Đức
Ông Giuse Đích NGUYỄN NGỌC OÁNH (1922–2007)
Vị tông đồ nhiệt thành
Đức Ông Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh sinh
ngày 10-04-1922 tại làng Chi Long, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam, quê hương thánh
tử đạo Antôn Nguyễn Đích, trong một gia đình công giáo đạo đức gồm 6 người con,
4 trai, 2 gái, trong đó có hai người dâng mình cho Chúa làm linh mục của Tổng
giáo phận Hà nội là Đức Ông Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh và linh mục Anphongsô
Đích Nguyễn Ngọc Châu.
Tuy ông nội và thân phụ có học thức và
vai vế trong xã hội, nhưng gia đình Đức Ông sống đạm bạc thiếu thốn. Nhờ cha
già Phêrô Nguyễn Huy Tôn nâng đỡ, cậu Oánh mới được ăn học. Có trí thông minh
và ý chí cầu tiến, nên cậu Oánh học hành tiến bộ, thi đâu đậu đấy. Năm 1933,
cậu được tuyển vào Tràng tập Hà nội để tìm hiểu ơn gọi. Thấy cậu có lòng đạo
đức và quyết chí dâng mình cho Chúa, nên năm 1936 bề trên đã cho cậu vào Tiểu
chủng viện Hoàng Nguyên. Học hành xuất sắc nên đã được bề trên cho theo học
trường Pasteur Hà Nội để thi bằng Tú tài vào năm 1944. Tháng 8 năm 1944 cậu
được theo học tại Đại chủng viện Saint Sulpice Liễu Giai.
Tháng 7 năm 1951, sau khi lãnh chức phụ
phó tế, thầy Oánh được cử đi du học tại Hoa Kỳ. Tiếp tục học thần học tại Đại
chủng viện Saint Meinrad, Indiana, thầy được chịu chức linh mục ngày
03-05-1952. Sau đó, cha Oánh được chuyển đến Đại học Loyola tại
Nhận được thư ấy, ngài lo âu suy nghĩ rất
nhiều. Vì đang học dở dang. Vì hoàn cảnh quê nhà đang rối ren và những người
thân thiết đều ngăn cản. Nhưng cha Thông nói với ngài: “Bỏ tất cả mà về, thì
được Chúa Thánh Thần”. Thế là hai cha cùng nhau quyết định vâng lời bề trên trở
về giáo phận dù rất băn khoăn lo lắng vì biết chắc sẽ gặp nhiều khó khăn.
Tháng 9 năm 1955, về đến nhà, ngài lao
ngay vào công việc, vừa làm thư ký cho Đức cha, vừa dạy học cho Tiểu chủng viện
Gioan, vừa dạy giáo lý cho giới trí thức. Có thể nói các lớp giáo lý này là một
thao thức hợp thời nên đã qui tụ được một khối lượng học viên trí thức lớn lao.
Mỗi tuần hai buổi qui tụ hàng ngàn sinh viên và giáo viên, lớp giáo lý có kết
quả rất tốt. Vì lớp giáo lý có ảnh hưởng sâu rộng nên chính quyền ra lệnh đình
chỉ. Ngài lại lui vào âm thầm, tổ chức đào tạo giáo lý viên trong Tòa giám mục.
Thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của ngài, và vì
ngài không ủng hộ Ban Liên Lạc Công giáo nên chính quyền quyết định bắt ngài
cải tạo tại chỗ. Ngày 16-08-1965, ngài bị quản chế tại Chuôn Trung với kỷ luật
nghiêm ngặt: không được đi ra khỏi thôn. Không được nói chuyện với bất cứ người
nào trong thôn. Khách muốn đến thăm phải có phép của công an. Không được làm lễ
trước mặt giáo dân.
Tuy bị quản chế nghiêm ngặt, hằng ngày
phải chịu đựng những thái độ, lời lẽ nghi kỵ, nhục mạ, luôn bị gọi lên thẩm
vấn, điều tra, làm kiểm điểm, làm báo cáo liên tục, ngài vẫn luôn vui tươi.
Ngài hăng hái làm việc tay chân như cuốc đất trồng rau, đào giếng. Và nhất là
dù bị cấm đoán, ngài vẫn dâng lễ vào lúc 2 giờ sáng để giáo dân có thể tham dự
thánh lễ. Ngài dâng lễ rất sốt sắng. Đó là lý do tại sao giáo dân xa xôi cũng
đến tham dự thánh lễ vào lúc 2 giờ sáng. Ngài lợi dụng thời gian để cầu nguyện
và tôn thờ Thánh Thể. Đó chính là nguồn sống, nguồn sức mạnh nâng đỡ ngài trong
thời gian rất khó khăn này.
Trong suốt 20 năm, ngài thường xuyên liên
lạc với Đức cha Khuê bằng thư từ hoặc nhắn gửi. Đặc biệt trong những ngày lễ
ngày tết không bao giờ ngài quên viết thư chúc mừng Bề trên Giáo phận. Nhận
được thư của ngài, Đức cha Khuê đều trả lời với lòng quí mến, rất ưu ái. Ngài
cũng thường viết thư trao đổi với Đức cha Thuận đang bị quản chế tại Hà Nội. Để
trả lời ngài, Đức cha Thuận cũng thường viết thư cho “em Oanh Sắc” (ý nói cha
Oánh).
