A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 8,23b–9,3

Đáp ca Tv 26,1.4.13-14 (Đ. c.1a)

Bài đọc 2: 1 Cr 1,10-13.17

Tin Mừng Mt 4,12-23

Hoặc : Bài đọc ngắn Mt 4,12-17

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Bình minh của hy vọng

2. Cuộc phiêu lưu vĩ đại khởi đi từ một vùng đất bị khinh khi

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 8,23b–9,3

Tại Ga-li-lê vùng đất của dân ngoại, dân đã thấy một ánh sáng huy hoàng.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

8 23b Thời đầu, Chúa đã hạ nhục đất Dơ-vu-lun và đất Náp-ta-li, nhưng thời sau, Người sẽ làm vẻ vang cho con đường ra biển, miền bên kia sông Gio-đan, vùng đất của dân ngoại. 
9 1 Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng ;
đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
2 Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng.
Họ mừng vui trước nhan Ngài
như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt,
như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm.
3 Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy
như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an.

Đó là lời Chúa.


Đáp ca Tv 26,1.4.13-14 (Đ. c.1a)

Đ. Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi.

1 Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào ?
Chúa là thành luỹ bảo vệ đời tôi,
tôi khiếp gì ai nữa ?     Đ.

4 Một điều tôi kiếm tôi xin,
là luôn được ở trong đền Chúa tôi mọi ngày trong suốt cuộc đời,
để chiêm ngưỡng Chúa tuyệt vời cao sang,
ngắm xem thánh điện huy hoàng. Đ.

13 Tôi vững vàng tin tưởng
sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống.
14 Hãy cậy trông vào Chúa,
mạnh bạo lên, can đảm lên nào !
Hãy cậy trông vào Chúa.    Đ.


Bài đọc 2: 1 Cr 1,10-13.17
Tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

10 Thưa anh em, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tôi khuyên tất cả anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hoà thuận, một lòng một ý với nhau. 11 Thật vậy, thưa anh em, người nhà của bà Khơ-lô-e cho tôi hay tin có chuyện bè phái giữa anh em. 12 Tôi muốn nói là trong anh em có những luận điệu như : “Tôi thuộc về ông Phao-lô, tôi thuộc về ông A-pô-lô, tôi thuộc về ông Kê-pha, tôi thuộc về Đức Ki-tô.” 13 Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư ? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh vào khổ giá vì anh em chăng ? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phao-lô sao ?
17 Quả vậy, Đức Ki-tô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng, và rao giảng không phải bằng lời lẽ khôn khéo, để thập giá Đức Ki-tô khỏi trở nên vô hiệu.

Đó là lời Chúa.


Tung hô Tin Mừng x. Mt 4,23

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đức Giê-su rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Ha-lê-lui-a.


Tin Mừng Mt 4,12-23
Đức Giê-su đến ở Ca-phác-na-um, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

12 Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
18 Người đang đi dọc theo biển hồ Ga-li-lê, thì thấy hai anh em kia, là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, và người anh là ông An-rê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. 19 Người bảo các ông : “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” 20 Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người.
21 Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dê-bê-đê, là ông Gia-cô-bê và người em là ông Gio-an. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dê-bê-đê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. 22 Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người. 23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân.

Đó là lời Chúa.


Hoặc : Bài đọc ngắn Mt 4,12-17
Đức Giê-su đến ở Ca-phác-na-um, để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

12 Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói : 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.
17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại cho chúng ta những bước đầu trong sứ vụ của Đức Giê-su với việc gọi bốn môn đệ đầu tiên. Sứ vụ này được Đức Giê-su thực hiện tại vùng đất dân ngoại như ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo. Bài đọc 2 nói với chúng ta về các Tông Đồ một cách khá đặc biệt, khiến chúng ta hiểu rằng các ngài chỉ là những khí cụ của Đức Giê-su và không hề mong muốn bất cứ một vinh dự nào cả.

