Dẫn nhập

I. Nền tảng Thánh Kinh

1.1. “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31)

1.2. “Tôi tin Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa” (Cv 8,37)

1.3. “Thánh Thần và chúng tôi quyết định” (Cv 15,28)

II. Nền tảng Thánh Truyền

2.1. Thời kỳ dự tòng: được nhấn mạnh vào thời các giáo phụ

2.2. Thời kỳ dự tòng: bị lãng quên vào thời Trung Cổ

2.3. Thời kỳ dự tòng: được canh tân bởi Công đồng Vaticanô II

III. Suy tư từ giáo huấn ngày nay

 3.1. Tiến trình hiệp hành: vấn đề hay huyền nhiệm?

3.2. Tiến trình hiệp hành: hiện hữu hay hiện diện?

3.3. Tiến trình hiệp hành: trao đổi hay trao tặng?

Kết luận


Dẫn nhập

“Hiệp hành là con đường mà Thiên Chúa mong đợi nơi Hội Thánh của thiên niên kỷ thứ ba.”[1] Có lẽ không phải đợi đến thiên niên kỷ thứ ba Hội Thánh mới đề cập đến hiệp hành. Thực vậy, Công đồng Vaticanô II đã giáo huấn: “Toàn thể các tín hữu không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ phẩm tính đặc biệt ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi từ các Giám mục cho đến những giáo dân rốt hết đều đồng ý cách phổ quát về những điều liên quan đến đức tin và phong hóa” (LG 12).[2]

Giáo huấn trên đây cho chúng ta thấy một trong những nền tảng để thực hiện công cuộc hiệp hành là cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa. Có hai yếu tố cần ghi nhận nơi đây: cảm thức siêu nhiên về đức tindân Chúa. Thứ nhất, về thuật ngữ cảm thức siêu nhiên về đức tin: cảm thức này xuất phát từ đâu? Có liên hệ với đức tin? Có tăng trưởng giống đức tin? Và nếu có, thì làm thế nào để tăng trưởng? Cảm thức ấy giúp thế nào cho tiến trình hiệp hành? Thứ hai, về thuật ngữ dân Chúa: chúng ta dễ dàng hiểu Dân Chúa chính là “Hội Thánh, mà người ta bước vào đó nhờ Phép Rửa như qua một cái cửa” (LG 14). Phép rửa là cửa ngõ để thuộc về Dân Chúa. Tuy nhiên, cũng chính Công đồng Vaticanô II xác định: “Những người dự tòng, nhờ Thánh Thần thúc đẩy, có ý định rõ ràng xin gia nhập Hội Thánh, thì do chính ước muốn ấy, họ đã được kết hiệp cùng Hội Thánh; và Hội Thánh là Mẹ hiền yêu thương sẽ săn sóc họ như những người con của mình” (LG 14). Nói cách khác, Dân Chúacũng bao hàm những người dự tòng. Vậy, phải chăng tiến trình hiệp hành có thể và phải được bắt đầu ngay từ giai đoạn dự tòng?

Từ nhận định trên, chúng ta đi đến bài viết hiệp hành từ cảm thức đức tin nơi thời kỳ dự tòng. Bài viết không có ý định trình bày nền tảng thần học của tiến trình hiệp hành và cũng không trình bày thuần túy về cảm thức đức tin;[3] mà chỉ muốn chia sẻ một góc nhìn về tiến trình này bằng cách khởi đi từ giai đoạn dự tòng. Chúng ta sẽ bắt đầu với nền tảng Thánh Kinh để tìm hiểu các thánh Tông đồ đã chuẩn bị cho các ứng viên Phép Rửa thế nào; sự chuẩn bị ấy có liên hệ gì đến cảm thức đức tin; và nhất là đã góp phần thế nào cho tiến trình hiệp hành (phần I). Từ những gì Thánh Kinh mặc khải, chúng ta sẽ tiếp tục với nền tảng Thánh Truyền để tìm hiểu Hội Thánh đã làm gì để trung thành với giáo huấn các Tông đồ dành cho các dự tòng (phần II). Sau khi có được nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền, chúng ta đào sâu giáo huấn hôm nay về thời kỳ dự tòng nhằm góp phần cho tiến trình hiệp hành ngày nay (phần III).

I. Nền tảng Thánh Kinh

1.1. “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31).[4]

“Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: ‘Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?’ Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: ‘Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.’ Đức Giê-su hỏi: ‘Chuyện gì vậy?’ Họ thưa: ‘Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói; còn chính Người thì họ không thấy.’ Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: ‘Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: ‘Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.’ Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. Họ mới bảo nhau: ‘Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?’ Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: ‘Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.’ Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24,13-35).

Chúng ta bắt đầu với trình thuật Tin Mừng về hai môn đệ Emmaus. Đây là trình thuật khá quen thuộc vì đã được nhiều văn kiện của Hội Thánh triển khai trong tiến trình Thượng Hội Đồng Giám Mục về hiệp hành.[5] Do vậy, ở đây chúng ta không chú giải chi tiết mà chỉ ghi nhận các yếu tố liên hệ đề tài.

Bối cảnh của trình thuật xảy ra sau khi Chúa Giêsu được phục sinh, nghĩa là trong thời kỳ của Hội Thánh. Hai môn đệ gặp hai vấn nạn. Thứ nhất, Chúa Giêsu phải là Đấng cứu chuộc Israel thế mà Ngài lại bị giết (câu 20). Thứ hai, nghe nói Ngài đã sống lại, nhưng chính Ngài thì họ không thấy (câu 24). Và rồi Đấng Phục Sinh đã hiện ra và cắt nghĩa Thánh Kinh cho họ (câu 26). Được cắt nghĩa Thánh Kinh, hai môn đệ vẫn chưa tìm được lời giải đáp cho đến khi vào bàn ăn. Khi ấy “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ và họ nhận ra Ngài, nhưng Ngài lại biến mất” (câu 30). Bốn động từ: “cầm lấy, chúc tụng, bẻ ra, trao” được dùng ở đây đã xảy ra nơi Bữa Tiệc Ly (x. 1Cr 11,23-26).[6]Và kết quả “mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người” (câu 31). Nếu chúng ta coi việc được đồng bàn với Đấng Phục Sinh là việc lãnh nhận Bí tích, thì hành trình hai môn đệ đi chung đường với Chúa chính là hành trình họ được chuẩn bị cho việc lãnh nhận này. Trong quá trình chuẩn bị ấy, Chúa Giêsu Phục Sinh đã đóng vai trò chủ động: chủ động đến với họ và chủ động giải thích Lời Chúa cho họ. Về phía các môn đệ, từ tâm thế bị động do hoài nghi và khép kín, thì giờ đây mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người (câu 31).

Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người: việc nhận ra ở đây không đơn thuần là một khám phá (kiến thức), cũng không đơn giản là một cảm xúc (tình cảm); mà là bắt đầu đi vào một tương quan (hữu thể) với Chúa. Việc nhận ra Người nơi đây có thể được gọi bằng một tên khác là cảm thức đức tin. Thực vậy, “cảm thức đức tin là một loại bản năng thiêng liêng giúp tín hữu phán đoán một cách tự phát liệu một giáo huấn hay một thực hành đặc thù nào đó có phù hợp với Tin Mừng và với đức tin tông truyền hay không. Nó được nối kết một cách nội tại với chính đức tin; nó phát xuất từ và là một đặc tính của đức tin.” (CTI 2014, 49). Như thế, trong quá trình chuẩn bị lãnh nhận Bí tích, hai môn đệ đã được chính Chúa Giêsu Phục Sinh đến giải thích Thánh Kinh cho họ và nhờ đó họ có được cảm thức đức tin.

1.2. “Tôi tin Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa” (Cv 8,37)

“Thiên sứ của Chúa nói với ông Phi-líp-phê: ‘Đứng lên, đi về hướng nam, theo con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-da; con đường này vắng.’ Ông đứng lên đi. Khi ấy có một viên thái giám người Ê-thi-óp, làm quan lớn trong triều của bà Can-đa-kê, nữ hoàng nước Ê-thi-óp. Ông này làm tổng quản kho bạc của bà. Ông đã lên Giê-ru-sa-lem hành hương và bấy giờ đang trên đường về. Ngồi trên xe nhà, ông đọc sách ngôn sứ I-sai-a. Thần Khí nói với ông Phi-líp-phê: ‘Tiến lên, đuổi kịp xe đó.’ Ông Phi-líp-phê chạy lại, nghe thấy ông kia đọc sách ngôn sứ I-sai-a, thì hỏi: ‘Ngài có hiểu điều ngài đọc không?’ Ông quan đáp: ‘Mà làm sao tôi hiểu được, nếu không có người dẫn giải?’ Rồi ông mời ông Phi-líp-phê lên ngồi với mình. Đoạn Kinh Thánh ông đang đọc là đoạn này: Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng mở miệng kêu ca. Bởi Người bị hạ xuống, nên bản án của Người đã được huỷ bỏ. Dòng dõi Người, ai sẽ kể lại, vì cuộc sống của Người trên trần gian đã bị chấm dứt. Viên thái giám ngỏ lời với ông Phi-líp-phê: ‘Xin ông cho biết: vị ngôn sứ nói thế về ai? Về chính mình hay về một ai khác?’ Ông Phi-líp-phê lên tiếng, và khởi từ đoạn Kinh Thánh ấy mà loan báo Tin Mừng Đức Giê-su cho ông. Dọc đường, các ông tới một chỗ có nước, viên thái giám mới nói: ‘Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không?’ Ông Phi-líp-phê đáp: ‘Nếu ngài tin hết lòng, thì được.’ Viên thái giám thưa: ‘Tôi tin Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa.’ Ông truyền dừng xe lại. Ông Phi-líp-phê và viên thái giám, cả hai cùng xuống chỗ có nước, và ông Phi-líp-phê làm phép rửa cho ông quan. Khi hai ông lên khỏi nước, Thần Khí Chúa đem ông Phi-líp-phê đi mất, và viên thái giám không còn thấy ông nữa. Nhưng ông tiếp tục cuộc hành trình, lòng đầy hoan hỷ. Còn ông Phi-líp-phê thì người ta thấy ở Át-đốt. Ông loan báo Tin Mừng cho mọi thành thị ông đi qua, cho tới khi đến Xê-da-rê” (Cv 8,26-40).

Chúng ta tiếp tục với một tác phẩm khác của thánh sử Luca: sách Công vụ Tông đồ. Trình thuật trên đây kể về một hành trình mà chúng ta có thể chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn 1 (câu 26-31): viên thái giám đang trong một cuộc lữ hành với tâm thế khó khăn vì ông đọc mà không hiểu Thánh Kinh, bỗng nhiên ông Philipphê xuất hiện và cùng đi với viên thái giám. Giai đoạn 2 (câu 32-35): cuộc trò chuyện trên đường của ông Philipphê với viên thái giám xoay quanh cách thức Thánh Kinh mặc khải về Đức Giêsu Kitô. Giai đoạn 3 (câu 36-40): sau khi được giải thích Thánh Kinh, viên thái giám đã tự nguyện xin lãnh nhận Bí tích Rửa Tội sau khi long trọng tuyên xưng: Tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.

Cấu trúc của trình thuật Emmaus (Lc 24,13-35) cũng là một hành trình với ba giai đoạn. Giai đoạn 1 (câu 13-16): hai môn đệ đang trong cuộc lữ hành về quê với tâm thế rất khó khăn và thậm chí thất vọng vì mất phương hướng của cuộc đời, bỗng nhiên một vị khách bộ hành lạ xuất hiện và cùng đi với họ. Giai đoạn 2 (câu 17-28): cuộc trò chuyện trên đường của vị khách lạ với hai môn đệ xoay quanh cách thức Thánh Kinh mặc khải về Đức Giêsu thành Nazareth. Giai đoạn 3 (câu 29-35): người khách lạ đã đồng bàn với hai môn đệ; với 4 cử chỉ quen thuộc của người khách lạ, mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người.

