A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Xp 2,3 ; 3,12-13

Đáp ca: Tv 145,6b-7a.7b-8.9-10 (Đ. Mt 5,3)

Bài đọc 2: 1 Cr 1,26-31

Tin Mừng Mt 5,1-12a

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Xp 2,3 ; 3,12-13

2. Đáp ca : Tv 145

3. Bài đọc 2:     1 Cr 1,26-31

4. Bài Tin Mừng : Mt 5,1-12a

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Lắng nghe lời Đức Giê-su trong tương quan sống động với con người của Người”

2. “Các mối phúc : lời hứa và món quà hạnh phúc”

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Xp 2,3 ; 3,12-13

Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ.

Bài trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a.

2 3 Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người;
hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở
trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa.
3 12 Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ ;
chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa.
13 Số dân Ít-ra-en còn sót lại
sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối
và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt. Nhưng chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ.
Đó là lời Chúa.

Đáp ca: Tv 145,6b-7a.7b-8.9-10 (Đ. Mt 5,3)

Đ. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.

Hoặc :

Đ. Ha-lê-lui-a.

6b Chúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời,
7a xử công minh cho người bị áp bức,
ban lương thực cho kẻ đói ăn.       Đ.

7b Chúa giải phóng những ai tù tội,
8 Chúa mở mắt cho kẻ mù loà.
Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,
Chúa yêu chuộng những người công chính.      Đ.

9 Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ,
nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.
10 Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở,
Xi-on hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.        Đ.

Bài đọc 2: 1 Cr 1,26-31

Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

26 Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem : Khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. 27 Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh ; 28 những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, 29 hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người. 30 Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, 31 hợp như lời đã chép rằng : Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa.

Đó là lời Chúa.


Tung hô Tin Mừng      Mt 5,12a

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Ha-lê-lui-a.


Tin Mừng Mt 5,1-12a

Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng:
3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
4 Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5 Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7 Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.
12a Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Xp 2,3 ; 3,12-13

Đức Chúa đã giấu, đã giữ lại

1. Là một đất nước nằm trên một hành lang quan trọng, ở giữa nhiều quốc gia thù địch và lắm tham vọng, dân Ít-ra-en không thể nào bình chân như vại đứng đó và dửng dưng với mọi biến động của lịch sử. Có lẽ chính vì tương lai của đất nước, vì sự tồn vong của một dân tộc tự nhận mình là dân riêng của Chúa mà họ có những lầm lẫn đáng trách. Các đế quốc đang ào ạt thôn tính xứ này nước nọ, đang tiến quân ngay bên hông Ít-ra-en ; phải làm sao đây ? Phải cầu viện hay phải liên minh ? Phải củng cố quân lực và trang bị vũ khí hay phải tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và sống theo những chỉ thị của Người ?

Chúng ta đang ở vào thế kỷ VII trước Công nguyên, tình hình ở Ít-ra-en thật tồi tệ vì vua Giô-si-gia-hu lên ngôi lúc mới tám tuổi, sau khi cha của ông, vua A-môn bị các thuộc hạ giết chết, vì tân vương còn quá nhỏ, mọi việc triều chính hầu như nằm gọn trong tay các quan đại thần.

