Dẫn nhập

1. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo sống ân sủng tận hiến cho “Sứ Vụ Thần Linh”

2. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo sống ‘Sứ Vụ Thần Linh’ giữa lòng Giáo hội hoàn vũ

a. Thế hệ nữ tu Đức Bà Truyền Giáo tiên khởi

b. Các thế hệ nữ tu Đức Bà Truyền Giáo tiếp nối

3. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo sống ‘Sứ Vụ Thần Linh’ giữa lòng Giáo hội Việt Nam

4. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo đối diện với những thách đố của thời đại ngày nay

a. Khủng hoảng môi sinh

b. Khủng hoảng hôn nhân - gia đình

c. Khủng hoảng tình huynh đệ nhân loại

Kết luận

Dẫn nhập

Sau khi hoàn tất sứ vụ nơi trần thế, Chúa Giêsu Phục Sinh hẹn gặp các môn đệ trên núi và nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20). Các môn đệ tiên khởi và những thế hệ tiếp nối, không ngừng thực thi lệnh truyền của Thầy Giêsu Chí Thánh, ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân tộc. Tuy vậy, hơn hai ngàn năm qua, vẫn còn rất nhiều người trên hoàn vũ chưa được nghe rao giảng và chưa tin vào Chúa Giêsu Kitô để được cứu độ. Theo “Niên Giám Thống Kê Về Giáo Hội Công Giáo” trên thế giới, trong giai đoạn 2022-2023, được báo “Quan Sát Viên Roma Của Toà Thánh” công bố ngày 20/3/2025, có khoảng 1 tỷ 406 triệu tín hữu,[1] chiếm khoảng 17,7 % dân số toàn cầu. Con số này chất vấn và thúc bách những người môn đệ của Chúa Giêsu Kitô tiếp tục làm cho Tin Mừng thẩm thấu vào các thực tại trần thế, trong tâm hồn mỗi người và mọi người như “men trong bột” (Mt 13,33), như “muối của đất và ánh sáng của trần gian” (Mt 5,13-14), cho đến ngày Người tái lâm vinh hiển.

Nhận thức được tính cấp thiết của việc loan báo Tin Mừng cho muôn dân, Sắc lệnh Ad Gentes khẳng định: “Tự bản tính, Giáo hội lữ hành là người được sai đi, vì chính Giáo hội được khởi sinh từ việc Chúa Con và Chúa Thánh Thần được sai đến theo ý định của Thiên Chúa Cha” (AG 2).[2] Vì thế, Giáo hội thức tỉnh và mời gọi tất cả con cái mình “thực hiện cuộc canh tân nội tâm” (x. AG 83), để một khi ý thức sâu sắc về căn tính và về trách nhiệm truyền giáo của mình, mỗi người, tùy theo ơn gọi và bậc sống riêng, sẵn sàng dấn thân loan chứng Tin Mừng, bằng những phương thế khác nhau, hầu góp phần làm cho Nước Trời ngày càng lan rộng khắp trần gian, dưới quyền một thủ lãnh là Chúa Giêsu Kitô, như lòng Chúa Cha mong ước (x. Ep 1,10).

Là một Hội dòng mang tên ‘Notre Dame Des Missions (RNDM): Đức Bà Truyền Giáo (ĐBTG)’, chắc hẳn mỗi thành viên ý thức ơn gọi thừa sai Chúa trao ban, để tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’của Thiên Chúa Ba Ngôi, giữa lòng Giáo hội. Ơn gọi này vừa xuất phát từ căn tính truyền giáo chung của tất cả các kitô hữu qua bí tích Rửa Tội, vừa mang đậm nét đặc thù mà mẹ Euphrasie Barbier đã lãnh nhận từ ân sủng thiên hình vạn trạng của Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 12,4-11; Ep 4,11-12). Được thành lập năm 1861 tại Lyon, thuộc nước Pháp, trải qua những thăng trầm của lịch sử, dòng ĐBTG, hiện có 850 nữ tu, đang thi hành sứ vụ tại 22 quốc gia, trong 5 châu lục.[3] Trước những thay đổi nhanh chóng và thách đố của mỗi thời đại, các thành viên trong Hội dòng đã và đang nỗ lực diễn tả căn tính truyền giáo của mình như thế nào giữa lòng Giáo hội và thế giới?

1. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo sống ân sủng tận hiến cho “Sứ Vụ Thần Linh”

Ngay từ buổi khai sinh hội dòng ĐBTG, mẹ Euphrasie Barbier đã ý thức rõ ân sủng mà mẹ lãnh nhận từ Chúa Thánh Thần là được tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính mẹ giải thích cho cha Bruno de Vinay, vị linh hướng của mình về ơn gọi đặc thù này: “Về từ ‘Sứ Vụ Thần Linh’, chúng con không nghĩ đến những sứ vụ nghèo nàn của chúng con, vì chúng con chẳng là gì cả, mà chỉ nghĩ đến Sứ Vụ của Ngôi Lời Nhập Thể, được Chúa Cha sai đến để cứu chuộc nhân loại, và Sứ Vụ của Chúa Thánh Linh, được Chúa Cha và Chúa Con sai đến nhằm thánh hóa Giáo hội. Đó là lý do hiện hữu và đặc tính bên trong cũng như bên ngoài của Hội dòng”.[4] Dưới ánh sáng đặc sủng của dòng, các nữ tu ĐBTG qua mọi thời đại luôn xác tín rằng, mọi sứ vụ mình được sai đi để thi hành giữa lòng Giáo hội, dù lớn hay nhỏ, dù âm thầm hay công khai, đều mang giá trị cứu độ cho chính mình và cho tha nhân nếu biết kết hiệp với Sứ Vụ của Chúa Giêsu và của Chúa Thánh Thần trong kế hoạch cứu độ của Chúa Cha.

Mẹ Euphrasie Barbier còn cẩn thận giải thích ý nghĩa tên gọi của Hội dòng trong Hiến Pháp viết tay đầu tiên: “Khi đặt mình dưới danh xưng Đức Bà Truyền Giáo, chị em mong ước tôn vinh cách đặc biệt các ‘Sứ Vụ Thần Linh’, là đối tượng của những ước vọng thâm sâu nhất của Đức Maria. Đức Nữ Trinh đã tôn vinh những Sứ Vụ ấy bằng sự thờ lạy yêu mến thẳm sâu, một sự trung tín trọn vẹn và một sự phục vụ thật quảng đại”.[5] Mẹ Euphrasie Barbier ước ao Mẹ Maria hiện diện giữa lòng Giáo hội như thế nào thì cũng hiện diện giữa hội dòng như vậy. Mẹ Maria chính là mẫu gương sống động và cụ thể cho các nữ tu ĐBTG noi theo trong việc tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’của Thiên Chúa Ba Ngôi, được diễn tả dưới ba chiều kích chiêm niệm-hiệp thông-sứ mạng. Vì thế, mẹ Euphrasie Barbier chọn lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống làm bổn mạng bậc nhất và lễ Mẹ Thăm Viếng làm bổn mạng bậc nhì của Hội dòng.[6]

Như Mẹ Maria, các nữ tu ĐBTG, trước hết được mời gọi ở lại trong cung lòng Tình Yêu Ba Ngôi, qua đời sống cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa và tham dự các bí tích…, để từ đó kín múc được sức sống thần linh và làm bùng cháy ngọn lửa nhiệt thành cho các sứ vụ mà Chúa trao phó. Mẹ Euphrasie Barbier tha thiết mong ước cho lòng nhiệt thành này trở thành nét đặc trưng của Dòng và của từng thành viên trong Hội dòng: “Lòng nhiệt thành này phải ngự trị trong trọn cuộc sống của chị em, làm cho chị em đói khát sự công chính, nuôi dưỡng kinh nguyện cũng như những khát vọng và tinh thần hy sinh của chị em”.[7] Trong tâm tình đó, các nữ tu ĐBTG sẵn sàng để được sai đi thi hành sứ vụ ở trong nước hay nơi hải ngoại, với niềm xác tín rằng mục đích tối hậu của mọi hoạt động truyền giáo là làm vinh danh Chúa Cha, trong sự kết hiệp với Sứ Vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, hầu đưa về cung lòng Ba Ngôi Thiên Chúa toàn thể tạo dựng đã được Người cứu chuộc.[8] Đó là những sứ vụ mà các chị em ĐBTG đã, đang và sẽ thực hiện, tuy nhỏ bé âm thầm, nhưng vượt qua mọi biên cương, cả về mặt địa lý lẫn hiện sinh, để cho Danh Cha cả sáng và Nước Cha trị đến.

2. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo sống ‘Sứ Vụ Thần Linh’ giữa lòng Giáo hội hoàn vũ

a. Thế hệ nữ tu Đức Bà Truyền Giáo tiên khởi [9]

Chỉ sau chưa tròn hai tháng được tuyên khấn lần đầu tại nhà mẹ ở Lyon-nước Pháp, vào dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời ngày 15.8.1864, bốn nữ tu ĐBTG tiên khởi đã được sai đi thi hành sứ mạng tại vùng đất xa xôi ở Tân Tây Lan, thuộc Châu Đại Dương. Ngày 02.10.1864, các Soeurs Marie Sainte Madeleine, Marie des Anges, Marie Sainte Anne và Marie Saint Jean xuống thuyền cùng với năm cha Maristes (SM), vượt trùng dương ròng rã hơn ba tháng, quá cảnh một tháng ở Sydney, để rồi cuối cùng cập bến tại Napier-nước Tân Tây Lan ngày 25.02.1865. Dưới sự bảo trợ, hướng dẫn tận tình của các cha Maristes, đặc biệt cha Forest và cha Reignier là những vị có trách nhiệm trực tiếp trên vùng đất truyền giáo này, chỉ sau tám ngày hiện diện, bốn Soeurs đã bắt đầu mở trường tiểu học, đón các em học sinh nữ, phần lớn thuộc các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, di dân từ Ái Nhĩ Lan đến đây để lập nghiệp.

Nơi đất khách quê người, các Soeurs bắt đầu khám phá những điều mới lạ và học thích nghi dần với ngôn ngữ, văn hóa, thức ăn, nước uống, khí hậu… Khó khăn lớn nhất mà các Soeurs gặp phải đó là giới hạn về ngôn ngữ trong sứ mạng giáo dục và trong tương quan với những người xung quanh: chỉ một mình Sr. Marie des Anges là thông thạo tiếng Anh hơn các chị em khác, nên Soeur phải làm ‘thông dịch viên’ trong mọi tình huống. Với những khác biệt về cách suy nghĩ và văn hóa giữa Pháp và Anh, đầu tiên cha Forest hơi lo ngại và tự đặt câu hỏi: liệu rằng các Soeurs người Pháp có thể truyền đạt cho các em học sinh người Anh chăng? Vì thế, cha mong ước có thêm sự hiện diện của một Soeur người Anh để hỗ trợ cho Sr. Marie des Anges là người đang lãnh trách nhiệm chính trong trường, để giải quyết những tình huống khó khăn và để dạy môn âm nhạc, vì đây là một môn học không thể thiếu đối với người Anh.

Mặc dầu có những giới hạn về ngôn ngữ và có những cú sốc văn hóa không thể tránh khỏi, nhưng nhờ chứng tá đời sống đức tin, sự phục vụ tận tâm, quảng đại và có phương pháp, chẳng mấy chốc, các Soeurs được các bậc phụ huynh và dân chúng tin tưởng, yêu mến, đánh giá cao, dựa trên cung cách ăn mặc, thái độ lễ phép và kết quả học tập của các em học sinh. Chính cha Forest cũng không tiếc lời khen ngợi các nữ tu ĐBTG trong bức thư gởi cho mẹ Euphrasie Barbier: các Soeurs được mọi người yêu mến (…). Những công việc các Soeurs làm ngày càng tốt đẹp hơn một khi các Soeurs đã dần dần sử dụng thành thạo ngôn ngữ Anh.[10] Với đà hội nhập và phát triển sứ mạng giáo dục cách nhanh chóng, vào tháng 8 năm 1866, các Soeurs mở thêm trường chuyên dành cho các gia đình khá giả hơn ở Napier mà họ vui sướng gọi là “select school”, dưới sự quản lý điều hành của Sr. Marie Sainte Anne và sự cộng tác đắc lực của Sr. Marie Saint Ignace, một nữ tu ĐBTG người Anh mới được sai đến. Tháng 10 năm 1867, giấc mơ mà cha Reignier đã ấp ủ từ lâu về việc mở nhà nội trú tình thương cho các em nữ Maories được thực hiện, nhằm giáo dục văn hóa và đức tin Kitô giáo cho các em, dưới sự điều hành của Sr. Marie Saint Jean. Ngoài sứ mạng giáo dục, các Soeurs còn tham gia dạy giáo lý tại giáo xứ, các việc phục vụ nhà thờ và thăm viếng người nghèo tại tư gia, v.v.

Từ nhà chính ở Lyon, với trách nhiệm Bề Trên Tổng Quyền của một hội dòng non trẻ, mẹ Euphrasie Barbier không ngừng dõi theo và vui mừng trước những hoa trái tốt đẹp của các chị em nơi vùng đất truyền giáo Napier. Tuy vậy, mẹ cũng không quên viết thư khuyến khích, mời gọi chị em phải luôn tỉnh thức, sống hài hòa giữa đời sống chiêm niệm-hiệp thông-sứ mạng, dưới ánh sáng của Luật và Hiến Pháp dòng, để nhờ đó các chị em không dừng lại trên những thành công bên ngoài mà phải cắm rễ sâu trong cung lòng Thiên Chúa Ba Ngôi.

Trong năm 1867,[11] theo lời thỉnh cầu của cha Poupinel (SM), mẹ Euphrasie Barbier tiếp tục sai gởi các Soeurs Marie Saint Wilfrid, Marie François de Sales và Marie Saint Pierre đến Sydney-nước Úc, để mở một trung tâm huấn luyện - ‘training-school’ cho các thiếu nữ trẻ. Sau hành trình dài lênh đênh trên biển cả, ngày 09.04.1867, thuyền cập bến Sydney và ba Soeurs được cha Poupinel đón tiếp nồng ấm tại Villa Maria. Ngày 17.04, trong Thánh lễ thứ Tư Tuần Thánh, Sr. Marie de la Merci, một thành viên Dòng ba Mariste đang thi hành sứ vụ tại đây, được nhận tu phục dòng ĐBTG. Các chị em bắt đầu học thích nghi với môi trường mới và phải đối diện với những khó khăn thử thách xảy đến: Sr. Marie François de Salles bị đau ốm trong suốt chuyến vượt biển, giờ đây lại rơi vào tình trạng mất ngủ kéo dài, bị rối loạn thể lý và khủng hoảng tâm lý, cần được chăm sóc, nâng đỡ, đồng hành một cách tử tế và đúng mực; thế nhưng Sr. Marie Saint Wilfrid, khá trẻ ở tuổi 22, được đặt làm phụ trách cộng đoàn, đã không thể đáp ứng mong đợi này vì còn thiếu kinh nghiệm điều hành. Về phía Sr. Marie Pierre, cha Poupinel nhận xét là một nữ tu tận tâm, vui vẻ, tích cực, tự tin, đạo đức, yêu mến đời sống tu trì, nên Soeur có thể dung hòa được phần nào đời sống chung. Riêng Sr. Marie de la Merci là một người đã có vài năm kinh nghiệm truyền giáo tại đây với những tương quan rộng rãi, bây giờ cảm thấy bị gò bó trong một nếp sống tu đơn điệu, buồn tẻ, thụ động; vì thế, Soeur mong ước sớm có những hoạt động cụ thể để làm cho cộng đoàn trở nên sinh động hơn. Trước tình huống đó, cha Poupinel đề nghị các Soeurs mau chóng mở một trường học nhỏ cho các em nữ, nhằm đáp ứng nhu cầu của các gia đình công giáo di dân từ Ái Nhĩ Lan. Được sự đồng thuận của Hội đồng trung ương ĐBTG tại Lyon, tháng 10 năm 1867, mẹ Euphrasie Barbier viết thư khuyến khích các chị em bắt đầu ngay công việc này trong sự bình an, niềm vui và tương trợ lẫn nhau, dưới sự điều hành của Sr. Marie de la Merci là người đã có kinh nghiệm giảng dạy ở đảo trong suốt bảy năm qua. Mẹ Euphrasie cũng không quên gởi thư xin cha Poupinel nâng đỡ cộng đoàn.

