CHÚA NHẬT 3
THƯỜNG NIÊN NĂM B
LM Antôn
Nguyễn Cao Siêu SJ
Phúc Âm: Mc 1,14-20
Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng
Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: “Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần
đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm”. Ðang lúc đi dọc theo bờ biển
Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là
những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: “Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các
ngươi trở thành những kẻ chài lưới người”. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người.
Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang
xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại
trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người.
CÂU HỎI TÌM HIỂU
1. Đức Giêsu bắt đầu đi rao giảng khi nào, ở đâu? Đọc Mc 1,14.
2. Đọc Mc 1,15. “Thời kỳ đã mãn. Nước của Thiên Chúa đã đến
gần”: lời tuyên bố này của Đức Giêsu nghĩa là gì?
3. Đọc Mc 1,15. Đức Giêsu mời ta làm gì để đón nhận Nước
Thiên Chúa?
4. Biển Galilê được nhắc đến ở Mc 1,16. Hồ này còn có những
tên nào khác? Đọc Luca 5,1; Gioan 6,1; và Dân số 34,11.
5. So sánh hai đoạn Mc 1,16-18 và 1,19-20. Cho biết những
điểm giống nhau trong thái độ của Đức Giêsu và của bốn môn đệ trong hai đoạn
văn trên.
6. Đọc Mc 1,16-20. Cho biết bốn động từ quan trọng để làm
nên một ơn gọi vững vàng.
7. Đọc Mc 1,16-20. Theo ý bạn, trong đoạn văn trên, điều gì
nơi Đức Giêsu có sức thu hút mạnh mẽ khiến các anh đánh cá mau mắn đáp lại và
đi theo?
8. Bốn môn đệ đầu tiên là những người đánh cá quê mùa, ít học. Theo ý bạn, tại sao Thầy Giêsu lại muốn chọn họ làm môn đệ của Ngài?
GỢI Ý SUY NIỆM
"Các anh hãy đi sau tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành
những kẻ chài lưới người ta" (Mc
1,17). Từ nào trong câu này đánh động bạn? Ngày nay, để làm môn đệ bước theo
Chúa Kitô, chúng ta thường phải trả những giá nào? Hãy nhớ lại một kinh nghiệm
của bản thân.
PHẦN TRẢ LỜI
1. Theo Tin Mừng Máccô (1,14), Đức Giêsu bắt đầu đi rao giảng
ở miền Galilê sau khi ông Gioan Tẩy
giả bị nộp, nghĩa là sau khi Gioan bị vua Hêrôđê Antipas bắt vào tù. Tuy nhiên,
theo Gioan 3,22-30, ông Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu đã có lúc cùng ban phép rửa
cho dân chúng. Có thể ở đây thánh sử Máccô muốn nhấn mạnh rằng sứ vụ làm người
tiền hô dọn đường của Gioan nay chấm dứt, và bây giờ bắt đầu giai đoạn mới của
Đức Giêsu, người đã được Gioan giới thiệu. Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ ở vùng
Galilê. Đây là vùng có những người dân ngoại sinh sống. Đức Giêsu đã không rút
vào vào hoang địa để rao giảng như Gioan Tẩy giả, Ngài cũng không rao giảng ở
ngay thánh đô Giêrusalem hay ở vùng Giuđê.
2. Khi đến vùng Galilê, Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng của
Thiên Chúa (Mc 1,14; xem 1,1). Tin Mừng này được Ngài trình bày như sau: “Thời
kỳ đã mãn và Nước của Thiên Chúa đã đến gần.” Thời kỳ (kairos) ở đây là thời điểm
đặc biệt và quan trọng, thời điểm Thiên Chúa ban ơn cứu độ. Trong cả Cựu Ước và
sau này, người Do-thái vẫn kiên trì chờ thời điểm này. Giờ đây, Đức Giêsu loan
báo, thời cứu độ ấy đã mãn, nghĩa là đã đến rồi. Và Nước Thiên Chúa cũng đã đến
kề bên rồi. Thiên Chúa như một vị Vua sẽ xây dựng Nước của Ngài. Ngài đến để
xét xử và ban ơn cứu độ. Như vậy, với sự xuất hiện của Đức Giêsu, một thời đại
mới đã bắt đầu. Những gì Ngài sắp làm sẽ cho thấy Nước của Thiên Chúa đang hoạt
động trên trần gian.
3. Để đón nhận Nước Thiên Chúa như một quà tặng, Đức Giêsu
mời những người ở vùng Galilê hãy hối cải và tin vào Tin Mừng. Hối cải là thay
đổi tận căn cuộc sống để sống một đời sống mới. Khác với Gioan Tẩy giả, Đức
Giêsu không mời người ta chịu phép rửa để bày tỏ lòng hối cải (Mc 1,4), nhưng
Ngài mời người ta tin vào Tin Mừng do Ngài rao giảng, nghĩa là tin rằng Nước
Thiên Chúa đã đến gần rồi. Khi tin như thế, người ta sẽ hối cải và sống một đời sống mới.
4. Biển Galilê (Mc 1,16) có nhiều tên khác nhau. Trong Cựu
Ước nó được gọi là biển Kin-ne-rét (Dân số 34,11). Trong Tân Ước nó được gọi là
hồ Ghen-nê-xa-rét (Lc 5,1), hay biển Ti-bê-ri-a (Ga 6,1). Thật sự đây không phải
là biển, mà là một hồ nước ngọt lớn, có chiều dài hơn 20 km, chiều rộng 13 km. Nước từ núi Khéc-mon ở phía bắc thuộc Syria chảy
xuống thành sông Giođan và đổ vào hồ. Vì hồ khá lớn nên thường được gọi là biển.