Bối cảnh chính trị, xã hội và tôn giáo lúc ngôn sứ Xô-phô-ni-a bắt đầu rao giảng thật là bi thảm. Về đời sống tôn giáo, người ta từ bỏ Thiên Chúa để thờ lạy các ngẫu thần mà vua Mơ-na-se và A-môn đã đưa vào Giu-đa. Về đời sống đức tin, người ta nghi ngờ sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cũng như trong cuộc đời của họ. Họ chỉ cậy dựa vào vật chất, bạc tiền và không còn mảy may quan tâm đến Thiên Chúa. Về đời sống xã hội và văn hoá, người ta chạy theo những thói đời, những cách sống ngoại lai, từ bỏ chính cái gốc rễ và bản sắc dân tộc của mình. Dân chúng thì như thế, còn các nhà lãnh đạo Ít-ra-en cũng chẳng hơn gì ! Như hậu quả còn sót lại của hai triều vua vô đạo và nhu nhược trước kia, các thủ lãnh thì như sư tử rống, các thẩm phán thì như sói ăn đêm, các ngôn sứ là hạng người khoác lác ba hoa, là những kẻ phản bội, các tư tế làm ô uế Đền Thờ và vi phạm Lề Luật ... Trong bối cảnh đó, ngôn sứ Xô-phô-ni-a được Thiên Chúa sai đến để cảnh cáo, để kêu gọi mọi người thay đổi và canh tân đời sống, may ra sẽ thoát được ngày nổi giận của Chúa. “Ta sẽ dang tay đánh phạt Giu-đa và toàn thể dân cư Giê-ru-sa-lem : Ta sẽ tận diệt khỏi nơi này số còn sót lại của Ba-an và xoá bỏ tên của hàng tư tế bất hợp pháp” (Xp 1,4). Đây là nguồn gốc của bài hát nổi tiếng trong thánh lễ an táng “Dies Irae” (Requiem).

2. Song song với những lời đe doạ, sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a cũng gửi một sứ điệp khích lệ đến những người khiêm tốn. Ta thấy sứ điệp của ngôn sứ Xô-phô-ni-a gồm hai khía cạnh : lời đe doạ dành cho những kẻ kiêu căng, ngạo mạn, lời động viên, khích lệ dành cho những ai khiêm nhường, những người thành tâm thiện chí, những người đó không phải sợ cơn thịnh nộ của Chúa : “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người ; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa.” Ngày thịnh nộ đó, chính là ngày Thiên Chúa thực hiện cuộc tạo dựng mới, ngày huy hoàng cho tất cả những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa : cái Ác dưới mọi hình thức sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn. Chúng ta đừng quên rằng trong Kinh Thánh, sự báo thù của Thiên Chúa lúc nào cũng chỉ có một nghĩa duy nhất là chống lại cái Ác, luôn muốn dìm con cái Người xuống vực sâu của tội lỗi. Thiên Chúa luôn đồng hành với con cái Người để vực họ dậy, giúp họ tìm lại can đảm, niềm vui để vững vàng tiến bước trên con đường theo Chúa.

3. Chúng ta tham dự vào việc phán xét : Thiên Chúa sẽ không trừng phạt người công chính cùng với kẻ tội lỗi. Tất cả chúng ta đều biết nhân loại gồm hai hạng người : một bên là những người công chính, những người tốt, những người khiêm tốn ; một bên là những kẻ tội lỗi, những kẻ kiêu căng, ngạo mạn. Chúng ta có thể thuộc về một trong hai hạng người đó.

Chủ đề phán xét đi đôi với một chủ đề khác, chủ đề số sót của Ít-ra-en, xuất hiện trong các sách I-sai-a, A-mốt, Mi-kha : đó là một sự quảng diễn, một kiểu diễn tả mới về niềm tin vào sự trung thành của Thiên Chúa ; bởi vì thứ nhất, Thiên Chúa đã chọn Ít-ra-en như là một khí cụ đặc biệt để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người dành cho nhân loại ; thứ hai, Thiên Chúa là Đấng trung tín, cho nên dù bất cứ chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn luôn cố gắng sắp xếp để cứu độ ít ra một số sót của dân Ít-ra-en. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a lấy lại chủ đề này : khi tất cả mọi điều xấu xa bị huỷ diệt hết khỏi Giê-ru-sa-lem, Thiên Chúa để cho tồn tại một số sót nhỏ bé những người luôn trung thành với Thiên Chúa : Ít-ra-en, “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt.”

Chúng ta, các Ki-tô hữu, chúng ta cũng hãy sống như vậy : nương ẩn nơi Chúa, đặt trọn niềm tin vào Người, không làm chuyện tàn ác bất công, không ăn gian nói dối, không lừa gạt ai.

2. Đáp ca : Tv 145

Thánh vịnh 145 là một lời xác nhận những người cậy trông Chúa chắc chắn sẽ tìm được hạnh phúc mà mình mong muốn, vì “Chúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn, giải thoát những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà, cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, yêu chuộng những người công chính, phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở.”