Cùng năm 1867, song song với việc thành lập cộng đoàn tại Sydney, theo lời mời của cha Jean-Baptiste Chataigner (SM), mẹ Euphrasie sai gởi ba nữ tu ĐBTG khác đến Christchurch, một đảo thuộc miền nam nước Tân Tây Lan. Ngày 09.02.1868, sau hành trình dài vượt biển, các Soeurs Marie Saint Joseph, Marie Saint Benoît và Marie de la Sainte Trinité, một người từ Anh giáo xin gia nhập Công giáo, đã cập bến an toàn và được cha Chataignier đón tiếp nồng ấm. Soeur Marie des Anges của cộng đoàn Napier được trao thêm trách nhiệm coi sóc cộng đoàn mới ở Christchurch. Dù có những bất tiện về khoảng cách địa lý, nhưng nhờ kinh nghiệm giảng dạy, Soeur đã có thể giúp các chị em về mặt sư phạm trong những bước đầu mở trường nữ cho các học sinh gốc Anh và Ái Nhĩ Lan. Từ Lyon, mẹ Euphrasie nhanh chóng gởi thư khuyến khích các chị em kết hợp mật thiết với Chúa để kín múc sức mạnh cho đời sống cộng đoàn và sứ vụ.

Nhìn chung, các nữ tu ĐBTG tiên khởi để lại cho các thế hệ tiếp nối nhiều bài học quý giá về đời sống tận hiến cho ‘Sứ Vụ Thần Linh’ của một Hội Dòng mới được khai sinh nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần. Trước hết, các chị em sống mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu, sẵn sàng để được sai đi cắm lều tại những vùng đất xa xôi, tập thích nghi mọi sự trong một môi trường hoàn toàn mới lạ về ngôn ngữ, văn hóa, thực phẩm, nước uống, khí hậu… Ngay từ đầu, các chị em đã học cách chung sống trong một cộng đoàn đa văn hóa, trộn lẫn giữa các Soeurs người Pháp và người Anh, nên không thể tránh khỏi những xung khắc về cách suy nghĩ và hành xử, cộng thêm những khác biệt về tuổi tác và cá tính. Dù phải đối diện với những thách đố về mặt con người, nhưng nhờ ân sủng của Chúa trợ giúp, các chị em sống mầu nhiệm Vượt Qua mỗi ngày để chu toàn sứ vụ mà Chúa trao phó qua Hội dòng, giữa lòng Giáo hội. Tại các cộng đoàn mà chị em được sai đến, mẹ Euphrasie Barbier luôn viết thư thăm hỏi, nhắn nhủ, khuyến khích các chị em trung thành sống theo tinh thần Luật Thánh Âu-tinh và Hiến Pháp dòng ĐBTG như là những phương tiện Chúa trao ban để liên kết chị em trong cùng một tinh thần giữa những khác biệt. Mẹ Euphrasie cũng thức tỉnh các chị em phải biết sống hài hòa giữa ba chiều kích chiêm niệm-hiệp thông-sứ mạng, để không bị rơi vào cạm bẫy của những cám dỗ tìm kiếm thành công trước mắt người đời, nhưng chỉ tìm vinh danh Chúa Cha và cứu rỗi các linh hồn nhờ kết hiệp với Sứ Vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tại nhà mẹ Lyon, dưới sự dẫn dắt của mẹ Euphrasie Barbier, các chị em hết lòng yêu mến, sống theo tinh thần dòng. Ngoài sứ vụ đào tạo các em Tập sinh và Tiền tập, các nữ tu ĐBTG còn mở mái ấm để đón tiếp, chăm sóc, dạy dỗ các em cô nhi và thực hiện các sứ vụ khác tùy theo nhu cầu địa phương lúc bấy giờ. Sau sáu năm hiện hữu và thi hành sứ vụ (1861-1867), trong Tổng công hội lần thứ nhất, diễn ra hai ngày 18 và 19 tháng 08 năm 1867 tại Lyon, mẹ Euphrasie Barbier tổng kết hoa trái của hội dòng ĐBTG trong giai đoạn khởi thủy: có 17 Soeurs đã khấn dòng, 30 Tập sinh và 16 em Tiền tập. Ngày 19.08.1867, các Soeurs bỏ phiếu kín, kết quả là tất cả đều đồng thuận bầu chọn mẹ Euphrasie Barbier tiếp tục giữ vai trò Bề Trên Tổng Quyền của dòng ĐBTG trong giai đoạn tới. Đây sẽ là một giai đoạn mấu chốt (1867-1877) mà mẹ Euphrasie Barbier đặt hết tâm trí vào việc đào sâu linh đạo, điều chỉnh Hiến Pháp đang thử nghiệm và đệ trình lên Tòa Thánh để được phê chuẩn, hầu làm kim chỉ nam cho đời sống tận hiến cho ‘Sứ Vụ Thần Linh’ của tất cả các chị em trong dòng. Dù trải qua muôn vàn thử thách, sóng gió bên trong nội bộ cũng như bên ngoài, nhưng với đức tin mạnh mẽ, nghị lực phi thường và lòng phó thác tuyệt đối vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa Ba Ngôi, mẹ Euphrasie Barbier đã dẫn dắt Hội dòng tiến bước không ngừng. Dưới triều đại của Đức giáo hoàng Piô IX, vào ngày 04.06.1869, Dòng nhận được ‘Đoản Sắc Khen Ngợi’ - ‘Bref Laudatif’ của Tòa Thánh, trong đó, xác nhận sự hiện hữu của Dòng từ năm 1861, dưới quyền điều hành của Mẹ Sáng Lập Marie du Coeur de Jésus (Euphrasie Barbier) và chấp nhận Hiến Pháp thử nghiệm trong giai đoạn chờ được phê chuẩn. Sau 10 năm thử nghiệm, ngày 01.10.1877, cũng dưới triều đại của Đức giáo hoàng Piô IX, Tòa Thánh công bố chuẩn y Hiến Pháp và xác nhận sự hiện hữu vĩnh viễn của dòng ĐBTG giữa lòng Giáo hội hoàn vũ. Ngày 20.10.1877, trong Tổng công hội lần thứ hai, mẹ Euphrasie Barbier được tất cả đại biểu bầu chọn tiếp tục giữ vai trò Bề Trên Tổng Quyền.[12]

b. Các thế hệ nữ tu Đức Bà Truyền Giáo tiếp nối

Trong tâm tình “ôn cố tri tân”, điểm lại những hoa trái Chúa ban cho hội dòng ĐBTG từ lúc mới được thành lập năm 1861 cho đến khi Hiến Pháp được Tòa Thánh chuẩn y năm 1877: dòng có 97 nữ tu được sai đi thi hành sứ vụ tại các nước thuộc Châu Âu và Châu Đại Dương. Ở Pháp có nhà mẹ Lyon và cộng đoàn Armentières; Ở Anh có cộng đoàn Deal; Ở Tân Tây Lan có ba cộng đoàn Napier, Christchurch và Nelson; Ở Úc có cộng đoàn Sydney; các cộng đoàn hiện diện trên các đảo Tonga, Wallis và Samoa. Dưới ánh sáng của đặc sủng và linh đạo dòng, các nữ tu ĐGTG tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’ ngang qua các sứ mạng được trao phó: mở trường dạy học cho các học sinh nữ thuộc các gia đình di dân và tầng lớp công nhân; mở nhà nội trú tình thương cho các học sinh nữ Maories; mở trung tâm giáo dục và dạy nghề cho các phụ nữ bị lỡ lầm, tù tội; viện mồ côi cho các trẻ em bị bỏ rơi; mở trường chuyên và nhà nội trú cho các học sinh nữ thuộc gia đình khá giả. Ngoài ra, các chị em còn tham gia dạy giáo lý và mục vụ giáo xứ, thăm viếng, chăm sóc các bệnh nhân tại tư gia, v.v. Ở những nơi các chị em được sai đến, vấn đề hội nhập văn hóa, làm quen với ngôn ngữ, thích nghi với khí hậu, thực phẩm, nước uống luôn là một thách đố lớn phải vượt qua. Cho dù bận rộn với sứ vụ, các nữ tu ĐBTG luôn được mời gọi kín múc sức mạnh nội tâm từ đời sống kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi và tình hiệp thông giữa các chị em trong cộng đoàn. Nhờ ân sủng trợ giúp của Chúa, các chị em gặt hái được nhiều hoa trái tốt đẹp trong sứ vụ; nhưng cũng không tránh khỏi những yếu đuối, vấp ngã, phản chứng tá trong việc hội nhập văn hóa, trong đời sống cộng đoàn đa văn hóa và trong các mối tương quan với những người xung quanh. Vì thế, các chị em được mời gọi sống tâm tình hoán cải liên lỉ, hòa giải và tha thứ mỗi ngày theo tinh thần Phúc Âm, để tiếp tục tiến bước và tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’ của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần cho vinh quang Chúa Cha và vì phần rỗi của các linh hồn.

