Đức cha Phaolô
BÙI
Người mục tử hiền lành, chủ chăn can đảm
1. Tiểu sử
Đức cha Phaolô Bùi Chu Tạo
sinh ngày 21-01-1909 tại Tam Châu, là con ông bà cố Liên, nghĩa tử của cha già
Phaolô Dương Đức Liêm. Năm 1921-1923 ngài theo học tại trường thử Ba Làng, sau
đó về học tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc, rồi Đại chủng viện Thượng Kiệm
(1931-1937). Ngài được Đức cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng phong chức linh mục tại
Phát Diệm ngày 13-03-1937. Sau đó, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư tại Tiểu chủng
viện Phúc Nhạc (1937-1940), linh hướng Đại chủng viện Thượng Kiệm (1945-1951).
Từ 1951 đến 1954, ngài dưỡng bệnh tại đền Đức Mẹ Cứu Giúp ở cạnh chợ Nam Dân.
Sau năm 1954, ngài về nhận
nhiệm sở tại Tam Châu cho tới ngày được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản tông
tòa Phát Diệm (30-11-1956). Ngài chính thức về nhận giáo phận ngày 25-01-1957.
Ngày 26-04-1959, tại Hà Nội, ngài được tấn phong Giám mục giáo phận Phát Diệm.
Ngài được gọi về nhà Cha ngày 05-05-2001, hưởng thọ 92 tuổi.
Suốt cuộc đời 64 năm linh mục, 42 năm giám mục, ngài đã nên gương sáng trong đời sống cầu nguyện, thực thi bác ái mục tử, đúng như khẩu hiệu giám mục của mình: “Yêu thương không giả dối”.
2. Con người của Bí tích Thánh Thể
Đức Giám quản Phaolô Bùi
Chu Tạo lên lãnh đạo giáo phận giữa lúc xã hội Việt
Nhờ đâu mà ngài
xác tín mạnh mẽ và cậy trông vững vàng như thế? Thưa, nhờ gắn bó với Chúa Giêsu
Thánh Thể. Ngài là con người của Thánh Thể.
Chẳng biết tự bao
giờ, ngài có thói quen thức dậy từ 2 giờ sáng, rồi lên nhà
nguyện. Ngài quỳ cầu nguyện sốt sắng trước Thánh Thể đến 5 giờ rồi dâng lễ. Khi
có ai cần tìm gặp ngài, nếu không thấy ngài ở trong phòng riêng, thì cứ đến nhà
nguyện, chắc chắn gặp ngài ở đó. Ngài có thói quen rất đáng khâm phục là đọc các
Giờ Kinh Phụng vụ trước Thánh Thể.
Một linh mục được ở bên
ngài nhiều năm kể lại: “Năm 1975, tôi được vào học hàm thụ tại Tòa
giám mục. Nhà chung lặng ngắt giữa thời khó khăn, chỉ có Đức cha, cha chính xứ
và tôi là người giúp việc. Đêm đầu tiên trằn trọc khó ngủ, đến nửa đêm về sáng
lại ngủ quên, tới giờ lễ Đức cha phải từ tầng hai xuống gọi dậy giúp lễ. Thái
độ ôn tồn, bao dung của Đức cha khiến tôi quyết tâm từ đây tự điều chỉnh để dậy
đúng giờ. Ngày thứ hai, nghe tiếng chân Đức cha bước lên cầu thang, tôi vội bật
dậy lên theo. Đồng hồ nhà nguyện chỉ 2 giờ. Tôi hơi bỡ ngỡ. Thì ra, ngày nào
Đức cha cũng lên nhà nguyện vào giờ đó. Tôi hiểu ra sức sống nội tâm của Đức
cha và hiểu được bí quyết làm cho Đức cha vừa mềm dẻo lại luôn cương quyết giữa
bối cảnh xã hội đầy biến động lúc đó”.
Trong thời kỳ giám mục của
ngài, các linh mục thiếu hụt trầm trọng. Hầu hết các xứ, họ vắng bóng các linh
mục, giáo dân phải tự sống đức tin của mình. Để nâng đỡ họ, Đức cha Phaolô đã
tìm mọi cách để Bí tích Thánh Thể đến với đoàn chiên. Ngài lựa chọn các ông
trùm, ông quản, những người đạo đức, trao thừa tác vụ ngoại lệ để họ kiệu Mình
Thánh về cho giáo dân chầu buổi tối; buổi sáng có cử hành Lời Chúa và Hiệp lễ,
rồi trao Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt. Ngài mời gọi những ai không hiệp lễ được
thì hợp lòng rước lễ thiêng liêng. Nhờ vậy giáo dân vẫn giữ vững được đức tin.
Ngay khi về nhận giáo
phận, ngài đã tận tâm xốc lại phong trào Hội Thánh Thể nơi các giáo
xứ, ban nhiều đặc ân cho những ai vào Hội Thánh Thể, cổ võ việc chầu Mình
Thánh, đặc biệt trong ngày chầu lượt của các giáo xứ.
