Đức Lêô XIV, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 02/4/2026 - Đức Giêsu yêu thương cách dứt khoát

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 06/4/2023 – Mỗi người chúng ta đều có thể vấp ngã

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 09/4/2020 - Hãy để Chúa rửa chân cho anh em

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 13/4/2017 - Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 21/4/2011 - Khát khao hiệp nhất nơi bàn tiệc ly

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 13/4/2006 - Anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!


Đức Lêô XIV, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 02/4/2026 - Đức Giêsu yêu thương cách dứt khoát

Anh chị em thân mến, nghi thức phụng vụ long trọng của tối nay đưa chúng ta vào Tam nhật Thánh của cuộc Thương khó, Tử nạn và Phục sinh của Chúa. Chúng ta bước qua ngưỡng cửa này không như những khán giả, cũng không vì thói quen, nhưng được chính Đức Giêsu lôi cuốn cách đặc biệt: như những người được mời đến dự Bữa Tiệc, nơi bánh và rượu trở thành Bí tích cứu độ cho chúng ta. Thật vậy, chúng ta tham dự vào một bữa tiệc trong đó Đức Kitô, “vì đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1): tình yêu của Người trở thành cử chỉ và lương thực cho tất cả, mặc khải sự công chính của Thiên Chúa. Ngay trong thế gian này, chính nơi mà sự dữ hoành hành, Đức Giêsu yêu thương cách dứt khoát, mãi mãi, với trọn chính mình.

Trong Bữa Tiệc sau hết này, Người rửa chân cho các Tông đồ và nói: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,15). Cử chỉ của Chúa hòa làm một với bàn tiệc mà Người đã mời chúng ta. Đó là một mẫu gương của Bí tích: trong khi xác nhận ý nghĩa của Bí tích, Người trao cho chúng ta một nhiệm vụ mà chúng ta muốn đón nhận như lương thực cho đời sống của mình. Thánh sử Gioan dùng từ Hy Lạp ὑπόδειγμα (upódeigma), nghĩa là “điều được bày ra ngay trước mắt”, để thuật lại biến cố mà ngài đã chứng kiến. Những gì Chúa cho chúng ta thấy, khi lấy nước, chậu và khăn, còn vượt xa một mẫu mực luân lý. Thật vậy, Người trao ban chính cách thức sống của Người: rửa chân là cử chỉ tóm kết mạc khải về Thiên Chúa, là dấu chỉ mẫu mực của Ngôi Lời nhập thể, là sự tưởng nhớ không thể nhầm lẫn của Người. Khi mang lấy thân phận của người tôi tớ, Người Con mặc khải vinh quang của Chúa Cha bằng cách phá vỡ những tiêu chuẩn trần gian làm vấy bẩn lương tâm chúng ta.

Cùng với sự kinh ngạc thinh lặng của các môn đệ, chính niềm kiêu hãnh của con người cũng khiến chúng ta mở mắt ra trước những gì đang xảy ra: như Phêrô, lúc đầu phản đối sáng kiến của Đức Giêsu, cả chúng ta cũng phải “luôn luôn học lại rằng sự cao cả của Thiên Chúa thì khác với ý niệm của chúng ta về sự cao cả, […] bởi vì chúng ta luôn mong muốn một Thiên Chúa của thành công chứ không phải của cuộc Thương khó” (Bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly, 20 tháng 3 năm 2008). Những lời này của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI cho thấy cách rõ ràng rằng chúng ta luôn bị cám dỗ tìm kiếm một Thiên Chúa “phục vụ chúng ta”, giúp chúng ta chiến thắng, hữu dụng như tiền bạc và quyền lực. Trái lại, chúng ta không hiểu rằng Thiên Chúa thực sự phục vụ chúng ta, vâng, nhưng bằng cử chỉ khiêm tốn và nhưng không, là rửa chân: đó chính là quyền năng của Thiên Chúa. Như thế Người hoàn tất ý muốn hiến dâng sự sống cho những ai, nếu không có hồng ân này, thì không thể hiện hữu. Chúa quỳ gối để rửa chân con người, vì yêu thương con người. Và hồng ân Thiên Chúa biến đổi chúng ta.