Trong 32 năm liên tiếp, với vai trò Bề Trên Tổng Quyền dòng ĐBTG qua bốn lần bầu cử, mẹ Euphsasie Barbier đã tận tâm, tận lực thi hành ‘Sứ Vụ Thần Linh’ mà mẹ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa Ba Ngôi và gợi hứng cho biết bao thế hệ nữ tu ĐBTG bước đi trên con đường này. Dưới sự dẫn dắt của Mẹ Sáng Lập Euphrasie Barbier và các Soeurs Cố Vấn Trung Ương, cho đến thời điểm này, dòng có khoảng 200 nữ tu, trong đó 120 chị em được sai gởi đến những vùng truyền giáo xa xôi thuộc châu Đại Dương và châu Á; còn 80 chị em thi hành sứ vụ tại châu Âu. Nhờ hồng ân Chúa, ơn gọi của Dòng ngày một tăng triển: có 26 tập sinh tại Lyon và 25 tập sinh tại Christchuch.[13] Linh đạo Thiên Chúa Ba Ngôi và linh đạo Thánh Mẫu của Dòng ngày càng được đào sâu và diễn tả rõ nét hơn trong Hiến Pháp, trong các thư tín mà mẹ Euphrasie Barbier gởi cho các vị linh hướng và cho chị em toàn dòng, nhất là qua đời sống cụ thể của mỗi nữ tu ĐBTG. Sau khi hoàn tất sứ vụ tại thế, ngày 18.01.1893, mẹ được Chúa đưa về an nghỉ trong cung lòng Ba Ngôi, tại nhà nguyện cộng đoàn Sturry, Anh quốc. Sự ra đi của Mẹ Sáng Lập như một của lễ, kết hiệp với hiến tế duy nhất của Chúa Giêsu Kitô, để dâng lên Chúa Cha trong tâm tình tạ ơn. Các chị em ĐBTG trân quý gia sản mẹ để lại và tiếp tục làm phát triển theo dòng thời gian.

Trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử, hiện nay các nữ tu ĐBTG đang thi hành sứ vụ tại 22 quốc gia trên năm châu lục: châu Âu, châu Đại Dương, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Từ sau Công đồng Vatican II, sắc lệnh về “Hoạt Động Truyền Giáo Của Giáo Hội - Ad Gentes” đưa ra những hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, nhằm thúc đẩy việc loan báo Tin Mừng cho muôn dân tộc, sao cho phù hợp với bối cảnh của thời đại hôm nay. Mẹ Giáo hội không ngừng kêu gọi con cái mình sống mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô bằng cách hội nhập vào các nền văn hóa với thái độ khiêm nhường, hiền lành, bao dung, tôn trọng, đối thoại chân thành, cởi mở, kiên nhẫn, yêu thương vô vị lợi…, để dần dần dẫn đưa nhiều người đến với ánh sáng Tin Mừng (x. AG 28, 64-66). Trong tâm tình đó, dòng ĐBTG rút ra từ những bài học quý giá trong quá khứ để chuẩn bị cho các chị em hội nhập tốt hơn tại những nơi chị em được sai đến: chẳng hạn đẩy mạnh việc học Anh ngữ và khuyến khích học các ngôn ngữ bản địa; mở trung tâm đào tạo ở Davao-Philippines cho các nữ tu trẻ chuẩn bị khấn trọn, để các chị em được trải nghiệm đời sống cộng đoàn đa văn hóa, được đào sâu đặc sủng, linh đạo dòng và các môn học cần thiết trong đời sống tận hiến cho ‘Sứ Vụ Thần Linh’. Nhờ vào sự phát triển của công nghệ thông tin, mỗi chị em có thể tìm hiểu các phong tục tập quán, các điều kiện địa hình địa lý, thức ăn, nước uống, khí hậu…, để chuẩn bị tâm lý trước khi được sai đi. Nhưng trên hết, hành trang thiết yếu của người nữ tu thừa sai ĐBTG chính là tâm hồn cưu mang, ấp ủ Lời Chúa và thái độ hiếu thuận trước tác động của Chúa Thánh Thần như Mẹ Maria, để nhờ đó “Chúa có thể nói qua miệng lưỡi chúng ta, nhìn qua đôi mắt chúng ta, hành động bằng chân tay chúng ta, đồng thời Người cũng là Đấng suy nghĩ trong tâm trí của chúng ta và yêu thương bằng con tim của chúng ta”.[14]

Đặc sủng và linh đạo dòng thúc bách mỗi nữ tu ĐBTG làm chứng cho tình yêu phổ quát của Thiên Chúa Ba Ngôi dành cho mọi dân tộc, mọi tín ngưỡng và tất cả tạo thành. Vì thế, sự hiện diện và hoạt động truyền giáo của các chị em mang nhiều hình thức khác nhau, tùy theo hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế và kinh nghiệm tôn giáo của người dân.[15] Chẳng hạn tại Sénégal, một đất nước mà người Hồi giáo chiếm đa số, kinh tế còn thấp kém, dân nghèo chưa được chăm sóc sức khỏe, các nữ tu ĐBTG đến hiện diện, hòa mình với người dân, mở trạm xá khám chữa bệnh cho tất cả mọi người và tạo được những mối tương quan gần gũi, thân tình với các anh chị em Hồi giáo. Các trường học của Dòng trên thế giới mở ra đón các em học sinh thuộc các tôn giáo khác nhau hoặc vô tín ngưỡng, để tạo không gian lành mạnh cho tình liên đới giữa người với người được triển nở. Qua mọi thời, các nữ tu ĐBTG đều được mời gọi sống kết hợp hài hòa giữa ba chiều kích chiêm niệm-hiệp thông-sứ mạng, nhờ đó cắm rễ sâu trong mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi và lắng nghe được tiếng kêu than của người nghèo và của trái đất đang bị tổn thương, tàn phá. Chính tình yêu đó hun đúc trong lòng các nữ tu thừa sai ĐBTG ngọn lửa nhiệt thành, sẵn sàng được sai đi đến những vùng ngoại biên “để chia sẻ cuộc sống trong yêu thương phục vụ, tìm kiếm sự sống viên mãn cho toàn thể tạo dựng” (HP. 4). Sống trong các cộng đoàn đa văn hóa, các chị em được mời gọi vượt lên những đố kị, bất hòa chia rẽ, để xây dựng tình hiệp nhất giữa những khác biệt, theo tinh thần Luật Thánh Âu-tinh, hầu làm chứng cho tình yêu nên Một của Thiên Chúa Ba Ngôi và dẫn đưa nhiều anh chị em về với Người.

3. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo sống ‘Sứ Vụ Thần Linh’ giữa lòng Giáo hội Việt Nam

Tiếng gọi truyền giáo ở những nơi xa xăm luôn thôi thúc trái tim người nữ tu thừa sai ĐBTG, để rồi các chị em sẵn sàng được sai đến cắm lều tại Việt Nam hơn 100 năm qua (1924-2025).[16] Ngày 24.10.1924, năm nữ tu người Pháp tiên khởi là Sr. Marie de l’Eucharistie, Sr. Marie Joseph de Jésus, Sr. Marie Hyppolyte, Sr. Marie Bernadette và Sr. Marie Arbogaste đặt chân đến phố Phú Vinh, trị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Đến từ miền khí hậu ôn đới, giờ đây các Soeurs phải tập thích nghi với khí hậu nhiệt đới, học cách hội nhập vào một nền văn hóa mới lạ và chấp nhận những điều kiện sống hạn chế…, để mang Tin Mừng yêu thương đến cho người dân Việt. Các Soeurs mở phòng khám chữa bệnh, cô nhi viện, trung tâm chăm sóc cho người khuyết tật (khiếm thính, khiếm thị), mở lớp mẫu giáo, trường tiểu học, cung cấp thực phẩm cho người nghèo và thực thi các hoạt động bác ái khác. Trước nhu cầu cần được chăm sóc sức khỏe rất lớn của người dân, năm 1925, Hội dòng gởi thêm bốn nữ tu khác là Sr. Marie Richard (Pháp), Sr. Marie Achille (Pháp), Sr. Marie Sainte Batilde (Thụy Sĩ) và Sr. Marie Solange (Canada). Các Soeurs đã tận tâm tận lực chăm sóc các bệnh nhân, nhất là trong đợt dịch tả năm 1927, Sr. Marie de l’Eucharistie đã bị lây nhiễm và được Chúa đưa về an nghỉ trong cung lòng Ba Ngôi ngày 02.05.1927. Thi hài Soeur được chôn cất trong lòng đất Việt Nam tại Phát Diệm cho đến hôm nay. Sự hy sinh của Soeur khắc họa lại hiến tế Thập Giá của Chúa Giêsu Kitô và nhắc nhớ lời Người dạy: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi thì mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Nhờ hoa quả đầu mùa dâng lên Chúa mà Dòng sớm có những mầm ơn gọi Việt Nam đầu tiên vào năm 1927 là các chị em Tiền tập: Iné Nguyễn Thị Thêm, M. Isave Nguyễn Thị Đoan, M. Rosa Nguyễn Thị Mầu, được gia nhập Tập viện năm 1928 và sau đó được tuyên khấn lần đầu. Kể từ đó các hạt mầm ơn gọi ĐBTG Việt Nam tiếp tục sinh sôi nảy nở qua nhiều thế hệ.

