. Sự thay đổi này lấy điểm quy chiếu là Tin Mừng: làm sao cho cách nhìn về nhau là cách nhìn theo lời Chúa Kitô dạy, để các tương quan được đổi mới.

“Phẩm chất Tin Mừng của các mối tương quan cộng đoàn là điều có tính quyết định cho chứng tá mà Dân Thiên Chúa được kêu gọi trình bày trong lịch sử. ‘Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau’ (Ga 13,35). Dấu chỉ hùng hồn nhất về tác động của Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn môn đệ chính là lời mời gọi thiết lập mối tương quan với những người hèn mọn nhất, một lời mời phát sinh từ sự canh tân ân sủng và theo lời dạy của Chúa Giêsu. Do đó, để trở thành một Giáo hội hiệp hành, chúng ta cần phải mở lòng mình hướng đến một sự hoán cải thật sự trong các mối tương quan, điều sẽ định hướng lại các ưu tiên của mỗi người. Chúng ta phải học lại từ Tin Mừng rằng việc chăm sóc các mối tương quan không chỉ là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mạc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho các mối tương quan dù còn mong manh của chúng ta được chiếu qua bởi ân sủng của Chúa Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, thì chúng ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi bằng chính đời sống của mình.”[19]

Hoán cải các tiến trình được đề nghị nhằm giúp cho các cộng đoàn Hội Thánh thực hành việc phân định theo Thánh Thần, đón nhận soi sáng của Thánh Thần nơi mọi thành phần của dân Chúa. Để thực hiện việc phân định mang tính Hội Thánh ấy, thái độ tôn trọng Thánh Thần qua việc tôn trọng và lắng nghe nhau vẫn luôn là nền tảng.

“Sự tin tưởng phải có tính hỗ tương: những người đưa ra quyết định phải có khả năng tin tưởng và lắng nghe Dân Thiên Chúa, Dân Thiên Chúa phải có khả năng tin tưởng những người thực thi thẩm quyền.”[20] 

· Để thực hiện việc hoán cải về các mối tương quan và hoán cải các tiến trình ấy, nền linh đạo hiệp hành đòi hỏi mọi thành phần thực hiện cuộc hoán cải nơi chính mình.

“Linh đạo hiệp hành cũng đòi hỏi sự khổ hạnh, khiêm tốn, kiên nhẫn, và sẵn sàng tha thứ cũng như đón nhận sự tha thứ... Không ai có thể tiến bước trên con đường linh đạo đích thực một mình. Chúng ta cần sự hỗ trợ, bao gồm cả việc đào tạo và đồng hành thiêng liêng, cả ở cấp độ cá nhân lẫn cộng đoàn.”[21]

Nền linh đạo ấy lưu tâm đến tâm thế “đối thoại trong Thánh Thần”. Đây không phải là một kỹ thuật để sống chung và làm việc chung, nhưng là biểu hiện của đức tin, của lòng tôn trọng tiếng nói của Thánh Thần trong mọi người.[22] Người ta nhớ lại lời của Đức Thánh Cha Phanxicô về sự hình thành của chân l‎ý dần dần trong cuộc sống qua việc đối thoại với nhau. Nói cách khác, đó là tiến trình khám phá chân l‎ý nhờ việc lắng nghe và đối thoại với nhau, đối thoại với mọi người trong hành trình của cuộc sống.

6. Niềm mơ ước về một lễ Hiện Xuống mới trong Hội Thánh đang trở thành hiện thực

Niềm mơ ước của Đức Thánh Cha Lêô XIV về một lễ Hiện Xuống được thực hiện trong Hội Thánh nhờ việc làm mới lại ơn gọi[23] có phải đang từng bước trở thành hiện thực? 

Khi nói về niềm mơ ước này cho ơn gọi linh mục, Đức Thánh Cha mượn lại lời mở đầu của Optatam Totius và ý tường của Presbyterorum Ordinis (số 1) để nói về vai trò quan trọng của linh mục trong việc canh tân Hội Thánh. Điều ấy đúng. Tuy nhiên, trong cách nhìn của Thượng Hội Đồng XVI, thì những tác nhân quan trọng trong việc canh tân để làm nên một Hội Thánh hiệp hành, cần phải kể đến vai trò của mọi người và từng những trong Hội Thánh, nếu không thì không còn đúng ý nghĩa của hiệp hành nữa, không còn mang ý nghĩa của lòng tôn trọng Thánh Thần nơi mọi người và từng người nữa.