Với cử chỉ của mình, Đức Giêsu không chỉ thanh tẩy hình ảnh của chúng ta về Thiên Chúa khỏi những ngẫu tượng và những lời phạm thượng đã làm vấy bẩn hình ảnh ấy, nhưng còn thanh tẩy hình ảnh của chúng ta về con người, vốn tỏ ra mình quyền lực khi thống trị, chiến thắng bằng cách tiêu diệt kẻ ngang hàng, cho mình là cao cả khi được người khác sợ hãi. Là Thiên Chúa thật và là người thật, Đức Kitô ban cho chúng ta một mẫu gương về sự hiến dâng, phục vụ và yêu thương. Chúng ta cần mẫu gương của Người để học biết yêu thương, không phải bởi vì chúng ta không có khả năng, nhưng vì để giáo dục chính bản thân mình, và dạy nhau, về tình yêu đích thực. Học hành động như Đức Giêsu, Dấu Ấn mà Thiên Chúa ghi vào lịch sử thế giới, là nhiệm vụ của cả một đời.

Người là tiêu chuẩn đích thực, là “Thầy và là Chúa” (Ga 13,13), Đấng lột bỏ mọi mặt nạ về thần linh và về con người. Người không đưa ra mẫu gương khi mọi người vui vẻ và yêu mến Người, nhưng trong đêm Người bị phản bội, trong bóng tối của hiểu lầm và bạo lực, để cho thấy rõ rằng Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta tốt lành và tinh tuyền: Người yêu chúng ta, và vì thế Người tha thứ và thanh tẩy chúng ta. Chúa không yêu chúng ta vì chúng ta để mình được lòng thương xót của Người thanh tẩy; nhưng Người yêu chúng ta trước, nên Người thanh tẩy chúng ta, để chúng ta có thể đáp lại tình yêu ấy.

Chúng ta học nơi Đức Giêsu sự phục vụ lẫn nhau này. Thật vậy, Người không đòi chúng ta đáp lại cho chính Người, nhưng chia sẻ điều đó giữa chúng ta: “Anh em phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Đức Giáo hoàng Phanxicô đã giải thích như sau: đây “là một bổn phận phát xuất từ con tim. Tôi yêu điều này và tôi thích làm, bởi vì Chúa đã dạy tôi như vậy” (Bài giảng Thánh lễ Tiệc Ly, 28 tháng 3 năm 2013). Ngài không nói đến một mệnh lệnh trừu tượng, một quy định hình thức và trống rỗng, nhưng diễn tả lòng nhiệt thành vâng phục đối với đức ái của Đức Kitô, nguồn mạch và mẫu mực cho đức ái của chúng ta. Thật vậy, mẫu gương mà Đức Giêsu đã trao ban không thể được bắt chước vì tiện lợi, miễn cưỡng hay giả hình, nhưng chỉ vì tình yêu.

Để cho mình được Chúa phục vụ là điều kiện để phục vụ như Người đã làm. Đức Giêsu nói với Phêrô: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy” (Ga 13,8): nếu anh không đón nhận Thầy như tôi tớ, thì anh không thể tin và theo Thầy như Chúa được. Khi rửa thân xác chúng ta, Đức Giêsu thanh tẩy linh hồn chúng ta. Nơi Người, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta mẫu gương không phải về cách thống trị, nhưng về cách giải phóng; không phải về cách hủy diệt sự sống, nhưng về cách hiến ban sự sống.

Do đó, trước một nhân loại đang quỳ gối trước biết bao biểu hiện của sự tàn bạo, chúng ta cũng hãy quỳ gối như anh chị em của những người bị áp bức. Đó là cách chúng ta muốn theo gương Chúa, thực hiện điều chúng ta đã nghe trong sách Xuất hành: “Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm” (Xh 12,14). Vâng, toàn bộ lịch sử Kinh thánh quy hướng về Đức Giêsu, Chiên Vượt Qua đích thực. Nhờ Người, những hình ảnh xưa đạt được ý nghĩa trọn vẹn, bởi vì Đức Kitô, Đấng cứu độ, cử hành cuộc Vượt qua của nhân loại, mở ra cho tất cả nhân loại con đường từ tội lỗi đến ơn tha thứ, từ sự chết đến sự sống đời đời: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,24).