* Bài Tin Mừng cho ta biết khi nghe tin ông Gio-an Tẩy Giả đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê, một vùng đất bị cô lập, nơi đó Người có thể sống bình an. Miền đất này bị người Do-thái, những người thuộc chi tộc Giu-đa xem thường, coi khinh. Miền này được gọi là “Ga-li-lê của các quốc gia”. Đối với người Do-thái, chỉ có một từ duy nhất để chỉ các quốc gia và dân ngoại. Do đó, chúng ta cũng có thể gọi là “Ga-li-lê của dân ngoại”. Cư dân thuộc nhiều nguồn gốc khác nhau và bị người Do-thái khinh bỉ. Vì thế việc làm của Đức Giê-su thật ý nghĩa khi Người khởi đầu sứ vụ tại miền đất bị khinh dể này. Một điểm nhấn như thế sẽ luôn được tìm thấy trong toàn bộ sứ vụ của Người. Đức Giê-su luôn đi đến với những người bé mọn nhất, những người khiêm tốn nhất, những người nghèo khổ nhất. Thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến lúc khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su là ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a : tác giả Tin Mừng xác nhận Ca-phác-na-um thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li như ngôn sứ I-sai-a đã nói trong bài đọc 1 : “Này đất Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại.” “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng.” Bản văn này của ngôn sứ I-sai-a được sử dụng vào lễ Đêm Giáng Sinh, vì ngay sau những câu này, bản văn nói đến việc chào đời của một trẻ thơ. Tuy nhiên, phần đầu của lời sấm này áp dụng hoàn toàn cho sứ vụ của Đức Giê-su vì chính Người là ánh sáng huy hoàng, như Người đã nói : “Tôi là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Ngay từ khi bắt đầu rao giảng, Người tỏ ra mình là ánh sáng này.

Đức Giê-su bắt đầu rao giảng bằng những lời sau đây : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Lời mời gọi sám hối này dựa trên một Tin Mừng “Nước Trời đã đến gần”. Lúc đó người Do-thái đang mong đợi Nước Trời, nghĩa là sự hiện diện của triều đại Thiên Chúa trên mặt đất và làm thay đổi bộ mặt thế giới, thiết lập trên đó công lý, bình an, tình yêu và niềm vui. Đức Giê-su xác nhận Nước Trời đã đến gần, nhưng Người thêm để vào được Nước Trời, người ta phải sám hối, vì Nước Trời không phải là một thực thể chính trị, mà là một vương quốc được thiết lập trong tâm hồn nhờ sám hối. Chúng ta phải xa lánh sự dữ và gắn bó với tình yêu theo ý của Thiên Chúa.

* Sau đó, tác giả Tin Mừng kể cho chúng ta về việc Chúa gọi bốn môn đệ đầu tiên, đó là các ông Si-môn, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an. Điều có ý nghĩa là ngay từ đầu sứ vụ, Đức Giê-su đã gọi vài người để liên kết với họ. Đức Giê-su không phải là một con người cô độc, làm việc một mình, không có ai cộng tác. Quả thật, Người có thể hành động một mình vì Người là Con Một duy nhất : Con Thiên Chúa làm người. Ngay từ đầu, Người muốn gọi các Tông Đồ để liên kết các ông vào công trình cứu độ của Người. Như vậy, Đức Giê-su nối kết hai chiều kích của tình yêu : Người phải chứng tỏ tình yêu đối với Cha trên trời khi rao giảng Nước Trời và tình yêu đối với những người anh em của mình, vì Người liên kết họ vào những công trình của Người.

* Những người được gọi đầu tiên chỉ là những người chài lưới đang thả lưới xuống biển. Đức Giê-su bảo các ông : “Các anh hãy đi theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Người nói lên ý định của Người là tạo ra một công việc hoàn toàn khác : các ông không lưới cá nữa mà là lưới người, để giải thoát họ khỏi sự dữ và cho họ một cuộc sống xứng đáng là con Thiên Chúa. “Si-môn và An-rê lập tức bỏ chài lưới mà đi theo Người.” Quyền năng của Đức Giê-su thật phi thường. Hai ông hiểu ngay Đức Giê-su là Thầy, là Chúa, là Đấng Cứu Độ, nên không ngần ngại đi theo Người ngay. Cũng vậy, Chúa gọi hai ông Gia-cô-bê và Gio-an khi các ông đang vá lưới trong thuyền. Các ông cũng bỏ thuyền và cha của mình mà đi theo Người. Ở đây chúng ta có những gương mẫu tuyệt vời về việc mau mắn đáp lại lời mời gọi của Chúa. Ngày hôm nay, điều rất quan trọng là có nhiều người nam cũng như nữ, trẻ trung cũng mau chóng đáp lại tiếng gọi của Đức Giê-su và dấn thân theo Người. Chúng ta có cảm tưởng là ơn gọi hiện nay đang thiếu ở khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên, trong thực tế, Chúa vẫn tiếp tục mời gọi nhiều người bước theo Chúa trong cuộc sống tu trì, nhưng vấn đề là việc đáp lại lời mời gọi đó không còn như trước đây do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Dù vậy vẫn có những người đã bỏ tất cả mọi sự mà theo Chúa. Vì thế, việc cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ vẫn là việc cần phải làm hằng ngày.