Khi hát thánh vịnh này, dân Ít-ra-en ôn lại toàn bộ lịch sử của mình và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì chính họ đã bị áp bức bên Ai-cập, bên Ba-by-lon.

Thánh vịnh 145 hôm nay được soạn sau khi dân Ít-ra-en từ chốn lưu đày Ba-by-lon trở về, thấm đẫm niềm vui khi được trở về quê cha đất tổ, vì Thiên Chúa chứng tỏ lòng trung tín của Người.

Dân Ít-ra-en đã trải qua đói khát ở sa mạc Xi-nai trong cuộc Xuất hành, Chúa đã gửi cho họ man-na, chim cút và nước uống thoả thuê. Dần dần, người ta khám phá ra rằng Chúa luôn quan tâm giúp đỡ những người đang gặp hoạn nạn, đau khổ vì bệnh tật, phù trợ những khách ngoại kiều và nâng đỡ cô nhi quả phụ.

Hãy đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa để được hạnh phúc mà ta mong muốn.

3. Bài đọc 2:     1 Cr 1,26-31

Sự khôn ngoan của thế gian và sự khôn ngoan theo Ki-tô giáo

Trong cả đoạn này, thánh Phao-lô đặt cái khôn của loài người đối lập với sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là thể hiện công trình cứu độ toàn diện: công chính hoá, thánh hoá và cứu chuộc loài người. Vì vậy, tất cả các phương tiện Người dùng để hoàn thành công cuộc đó đều được coi là khôn ngoan, tuy loài người cho là điên dại : thập giá, lời rao giảng, những gì yếu kém, hèn mạt, không đáng kể, thánh Phao-lô không lên án phần trí tuệ của khôn ngoan loài người, vì nó là một ân huệ Chúa ban, giúp con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, kể từ vua Sa-lô-môn, đó là một nhân đức người ta xin khi cầu nguyện và ngôn sứ I-sai-a nói về sự khôn ngoan như là một ân huệ của Chúa Thánh Thần. Khi nói về Đấng Mê-si-a, ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Ta cho Thần Khí Ta ngự trên ngươi, thần khí khôn ngoan và hiểu biết” ; điều đáng lên án là sự khôn ngoan lý sự, tự mãn của phần đông người Hy-lạp hoặc đòi hỏi Thiên Chúa làm theo nguyện vọng của mình, như đa số người Do-thái đòi hỏi. Sức mạnh của Thiên Chúa là dùng chính những gì thế gian cho là điên dại, để thắng cái khôn ngoan của nó, làm cho kế hoạch cứu độ của Người được thành tựu. Khi đối chiếu hai lẽ khôn ngoan trên, thánh Phao-lô cũng nói rõ lập trường hoạt động của ngài : không rập theo óc tính toán của xã hội Cô-rin-tô, nhưng theo đường lối của thập giá Đức Ki-tô.

4. Bài Tin Mừng : Mt 5,1-12a

1. Chúa Giê-su đã khởi đầu sứ vụ công khai của Người, rao giảng Tin Mừng cứu độ với những thành công rực rỡ, với đám đông dân chúng luôn bám theo Người, và Người thấy đã đến lúc cần phải công bố sứ điệp của mình. Thánh Mát-thêu nêu những lời nói của Chúa Giê-su theo kiểu nói của các ngôn sứ thời Cựu Ước : “Người mở miệng giảng dạy họ.” Đây là kiểu nói sê-mít cho thấy tính cách trang trọng của những gì Chúa Giê-su sắp nói với đám đông dân chúng. Mười hai thế kỷ trước, trên một ngọn núi khác, núi Xi-nai, ông Mô-sê đã truyền đạt cho dân chúng Mười Điều Răn của Chúa. Còn trên một ngọn núi ở miền Ga-li-lê, Chúa Giê-su đi xa hơn nữa khi mặc khải về một cách thức mới để sống các điều răn này. Người trình bày sự nghịch lý mà thánh Phao-lô nói đến trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, sự nghịch lý giữa khôn ngoan của Thiên Chúa hoàn toàn trái ngược với khôn ngoan của loài người.