Khi lặp lại các cử chỉ và lời của Chúa, chính trong tối nay chúng ta tưởng niệm việc thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức thánh. Mối liên hệ nội tại giữa hai Bí tích này biểu lộ sự tự hiến trọn vẹn của Đức Giêsu, Thượng Tế tối cao và là Thánh Thể sống động muôn đời: trong bánh và rượu đã được truyền phép chính là “Bí tích tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái, bữa tiệc Vượt qua, trong đó Đức Kitô được đón nhận, linh hồn được tràn đầy ân sủng và chúng ta được ban bảo chứng vinh quang tương lai” (Hiến chế phụng vụ Sacrosanctum Concilium, 47). Nơi các giám mục và linh mục, những người được thiết lập “làm tư tế của Giao Ước mới” theo lệnh truyền của Chúa (Công đồng Trentô, De Missae Sacrificio, 1), có dấu chỉ tình yêu của Người dành cho toàn thể Dân Thiên Chúa, mà chúng ta, anh em rất quý mến, được mời gọi phục vụ bằng trọn cả chính mình.

Vì thế, thứ Năm tuần Thánh là ngày của lòng biết ơn nồng nhiệt và của tình huynh đệ đích thực. Việc chầu Thánh Thể tối nay, trong mỗi giáo xứ và cộng đoàn, là thời gian để chiêm ngắm cử chỉ của Đức Giêsu, bằng cách quỳ gối như Người đã làm, và xin ơn có sức mạnh để noi gương Người trong việc phục vụ bằng chính tình yêu ấy.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 06/4/2023 – Mỗi người chúng ta đều có thể vấp ngã

Điều thu hút sự chú ý của chúng ta là cách Chúa Giêsu, chỉ hôm trước ngày bị đóng đinh, đã thực hiện việc làm này. Rửa chân là phong tục vào thời đó bởi vì đường phố bụi bặm. Mọi người từ bên ngoài vào và, khi vào nhà, trước khi ăn tối, trước khi tụ họp, họ sẽ rửa chân. Nhưng ai sẽ rửa chân cho họ ? Các nô lệ, các nô lệ – bởi vì đây là công việc dành cho nô lệ.

Chúng ta hãy tưởng tượng các môn đệ đã kinh ngạc như thế nào khi họ thấy Chúa Giêsu bắt đầu thực hiện nhiệm vụ phù hợp với các nô lệ này…Ngài muốn các ông hiểu thông điệp cho ngày mai khi Ngài sẽ chết như một nô lệ để trả nợ cho tất cả chúng ta. Nếu chúng ta biết lắng nghe những điều này từ Chúa Giêsu, thì cuộc đời sẽ trở nên rất đẹp bởi vì chúng ta sẽ vội vàng giúp đỡ nhau thay vì lấy phần tốt nhất của người khác, để lợi dụng nhau, cách mà những kẻ lừa đảo dạy chúng ta. Thật rất đẹp để giúp đỡ nhau, giúp một tay – đây là những cử chỉ phổ quát của con người vốn được sinh ra từ một trái tim cao thương. Và với việc cử hành hôm nay, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều này : sự cao thượng của con tim. Mỗi người chúng ta có thể nói : « Nhưng nếu Đức Giáo hoàng chỉ biết những điều tôi có ở bên trong…. » Nhưng Chúa Giêsu biết điều đó, và Ngài yêu thương chúng ta như chúng ta là ! Và Ngài rửa chân cho mỗi chúng ta. Chúa Giêsu không bao giờ bị sốc trước sự yếu đuối của chúng ta. Ngài không bao giờ kinh ngạc, bởi vì Ngài đã trả giá rồi. Ngài chỉ muốn đồng hành với chúng ta; Ngài muốn nắm lấy tay chúng ta để cuộc sống không quá khắc nghiệt với chúng ta.

Tôi sẽ thực hiện cùng một hành động rửa chân, vốn không phải là điều gì đó thuộc văn hóa dân gian, không. Tất cả chúng ta đều có thể nghĩ về nó như một cử chỉ cho chúng ta biết chúng ta nên đối xử với nhau như thế nào. Trong xã hội, chúng ta thấy biết bao kẻ lợi dụng người khác; biết bao người đang ở một góc đường và không thể thoát ra….Biết bao nhiêu bất công, biết bao người thất nghiệp, biết bao người làm công và được trả một nửa, bao nhiêu người không có tiền mua thuốc, bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiều điều khủng khiếp….