Đáp lại lời mời gọi của các Đức giám mục, chỉ trong một thời gian ngắn, dòng ĐBTG sai gởi thêm các nữ tu có quốc tịch khác nhau đến Việt Nam để lập các cộng đoàn: ở Thanh Hóa (1926), Lạng Sơn (1927), Sầm Sơn (1928). Đến đâu các Soeurs cũng tận tình phục vụ trong các lãnh vực y tế, giáo dục, chăm lo cho người khuyết tật, bệnh nhân phong, các cô nhi, các trẻ em mang hai dòng máu Pháp-Việt, v.v. Ngoài ra các Soeurs còn cộng tác vào việc huấn luyện các nữ tu dòng Giáo phận, tham gia dạy giáo lý, chuẩn bị cho các em lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo. Sống mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu Kitô, các chị em ĐBTG chung chia số phận của người dân Việt trong những nỗi lo âu, sợ hãi vì chiến tranh, dịch bệnh, đói nghèo xảy ra khắp nơi. Đặc biệt là nạn đói năm 1945 đã cướp đi biết bao sinh mạng; vì thiếu thốn thực phẩm, thuốc men nên sức khỏe của Sr. Mary Catherine (Úc) ngày càng suy yếu do bị xuất huyết bao tử. Trên đường đưa Soeur từ Thanh Hóa về Hà Nội trên một chiếc thuyền nhỏ, giữa cái nắng nóng oi bức của mùa hè, Soeur đã bị kiệt sức và an nghỉ trong Chúa ngày 26.07.1954. Vì hoàn cảnh xảy ra ngoài ý muốn, thi hài của Soeur Catherine được an táng trong vườn của Cô nhi viện dòng nữ Đa Minh ở Hưng Yên. Cuộc đời người nữ tu ĐBTG gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thể, Thập Giá và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô để mang lại ơn cứu độ cho chính mình và tha nhân.

Khi thời cuộc chiến sự diễn ra ngày càng khốc liệt, các Soeurs cùng với đoàn người di cư, từ Bắc tiến vào Nam. Giữa cảnh chiến tranh loạn lạc, nhưng nhờ tình yêu quan phòng của Chúa, các nữ tu ĐBTG vẫn bám rễ trên đất Việt và sinh hoa trái tại những nơi các chị em được mời gọi đến hiện diện và tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’ giữa lòng Giáo hội Việt Nam. Do tình hình chính trị, một số Soeurs ngoại quốc trở về nước, số còn lại tiếp tục kề vai sát cánh với các chị em Việt Nam để chèo chống con thuyền vượt qua muôn vàn thử thách, gian nan. Ý thức tính phổ quát của Sứ Vụ theo linh đạo Ba Ngôi, các chị em ĐBTG tập thích nghi và mở ra với các sứ mạng mới, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của từng thời kỳ. Sau năm 1975, khi chiến tranh chấm dứt, dòng mở thêm các cộng đoàn trên dải đất Miền Trung và Miền Nam. Từ những nhà giáo, các Soeurs học cách trồng trọt, chăn nuôi, làm đồ thủ công, dạy may vá thêu thùa, sống tình làng nghĩa xóm với những người xung quanh, mở các lớp mẫu giáo, làm việc trong các bệnh viện, thăm viếng người nghèo và chăm sóc bệnh nhân tại tư gia, làm việc tại trung tâm khiếm thính, quy tụ và sinh hoạt với các trẻ em đường phố, dạy giáo lý và cộng tác vào việc mục vụ giáo xứ, v.v. Khi xã hội ngày càng phát triển và điều kiện sống thuận lợi hơn, các chị em mở thêm các trường mầm non bán trú để nuôi dạy trẻ em, mở các nhà nội trú nhằm giúp cho các thiếu nữ có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào sắc tộc thiểu số được thăng tiến văn hóa, nhân bản, đức tin. Đời sống của các nữ tu ĐBTG Việt Nam cũng được đào tạo tốt hơn về mặt tri thức, ngoại ngữ, triết học và thần học nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Được nung đốt cùng một ngọn lửa nhiệt thành cho vinh quang Chúa, khi đại dịch Covid-19 bùng phát tại Việt Nam, các chị em dòng ĐBTG đáp lại lời mời gọi của các Đức giám mục, sẵn sàng được sai đi vào các bệnh viện dã chiến để phục vụ, chăm sóc các bệnh nhân ở mọi cấp độ, mới bị cách ly hay đã thở máy xâm chiếm, thậm chí tại các nhà xác. Nhiều chị em, tuy không được trang bị chuyên môn y tế, chưa có kinh nghiệm chăm sóc bệnh nhân, vẫn liều mình lao vào ‘trận chiến với dịch bệnh’ để an ủi, nâng đỡ, phục vụ những anh chị em xấu số. Đây là lúc tình liên đới giữa người với người được thắt chặt hơn bao giờ hết: các linh mục, tu sĩ nam nữ thuộc nhiều hội dòng khác nhau, các giáo dân thiện nguyện, các tôn giáo bạn… cùng chung tay với đội ngũ bác sĩ và nhân viên y tế, để chăm sóc tất cả các bệnh nhân không phân biệt lương giáo. Chứng tá yêu thương vô vị lợi của những người có niềm tin, chắc hẳn để lại trong tâm hồn các anh chị em lương dân những dấu hỏi lớn về ý nghĩa và cùng đích của đời người, về sự hiện hữu của Đấng là Chân, Thiện, Mỹ, là Tình Yêu Thương Xót trước nỗi đau của con người.

Trong dịp cử hành Năm Thánh Bách Chu Niên, tỉnh dòng ĐBTG Việt Nam (1924-2024) có dịp nhìn lại hoa trái của sứ mạng mà chị em thi hành trong suốt thời gian qua, tuy nhỏ bé âm thầm, nhưng mang lại giá trị cứu độ nhờ tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’ của Thiên Chúa Ba Ngôi. Vì thế, các chị em trong tỉnh dòng Việt Nam và trên thế giới hiệp lời tạ ơn Chúa vì những phúc lành Người ban xuống trên Hội dòng và ngang qua Hội dòng cho quý thân nhân, ân nhân, bạn hữu và tất cả những anh chị em mà Hội dòng được sai đến để phục vụ. Căn tính truyền giáo quốc tế của Dòng thách đố mỗi chị em vượt lên các rào cản, để hội nhập vào những nền văn hóa khác nhau, nơi chị em được sai đến theo gương Thánh Phaolô, nhà truyền giáo tuyệt vời: là người Việt với người Việt, trở nên người Lào với người Lào, trở nên người Đài Loan với người Đài Loan, trở nên người Châu Phi với người Châu Phi, v.v. hầu mang Tin Mừng đến cho mọi người (x. 1Cr 9,19-23).

4. Nữ tu Đức Bà Truyền Giáo đối diện với những thách đố của thời đại ngày nay

a. Khủng hoảng môi sinh

Thế giới hiện đại được đánh dấu bởi sự phát triển một cách nhanh chóng và vượt bậc về mặt khoa học kỹ thuật, đem lại nhiều lợi nhuận kinh tế đáng kể cho đời sống của con người; nhưng đồng thời cũng gây ra những hệ quả nghiêm trọng cho môi trường sống và hệ sinh thái toàn cầu: chẳng hạn sự ô nhiễm nước và khí do chất thải gây ra, tình trạng trái đất nóng dần lên với tốc độ đáng lo ngại do hiệu ứng nhà kính; bên cạnh đó cũng phải kể đến làn sóng di dân ồ ạt từ nông thôn lên thành thị, từ nước nghèo sang nước giàu do nhiều nguyên nhân khác nhau, tạo ra sự mất cân bằng dân số, các tệ nạn xã hội, hố phân cách giữa người giàu và người nghèo ngày càng khoét sâu hơn. Trước thảm họa của trái đất và tiếng kêu than của người nghèo, các giáo huấn của Giáo hội từ Công đồng Vatican II, ngang qua các triều đại giáo hoàng của Đức Phaolô VI, Gioan-Phaolô II, Biển Đức XVI, đặc biệt là Đức Phanxicô với Thông điệp “Laudato Si’”, không ngừng gây ý thức, đánh động lương tâm và kêu gọi tất cả mọi người hành động khẩn cấp để bảo vệ trái đất-ngôi nhà chung và những người dễ bị tổn thương nhất.[17]