Ai dự lễ Đức cha
dâng đều nhận thấy rằng, ngài say mê Thánh Thể. Trước và sau thánh
lễ ngài quỳ cầu nguyện thật lâu giờ.
Như vậy, ngài không
chỉ đặt Bí tích Thánh Thể vào trung tâm đời sống mục
tử của mình, mà còn muốn mọi thành phần dân Chúa kín múc đựợc
nguồn mạch đức tin nơi đây để sống đạo giữa hoàn cảnh lịch sử đầy
biến động và nguy nan.
3. Con người từ tốn và khôn ngoan
Một linh mục kể: “Đức
cha Phaolô Bùi
Dù gặp hoàn cảnh nào
ngài cũng luôn bình tĩnh, từ tốn và khôn ngoan. Cũng một linh mục
Phát Diệm kể lại: "Một hôm, sau khi dâng lễ ngoài nhà thờ lớn, ngài trở về
Nhà Chung theo lối Núi Sọ. Có một anh công an y phục chỉnh tề đứng bên cạnh
đường lên giọng hỏi ngài: 'Ông đi đâu?' Ngài vẫn bình thản, thinh lặng bước đi.
Anh ta đi theo, tới cổng vào nhà, anh ta lại hỏi lớn hơn: 'Ông đi đâu?' Trước khi
khép cổng, ngài dừng lại một chút và nhỏ nhẹ trả lời: 'Nhà tôi đây', rồi tiếp
tục về phòng không chút bực bội hay khiển trách. Sau khi thay lễ phục, ngài chỉ
nói như để bào chữa cho người công an: 'Hình như anh này mới đến đây.'”
Đối diện với biết bao khó
khăn, bị hạn chế đi lại, bị những lời la mắng của chính những giáo dân mà
ngài yêu thương, bị những người một thời được ngài coi là thân thuộc quay lưng
lại, ngài vẫn một thái độ điềm đạm, bao
dung. Bởi ngài biết họ chỉ làm theo yêu cầu nào đó. Quả thực, lời Chúa Giêsu đã
thấm nhuần nơi ngài: “Sự thật sẽ giải
thoát anh em” và “Ngài đã yêu thương
họ đến cùng”.
Hoàn cảnh
khó khăn đã cầm chân ngài tại Tòa giám mục. Không thể đến với
giáo dân, ngài viết thư luân lưu giáo huấn hàng giáo sĩ và giáo dân bằng những
lời tâm huyết được kín múc từ nguồn mạch khôn ngoan là Lời Chúa và Thánh Thể.
Từ năm 1959 đến năm 1988, ngài viết khá nhiều thư về các đề tài, vào các dịp
khác nhau, nhằm nâng đỡ đức tin và hướng dẫn đoàn chiên sống đức tin trong hoàn
cảnh mới.
Có thể nói, Đức
cha hiếm khi lớn tiếng. Ngài luôn nhỏ nhẹ, nhưng giọng nói âm trầm, rành
rọt và khúc chiết, thâm thúy pha chút hóm hỉnh. Dáng người nhỏ nhắn, yếu ớt mà
sự ung dung tự tại đến vĩ đại vẫn luôn toát lộ ra ngoài; ánh mắt luôn nhân hậu,
hiền lành không sắc sảo mà vẫn đọc được tâm can người đối diện, dù là người
thiện hay tà tâm.
4. Con người đơn sơ, thân thiện và tận
tình với đoàn chiên
Đức cha sống đơn sơ, đạm
bạc: từ tiện nghi trong phòng tới ăn mặc. Căn phòng của ngài chỉ là chiếc
giường chiếu đơn sơ với bộ bàn ghế mộc mạc. Bữa ăn thường ngày là rau mắm đạm
bạc. Ngài tự giặt giũ quần áo cho mình và tự tay thu dọn phòng riêng. Cố linh
mục Luca Trần Hùng Sỹ kể lại: “Có lần về Phát Diệm thăm hai Đức cha, tôi bắt
gặp cả hai vị đang tự mình ngồi giặt quần áo, và quét phòng riêng của mình!” Ngài chẳng tích trữ gì riêng cho mình,
sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ những người túng thiếu, bệnh tật. Quả thật gương sống
thanh bần của ngài đã ảnh hưởng tới nhiều tâm hồn.
Cuộc đời của ngài hoàn
toàn xả thân cho giáo dân, liên tục sống đời trong suốt, chiếu dọi một nếp sống
thánh thiện. Đối với chính quyền địa phương, ngài đối xử lịch thiệp, biết lui
biết tới, mặc dù vẫn kiên trì trong phong độ cương nghị. Điều mà ai ai cũng cảm
phục và nhận thấy nơi Đức cha là lòng bác ái, bao giờ cũng sẵn sàng tham gia
với chính quyền chống nạn đói, chống bão lụt và mưu tìm lợi ích cho dân chúng.
Ngài thật là Kitô thứ hai,
thành mẫu gương sáng cho mọi thế hệ. Chính vì thế, trong dịp mừng Ngọc khánh
linh mục của ngài, người ta đã không ngại tặng ngài danh hiệu: “Mục tử hiền lành, chủ chăn can đảm”. Thật
xứng đáng thay!