Và không ai trong chúng ta có thể nói, “Tạ ơn Chúa, con không giống như, Chúa biết đó”. “Nếu con không giống như thế đó là vì ơn Chúa!” Mỗi người chúng ta đều có thể vấp ngã, mỗi người chúng ta. Và ý thức này, sự chắc chắn rằng mỗi người chúng ta đều có thể vấp ngã, là điều mang lại cho chúng ta phẩm giá – hãy lắng nghe từ này – “phẩm giá” của người tội lỗi. Và Chúa Giêsu muốn chúng ta như vậy, và vì điều này Chúa Giêsu đã muốn rửa chân [cho các môn đệ của mình] và nói: “Ta đến để cứu độ con, để phục vụ con”.

Bây giờ, tôi sẽ làm điều tương tự để tưởng nhớ những gì Chúa Giêsu đã dạy chúng ta, để giúp đỡ lẫn nhau và bằng cách này, cuộc sống tốt đẹp hơn và chúng ta có thể tiếp tục như thế này. Trong lúc rửa chân – tôi hy vọng tôi thành công khi thực hiện nó bởi vì tôi không thể đi lại khỏe được – nhưng trong khi rửa chân, hãy nghĩ về điều này: “Chúa Giêsu đã rửa chân tôi. Chúa Giêsu đã cứu độ tôi, và bây giờ tôi gặp khó khăn này”. Nhưng nó sẽ qua đi, nhưng Chúa luôn ở bên cạnh bạn, Ngài không bao giờ bỏ rơi, không bao giờ. Hãy suy nghĩ về tất cả điều này.

Nguồn: xuanbichvietnam.net (07.04.2023)

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 09/4/2020 - Hãy để Chúa rửa chân cho anh em

Thánh Thể, phục vụ, xức dầu. Đây là những điều chúng ta cảm nghiệm được trong buổi cử hành hôm nay: Chúa muốn ở lại với chúng ta trong Bí tích Thánh Thể. Và chúng ta trở thành nhà tạm của Chúa, mang Chúa ở cùng chúng ta; đến mức chính Ngài đã nói với chúng ta: nếu chúng ta không ăn thịt và uống máu Ngài, chúng ta sẽ không vào được Nước Trời. Đây là một mầu nhiệm, bánh và rượu, Chúa ở cùng chúng ta, ở trong chúng ta, ở bên trong chúng ta.

Phục vụ. Cử chỉ này là điều kiện để vào Nước Trời. Vâng, để phục vụ... mọi người. Nhưng Chúa, trong những lời Ngài trao đổi với Phêrô (x. Ga 13:6-9), làm cho ông nhận ra rằng để vào được Nước Trời, chúng ta phải để Chúa phục vụ chúng ta, Người Tôi tớ của Thiên Chúa phải là tôi tớ của chúng ta. Và điều này thật khó hiểu. Nếu tôi không để Chúa làm tôi tớ cho tôi, không để Chúa tắm rửa cho tôi, giúp tôi lớn lên, tha thứ cho tôi thì tôi sẽ không được vào nước thiên đàng.

Và cả chức linh mục nữa. Hôm nay tôi muốn được gần gũi với các linh mục, với tất cả các linh mục, từ những linh mục mới được thụ phong cho đến Giáo Hoàng. Tất cả chúng ta đều là linh mục. Cả các giám mục nữa, tất cả chúng ta... chúng ta được xức dầu, được Chúa xức dầu; được xức dầu để cử hành Bí tích Thánh Thể, được xức dầu để phục vụ.

Sáng nay, không có Thánh lễ Truyền Dầu (do đại dịch) – tôi hy vọng chúng ta có thể cử hành lễ này trước Lễ Ngũ Tuần, nếu không sẽ phải hoãn lại sang năm sau – nhưng tôi không thể để Thánh lễ tối nay trôi qua mà không nhớ đến các linh mục. Những linh mục hiến mạng sống mình cho Chúa, những linh mục là tôi tớ. Trong những ngày này, nhiều người trong số họ đã qua đời, hơn 60 vị ở nước Ý này, khi đang chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, cùng với các bác sĩ và y tá... Họ là những “vị thánh bên cạnh chúng ta”, những linh mục đã hiến mạng sống mình để phục vụ.