5. Trong cả hai đoạn trên, ta đều thấy Đức Giêsu đang đi dọc theo biển Galilê (Mc
1,16.19); Ngài thấy hai anh em ruột
Simôn và Anrê, rồi lại thấy hai anh
em Giacôbê và Gioan (Mc 1,16.19); và Ngài gọi
các ông (Mc 1,17.20). Trong cả hai đoạn trên, bốn anh ngư phủ Simôn, Anrê,
Giacôbê, Gioan đều đang làm việc, họ
đang quăng lưới bắt cá (Mc 1,16) hay đang vá lưới (Mc 1,19). Khi nghe Đức Giêsu
gọi, họ đã bỏ lưới (Mc 1,18), hay bỏ cha mình và những người làm công (Mc
1,20). Họ đã bỏ ngay lập tức, và đi theo
Đức Giêsu (Mc 1,18.20).
6. Ta thấy bốn động từ quan trọng trong ơn gọi của các môn
đệ đầu tiên là: Thấy, Gọi, Bỏ, Theo. Thấy
và Gọi là hành động của Đức Giêsu. Chính Ngài là người mở lời, là người có
sáng kiến. Ơn gọi bao giờ cũng khởi đi từ Thiên Chúa. Còn Bỏ và Theo là hành động
đáp lại của con người. Đáp lại là điều không dễ dàng, vì để đáp lại, cần phải bỏ.
Không phải là bỏ những điều xấu xa tội lỗi, nhưng là bỏ những giá trị cao quý
như gia đình, nghề nghiệp. Bỏ một giá trị mình trân quý chỉ vì một giá trị đáng
trân quý hơn. Bỏ những giá trị viết thường để có được Giá Trị viết hoa. Bỏ
không phải là để bỏ suông, mà là để
theo. Các tôn giáo đều nói đến buông bỏ, có khi buông bỏ để con người
được nhẹ nhàng, thoát khỏi đau khổ. Trong
Kitô giáo, buông bỏ không phải là mục đích, không phải để tìm hạnh phúc cho
mình, mà là phương
tiện cần để được tự do theo Đức Giêsu. Trước
tiên Ngài mời Simôn và Anrê: “Các anh hãy đi sau tôi”, sau đó Ngài mới cho họ
biết sứ mạng của họ: “Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ chài lưới con
người” (Mc 1,17). Theo Đức Giêsu là cốt
lõi của ơn gọi môn đệ. Người môn đệ thế nào cũng phải đi vào con đường hẹp với
Ngài.
7. Rất có thể uy quyền toát ra từ con người Thầy Giêsu và từ
lời mời của Thầy đã khiến các anh ngư phủ dám bỏ lập tức (Mc 1,18.20) những điều
rất quý, để theo Thầy. Tuy nhiên, theo Tin Mừng Mác-cô và Mátthêu, Thầy Giêsu
đã có thời gian đi rao giảng nhiều nơi trước khi gọi các môn đệ (Mc 1,14-15; Mt
4,17). Tin Mừng Luca cũng cho thấy, trước khi gọi các môn đệ đầu tiên, Thầy
Giêsu đã rao giảng, chữa bệnh và trừ quỷ ở nhiều nơi thuộc vùng Galilê, như
Nadarét hay Capharnaum (Lc 4,14-42). Như vậy các ngư phủ không phải là không biết
đến uy tín và tiếng tăm của Thầy Giêsu. Họ dám bỏ gia đình, nghề nghiệp để theo
một người mà họ đã quen biết và tin. Trong 8 chương đầu của Tin Mừng Mác-cô, ta thấy Đức Giêsu vẫn trong vùng gần nhà các ông, và
có một chiếc thuyền (có thể là của họ) lúc nào cũng sẵn sàng để Thầy
trò sử dụng (Mc 3,9; 4,1.35; 5,21; 6,32.45;
8,13).
8. Thầy Giêsu chọn các môn đệ đầu tiên là những ngư phủ quê
mùa ít học có thể vì những lý do sau. + Nghề đánh cá đòi họ có khả năng làm việc chung với nhau. Không ai đi đánh cá một mình, nhưng
thành từng đoàn, đồng hội đồng thuyền. Khả năng này rất quan trọng, vì công việc
của Hội Thánh sau này đòi sự cộng tác của nhiều người, đòi có thái độ hiệp
hành. Hơn nữa, bốn môn đệ đầu tiên là hai cặp anh em ruột, quen làm việc với
nhau. + Ngư phủ là người có sức khỏe
và có khả năng đương đầu với sóng gió: điều này sẽ giúp họ chịu đựng được những vất vả thể lý
và những khó khăn hiểm nguy sau này khi điều khiển con thuyền Hội Thánh. + Các môn đệ đầu
tiên là những ngư phủ chất phác thật
thà, không phải là những người có học thức hay có địa vị cao trong xã hội. Họ có thể chậm hiểu hơn những
người khác, nhưng họ lại có thái độ đơn sơ hơn, dễ đón nhận lời giáo huấn của
Thầy. Có thể Thầy Giêsu đã muốn làm theo
ý Cha, không muốn xây dựng một
Giáo Hội đặt nền trên những người khôn ngoan thông thái (Mt 11,25-26).