Thánh sử Luca đã viết hai trình thuật này với cấu trúc giống nhau, gồm ba giai đoạn. Tuy nhiên, trong trình thuật Cv 8,26-40 có 2 điểm khác biệt so với trình thuật Lc 24,13-35. Thứ nhất, “người khách bộ hành xin nhập đoàn không phải là Chúa Giêsu Phục Sinh nhưng là thầy Phó tế Philipphê. Như thế, Chúa Giêsu Phục Sinh đã nhường vai trò hữu hình của mình cho một thừa tác viên, nghĩa là chính Ngài đã nhường chỗ cho Hội Thánh.”[7] Nói cách khác, Chúa vẫn hiện diện khi Hội Thánh thực thi chính lệnh Chúa truyền: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20). Thứ hai, nếu chủ từ trong Cv 8,26-40 ở số ít (tôi tinchiều kích cá nhân), thì chủ từ trong Lc 24,13-35 ở số nhiều (họ nhận ra Ngườichiều kích cộng đoàn). Cả hai chiều kích đều cần thiết để làm nên tính toàn vẹn của cảm thức đức tin.

Như vậy, việc chuẩn bị cho các ứng viên lãnh nhận Bí tích giờ đây đã được ủy thác cho Hội Thánh. Hội Thánh vẫn thực hiện điều mà chính Chúa đã thực hiện: giải thích Lời Chúa để ứng viên có được cảm thức đức tin. Sau này, Giáo lý Công giáo dạy: “Các Bí tích là ‘của Hội Thánh’ theo hai nghĩa: chúng là ‘do Hội Thánh’ và ‘cho Hội Thánh’. Các Bí tích là ‘do Hội Thánh’ bởi vì Hội Thánh là bí tích của hành động của Đức Kitô, Đấng đang hoạt động trong Hội Thánh nhờ sứ vụ của Chúa Thánh Thần. Và các Bí tích là ‘cho Hội Thánh’, ‘nhờ chúng mà Hội Thánh được xây dựng’” (GLCG 1118).

1.3. “Thánh Thần và chúng tôi quyết định” (Cv 15,28)

Chiều kích cộng đoàn (chúng tôi tin) và chiều kích cá nhân (tôi tin) qua hai trình thuật như Thánh Kinh mặc khải có đủ để làm nên cảm thức đức tin đúng nghĩa? Thánh Luca tiếp tục giúp chúng ta tìm hiểu điều này qua cuộc tranh luận có phải chịu Phép Cắt Bì trước khi nhận Phép Rửa hay không (Cv 15).[8]

Cuộc tranh luận đã xảy ra tại Antiôkia khi những người ngoại trở lại Kitô giáo khá đông. Vấn đề được trình lên cho Hội Thánh tại Giêrusalem phân định. Thánh Luca mô tả chi tiết về tiến trình phân định này. Trước hết, “Các Tông đồ và các kỳ mục bèn họp nhau để xem xét vụ này” (Cv 15,6). Tiếp đến, thánh Phêrô đã kể lại việc ngài được Chúa Thánh Thần linh hứng đi rửa tội cho ông Cornêliô và gia đình của ông cho dù họ chưa được cắt bì (Cv 15,7-11). Sau đó, thánh Phaolô và Barnaba cũng thuật lại kinh nghiệm truyền giáo của họ tại Antiôkia (Cv 15,12; x. 15,1-5). Về phần mình, thánh Giacôbê cũng suy tư về các kinh nghiệm này dưới ánh sáng của Thánh Kinh (Cv 15,13-18); và sau đó ngài đề xuất một giải pháp mang tính xây dựng sự hợp nhất của Hội Thánh (Cv 15,19-21). Tiếp đến, “các Tông đồ và các kỳ mục, cùng với toàn thể Hội Thánh, quyết định chọn mấy người trong các ông, để phái đi Antiôkia với ông Phaolô và Banaba” (Cv 15,22). Cuối cùng, tại Antiôkia, toàn thể cộng đoàn đã được nghe công bố: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác, ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đã cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loại vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt. Chúc anh em an mạnh” (Cv 15,28-29).

Thánh Thần và chúng tôi quyết định: một mặt, chỉ trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần mà Hội Thánh (cộng đoàn cá nhân) mới có được cảm thức đức tin đúng nghĩa; mặt khác, người ta chỉ có thể nhận ra được sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần khi biết lắng nghe nhau và cùng nhau phân định.

Tóm lại, nền tảng Thánh Kinh cho chúng ta thấy hiệp hành từ góc nhìn của cảm thức đức tin nơi thời kỳ dự tòng với 3 yếu tố căn bản. Thứ nhất, cảm thức đức tin, một đặc tính của đức tin, là ơn Chúa ban qua Lời Chúa ngay từ lúc chuẩn bị lãnh nhận Bí tích. Thứ hai, cảm thức này không chỉ mang chiều kích cá nhân (tôi tin) mà trước hết mang chiều kích cộng đoàn (chúng tôi tin) vì sứ vụ rao giảng Lời Chúa được ủy thác cho Hội Thánh. Thứ ba, sự tăng trưởng và tương quan giữa hai chiều kích (tính hiệp hành) được thực hiện khi cả hai lắng nghe nhau và cùng nhau lắng nghe sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

II. Nền tảng Thánh Truyền

Tiến trình hiệp hành khởi đi từ cảm thức đức tin nơi thời kỳ dự tòng như Thánh Kinh vừa mặc khải có được tiếp tục thực hiện trong Thánh Truyền sống động của Hội Thánh? Chúng ta cùng tìm hiểu điều này qua ba giai đoạn tiêu biểu: thời các Giáo phụ, thời Trung Cổ, thời Công Đồng Vaticanô II.