Tôi cũng nghĩ đến những linh mục ở vùng sâu vùng xa. Hôm nay tôi nhận được một lá thư từ một linh mục, một tuyên úy ở một nhà tù xa xôi, kể cho tôi nghe là ngài đã trải qua Tuần Thánh này với các tù nhân như thế nào. Một linh mục dòng Phanxicô. Những linh mục thực hiện những chuyến hành trình xa để rao giảng Tin Mừng và đã qua đời ở những vùng xa xôi ấy. Có lần một vị giám mục nói với tôi rằng điều đầu tiên ngài làm khi đến những nơi truyền giáo này là đi đến đất thánh, đến mộ của các linh mục đã hy sinh mạng sống ở đó, các linh mục trẻ đã chết vì bệnh tật địa phương vì họ không được chuẩn bị, họ không có đề kháng; và không ai biết tên họ, những linh mục vô danh. Rồi có các linh mục quản xứ ở nông thôn, các linh mục của bốn, năm, bảy ngôi làng nhỏ trên núi, đi từ nơi này đến nơi khác, quen biết từng người dân. Một người trong số họ từng nói với tôi rằng cha ấy biết tên từng người trong làng. Tôi hỏi cha ấy: “Thật sao?” Và cha ấy nói với tôi: "Dạ, con thậm chí còn biết cả tên những con chó trong nhà họ!". Các linh mục ấy biết tất cả mọi người. Sự gần gũi của linh mục. Tốt, các linh mục tốt.

Hôm nay, tôi mang trong tim mình tất cả anh em, những linh mục, và tôi mang anh em đến bàn thờ. Cũng có những linh mục bị vu khống. Điều này xảy ra thường xuyên ngày nay; các linh mục ấy không thể tự do đi lại vì người ta nói xấu họ, ám chi họ đến các vụ bê bối linh mục bị phát hiện. Một vài người trong số họ đã nói với tôi rằng họ không thể mặc trang phục giáo sĩ ra ngoài vì mọi người xúc phạm họ. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục sống chức linh mục của mình. Các linh mục là tội nhân, cùng với các giám mục và Đức Giáo Hoàng cũng là một tội nhân, không được quên cầu xin sự tha thứ và học cách tha thứ vì chúng ta biết rằng chúng ta cần phải cầu xin sự tha thứ và tha thứ. Tất cả chúng ta đều là tội nhân. Các linh mục đang phải chịu đựng những cơn khủng hoảng, những người không biết phải làm gì, những người sống trong bóng tối…

Hôm nay, hỡi anh em linh mục, tất cả anh em đang ở với tôi trên bàn thờ này, những người được thánh hiến. Tôi chỉ nói với anh em một điều: đừng cứng đầu như Phêrô. Hãy để chân anh em được rửa sạch. Chúa là tôi tớ của anh em, Người ở gần anh em và ban cho anh em sức mạnh để rửa chân cho người khác.

Bằng cách này, ý thức được sự cần thiết phải được rửa sạch, anh em sẽ là người ban phát sự tha thứ tuyệt vời. Tha thứ! Hãy có một trái tim rộng lớn và rộng lượng trong việc tha thứ. Đây là thước đo mà chúng ta sẽ bị phán xét. Như anh em đã tha thứ, anh em sẽ được tha thứ theo cùng một mức độ. Đừng sợ tha thứ. Đôi khi chúng ta nghi ngờ; hãy nhìn lên Chúa Kitô [Đức Thánh Cha nhìn lên cây thánh giá]. Ở đó, có sự tha thứ cho tất cả. Hãy can đảm cả trong việc chấp nhận rủi ro, tha thứ để mang lại niềm an ủi. Và nếu anh em không thể ban ơn tha thứ vào lúc này, thì ít nhất hãy đưa ra lời an ủi huynh đệ cho những người mà anh em đồng hành, hãy để cửa mở cho mọi người quay trở lại.

Tôi tạ ơn Chúa vì ân sủng của chức linh mục, tất cả chúng ta đều tạ ơn. Tôi tạ ơn Chúa vì anh em, các linh mục. Chúa Giêsu yêu anh em! Người chỉ yêu cầu anh em hãy để Người rửa chân cho anh em.