Bài đọc 2 nhấn mạnh đến một khía cạnh quan trọng khác của đời sống dấn thân theo Chúa. Các Tông Đồ chỉ là những khí cụ của Chúa. Các ngài hành động là tuân theo thánh ý Chúa, vì thế không bao giờ được phép cho mình là người quan trọng. Thánh Phao-lô nói điều này vì ngài biết trong giáo đoàn Cô-rin-tô có những bất hoà, chia rẽ giữa các tín hữu trong việc đề cao thần tượng của mình. “Người thì nói : ‘Tôi thuộc về ông Phao-lô’, kẻ khác lại nói : ‘Tôi thuộc về ông A-pô-lô.’” Ông A-pô-lô không phải là một Tông Đồ nhưng là một môn đệ có tài hùng biện, am hiểu sâu sắc Kinh Thánh và rất có uy tín trong cộng đoàn. Kẻ khác nữa lại nói : “Tôi thuộc về ông Kê-pha”, tên Đức Giê-su đã đặt cho ông Phê-rô theo ngôn ngữ A-ram, nghĩa là “tảng đá”.

* Các tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ với nhau vì họ gắn bó với các Tông Đồ khác nhau. Thánh Phao-lô phản ứng gay gắt về tình trạng chia rẽ này. Ngài hỏi : “Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư, có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh vào thập giá vì anh em chăng ? Hay anh em đã chịu phép rửa nhân danh Phao-lô sao ?” Rõ ràng là chỉ một mình Đức Ki-tô đã chịu đóng đinh vì tất cả mọi người và phép rửa được ban nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chứ không phải nhân danh ông Phê-rô hay ông Phao-lô. Chúng ta cần nhớ rằng các thừa tác viên của Chúa chỉ có một tầm quan trọng tương đối thôi. Đây là Thầy, là Chúa duy nhất, chính là Đức Ki-tô. Công cuộc loan báo Tin Mừng là công việc của Chúa và các Tông Đồ chỉ là những khí cụ Chúa dùng để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người, và phải luôn liên kết chặt chẽ với Đức Ki-tô, và không bao giờ coi mình là tác giả của công trình cứu độ. Nếu các ông làm khác đi, các ông không còn là Tông Đồ của Chúa nữa. Vì thế, chúng ta hãy vui mừng khi biết rằng Đức Ki-tô vẫn tiếp tục công cuộc cứu độ của Người qua các Tông Đồ, các giám mục và linh mục. Chúng ta chỉ gắn bó với một mình Chúa chứ đừng gán cho vị này vị kia một tầm quan trọng quá đặc biệt, vì các ngài chỉ là khí cụ Chúa dùng mà thôi.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin dạy chúng con luôn nhớ rằng sám hối là việc chúng con phải làm thường xuyên suốt cả cuộc đời, vì mang lấy thân phận tội lỗi con cháu A-đam, chúng con rất dễ phạm tội, dễ phản bội tình yêu Chúa dành cho chúng con.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, giữa những người có cùng một niềm tin, có cùng một Cha chung trên trời, chúng ta có sống hoà thuận, thương yêu nhau và nâng đỡ nhau không, hay là bất hoà, chia rẽ, ghen ghét, đố kỵ ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Bình minh của hy vọng
(Mgr. L. Daloz, “Le Règne de cieux s’est approché”).