2.1. Thời kỳ dự tòng: được nhấn mạnh vào thời các giáo phụ

Thời các giáo phụ, đặc biệt thế kỷ I-IV, Hội Thánh vừa đối diện với các cuộc bách hại vừa đối diện với các lạc giáo. Bối cảnh ấy thúc đẩy các giáo phụ ra sức bảo vệ Hội Thánh; và một trong những ưu tiên là chuẩn bị cho các ứng viên Phép Rửa.[9]Tác phẩm “Giáo huấn các Tông đồ”[Didachè] cho biết các ứng viên nào muốn lãnh nhận Phép Rửa thì phải ăn chay, cầu nguyện một hoặc hai ngày; không chỉ các ứng viên mà còn bao gồm cả thừa tác viên và toàn thể cộng đoàn cùng ăn chay, cầu nguyện với họ.[10] Thánh Justinô (100-150) trong tác phẩm “Hộ giáo” cũng đã nhấn mạnh sự chuẩn bị mang tính cá nhân và tính cộng đoàn này.[11]Từ thế kỷ thứ III, việc chuẩn bị lãnh Phép Rửa được đề cập cách hệ thống hơn nơibốn tác phẩm tiêu biểu:“Khảo luận về Bí tích Rửa Tội” của Tertullianô (155-220),[12]“Truyền thống Tông đồ” của thánh Hippôlytô (170-235),[13]“Giáo lý khai tâm” của thánh Cyrillô Giêrusalem (315-387),[14]“Tám bài Giáo lý Rửa Tội” của thánh Gioan Kim Khẩu (344-407).[15]Bốn tác phẩmcho thấy thời kỳ dự tòng được tổ chức hai giai đoạn: chuẩn bị xa (khoảng 3 năm) và chuẩn bị gần (40 ngày trước lễ Phục Sinh).

Ở giai đoạn“chuẩn bị xa”, các ứng viên phải “được người khác giới thiệu, làm chứng về khả năng nghe Lời Chúa.”[16] Người này được gọi là “người đỡ đầu”, “người bảo lãnh”.[17] Các Thầy Dạy Giáo Lý sau khi xem xét sẽ “tiếp nhận” các ứng viên. Thời gian này họ được khai tâm về ba khía cạnh: Giáo lý (Thánh Kinh, luân lý), cầu nguyện và tham dự Phụng vụ Lời Chúa, tập sống Lời Chúa. Sau khi hoàn thành giai đoạn “chuẩn bị xa”, người đỡ đầu sẽ dẫn ứng viên đến với Đức Giám mục để họ được“khảo hạch”về đời sống đức tin. Nếu được “tuyển chọn”, họ bước vào giai đoạn “chuẩn bị gần”. Họ được mời gọi tiếp tục ăn chay, cầu nguyện và được Đức Giám mục dạy giáo lý mỗi ngày. Chúa nhật Lễ Lá, người dự tòng sẽ trả bàiKinh Tin Kính, nghĩa là đọc Kinh Tin Kính trước mặt Đức Giám mục và cộng đoàn. Vào đêm vọng Phục Sinh, các nghi thức khai tâm sẽ được Đức Giám mục cử hành cho các dự tòng trong cộng đoàn.

Tóm lại, hiệp hành từ góc nhìn của cảm thức đức tin nơi thời kỳ dự tòng ở giai đoạn này đã được tiến triển. Thứ nhất, nếu cảm thức đức tin là ơn Chúa ban qua Lời Chúa, thì ở đây các dự tòng không chỉ học Lời Chúa (lý trí) mà còn cầu nguyện với Lời Chúa (tâm tình) và nhất là sống Lời Chúa (dấn thân). Thứ hai, nếu cảm thức đức tin gồm hai chiều kích (cộng đoàn và cá nhân), thì ở đây các dự tòng đang được lớn lên trong lòng của cộng đoàn (qua Đức Giám mục, Thầy Dạy, người đỡ đầu và cộng đoàn). Thứ ba, nhờ thời kỳ dự tòng được tổ chức chu đáo mà hoa trái là tính hiệp hành bắt đầu được trổ sinh.[18]

2.2. Thời kỳ dự tòng: bị lãng quên vào thời Trung Cổ

Từ thế kỷ V, khi Kitô giáo trở nên quốc giáo, việc lãnh Phép Rửa của người lớn không còn nhiều như trước; do vậy việc rửa tội cho nhi đồng được chú ý hơn. Theo thánh Augustinô (+430),các em được rửa tội không do đức tin cá nhân, nhưng do đức tin Hội Thánh: “Các em khi được đưa đến lãnh Phép Rửa thì không chỉ được bồng ẵm bởi người thân mà còn được bồng ẵm bởi toàn thể cộng đoàn các thánh.”[19]Ngài trình bày tiếp: “Chúng ta hỏi những người đem các em đến: ‘Em này có tin vào Thiên Chúa không?’ Họ trả lời: Em này tin.”[20]Việc tuyên xưng đức tin của cha mẹ và người đỡ đầu mang tính “tuyên xưng trước”. Từ đây, việc rửa tội cho nhi đồng trở nên phổ biến và đến thế kỷ XI đạt đỉnh cao với tên gọi “ngay khi có thể” [quam primum - phải rửa tội ngay khi có thể]. Khi việc rửa tội cho nhi đồng phổ biến thì thời kỳ dự tòng không còn lý do tồn tại đối với các em và bị giản lược đáng kể đối với người lớn. Thánh Cêsariô ghi nhận: “Mỗi khi gần ngày lễ lớn, những ai muốn cử hành Bí tích Rửa Tội cho người của mình, phải đến nhà thờ cùng với người sẽ chịu Bí tích vào khoảng mười ngày hay ít ra một tuần trước.”[21]

Đỉnh cao giai đoạn này là tư tưởng của thánh Tôma Aquinô(1225-1274) trong “Tổng Luận Thần Học”.[22]Ngài đã trình bày việc học giáo lý trong đề mục cuối cùng nhưng chỉ đơn giản như điều kiện cần để lãnh nhận Phép Rửa: “Bí tích Rửa Tội là Bí tích của đức tin bởi vì đó là việc tuyên xưng đức tin Kitô giáo. Nhưng để có đức tin thì cần phải được giáo dục như thư gởi tín hữu Rôma dạy: ‘Làm sao có thể tin Đấng mà họ không nghe và làm sao nghe nếu không có ai rao giảng’. Do vậy, việc học giáo lý phải đi trước Phép Rửa.”[23] Về việc tuyên xưng đức tin của cha mẹ và người đỡ đầu khi rửa tội cho các nhi đồng: lời tuyên xưng không còn là “em này tin” nhưng là “tôi tin”. Thánh Tôma giải thích: “Khi nói ‘tôi tin’, những người ấy [cha mẹ và người đỡ đầu] không có ý muốn nói em này sẽ tin khi lớn lên. Vì nếu như thế thì người ta sẽ trả lời ‘em này sẽ tin.’ Câu trả lời của họ cho thấy, họ đang tuyên xưng đức tin của Hội Thánh nhân danh các em.”[24] Nói cách khác, việc tuyên xưng này không còn mang tính chất “tuyên xưng trước” như quan điểm của thánh Augustinô mà đã mang tính chất “tuyên xưng thay thế” cho các em.