WHĐ (11.04.2020)

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 13/4/2017 - Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình

Chúa Giêsu đã ăn bữa tối cùng với các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly và, Phúc Âm nói, Người biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian này mà về với Chúa Cha. Người biết rằng Người sẽ bị phản bội và sẽ bị Giuđa giao nộp vào ngay đêm ấy. “Người đã yêu thương những kẻ thuộc về mình, những kẻ còn ở trong thế gian, và Người yêu họ đến cùng”. Thiên Chúa yêu thương như thế này: yêu đến cùng. Và Người hiến mạng sống mình cho từng người trong chúng ta, và Người tự hào về điều này và muốn điều này bởi vì Người là tình yêu: “Yêu đến cùng”. Điều ấy không dễ dàng, vì tất cả chúng ta đều là tội nhân; tất cả chúng ta đều có những giới hạn, khiếm khuyết, và rất nhiều thứ khác. Mọi người chúng ta đều có thể yêu thương, nhưng chúng ta không giống như Thiên Chúa, Đấng yêu thương đến cùng mà không xét đến những hệ quả. Và Người đã làm gương, để chúng ta hiểu được điều này. Đấng là “đầu”, là Thiên Chúa, đã rửa chân cho các môn đệ. Rửa chân là một tục lệ của thời đó, phải làm trước bữa trưa và bữa tối, vì thời đó đường không được trải nhựa và người đi đường chân dính đầy bụi. Vì thế, một trong những cử chỉ khi đón một người vào nhà, và dùng bữa, là rửa chân cho người ấy. Đó là việc làm của các nô lệ, nhưng Chúa Giêsu đã đảo ngược công việc và chính Người làm điều ấy. Simon không muốn để cho Thầy làm, nhưng Chúa Giêsu đã giải thích cho ông rằng cần phải như thế, vì Người đến thế gian để phục vụ, phục vụ chúng ta, trở nên nô lệ cho chúng ta, để ban sự sống của Người cho chúng ta, để yêu thương đến cùng.

Hôm nay, khi tôi đến đây, có nhiều người trên đường nói rằng: “Đó là Đức giáo hoàng, ngài là đầu, là người đứng đầu Giáo hội...” Chúa Giêsu là đầu của Hội Thánh; đúng thế! Đức giáo hoàng là hình ảnh của Chúa Giêsu và tôi cũng muốn làm điều tương tự như Chúa đã làm. Trong nghi thức này, cha xứ rửa chân các tín hữu. Có một sự đảo ngược: người xem ra là người lớn nhất phải làm công việc của người nô lệ, nhưng là để gieo tình yêu, gieo yêu thương giữa chúng ta. Hôm nay tôi không bảo anh chị em hãy đi và rửa chân cho nhau: nói thế hẳn chỉ là đùa vui. Nhưng tôi sẽ nói đến biểu tượng, đến hình ảnh: tôi sẽ bảo anh chị em rằng nếu có thể giúp đỡ, thì hãy làm một công việc phục vụ ở đây, trong nhà tù này, cho người bạn tù của mình, anh chị em hãy làm điều đó.

Bởi vì đó là tình yêu, cũng giống như rửa chân vậy. Đó là làm người phục vụ người khác. Có lần khi các môn đệ tranh cãi nhau xem ai là người lớn nhất, quan trọng nhất, Chúa Giêsu liền bảo: “Ai muốn làm người quan trọng, phải trở nên nhỏ bé và làm đầy tớ của mọi người”. Và đó là điều Người đã làm; Thiên Chúa đã làm điều đó với chúng ta. Người phục vụ chúng ta. Người là đầy tớ – của mọi người chúng ta, là những người đáng thương, tất cả chúng ta! Nhưng Người cao cả; Người tốt lành. Và Người yêu thương chúng ta như chúng ta là. Vì thế, khi cử hành nghi thức này, chúng ta nghĩ đến Thiên Chúa, đến Chúa Giêsu. Đây không phải là một nghi thức tầm thường, mà là một cử chỉ để tưởng nhớ những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta. Sau đó, Người cầm lấy bánh và ban cho chúng ta Thân mình của Người; cầm lấy chén rượu và ban cho chúng ta Máu của Người. Tình yêu của Thiên Chúa là như thế đó. Hôm nay chúng ta hãy chỉ suy nghĩ về tình yêu của Thiên Chúa.