Chiêm ngắm mầu nhiệm Tình Yêu Ba Ngôi và lắng nghe tiếng rên rỉ của trái đất cùng những người khổ đau, trong Tổng công hội thứ 26 của Dòng (2008), dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, các chị em được mời gọi trở nên ‘cộng đoàn ĐBTG Địa Cầu-RNDM Earth community’, nơi mà “chúng ta là Một, chúng ta là Tình Yêu, bẻ cùng một Tấm Bánh, tham gia cùng một Sứ Vụ và chia sẻ cùng một túi tiền.”[18] Nhận thức được tính tương thuộc của mọi cư dân trên trái đất, các chị em ĐBTG được thúc bách nỗ lực xây dựng tình hiệp thông, hiệp nhất với nhau, liên đới với các hội dòng và các tổ chức khác trong Giáo hội và xã hội, để cùng nhau chăm sóc, bảo vệ ngôi nhà chung và chữa lành những tổn thương mà thiên nhiên và người nghèo phải gánh chịu. Sứ điệp này được tiếp tục đào sâu và diễn tả cách rõ nét trong Hiến Pháp dòng, được Tòa Thánh chuẩn y năm 2014, để làm kim chỉ nam cho đời sống sứ vụ của các chị em và giúp cho việc định hướng trong các Tổng công hội tiếp theo. Ở cấp độ hội dòng, tổ sứ vụ ‘chăm sóc và bảo vệ ngôi nhà chung’ ra đời, bao gồm các thành viên được chọn từ các tỉnh dòng khác nhau, để nghiên cứu tài liệu, lên kế hoạch hành động cho chị em trong toàn dòng. Nhờ đó, tất cả các chị em đều được gây ý thức một cách mạnh mẽ về thực trạng của trái đất và có trách nhiệm cộng tác bằng những hành động cụ thể về mặt cá nhân cũng như cộng đoàn: tiết kiệm điện nước, phân loại rác thải, hạn chế dùng các chất gây ô nhiễm và khuyến khích sử dụng nguồn năng lượng sạch, trồng thêm cây xanh và gìn giữ cho môi trường sống được xanh-sạch-đẹp, v.v. Bên cạnh đó, các chị em còn gợi hứng và gây ý thức về môi trường cho các em học sinh, các công nhân viên và cộng sự viên trong mọi lãnh vực và mời gọi họ cộng tác trong việc chăm sóc ngôi nhà chung. Sống trong một môi trường lành mạnh, sạch đẹp, hài hòa, tâm hồn con người dễ vươn lên tới Chúa là Đấng Tạo Hóa và nhận biết Ngài là Chân, Thiện, Mỹ và là Cha yêu thương hết muôn vật muôn loài. Vì thế, các cộng đoàn ĐBTG được khuyến khích tạo ra những góc thẩm mỹ, để cho chị em và người khác dễ ca tụng Chúa và cử hành các giờ cầu nguyện sáng tạo giữa thiên nhiên.

b. Khủng hoảng hôn nhân - gia đình

Sau một năm ban hành Thông điệp “Laudato Sí” (2015), Đức giáo hoàng Phanxicô tiếp tục công bố Tông huấn “Amoris Laetitia-Niềm Vui Của Tình Yêu” (2016), trong đó ngài nêu rõ những ân phúc cũng như những thách đố và đổ vỡ trong đời sống hôn nhân-gia đình, để rồi đưa ra những đường hướng mục vụ thích hợp, một nền linh đạo nhằm giúp xây dựng một gia đình bền vững và phong nhiêu theo như công trình sáng tạo từ thuở ban đầu của Thiên Chúa. Dựa trên nền tảng Thánh Kinh, các giáo huấn của Công đồng Vatican II, của các vị Giáo hoàng tiền nhiệm, các kết quả gặt hái được trong hai Thượng Hội đồng (2014-1015), Đức Phanxicô, trước hết nhắc lại hồng ân tình yêu mà Thiên Chúa đã tặng ban cho đời sống hôn nhân-gia đình là một quà tặng vô giá vì là họa ảnh của chính Tình Yêu Ba Ngôi, để nhờ đó các gia đình sống sung mãn ơn gọi của mình và cảm nếm được niềm vui, hạnh phúc lâu bền như lòng Người vẫn hằng ước mong; kế đến, ngài nêu ra những thảm họa xảy đến trong gia đình khi con người đánh mất tương quan tình yêu đúng đắn với Thiên Chúa, tha nhân và vũ trụ để lấy mình làm hệ quy chiếu. Cách riêng, con người trong thời đại hôm nay dễ chạy theo xu hướng ‘tự do lệch lạc’, ưa chuộng một thứ ‘văn hóa tạm bợ’, bị rơi vào ‘chủ nghĩa cá nhân cực đoan’ và lối hành xử ‘vắt kiệt, vứt bỏ’…, để từ đó dẫn đến tình trạng đổ vỡ trong đời sống hôn nhân-gia đình: li thân, li dị, hôn nhân đồng giới, lạm dụng tình dục trẻ em, bạo hành phụ nữ, loại trừ người già, v.v. Trước thực trạng đau buồn ấy, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi mọi người không rơi vào thái độ bi quan, kết án và phòng vệ; nhưng biết tìm ra những phương cách thích hợp để ngăn ngừa và đồng hành với các gia đình đang gặp khủng hoảng, hầu giúp họ tìm lại được ý nghĩa và niềm vui trong ơn gọi cao quý này.[19]

Ý thức gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo hội, đáp lại tiếng gọi cấp bách của Đức cố giáo hoàng Phanxicô, các nữ tu ĐBTG đẩy mạnh mục vụ thăm viếng các gia đình để lắng nghe, thấu cảm với hoàn cảnh sống của họ, làm trung gian hòa giải những mối bất hòa, nâng đỡ họ trong sứ mạng giáo dục con cái và chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là những gia đình nghèo. Để giảm thiểu phần nào các hậu quả đáng tiếc xảy ra trong đời sống hôn nhân-gia đình, các chị em tích cực cộng tác với các Giáo hội địa phương trong việc dạy giáo lý tiền hôn nhân, đồng hành với các cặp đôi chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hôn Phối. Trong lãnh vực này, Dòng sai gởi một số chị em đào sâu chuyên môn về mục vụ hôn nhân-gia đình, trang bị về kiến thức và kỹ năng tư vấn tâm lý, để có thể đồng hành chuyên sâu và giúp chữa lành những tổn thương trong đời sống gia đình. Tại những nơi Dòng được phép mở trường tư thục, các chị em có cơ hội làm chứng và chia sẻ các giá trị Tin Mừng trong môi trường giáo dục học đường, nhằm giúp cho người trẻ phát triển một cách quân bình trong giới tính, trong tình yêu hướng thiên và hướng tha, trong sự nhận thức về các giá trị của đời sống hôn nhân-gia đình Kitô giáo. Trong đời sống cộng đoàn tu trì, các chị em cũng được mời gọi sống tình gia đình với nhau bằng sự hy sinh phục vụ, hiền lành khiêm tốn, tôn trọng lẫn nhau, bổ trợ cho nhau, hòa giải tha thứ, tin tưởng hy vọng, trung tín với lời cam kết của mình trong ơn gọi thánh hiến, v.v. Như vậy, cộng đoàn tu trì sẽ trở nên chứng tá sống động và là nguồn sức mạnh nâng đỡ đời sống hôn nhân-gia đình và ngược lại.

c. Khủng hoảng tình huynh đệ nhân loại

Từ những bận tâm về môi trường sinh thái, đến những ưu tư lo lắng cho gia đình căn bản, Đức thánh cha Phanxicô cũng lo âu, khắc khoải cho tình huynh đệ và bằng hữu của đại gia đình nhân loại đang bị xói mòn. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang hoành hành trên thế giới, cướp đi hàng triệu sinh linh và thảm họa chiến tranh, hận thù, chia rẽ đang hủy diệt nhân loại, Đức Phanxicô công bố Thông điệp “Fratelli Tutti” (2020)[20] để lay động lương tâm và kêu gọi tất cả mọi người sống tình anh em và bạn hữu, hầu cùng nhau kiến tạo một nền hòa bình đích thực. Lấy cảm hứng từ Thánh Phaxicô Assisi, một con người yêu chuộng hòa bình, sống tình huynh đệ chân thành với hết mọi người và mọi loài, không phân biệt tôn giáo, đẳng cấp, giống nòi, Đức thánh cha khơi dậy giấc mơ về một xã hội huynh đệ, về một nhân loại duy nhất cùng sống trong ‘ngôi nhà chung’ dưới sự quan phòng che chở của ‘Cha Chung Trên Trời’. Nơi đó, mọi người đối xử với nhau không theo luật của kẻ mạnh mà theo ‘Luật Yêu Thương’:[21] dám nói không với chiến tranh và nói có với việc giải trừ vũ khí, từ chối ‘xây tường’ và cổ vũ ‘xây cầu’, đặt lợi ích cá nhân vào trong lợi ích của tập thể, chăm sóc bảo vệ chứ không loại trừ vứt bỏ, mở ra đón tiếp chứ không khép kín chối từ, lấy hiệp nhất yêu thương thay thế cho hận thù chia rẽ, v.v. Ngài nêu ra mẫu gương lý tưởng của ‘người Samari nhân hậu’ trong Thánh Kinh (x. Lc 10,29-37) và đề cao những tâm hồn thánh thiện, cao cả dám sống cho tình huynh đệ đại đồng như Thánh Phanxicô Assisi, chân phước Charles de Foucauld, Martin Luther King, Desmond Tutu, Mahatma Gandhi và nhiều vị khác nữa.