2. Mỗi câu trong bài Tin Mừng bắt đầu bằng từ “Phúc thay” rất quen thuộc trong Cựu Ước, một lời chúc mừng đẹp nhất. Bằng cách này, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta có một cái nhìn khác, nhìn mọi sự việc với cái nhìn của chính Thiên Chúa. Người cho ta thấy sự hiện diện của Nước Trời ở trong những tình trạng mà chúng ta không trông đợi : tâm hồn nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khát khao nên người công chính, thương người, xây dựng hoà bình. Việc khám phá này hoàn toàn trái ngược với những gì người ta thường nghĩ. Ta có thể nói tất cả các mối phúc đều hiện hữu trong mối phúc đầu tiên : “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Ở đây, Chúa Giê-su không hề lý tưởng hoá sự khó nghèo vật chất đâu. Kinh Thánh luôn trình bày sự nghèo khó là một sự dữ mà ta cần phải vượt thắng. Tuy nhiên, trước tiên ta cần phải nói rằng đám đông theo Chúa Giê-su không phải là những người quan trọng, có ảnh hưởng trong xã hội Do-thái lúc bấy giờ. Thứ hai, từ “người nghèo” trong Cựu Ước không bao giờ liên quan gì đến tài khoản ở ngân hàng cả : người nghèo theo nghĩa Kinh Thánh (anawim) là những người không có tâm hồn cao ngạo hoặc cái nhìn kiêu căng. Người ta gọi là những người lưng còng. Đó là những người bé mọn, khiêm tốn theo ngôn ngữ của các ngôn sứ. Họ không nổi tiếng và hài lòng về chính bản thân mình, nhưng họ cảm thấy mình còn thiếu một cái gì đó, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban cho họ những gì họ còn thiếu. Chúng ta lại thấy ở đây dưới ngòi bút của thánh Mát-thêu một tiếng dội của dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế. Người Pha-ri-sêu thấy mình là một người rất đạo đức và cảm thấy mình không cần đến ơn cứu độ của Thiên Chúa nữa, vì tâm hồn ông tràn ngập cái tôi của mình ; trong khi người thu thuế, tự nhận mình là kẻ tội lỗi, nên ông hướng về Thiên Chúa và chờ đợi Người ban ơn cứu độ, và Chúa đã ban cho ông như lòng ông mong ước.

3. Vấn đề ta bàn ở đây là “tinh thần nghèo khó”, nghĩa là ta đề cập đến “người tìm Chúa làm nơi ẩn náu của mình”, như ngôn sứ Xô-phô-ni-a đã nói, ai cần Chúa, sẽ nhận được ơn Chúa như là quà tặng của cuộc đời để phục vụ Nước Trời. Điều đặc biệt quan trọng đối với chúng ta là bắt chước Chúa Giê-su. Người là người nghèo tuyệt vời nhất, hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra một dung mạo của chính Chúa Giê-su. Ta thấy Người hiền lành và hay thương xót, chạnh lòng thương trước nỗi thống khổ của con người, tha cho những kẻ đã giết mình, khóc trước sự đau khổ của những người này, sự cứng lòng của những người khác, đói khát sự công chính và chấp nhận bị bách hại, nhất là luôn sống “tinh thần nghèo khó”, nghĩa là chờ đợi tất cả từ Chúa Cha và tạ ơn Chúa Cha vì đã “mặc khải” điều ấy cho những người bé mọn (chuyện các thiếu niên Do-thái ở Ba-by-lon trong sách Đa-ni-en). Ta cũng có thể đọc bài Tin Mừng hôm nay như là một mô tả về Nước Trời : đó là nơi mà lòng khiêm tốn, hiền lành, niềm vui, công bằng, lòng thương xót, trong sạch, hoà bình, v.v... luôn luôn hiện hữu.