WHĐ (15.04.2017)

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 21/4/2011 - Khát khao hiệp nhất nơi bàn tiệc ly

Anh chị em thân mến,

“Thầy những khát khao mong mỏi được ăn lễ Vượt qua này với anh em trước khi chịu khổ hình” (Lc 22,15). Với những lời ấy, Đức Giêsu bắt đầu cử hành bữa ăn cuối cùng của Người và thiết lập Bí tích Thánh Thể. Đức Giêsu tiến đến giờ phút ấy với một niềm khát khao sâu xa. Trong tâm hồn mình, Người mong đợi giây phút được trao ban chính mình cho những kẻ thuộc về Người dưới hình bánh và rượu. Người mong đợi giây phút mà, theo một nghĩa nào đó, sẽ trở thành tiệc cưới Mêsia đích thực: khi Người biến đổi những lễ vật của trần gian này và trở nên một với những kẻ thuộc về Người, để biến đổi họ và như thế khai mở công trình biến đổi cả thế giới. Trong niềm khát khao tha thiết ấy của Đức Giêsu, chúng ta có thể nhận ra chính niềm khát khao của Thiên Chúa - tình yêu mong đợi của Người dành cho nhân loại và cho toàn thể thụ tạo. Đó là một tình yêu đang chờ đợi giờ phút hiệp nhất, một tình yêu muốn kéo nhân loại về với mình, và nhờ đó hoàn tất niềm khát mong của toàn thể tạo thành; bởi lẽ muôn loài thụ tạo những mong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mặc khải vinh quang của con cái Người (x. Rm 8,19). Đức Giêsu khát khao chúng ta, Người chờ đợi chúng ta. Nhưng còn chúng ta thì sao? Chúng ta có thực sự khát khao Người không? Chúng ta có mong mỏi được gặp gỡ Người không? Chúng ta có ước mong được kết hiệp với Người, đón nhận những hồng ân mà Người ban trong Bí tích Thánh Thể không? Hay chúng ta lại dửng dưng, xao lãng, bận tâm với bao điều khác?

Qua các dụ ngôn về bàn tiệc, chúng ta thấy Đức Giêsu hiểu rất rõ về những chỗ trống nơi bàn tiệc, về những lời mời bị từ chối, về sự thiếu quan tâm đối với Người và sự gần gũi của Người. Đối với chúng ta, những chỗ trống nơi bàn tiệc cưới của Chúa, dù có thể biện minh hay không, không còn chỉ là một dụ ngôn nữa, nhưng đã trở thành một thực tại, ngay tại những miền đất mà Người đã tỏ lộ sự gần gũi của mình cách đặc biệt. Đức Giêsu cũng biết đến những người bước vào bàn tiệc mà không mặc áo cưới – họ đến không phải để vui hưởng sự hiện diện của Người, nhưng chỉ vì thói quen, trong khi lòng họ đang hướng về nơi khác. Trong một bài giảng, thánh Grêgôriô Cả đặt câu hỏi: những ai là những người bước vào mà không mặc áo cưới? Áo ấy là gì và làm sao có được? Ngài trả lời rằng những người được mời và bước vào, theo một nghĩa nào đó, vẫn có đức tin. Chính đức tin mở cửa cho họ bước vào. Nhưng họ lại thiếu chiếc áo cưới của tình yêu. Những ai không sống đức tin của mình như tình yêu thì chưa sẵn sàng cho bàn tiệc và sẽ bị loại ra ngoài. Hiệp lễ đòi hỏi đức tin, nhưng đức tin cũng đòi hỏi tình yêu; nếu không, ngay cả với tư cách là đức tin, nó cũng đã chết.

Qua cả bốn sách Tin mừng, chúng ta biết rằng bữa ăn cuối cùng của Đức Giêsu trước cuộc Thương khó cũng là một thời khắc giáo huấn. Một lần nữa, Đức Giêsu khẩn thiết trình bày cốt lõi sứ điệp của Người. Lời và bí tích, sứ điệp và hồng ân gắn kết với nhau cách bất khả phân ly. Tuy nhiên, trong bữa ăn cuối cùng ấy, trên hết mọi sự, Đức Giêsu đã cầu nguyện. Thánh Mátthêu, Máccô và Luca dùng hai từ để diễn tả lời cầu nguyện của Đức Giêsu vào cao điểm của bữa tiệc: eucharístesas và eulógesas – tức là các động từ “tạ ơn” và “chúc tụng”. Chuyển động đi lên của lời tạ ơn và chuyển động đi xuống của lời chúc lành luôn đi đôi với nhau. Những lời truyền phép là một phần trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu. Chính những lời ấy tự bản chất cũng là những lời cầu nguyện. Đức Giêsu biến đau khổ của mình thành lời cầu nguyện, thành của lễ dâng lên Chúa Cha vì phần rỗi nhân loại. Sự biến đổi đau khổ thành tình yêu ấy có sức mạnh biến đổi những lễ vật mà giờ đây Người dùng để trao ban chính mình. Người ban những lễ vật ấy cho chúng ta, để chúng ta và cả thế giới của chúng ta được biến đổi. Mục đích tối hậu của sự biến đổi Thánh Thể là chính sự biến đổi của chúng ta trong sự hiệp thông với Đức Kitô. Thánh Thể hướng tới con người mới và thế giới mới, điều chỉ có thể thành tựu từ Thiên Chúa, qua thừa tác vụ của Người Tôi Trung của Thiên Chúa.