Tóm lại, hiệp hành từ góc nhìn của cảm thức đức tin nơi thời kỳ dự tòng ở giai đoạn này đã thay đổi ý nghĩa. Thứ nhất, nếu thời kỳ dự tòng ở giai đoạn trước được tổ chức hệ thống, thì ở giai đoạn này bị giản lược đáng kể: không còn chú ý đến việc lớn lên trong đức tin nhờ gắn bó với Lời Chúa mà chỉ đơn giản là chuẩn bị tâm hồn và tập nghi thức. Thứ hai, nếu cảm thức đức tin ở giai đoạn trước được triển nở nhờ việc hội nhập của chiều kích cá nhân vào chiều kích cộng đoàn, thì ở giai đoạn này chiều kích cộng đoàn dường như “thay thế” chiều kích cá nhân. Thứ ba, nếu tiến trình hiệp hành ở giai đoạn trước bắt đầu trổ sinh hoa trái; thì ở giai đoạn này, hoa trái vẫn tồn tại nhưng bên cạnh đó là các thách đố rất lớn.[25]

2.3. Thời kỳ dự tòng: được canh tân bởi Công đồng Vaticanô II

Qua các dấu chỉ thời đại và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Công đồng Vaticanô II (1962-1965) đã canh tân đời sống Hội Thánh và từ đó đã định hướng cho tinh thần hiệp hành, cụ thể với ba nét chính. Thứ nhất, thời kỳ dự tòng phải được tái lập (SC 64). Thứ hai, “những người dự tòng, nhờ Thánh Thần thúc đẩy, có ý định rõ ràng xin gia nhập Hội Thánh, thì do chính ước muốn ấy, họ đã được kết hiệp cùng Hội Thánh rồi; và Hội Thánh là Mẹ hiền yêu thương sẽ săn sóc họ như những người con của mình” (LG 14). Thứ ba, Đức Kitô thi hành sứ vụ Ngôn sứ “không những nhờ hàng Giáo phẩm […] mà còn nhờ giáo dân, những kẻ Người đã đặt làm chứng nhân và đã trao ban cảm thức đức tin và cả ơn ngôn ngữ để sức mạnh của Tin Mừng được tỏa sáng trong đời sống thường ngày” (LG 35). 

Từ định hướng trên đây, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí tích vào năm 1972 đã ban hành “Nghi thức gia nhập Kitô giáo của người lớn” (NT) với điểm nổi bật là tái lập thời kỳ dự tòng: “Ba giai đoạn, tức ba bậc hay ba cửa, coi như ba tác động trong nhiệt thành của việc nhập đạo, mỗi giai đoạn đều được biểu thị bằng một nghi lễ Phụng vụ: Giai đoạn một có nghi lễ tiếp nhận người dự tòng, giai đoạn hai có nghi lễ tuyển chọn và giai đoạn ba có việc cử hành các Bí tích” (NT 6). Ba giai đoạn “có bốn thời gian liên tiếp: thời chuẩn dự tòng có đặc tính là khởi giảng Phúc Âm, thời dự tòng nhằm học Giáo lý đầy đủ, thời thanh tẩy và soi sáng nhằm tích cực chuẩn bị về mặt thiêng liêng, và thời nhiệm huấn biểu lộ bằng việc hưởng nghiệm các Bí tích và đời sống cộng đồng” (NT 7). Cùng tinh thần ấy, Giáo lý Công giáo triển khai: “Theo bản chất của nó, việc ban Phép Rửa cho các nhi đồng đòi hỏi một giai đoạn dự tòng sau Phép Rửa. Đây không chỉ là cần thiết phải dạy dỗ sau Phép Rửa, nhưng còn cần làm triển nở ân sủng của Bí tích Rửa Tội trong sự tăng trưởng của con người. Đây là phận vụ đặc biệt của việc dạy giáo lý” (GLCG 1231).

Tóm lại, hiệp hành từ góc nhìn của cảm thức đức tin nơi thời kỳ dự tòng đã được canh tân bởi Công Đồng Vaticanô II. Thứ nhất, thời kỳ dự tòng phải được tái lập không những đối với người trưởng thành mà còn đối với các nhi đồng; những người dự tòng đã thuộc về Dân Chúa. Thứ hai, cảm thức đức tin là ơn Chúa ban cho toàn thể Dân Chúa và được ban ngay từ giai đoạn dự tòng. Thứ ba, hiệp hành trên nền tảng cảm thức đức tin của Dân Chúa là cách thức mà Chúa Kitô thi hành sứ mạng Ngôn Sứ của Ngài.

III. Suy tư từ giáo huấn ngày nay

Sau khi có được nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền, chúng ta cùng gợi lên ba suy tư được khởi đi từ giáo huấn Công Đồng Vaticanô II nhằm góp thêm một góc nhìn cho tiến trình hiệp hành ngày nay.

 3.1. Tiến trình hiệp hành: vấn đề hay huyền nhiệm?

Công đồng Vaticanô II đã dạy: “Những người dự tòng, nhờ Thánh Thần thúc đẩy, có ý định rõ ràng xin gia nhập Hội Thánh, thì do chính ước muốn ấy, họ đã được kết hiệp cùng Hội Thánh rồi; và Hội Thánh là Mẹ hiền yêu thương sẽ săn sóc họ như những người con của mình” (LG 14). Chúng ta ghi nhận 2 điểm từ bản văn. Thứ nhất, nếu tiến trình hiệp hành là lối sống ngày nay của Hội Thánh, thì tiến trình ấy phải được bắt đầu ngay từ giai đoạn dự tòng. Thứ hai, việc người dự tòng xin gia nhập vào Hội Thánh là “nhờ Thánh Thần thúc đẩy”; cho nên việc Hội Thánh săn sóc họ cũng phải “nhờ Thánh Thần thúc đẩy”. Nói cách khác, tiến trình hiệp hành chỉ được thực hiện “nhờ Thánh Thần thúc đẩy”. Làm sao thực thi?