Một Hội Thánh hiệp hành của thiên niên kỷ III mà Tài liệu Chuẩn bị Thượng Hội Đồng đưa ra còn đang ở phía trước. Mỗi kitô hữu cần thực sự sống đức tin của mình, một đức tin sâu xa khi nhận biết Thánh Thần vẫn đang hoạt động trong Hội Thánh và trong thế giới; hoạt động nơi mọi người, để biết lắng nghe nhau với lòng trân trọng, để cùng đối thoại trong Thánh Thần hầu khám phá hoạt động và lời mời gọi của Ngài. Đó thực sự là lối sống theo niềm tin của sensus fideifidelium. Và để thực hiện điều này, thái độ hoán cải liên tục[24] phải là điều cần được thực hiện hàng ngày nơi mỗi kitô hữu và nơi các cộng đoàn đức tin. n

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)



[1] Lêô XIV, Tông thư Sự trung tín tạo nên tương lai (2025), số 21.

[2] Lêô XIV, Thư gửi linh mục đoàn của tổng giáo phận Madrid nhân dịp đại hội linh mục “Convivium” (2026).

[3] “the sensus fidei, an instinct for the truth of the Gospel” (International Theological Commission, Sensus Fidei in the Life of the Church (2014), số 76, x. số 2.

[4] “fides est habitus mentis, qua inchoatur vita aeterna in nobis, faciens intellectum assentire non apparentibus.” (Tôma Aquinô, Summa Theologiae, IIª-IIae q. 1-16).

[5] Bộ Giáo sĩ, Đào tạo linh mục. Hồng ân ơn gọi linh mục (Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis) (2016), 120.

[6] Bộ Giáo sĩ, Đào tạo linh mục. Hồng ân ơn gọi linh mục (Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis) (2016), 120.

[7] “Ecclesia… ab universitate fidelium non potest errare.” (Patrologia Latina [PL 44, 980]).

[8] Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q.1–2 (về bản chất đức tin); II-II, q.10, a.12 (về Hội Thánh không thể sai lầm).

[9] John Henry Newman, On Consulting the Faithful in Matters of Doctrine. Edited by John Coulson. London: Sheed & Ward, 1961.

[10] Vaticano II, Lumen Gentium, 12: “Universitas fidelium, qui unctionem habent a Sancto (cf. 1Io 2,20 et 27), in credendo falli nequit, atque hanc suam peculiarem proprietatem mediante supernaturali sensu fidei totius populi manifestat, cum “ab Episcopis usque ad extremos laicos fideles” universalem suum consensum de rebus fidei et morum exhibet.

[12] LG 12 vừa được trích dẫn nằm trong chương II với tựa đề “Dân Thiên Chúa” (9-17).

[13] Lêô XIV, Tông thư Sự trung tín tạo nên tương lai (2025), số 4.

x. Thượng Hội Đồng Giám Mục XVI, Vì một giáo hội hiệp hành: hiệp thông, tham gia và sứ vụ, Văn kiện Chuẩn bị (2021), số 1; Phanxicô, Diễn văn nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Thượng Hội Đồng Giám Mục (17 tháng 10 năm 2015).

[14] Lêô XIV, Tông thư Sự trung tín tạo nên tương lai (2025), số 21.

[15] Thượng Hội đồng Giám mục XVI, Hướng đến một Hội Thánh hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia và Sứ vụ, Tài liệu Chuẩn bị, 9.

[16] Nvt., 2.

[17] Nvt., 7.

[18] Văn kiện Chung kết của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục, 22.

[19] Nvt., 50.

[20] Nvt., 80.

[21] Nvt., 43.

[22] Nvt., 45.

[23] x. Lêô XIV, Tông thư Sự trung tín tạo nên tương lai (2025), số 27.

[24] Đức Lêô XIV lặp đi lặp lại nhiều lần về thái độ này trong Tông thư “Sự trung tín tạo nên tương lai”.