Thông điệp này vừa gợi hứng, vừa kêu mời, nhưng đồng thời cũng thách đố đời sống gia đình, xã hội và cộng đồng quốc tế phải biết vượt lên những khác biệt, những rào cản của hiện sinh và địa lý, để xây dựng một ‘đại gia đình nhân loại’ ấm áp tình người, tình huynh đệ, tình bằng hữu và chung sống hòa bình với nhau. Để thực hiện được điều đó, trước tiên phải bắt đầu từ trong gia đình căn bản, nơi mà tình anh chị em được nuôi dưỡng và lớn lên từng ngày hay bị bóp nghẹt và phá vỡ; tiếp đến là nơi các cộng đoàn nhỏ, rồi sau đó mở rộng ra trong một cộng đồng rộng lớn hơn vượt mọi biên cương. Đối với các gia đình và cộng đoàn Kitô hữu, những người tin vào Thiên Chúa là Cha của muôn vật muôn loài (x. 1 Cr 8,6; Ep 3,14-15) và tin vào Chúa Giêsu Kitô là Anh Cả của một đàn em đông đúc (x. Rm 8,29), chắc hẳn lời mời gọi của Đức Thánh Cha chất vấn và thôi thúc mỗi người sống chứng tá cho tình huynh đệ bền chặt.

Đời sống cộng đoàn của người nữ tu ĐBTG bắt nguồn và quy hướng về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, nơi đó các chị em được mời gọi chiêm ngắm Tình Yêu trao-nhận trọn vẹn của Ba Ngôi Vị luôn hướng về nhau, lắng nghe nhau, để cùng nhau thực hiện công trình Sáng tạo, Cứu độ và Thánh hóa nhân loại. Tình Yêu ấy là mẫu gương cho các chị em noi theo và là đích điểm cho các chị em vươn tới. Hiện nay phần lớn các cộng đoàn ĐBTG trên thế giới đang sống kinh nghiệm đa văn hóa và liên thế hệ: tại Ý, Pháp, Anh, Ái Nhĩ Lan, Canada, Mỹ, Úc, Pérou, Kennya, Sénégal, Nam Soudan, Tanzania, Philippines; bên Ấn Độ, Bangladesh và Myanmar có nhiều bộ tộc chung sống với nhau; ngay cả ở Việt Nam cũng đã có các chị em đồng bào sắc tộc. Sống trong cộng đoàn đa văn hóa, chắc chắn các chị em phải vượt qua rất nhiều thách đố và rào cản của những khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, lối suy nghĩ, cách hành xử…, để học biết đón nhận và tôn trọng nhau với tình chị em chân thành, sâu đậm, hầu cùng nhau thi hành sứ mạng Chúa trao phó ngang qua Hội dòng. Ngay từ lúc khởi đầu, các chị em ĐBTG đã sống kinh nghiệm này nên Mẹ Sáng Lập luôn căn dặn: “Chị em cần có lòng quý mến nhau sâu đậm và chân thành, không dựa trên những khả năng hay đức tính tự nhiên, cũng không dựa trên những tình cảm nhân loại, nhưng dựa trên Thiên Chúa (…) Chị em phải cẩn trọng để mọi lời nói, hành động và tương quan giữa chị em với nhau đều làm chứng cho sự quý trọng chân tình, không phân biệt quốc gia hoặc cá tính, nhờ đó mỗi người có thể tin tưởng vào sự đơn sơ, ngay thẳng và tình mến chân thành của chị em mình.”[22] Sống được sự hiệp thông và hiệp nhất trong đa dạng, cộng đoàn đa văn hóa sẽ trở thành chứng tá sống động cho tình yêu phổ quát và là tiếng nói ngôn sứ giữa một thế giới đang bị khủng hoảng về tình huynh đệ nhân loại.

Thực tế cho thấy, trong thân phận yếu đuối mỏng giòn, các chị em ĐBTG, dù sống trong cộng đoàn thuần văn hóa hay đa văn hóa, đều không tránh khỏi những vấp ngã, xung đột, chia rẽ và phản chứng tá. Vì thế, các chị em được mời gọi liên lỉ trở về với các giá trị Tin Mừng, được diễn tả cách cụ thể trong Hiến Pháp dòng: “Tinh thần tha thứ, sự hòa giải và lòng trắc ẩn khi sửa lỗi cho nhau là những điều tối cần trong đời sống cộng đoàn hằng ngày. Chúng ta thường xuyên đến với bí tích Hòa Giải và trung thành với việc hồi tâm cá nhân và cộng đoàn” (HP 51). Đời sống yêu thương, hiệp nhất trong cộng đoàn tự nó đã là một chứng tá mạnh mẽ và sống động của Tình Yêu Thiên Chúa Ba Ngôi đối với những người xung quanh như lời cầu xin của Chúa Giêsu dành cho các môn đệ và những người tin trong Tin Mừng Gioan: “… để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Chính tình yêu này thúc đẩy và hướng dẫn các chị em thi hành sứ vụ tại những nơi chị em được sai đến, để làm chứng cho tình yêu phổ quát của Thiên Chúa Ba Ngôi, được diễn tả ngang qua tình huynh đệ đại đồng, vượt lên mọi ranh giới của hiện sinh và địa lý. Các trường học của Dòng trên thế giới mở ra đón tiếp tất cả các học sinh không phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay màu da, để giúp các em lớn lên trong tình huynh đệ, bằng hữu và chung sống hòa bình với nhau. Trong các sứ vụ khác, các chị em cũng quan tâm đặc biệt đến những người yếu thế, bị loại trừ và dễ bị tổn thương như trẻ em và phụ nữ, những người khuyết tật, các cộng đồng sắc tộc thiểu số, những người di dân, v.v. Tại một số nước mà Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo… chiếm đa số, các chị em ĐBTG mở ra cộng tác với họ trong tình bằng hữu, học hỏi lẫn nhau và cùng nhau thực hiện những công việc bác ái từ thiện, hầu mang lại phúc lợi cho người nghèo. Các chị em cảm nhận rằng khi biết mở ra trao ban thì cũng lãnh nhận được quà tặng từ người khác như lời của Đức thánh cha Phanxicô: “Tha nhân là một quà tặng và là sự phong phú cho mọi người, bởi sự khác biệt thể hiện khả năng lớn lên. Một nền văn hóa lành mạnh là nền văn hoá biết đón nhận và biết mở ra với người khác, đồng thời không phủ nhận chính mình, mà trao tặng cho người khác những gì là chân thật nhất.”[23]