Việc “nhờ Thánh Thần thúc đẩy” là cách nói khác về tác động của Thiên Chúa; mà Thiên Chúa lại là Đấng khôn dò khôn thấu. Do đó, người ta chỉ đón nhận được sự tác động này như Thiên Chúa mạc khải chứ không như khoa học thực nghiệm. Để diễn tả sự khác biệt này, chúng ta mượn tư tưởng của Gabriel Marcel (1889-1973), triết gia hiện sinh Công giáo Pháp, với sự phân biệt: vấn đềhuyền nhiệm.[26]

Tiến trình hiệp hành không phải là vấn đề mà là huyền nhiệm. (1) Vấn đề thì ở ngoài con người, còn huyền nhiệm thì thuộc về con người. Ví dụ khi chiếc xe máy của mình bị trục trặc thì chúng ta đang đối diện với vấn đề; nhưng khi tiến trình hiệp hành gặp khó khăn thì chúng ta đang đứng trước huyền nhiệm. (2) Vấn đề thì có giải pháp, còn huyền nhiệm thì cần trải nghiệm mới hiểu hơn. Với chiếc xe bị hỏng, chúng ta có thể tháo ra để tìm nguyên nhân để sửa chữa; nhưng với tiến trình hiệp hành thì người ta cần kiên nhẫn hơn, gần gũi hơn mới có thể hiểu về người anh chị em hơn. (3) Vấn đề thì được sở hữu, còn huyền nhiệm thì hiện hữu. Với chiếc xe máy hư, chúng ta có quyền bỏ đi, vì mình là chủ sở hữu chiếc xe; nhưng khi tiến trình hiệp hành gặp khó khăn thì không thể bỏ cuộc, không thể loại trừ anh chị em mình.

Bộ Giáo lý Đức Tin cũng giúp chúng ta hiểu thêm về điều này qua Tuyên Ngôn Dignitas Infinita (số 7-8), 25.03.2024, với bốn bình diện của phẩm giá con người. Một người có thể: bị mất phẩm giá luân lý (moral dignity) khi lương tâm sai lạc, bị mất phẩm giá xã hội (social dignity) khi sống quá túng thiếu, bị mất phẩm giá hiện sinh (existential dignity) khi sống không hy vọng; nhưng họ không bao giờ bị mất phẩm giá hữu thể (ontological dignity) là người được Chúa dựng nên và là hình ảnh của Chúa. Phẩm giá hữu thể không ai và không bao giờ có thể bị xóa bỏ. Phẩm giá hữu thể luôn có giá trị trên mọi hoàn cảnh.

Tóm lại, tiến trình hiệp hành chỉ có thể thực thi trong sự tôn trọng phẩm giá hữu thể của mọi thành phần Dân Chúa và bắt đầu là anh chị em dự tòng. Do vậy, “việc khai tâm Kitô giáo trong thời gian dự tòng không chỉ là phận vụ riêng của các giảng viên giáo lý hay các linh mục, nhưng còn là trách nhiệm của cả cộng đoàn tín hữu, nhất là những người đỡ đầu, phải giúp các dự tòng ngay từ những ngày đầu tiên có thể cảm thấy mình được thuộc về Dân Chúa” (AG 14).

3.2. Tiến trình hiệp hành: hiện hữu hay hiện diện?

Tiến trình hiệp hành chỉ có thể thực thi khi cộng đoàn giúp cho các dự tòng hội nhập tiệm tiến vào đời sống Hội Thánh. Về phía các dự tòng thì sao? Thưa, một mặt, tiến trình hiệp hành được thực hiện trên “sự vận hành [circularité] của cảm thức đức tin mà tất cả các tín hữu được ban” (CTI 2018, 72); mặt khác, “vì là một đặc tính của nhân đức tin, cảm thức đức tin của tín hữu tăng trưởng tỷ lệ thuận với việc tăng trưởng của đức tin. Đức tin càng bén rễ sâu vào tâm hồn và tâm trí tín hữu và soi sáng cuộc sống hằng ngày của họ, thì cảm thức đức tin của tín hữu phát triển và lớn mạnh trong họ” (CTI 2014, 57). Làm sao để người dự tòng [và tân tòng] tăng trưởng đức tin [và cảm thức đức tin] để từ đó thúc đẩy hiệp hành?

Chúng ta trở lại với trình bày của thánh Tôma về các Bí Tích: “Trong các Bí tích, lời được dùng như mô thể và sự vật khả giác như chất thể.”[27] Cách trình bày trên đã mượn tư tưởng của Aristote (384 trcn-322 trcn), một triết gia Hy Lạp cổ đại với thuyết chất–mô để tạo nên bản thể. Triết thuyết Aristote rất logic nhưng cũng rất cứng nhắc vì bản thể đã cố định một lần cho mãi mãi. Khi dựa vào triết thuyết này để trình bày, thần học Kinh Viện đã làm mất đi phần nào sự năng động của người lãnh nhận, theo nghĩa lãnh nhận Bí tích xong là hết. Lãnh nhận Bí tích Rửa Tội xong, các tân tòng không còn cố gắng gì thêm nữa; trong khi “Bí tích Rửa Tội là bí tích của đức tin, nhưng đức tin cần đến cộng đoàn các tín hữu. Mỗi Kitô hữu chỉ có thể tin trong đức tin của Hội Thánh. Đức tin cần phải có để được chịu Phép Rửa, chưa phải là đức tin hoàn hảo và trưởng thành, nhưng là một khởi đầu cần tăng trưởng” (GLCG 1253).