Đức Giê-su vào cuộc có nghĩa là ánh sáng đến với nhân loại. Trích dẫn I-sai-a không đơn thuần đem lại một chỉ dẫn về địa lý. Đó là một biểu tượng : là lối thoát của dân tộc Do-thái, sinh ở Bê-lem, vì là dòng dõi vua Đa-vít, trở thành người Ga-li-lê ở Na-da-rét, Đức Giê-su đến đó trước các dân tộc. Tức thì sứ mạng của Người mang lấy tầm vóc phổ quát. Tự bản thân chúng ta cũng phải cúi chào tia sáng đầu tiên này loé lên soi cho các dân đang sống trong bóng tối : Đức Giê-su đến gặp gỡ ta, đó là khởi đầu ơn cứu độ của ta, là bình minh của niềm hy vọng. Ta có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh bình minh này với lòng biết ơn, rồi làm sống lại trong ta cảm giác kỳ diệu khi ta khám phá ra Đức Ki-tô, ánh sáng bừng lên soi chiếu vào mắt ta. Vâng, đối với ta vì cả mọi dân tộc, ánh sáng chính là Lời nói lạ lùng mà Tin Mừng không cho ta biết đối tượng : Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” Lời của Đức Giê-su trên vũ trụ, vượt qua những biên cương của vùng đất hứa cho dân của Giao ước cũ, biến cả thế giới thành vùng đất hứa của Nước Trời. Những nỗ lực và toan tính của các vị truyền giáo đều phát xuất từ một lời duy nhất này. Bây giờ đến phiên chúng ta phải chuyển tải chứng từ Tin Mừng, tạo âm vang cho lời kêu gọi đầu tiên của Đức Giê-su khi Người đứng trước miền Ga-li-lê của các dân tộc, trên bờ sông thế giới.


2. Cuộc phiêu lưu vĩ đại khởi đi từ một vùng đất bị khinh khi
(F. Deleclos, Prends et mange la Parole Centurion).

Đối với dân thủ đô, Ga-li-lê chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện giễu cợt hằng ngày …

Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế giễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Mê-si-a – Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, “tới cư ngụ tại Ca-phác-na-um, bên bờ hồ”. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ.

Gio-an Tiền Hô, vị ngôn sứ của lòng thống hối, đã trở thành kẻ sách nhiễu, gây rối. Ông bị chém đầu. Từ đó, Tin Mừng bị nghi ngờ và sứ giả Tin Mừng bị theo dõi gắt gao … Nhưng Đức Giê-su đã gặp những tâm hồn cởi mở đón tiếp nơi những người hiếu động và bé nhỏ nhất của dân Người.

Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn công việc chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giê-su sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi lô-gích.

Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”.

Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ, người rao giảng chẳng có danh nghĩa chính thức, người chạy trốn chính quyền hợp pháp câu nệ thói tục và lối giải thích của họ. Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ … và họ đã đi theo Người.

Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới đổi mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế, nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa …

Hôm nay cũng thế, Đấng Phục Sinh vẫn tiếp tục sứ mạng của Người không theo cách người ta nghĩ. Người tỏ mình ra, dạy dỗ, và kêu gọi không theo những chuẩn mực hay lý luận của người phàm chúng ta. Không khác gì vào thời của Đền Thờ, Đức Giê-su không chịu giam mình trong các truyền thống nhân loại, trong các tính toán của các chuyên gia, trong phán quyết của các quyền lực. Người không bị giam hãm trong Giáo Hội của Người, Giáo Hội đang bị chia rẽ, nơi người thì tự cho mình là thuộc phe các ông Phao-lô và Gia-cô-bê, An-rê, Mát-thêu như thể Đức Ki-tô đã bị chia cắt và như thể là giáo huấn của Người không quan trọng bằng giáo huấn của môn đệ Người ! Trong khi con cái trong nhà cãi cọ, xâu xé thân thể mầu nhiệm Đức Ki-tô và đóng đinh Người, Người trốn chạy đến nơi “hội tụ dân ngoại” và tìm được sự tiếp đón nồng hậu, tìm được môn đệ trong đám người bị khai trừ và những người sống ngoài lề xã hội.