Kết luận

Nhìn lại lịch sử hiện hữu và thi hành sứ vụ của dòng Đức Bà Truyền Giáo giữa lòng Giáo hội và trên thế giới trong 164 năm qua, các chị em không khỏi ngỡ ngàng trước tình yêu quan phòng, dẫn dắt của Thiên Chúa Ba Ngôi và sự che chở, bảo trợ của Mẹ Maria. Xét về mặt con người, dòng ĐBTG rất nhỏ bé, với con số nữ tu khá khiêm tốn và những hoạt động truyền giáo âm thầm, giới hạn tại 22 quốc gia trên 5 châu lục tính trong thời điểm hiện tại. Vì thế, các chị em không dám tự hào về những đóng góp nhỏ bé của mình cho Giáo hội và xã hội trong các lãnh vực giáo dục nhân bản, tri thức và đức tin, mục vụ hôn nhân-gia đình, mục vụ giới trẻ, mục vụ di dân, đối thoại liên tôn, chăm sóc sức khỏe thể lý và tâm lý, bác ái xã hội, bảo vệ nhân quyền cho trẻ em và phụ nữ, bảo vệ môi trường và nhiều hoạt động khác. Nhưng xét về chiều kích thiêng liêng, các chị em luôn ý thức rằng mọi hoạt động truyền giáo của Dòng bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi và quy hướng về Người nên mang một ý nghĩa rất lớn lao và có giá trị cứu độ cho chính mình, tha nhân và vũ trụ. Vì vậy, trong mọi hoạt động tông đồ, dù lớn hay nhỏ, âm thầm hay công khai, trong nước hay ngoài nước, các chị em đều được mời gọi kết hiệp mật thiết với Sứ Vụ của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần để làm vinh danh Chúa Cha, nhờ đó mà cứu rỗi chính mình và tha nhân. Nói cách khác, hoa trái sứ vụ của các chị em không lệ thuộc vào hiệu năng công việc hay những thành quả bên ngoài, nhưng hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ nội tâm bên trong và cung cách sống phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, theo gương Mẹ Maria, người nữ tỳ khiêm hạ, không tìm vinh quang cho mình, nhưng quảng đại đáp tiếng xin vâng trước tác động của Chúa Thánh Thần, để cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi được thực hiện trong dòng lịch sử nhân loại, bằng con đường Nhập Thể, Thập Giá và Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô. Đó cũng là con đường mà các nữ tu ĐBTG được mời gọi bước theo giữa lòng Giáo hội và thế giới, bằng cách hội nhập vào các nền văn hóa mà chị em được sai đến nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, vượt qua những rào cản của hiện sinh và địa lý, để yêu thương, phục vụ anh chị em mình theo gương Chúa Giêsu Kitô.

Chiêm ngắm mầu nhiệm tình yêu trọn hảo của Thiên Chúa Ba Ngôi, các nữ tu ĐBTG được soi sáng, thúc đẩy xây dựng tình hiệp thông và hiệp nhất trong cộng đoàn qua việc đón nhận những khác biệt của nhau, tôn trọng, lắng nghe, đối thoại, yêu thương, khiêm nhường phục vụ, tha thứ hòa giải với nhau…, để trở nên dấu chỉ của Nước Trời giữa trần gian và tiếng nói ngôn sứ cho một thế giới đang bị rạn nứt về tình huynh đệ dẫn đến chia rẽ, hận thù, bạo lực, khủng bố, chiến tranh ngày càng lan rộng khắp nơi.

Chiêm ngắm Mẹ Maria, người phụ nữ diễm phúc được tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’ của Thiên Chúa Ba Ngôi với một tình yêu trung tín, bằng một sự thờ lạy thẳm sâu và đời sống bác ái yêu thương, phục vụ quảng đại, các chị em ĐBTG được mời gọi noi gương các nhân đức của Mẹ trong cuộc sống thường nhật, qua các mối tương quan bên trong cũng như bên ngoài cộng đoàn. Dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria, các nữ tu ĐBTG tiếp tục bước đi trên đường lữ hành hy vọng tiến về quê trời trong tâm tình tri ân, cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng đã yêu thương mời gọi chị em tham dự vào ‘Sứ Vụ Thần Linh’ của Người giữa lòng Giáo hội và thế giới.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)

------------------------

Tài liệu tham khảo:

Kinh Thánh Cựu - Tân Ước của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Ấn Bản 2011. Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh Về Hoạt Động Truyền Giáo Của Giáo Hội - Ad Gentes: https://augustino.net/ad-gentes

Hiến Pháp Dòng Đức Bà Truyền Giáo, được Tòa Thánh phê chuẩn ngày 08.12.2014 (Lưu hành nội bộ).

OLIVIER, M. Bénédicte-RNDM, Missionnaire aux quatre vents du monde - Euphrasie Barbier, Fondatrice de la Congrégation de Notre-Dame des Missions (1829-1893), Roma 2007, 683 trang.

Kỷ Yếu Dòng Đức Bà Truyền Giáo, “100 Năm Sứ Vụ Thần Linh Trên Đất Việt” (1924-2024), NXB. Đồng Nai, Biên Hòa - Đồng Nai, 2024, 233 trang.

Thông Điệp “Laudato Si’” của Đức Giáo hoàng Phanxicô (2015)

Tông Huấn “Amoris Leatitia” của Đức Giáo hoàng Phanxicô (2016): https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-amoris-laetitia-niem-vui-cua-tinh-yeu-41885

Thông Điệp “Fratelli Tutti” của Đức Giáo hoàng Phanxicô (2020): https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thong-diep-fratelli-tutti-ve-tinh-huynh-de-va-tinh-bang- huu-xa-hoi-41849

https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-10/tom-tat-thong-diep-fratelli-tutti.html

https://www.vaticannews.va/vi/church/news/2025-03/thong-ke-2025-the-gioi-1-ty-406- trieu-cong-giao.html



[3] Con số này dựa trên Kỷ Yếu Dòng Đức Bà Truyền Giáo, “100 Năm Sứ Vụ Thần Linh Trên Đất Việt” (1924-2024), NXB. Đồng Nai, Biên Hòa - Đồng Nai, 2024, tr.36 (± Soeurs khấn dòng và qua đời năm 2025 và 2 điểm TG mới mở ở Mỹ và Tanzania).

[4] Thư mẹ Euphrasie Barbier gửi cho cha linh hướng Brunode Vinay, ngày 22.05.1890 (được trích dẫn lại trong Hiến Pháp hiện hành của Dòng Đức Bà Truyền Giáo đã được Tòa Thánh chuẩn y ngày 08.12.2024, tr. 29).

[5] Hiến Pháp viết tay của mẹ Euphrasie Barbier, c.1888 (được trích dẫn lại trong Hiến Pháp - 2014, số 6, tr. 31).

[6] Hiến Pháp Dòng Đức Bà Truyền Giáo - 2014, số 7, tr. 31.

[7] Hiến Pháp viết tay của mẹ Euphrasie Barbier, số 150, năm 1871 (được trích dẫn lại trong HP - 2014, số 8, tr. 32).

[8] Hiến Pháp Dòng Đức Bà Truyền Giáo - 2014, số 9, tr. 32.

[9] Xem OLIVIER, Marie Bénédicte - RNDM, Missionnaire aux quatre vents du monde- Euphrasie Barbier, Fondatrice dela Congrégationde Notre - Dame des Missions (1829-1893), Roma 2007, tr. 157-190.

[10] Ibid, tr.185: trích trong thư của cha Forest gởi cho mẹ Euphrasie Barbier từ Napier ngày 06.4.1866.

[11] Xem OLIVIER, MarieBénédicte-RNDM,Missionnaireauxquatreventsdumonde…, tr.190-194.

[12] Xem OLIVIER, MarieBénédicte-RNDM,Missionnaireauxquatreventsdumonde…, tr.194-440.

[13] Xem OLIVIER, Marie Bénédicte-RNDM, Missionnaire aux quatre vents du monde…, tr. 442-592 (1881: mở CĐ Sturry-Anh quốc; 1883 mở rộng sứ mạng sang châu Á: Chittagong - Đông Bắc Ấn, hiện nay thuộc Bangladesh; từ năm 1883 đến năm1886: lập thêm 2 CĐ mới ở Wellington và Auckland, thuộc Tân Tây Lan.

[14] Trích thư mẹ Euphrasie Barbier gửi cho mẹ Bề Trên tại Chittagong ngày 21.11.1890 (được trích dẫn lại trong Hiến Pháp - 2014, tr. 43).

[15] Xem Hiến Pháp Dòng Đức Bà Truyền Giáo - 2014, các số 36 và 38, tr. 44-45.

[16] Xem Kỷ Yếu Dòng Đức Bà Truyền Giáo,100 Năm Sứ Vụ Thần Linh Trên Đất Việt” (1924 - 2024), NXB. ĐồngNai, Biên Hòa - Đồng Nai, 2024, tr. 233.

[18] Kỷ Yếu Dòng Đức Bà Truyền Giáo,“100 Năm Sứ Vụ Thần Linh Trên Đất Việt” (1924-2024), tr. 35.

[21] Ở đây có ý nói đến ‘Tình Yêu nguyên thủy’ mà Đấng Tạo Hóa đặt để trong tâm hồn mỗi người, để họ có khả năng yêu thương, trao tặng chính mình cho tha nhân, để nhờ đó mà hoàn thiện ơn gọi làm người.

[22] Mẹ Euphrasie BARBIER, Sách Bản Chỉ Nam, tháng 12 năm 1871 (được trích lại trong Hiến Pháp - 2014, tr. 46)