Kết: Một khi đã gia nhập Nước Trời qua bí tích Thánh Tẩy và bằng lòng tin vào lời Chúa Giê-su, các mối phúc trở thành chương trình sống của chúng ta như sau : nếu tin vào Chúa Giê-su, thì nghèo khó, hèn mọn, sầu khổ không hẳn là bất hạnh, mà trái lại, của cải, danh vọng và sung sướng lại có thể trở thành trở ngại cho con người tìm được hạnh phúc mà mình mong muốn. Ba mối phúc đầu dạy ta phải vượt qua được những trở ngại đó. Ba mối phúc tiếp theo giúp xây dựng đời sống trên ba cơ sở vững chắc, theo ba hướng căn bản : Thiên Chúa (khát khao nên người công chính), tha nhân (thương người) và bản thân (tâm hồn trong sạch). Phúc thứ bảy nói đến sứ mạng hoà giải của người môn đệ : biến cả thế giới thành một gia đình, trong đó mọi người đều là anh em, cùng một Cha với nhau trong Chúa Giê-su. Cuối cùng, phúc thứ tám là tột đỉnh của đời sống người môn đệ, được đồng hoá với Thầy của mình.

Ta hãy sống theo tinh thần “tám mối phúc thật”, vì đó là con đường dẫn ta tới hạnh phúc mà mỗi người chúng ta trông đợi.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, “tám mối phúc thật” có thể nói là “Hiến chương Nước Trời” mà người Ki-tô hữu chúng con phải nỗ lực sống trong đời sống đức tin thường ngày. Xin Chúa ban thêm ơn trợ giúp cho tất cả chúng con.

Tự vấn :

Chúng ta đã sống tinh thần nghèo khó của “tám mối phúc thật” chưa ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Lắng nghe lời Đức Giê-su trong tương quan sống động với con người của Người”

(Mgr. L. Daloz, trong “Nước Trời đến gần”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 43-44).

Mấy lời dẫn nhập và “diễn từ” của Đức Giê-su được tập hợp lại trong bài “diễn từ” : “Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người lên tiếng dạy họ rằng.” Ta đừng khinh thường bỏ qua những hàng này. Nhờ chúng, toàn bộ diễn từ theo sau mới có ý nghĩa, bởi vì bài diễn từ này không chỉ đơn giản là một chuỗi những câu trống không nói lên những quy tắc về một lối sống đạo đức. Nó là lời của Đức Giê-su : Người lên tiếng dạy họ rằng. Đừng quên con người Đức Giê-su. Người nói với đám đông và đám đông phản ứng : ở cuối Bài Giảng Trên Núi, tác giả Tin Mừng nói với chúng ta : “Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29). Điều đánh động đám đông không phải là giáo thuyết nhưng là con người của Đức Giê-su và thẩm quyền nơi lời của Người.

Chúng ta cũng vậy, hãy nghe lời Đức Giê-su không như những chân lý ngàn đời, nhưng trong mối tương quan sống động với bản thân Người. Chính con người của Người làm cho giáo huấn của Người có thẩm quyền. Chiêm niệm những gì mình đọc là điều cần thiết, đừng chỉ suy nghĩ về vẻ đẹp và về những đòi hỏi trong lời Đức Giê-su nói. Thấm nhuần lời Đức Giê-su biến thành một bảng xét mình cũng không đúng. Vì như vậy, lời Chúa sẽ trở thành một đối tượng chiếm hữu, một phương tiện sử dụng … để xây dựng một đời sống tốt lành, một sự hoàn thiện cho bản thân ta, như những người Biệt phái. Trái lại, chúng ta phải đón nhận lời từ miệng Đức Giê-su, phải chăm chú vào điều Người muốn nói với chúng ta … chứ không phải vào điều mà những lời này nói với chúng ta, vì làm như vậy, có nguy cơ là “những lời này chẳng nói gì với chúng ta cả” ! Một nguy hiểm nghiêm trọng là ta thường đọc Tin Mừng chỉ như một bản văn đơn thuần, như một đối tượng để biến thành “phương tiện” sử dụng. Tin Mừng là nơi gặp gỡ, nơi lắng nghe. Khi ta không hiểu rõ lời Người nói, chúng ta có thể xin Người giải thích để ta hiểu. Khi ta không thể thực hiện được điều Người đòi hỏi, ta xin Người giúp đỡ. Gặp gỡ Đức Giê-su, nghe Người, cầu xin Người cho ta có tai để biết nghe, cho ta sức mạnh để thực hiện, đó là cách ta đọc Tin Mừng. Ta hãy lắng nghe những gì Đức Giê-su nói trong bài diễn từ trên núi này. Cầu xin Người cho chúng ta hiểu lời Người dạy và đem ra thực hành.