Ngài vừa khiêm tốn vừa cương quyết trong
thái độ đối với chính quyền. Khiêm tốn nên không bao giờ chống đối hay có ý
tưởng oán thù, trái lại luôn chấp hành mọi chỉ thị của Nhà Nước. Nhưng cương
quyết thi hành nhiệm vụ linh mục, không tán thành Ủy ban Liên Lạc Công giáo và
không bao giờ chịu tố cáo những người xưng tội, những người con linh hướng của
ngài. Ngài đã viết trong bản tự kiểm: “Tôi nhiệt liệt ca ngợi những công trình
xây dựng làm cho dân giầu nước mạnh. Còn chủ nghĩa xã hội xây dựng trên nền
móng duy vật, tôi nhận thấy điều đó không hợp với tín ngưỡng của tôi tin có một
Thiên Chúa sáng tạo vạn vật, có linh hồn bất tử và có thưởng phạt đời sau”.
“Đối với các linh mục trong Ủy ban Liên Lạc, tôi mến trọng các ngài… nhưng đứng
về phương diện Giáo Hội, tôi không đồng ý với các ngài được”. “Chính quyền có
nhắc đến tên những anh Đông, Hùng, Hưng, Bích, Thành, Tiến hiện đang bị bắt
giữ. Tôi biết những người đó vì họ có đến với tôi về việc đạo, thuộc phạm vi
lương tâm liên quan đến linh hồn thiêng liêng của họ. Nói về họ ngược với lương
tâm tôi là một người cha thiêng liêng, là một linh mục của các linh hồn, không
hợp với luật đạo chúng tôi”. “Tôi kính nể và tôn trọng chính quyền. Tôi cũng
muốn làm đầy đủ nghĩa vụ thiêng liêng của một linh mục đối với Thiên Chúa và
đối với các linh hồn” (Tự kiểm ngày 05-04-1965 tại Sở Công an Hà Nội). Trong
những năm tháng bị quản chế và cả sau này, không bao giờ ngài có lời lẽ oán
thù, bực tức, ngay cả nói xấu Nhà Nước cũng không.
Sau 20 năm bị giam lỏng, ngài được tự do
vào năm 1985 để đi coi xứ Hà Thao, tiếp tục dạy Đại chủng viện, đặc trách người
dân tộc Mường vùng Hòa Bình và làm thư ký cho Hội đồng Giám mục.
Sở dĩ ngài được giao nhiều công việc vì
có nhiều khả năng, nhưng trên hết vì ngài là người luôn vâng lời và nhiệt thành
việc tông đồ. Nhưng dù làm việc gì, ngài cũng luôn khiêm tốn, đơn sơ và nhiệt
thành. Tuy lớn tuổi và ở xa chủng viện, nhưng ngài luôn đi xe ôm để đi dạy và
không bao giờ bỏ mất giờ nào. Ngoài việc dạy dỗ trong Chủng viện, ngài cổ võ ơn
kêu gọi và giúp các thanh niên thiếu nữ đi học đại học. Có thể nói các con cái
thiêng liêng của ngài là những người đầu tiên được học đại học.
Vùng Hòa Bình còn rất khó khăn, nhưng
ngài liên tục vào thăm người dân và làm mọi việc có thể làm để phục hồi những
xứ đạo đã bị tàn phá trong chiến tranh. Bị chính quyền cấm đoán, nhưng ngài vẫn
kín đáo lui tới. Biết bao lần xe bị chặn bắt. Biết bao lần phải vào trụ sở Ủy
ban để làm việc và ngồi chờ hết ngày giờ. Biết bao lần bị khiển trách. Nhưng
ngài vẫn hăng hái nhiệt thành lo cho vùng Hòa Bình. Bị cấm sửa chữa nhà thờ,
ngài đã cho đốt đèn âm thầm làm trong đêm tối. Bị ngăn cấm dạy giáo lý, ngài
đưa người dân tộc Mường ra Hà Thao để dạy giáo lý cho họ. Ngài tuyển chọn các
học sinh người dân tộc Mường, lo cho các em được đi học và khuyến khích các em
dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì. Kết quả ngài đã gây dựng được 2 linh mục
và 2 nữ tu người dân tộc Mường.
Tuy có vị trí đáng kính trong Giáo Hội
nhưng ngài luôn nêu gương về đời sống đơn sơ khiêm nhường. Đơn sơ khó nghèo
trong việc sử dụng của cải. Ở căn nhà đơn sơ. Dùng những dụng cụ đơn sơ. Y phục
rất đơn sơ. Đơn sơ khó nghèo cả trong tinh thần từ bỏ danh vọng chức quyền. Sau
khi làm thư ký cho Hội đồng Giám mục một thời gian, ngài tự ý rút lui để nhường
chỗ cho người khác. Được phong tước Đức Ông nhưng không bao giờ ngài tự xưng là
Đức Ông, không bao giờ mặc áo viền tím. Nhiều người ngưỡng mộ xin ngài kể lại
cuộc đời của ngài cho mọi người biết, ngài luôn trả lời: “Mình thế nào thì mọi
người đã biết cả rồi”.
Vị tông đồ luôn hăng say nhiệt thành với
công việc mục vụ đã an nghỉ trong Chúa lúc 2 giờ sáng ngày 13-08-2007 tại Hà
Thao, hưởng thọ 86 tuổi.
Thật là một tấm gương chói sáng. Vì thế
ngài luôn luôn được bề trên, anh em và học trò ngưỡng mộ, yêu mến và mong muốn
bắt chước.