Nhận thấy khó khăn trên đây, nhà thần học L-M. Chauvet đề nghị một lối tiếp cận khác khi dựa vào một triết gia Công giáo người Đức, cựu sinh viên Dòng Tên, Martin Heidegger (1889-1976).[28] Theo M. Heidegger, khi áp dụng nguyên lý siêu hình cho bản thể, Aristote quên rằng có sự khác nhau giữa “hiện hữu” (be) và “hiện diện” (being). Đối với M. Heidegger, người ta không là người (hiện hữu) một lần cho mãi mãi, mà người ta trở nên người (hiện diện) trong suốt đời mình. Quá trình trở nên người rất cần thời gian và không gian. Nếu thời gian là chiều dài của cuộc sống, thì không gian không chỉ là nơi chốn mà còn là sự tham gia tích cực vào đời sống cộng đoàn cùng với nền văn hóa, phong tục của cộng đoàn mình. Cũng vậy, người ta không là Kitô hữu một lần cho tất cả trong ngày lãnh Bí tích Rửa Tội; mà trở nên Kitô hữu mỗi ngày nhờ sự nâng đỡ của cộng đoàn Dân Chúa. “Đức tin của Hội Thánh có trước đức tin của tín hữu, là người được mời gọi gắn bó với đức tin của Hội Thánh” (GLGC 1124). Cho nên, sensus fidei fidelium chỉ được tăng trưởng khi sentire cum Ecclesia [cảm thức cùng với Hội Thánh] (CTI 2018, 108).

Tóm lại, cảm thức đức tin và trên đó là tiến trình hiệp hành chỉ có thể thực thi khi anh chị em dự tòng tham gia một cách tích cực vào đời sống của Hội Thánh. Và đây cũng chính là thao thức của Công đồng Vaticanô II: “Các dự tòng phải được khai tâm đầy đủ về mầu nhiệm cứu độ, thực tập nếp sống theo Tin mừng, và qua các nghi lễ thánh được cử hành theo từng giai đoạn nối tiếp nhau, họ được dẫn nhập vào đời sống đức tin, phụng vụ và bác ái của đoàn Dân Thiên Chúa.” (AG 14).

3.3. Tiến trình hiệp hành: trao đổi hay trao tặng?

Công đồng Vaticanô II dạy: “Tất cả những người con của Hội Thánh phải nhớ rằng địa vị cao trọng họ có được không phải do công trạng riêng mình, nhưng do ân sủng đặc biệt của Đức Kitô; nếu không đáp lại ân sủng ấy bằng tư tưởng, lời nói và việc làm, thì thay vì được cứu độ, họ sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn.” (AG 14). Làm sao để có thể đáp lại ân sủng đặc biệt của Đức Kitô như Công đồng dạy?

Nền kinh tế ngày nay được chi phối bởi quy luật trao đổi của thị trường: thuận mua vừa bán. Điều này thật hợp lý và cần thiết. Tuy nhiên, quy luật này cũng được áp dụng trên đời sống đức tin. Và vấn đề đã nảy sinh: thời gian dự tòng phải chăng là cái giá phải trả để trao đổi với Bí tích Rửa Tội sẽ lãnh nhận?

Đối diện khó khăn trên, Louis – Marie Chauvet (1942-), Linh mục thần học gia người Pháp, đề nghị logic trao tặng thay thế cho logic trao đổi.[29] Ví dụ, trong tình làng nghĩa xóm, ông A đem trái cây mà ông trồng được để biếu ông B. Khi nhận, ông B không trả tiền vì ông A chỉ tặng. Ông B sẽ đợi một dịp khác, như khi ông B làm bánh và đem bánh nhà làm để biếu ông A. Như thế, hai ông đều tự nguyện nhưng không ai phải thiệt thòi. Quan trọng hơn là nhờ việc trao tặng mà tình nghĩa hai bên càng trở nên thắm thiết. (1) Trao tặng vì là tự nguyện cho nên sẽ thực thi điều tối đa cho nhau, trong khi trao đổi vì là bắt buộc cho nên chỉ làm điều tối thiểu cho nhau. (2) Trao tặng sẽ giúp người ta lớn lên về mặt tinh thần, trong khi trao đổi chỉ nghiêng về những giá trị vật chất. (3) Trao tặng lưu tâm đến sự hợp tình trong tương quan, còn trao đổi chỉ để ý đến sự hợp lý. Do đó, đức tin Kitô giáo chỉ tương hợp với logic trao tặng.

Ơn gọi làm con Chúa là do tình yêu bước trước và nhưng không của Thiên Chúa. Ngài không nợ chúng ta điều gì. Không phải vì chúng ta đã trải qua thời kỳ dự tòng mà Chúa trả công bằng Bí tích Rửa Tội; nhưng vì Chúa yêu thương trao tặng chúng ta ơn làm con của Ngài, cho nên chúng ta đáp lại bằng việc tự nguyện sống làm chứng cho Ngài bằng tư tưởng, lời nói và việc làm. Sống logic trao tặng với Chúa như thế cũng sẽ bao hàm logic trao tặng với các tín hữu khác; vì tất cả đều là con cùng một Cha và là người cùng một nhà. Và đây chính là logic của hiệp hành: người cùng nhàcùng đi với nhau.

Tóm lại, tiến trình hiệp hành chỉ có thể thực thi khi các tín hữu sống trong logic trao tặng [lòng biết ơn] đối với Thiên Chúa và từ đó cũng giúp cho Tin mừng được loan báo. Và đây cũng là điều mà Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh: “Tất cả những người giáo dân được quy tụ trong đoàn Dân Thiên Chúa và làm nên Thân mình duy nhất có cùng một đầu là Đức Kitô, đều được kêu gọi nên như những chi thể sống động, để góp phần vào tiến trình tăng trưởng và thánh hóa liên lỉ của Hội Thánh với nguồn sức mạnh nhận được do lòng ưu ái của Đấng Tạo hóa và ân sủng của Đấng Cứu chuộc” (LG 33).

Kết luận

Martin Luther King (1929-1968) từng nhận định: “Chúng ta đã từng học bay trên trời như chim, học bơi dưới nước như cá, nhưng đến nay vẫn chưa học nổi cách đi trên mặt đất cùng nhau như anh chị em một nhà.”[30] Chưa thể đi cùng nhau vì chưa là người cùng nhà.

Nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền, nhất là giáo huấn từ Công đồng Vaticanô II vừa trình bày cho thấy: chúng ta đã là người cùng nhà. Ngôi nhà này có Thiên Chúa là Cha và có Hội Thánh là Mẹ. Ngôi nhà này không chỉ dành cho những ai đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội mà còn được mở rộng để tiếp nhận tất cả anh chị em dự tòng.