2. “Các mối phúc : lời hứa và món quà hạnh phúc”

(J. Guillet, trong “Đức Giê-su trong đức tin của những môn đệ đầu tiên”, Desclée de Brouwer, 1995, tr. 96-97).

Khi mở đầu sứ điệp của Người bằng các mối phúc, Đức Giê-su không muốn phác hoạ một con đường đưa đến hạnh phúc, một lộ trình buộc ta phải theo, nhưng Người hứa một quà tặng mà chỉ có Người mới có thể ban. Người không bảo ta đi tìm hạnh phúc hay chờ đợi nó. Đây chỉ là sự mơ ước theo tính toán của ta, niềm hy vọng phát sinh từ những ước muốn của ta. Ngay trước khi công bố các mối phúc, Đức Giê-su đã kêu gọi dân chúng sám hối và tin tưởng, “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng !” Khi mời gọi sám hối và công bố Tin Mừng trọng đại, Đức Giê-su xuất hiện như một ngôn sứ cao cả nhất từ trước tới nay. Khi tung ra các mối phúc, Người tỏ ra mình là người khôn ngoan và giới thiệu một kinh nghiệm. Tin Mừng vừa là lời tiên tri của một biến cố vĩ đại, vừa là sự chuyển thông đức khôn ngoan.

Tin Mừng không phải là đi tìm hạnh phúc nhưng là lời hứa và quà tặng hạnh phúc, vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người để họ được hạnh phúc. Nhưng đó không phải là thứ hạnh phúc mà họ ước mơ và hăng say chinh phục : Hạnh phúc đây chính là sự sống của Thiên Chúa ban cho con người và trong hạnh phúc đó, Người quy tụ tất cả con cái Người lại. Ta có thể làm sai lạc ý nghĩa của các mối phúc cũng như làm méo mó hình ảnh của Đấng Thiên Sai đến nỗi không còn nối kết hình ảnh ấy với Đức Ki-tô được nữa. Người không nói : Anh em nghèo khổ nên anh em sẽ được hạnh phúc ; Người cũng không nói : Anh em hãy nghèo khổ để được hạnh phúc. Người chỉ nói : Anh em nghèo khổ, hạnh phúc đến với anh em. Người có thể nói điều đó bởi vì Người đem đến hạnh phúc này, bởi vì chính bản thân Người là niềm vui và hạnh phúc của Thiên Chúa. Nhưng để cảm nhận được điều này, phải tin và ưng thuận theo Người.

Hạnh phúc này không thuộc về một thế giới khác với thế giới ta đang sống. Nó cũng không được cất giấu ở một nơi bí mật. Nhưng ngay từ bây giờ nó đã được ban tặng cho tất cả mọi người, và trước hết là những người đau khổ. Những phép lạ Đức Giê-su đã gieo trên đường rao giảng là dấu chỉ cho thấy Người chính là cội nguồn hạnh phúc. Đây chỉ là những dấu chỉ, chúng không biến đổi hoàn cảnh ta đang sống, nhưng chỉ ra một lối thoát và cho ta nghe được lời mời : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-30). Đó là phong cách và ngôn ngữ của một tôn sư về sự khôn ngoan, của một người đã sống một kinh nghiệm và tự biết mình có thể truyền đạt nó. Đó cũng chính là người công bố các mối phúc và ngôn ngữ vẫn là một : Phúc cho những ai hiền lành = Ta là Đấng hiền lành ; nghỉ ngơi = hoà bình. Từ dùng có thể thay đổi, nhưng vẫn là kinh nghiệm ấy, tiếng nói ấy, tấm lòng ấy.

Chỉ có Người mới biết hạnh phúc là gì ; chỉ có Người mới có thể ban hạnh phúc vì hạnh phúc là quà tặng của Thiên Chúa.