Là người cùng nhà, cho nên chúng ta sẽ đi cùng nhau. Là người cùng nhà, chúng ta sẽ đi cùng nhau khi đón nhận nhau như huyền nhiệm chứ không như vấn đề. Là người cùng nhà chúng ta sẽ đi cùng nhau khi giúp nhau hiện diện chứ không hiện hữu. Là người cùng nhà, chúng ta sẽ đi cùng nhau khi sống với Chúa và với nhau theo logic trao tặng chứ không theo logic trao đổi.

Để kết thúc, chúng ta lắng nghe lời khuyên của một bậc thầy, thánh Augustinô: “Thiên Chúa yêu cầu bạn hãy làm điều bạn có thể và hãy cầu xin điều bạn không thể.”[31]

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)



[1] Diễn từ của Đức Thánh Cha Phanxicô dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập Thượng Hội Đồng Giám mục, Rôma 17.10.2015.

[2] Chữ in nghiêng là do chúng ta nhấn mạnh.

[3] Về hai khía cạnh này, chúng ta sẽ tham khảo hai tài liệu của Ủy ban Thần học Quốc tế: 1. Commission Théologique Internationale, Sensus fidei dans la vie de l’Église (2014); viết tắt CTI 2014; 2. Commission Théologique Internationale, La synodalité dans la vie et dans la mission de l’Église (2018); viết tắt CTI 2018.

[4] Về các bản văn Kinh Thánh trong bài viết, chúng ta dùng bản dịch của Nhóm CGKPV.

[5] Điển hình các văn kiện đã triển khai trình thuật này: Vademecum for the Synod on Synodality (2021); Document for the Continental Stage (2022); Instrumentum Laboris (2023).

[6] Về Bữa Tiệc Ly, có 4 trình thuật: Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22,19-20; 1Cr 11,23-26; trong đó 1Cr là bản văn cổ xưa nhất (khoảng năm 56). “Mỗi bản văn này đều mang dấu ấn của Phụng vụ, được phổ biến, trở nên quen thuộc nhờ việc thờ phượng.” (x. J. Jérémias, La dernière Cène. Les Paroles de Jésus, Paris: Cerf, 1972, 108). Nói cách khác, trình thuật Bữa Tiệc Ly không đơn thuần là bản tường thuật việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể, mà trước hết đó là những bản văn Phụng vụ của cộng đoàn Kitô giáo gốc Do Thái (Giêrusalem) và của cộng đoàn Kitô giáo gốc Hy Lạp (Antiôkia).

[7] C. Duchesneau, “Célébrer,” in Dans vos assemblées, ed. J. Gelineau (Paris: Desclée, 1989), 71.

[8] CTI 2014, 17.

[9] X. B. Sesboüé, Les signes du salut, in Histoire des dogmes. Tome III (Paris: Desclée, 1995), 56-61.

[10] X. Doctrine des douze apôtres [Didachè], Source Chrétienne 248 (Paris: Cerf, 1978).

[11] X. Justin, Première Apologie, 61, 2-3. 12. X. J-P. Revel, Traité des sacrements. Tome I., 286.

[12] X. Tertullien, Traité du baptême, 94-96.

[13] X. Hippolyte de Rome, La Tradition Apostolique, Source Chrétienne 11bis (Paris: Cerf, 1946), 43-51.

[14] X. Cyrille de Jérusalem, Catéchèses mystagogiques, Source Chrétienne 126 bis (Paris: Cerf, 1988).

[15] X. Jean Chrysostome, Huit Catéchèses baptismales, Source Chrétienne 50 (Paris: Cerf, 1957).

[16] Hippolyte de Rome, La Tradition Apostolique, 68-69.

[17] Tertullien, Traité du baptême, 92.

[18] “Trong năm thế kỷ đầu tiên, đức tin của Hội Thánh như một toàn thể mang tính quyết định để xác định quy điển Thánh Kinh và các tín điều như thần tính Chúa Kitô, sự đồng trinh và chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria…” (CTI 2014, 26).

[19] Augustin, Lettre 98, 5. X. B. Sesboüé, Les signes du salut, 37.

[20] Saint Augustin, Lettre 98 (PL 33, 360-364). X. J-C. Didier, Faut-il baptiser les enfants? 151.

[21] X. Césaire d’Arles, Sermon 225.

[22] Thomas d’Aquin, Somme théologique. Tome IV (Paris: Cerf, 1996). Ngài trình bày Bí tích Rửa Tội với lược đồ: bản chất Bí tích (q. 66), thừa tác viên (q. 67), người lãnh nhận (q. 68), hiệu quả (q. 69), việc cắt bì (q. 70), Giáo lý và việc trừ quỷ (q. 71).

[23] Thomas d’Aquin, Somme théologique, q. 70, a. 1, rép.

[24] Thomas d’Aquin, Somme théologique, q. 71, sol. 3.

[25] Một mặt, trong thời Trung Cổ, tinh thần hiệp hành được sống theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này nơi: các thầy Dòng Cluny, các kinh sĩ nhà thờ chính tòa, các cộng đoàn tu trì mới, nhất là các Dòng Hành Khất. Mặt khác, trong giai đoạn này, Hội Thánh cũng phải đối diện với các thách đố: cuộc phản kháng của Tin Lành (1517), việc hình thành rõ nét sự phân biệt giữa “Hội Thánh giảng dạy” [Ecclesia docens] và “Hội Thánh được giảng dạy” [Ecclesia dicens] (x. CTI 2018, 31-37).

[26] X. Gabriel Marcel, Being and Having – An Existentialist Diary (New York: Harper-Row, 1965), 117s.

[27] Thomas d’Aquin, Somme théologique, q. 60, a. 6-7, rép.

[28] M. Heidegger, L’Être et le temps (Gallimard, 1964).

[29] X. L-M. Chauvet, Symbole et sacrement. Une relecture sacramentelle de l’existence chrétienne (Paris: Cerf, 2008).

[30] Diễn văn của M. Luther King khi nhận giải Nobel Hòa Bình, Oslo, ngày 10.12.1964.

[31] Saint Augustin, De natura et gratia, 43, 50. X. Gaudete et Exultate, 49.