Qua Tin mừng theo Thánh Luca, và đặc biệt là theo Thánh Gioan, chúng ta biết rằng trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu cũng đã cầu nguyện cùng Chúa Cha – những lời cầu nguyện đồng thời cũng là một lời khẩn thiết gửi đến các môn đệ thời ấy và của mọi thời đại. Ở đây, tôi chỉ muốn dừng lại nơi một lời nguyện mà, như Thánh Gioan cho biết, Đức Giêsu đã lặp lại bốn lần trong Lời nguyện Thượng tế. Điều này hẳn đã chất chứa một thao thức rất sâu xa nơi Người! Và đó vẫn luôn là lời cầu nguyện không ngừng của Người dâng lên Chúa Cha cho chúng ta: lời cầu xin cho sự hiệp nhất. Đức Giêsu minh nhiên nói rằng lời cầu nguyện này không chỉ dành cho các môn đệ hiện diện lúc bấy giờ, nhưng còn cho tất cả những ai sẽ tin vào Người (x. Ga 17,20). Người cầu xin cho mọi người được nên một: “Lạy Cha, xin cho họ nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21).

Sự hiệp nhất Kitô giáo chỉ có thể hiện hữu khi các Kitô hữu được kết hiệp sâu xa với chính Người, với Đức Giêsu. Đức tin và tình yêu dành cho Đức Giêsu, đức tin vào sự hiệp nhất của Người với Chúa Cha, và sự sẵn sàng để trở nên một với Người, là điều thiết yếu.Tuy nhiên, sự hiệp nhất này không chỉ là điều nội tâm hay thần bí thuần túy. Nó phải trở nên hữu hình, hữu hình đến mức có thể làm chứng trước mặt thế gian rằng Đức Giêsu thật sự được Chúa Cha sai đến. Vì thế, lời cầu nguyện của Đức Giêsu mang một ý nghĩa Thánh Thể sâu xa, điều mà Thánh Phaolô diễn tả rõ trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: “Tấm bánh chúng ta bẻ ra, há chẳng phải là sự hiệp thông vào thân thể Đức Kitô sao? Bởi vì chỉ có một tấm bánh, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh ấy” (1 Cr 10,16tt). Cùng với Thánh Thể, Giáo hội được khai sinh. Tất cả chúng ta cùng ăn một tấm bánh và đón nhận cùng một Mình Thánh Chúa; điều đó có nghĩa là Người mở chúng ta ra với một thực tại vượt trên chính mình. Người làm cho tất cả chúng ta nên một. Thánh Thể là mầu nhiệm của sự gần gũi sâu xa và sự hiệp thông của mỗi người với Chúa, đồng thời cũng là mầu nhiệm của sự hiệp nhất hữu hình giữa mọi người. Thánh Thể là bí tích của sự hiệp nhất. Bí tích này chạm tới chính mầu nhiệm Ba Ngôi và từ đó kiến tạo nên sự hiệp nhất hữu hình. Xin cho tôi được nói lại lần nữa: đó là một cuộc gặp gỡ vô cùng cá vị với Chúa, nhưng không bao giờ chỉ là một hành vi đạo đức cá nhân. Theo bản chất, chúng ta cử hành bí tích này cùng nhau. Trong mỗi cộng đoàn, Chúa hiện diện trọn vẹn. Thế nhưng, trong mọi cộng đoàn, chỉ có một Chúa duy nhất. Vì vậy, những lời “una cum Papa nostro et cum episcopo nostro” (hiệp thông với Đức Giáo hoàng của chúng con và với Đức Giám mục của chúng con) là phần thiết yếu trong Kinh nguyện Thánh Thể của Giáo hội. Những lời ấy không phải là một phần thêm vào bên ngoài, nhưng là sự diễn tả cần thiết của chính bản chất Thánh Thể. Hơn nữa, chúng ta nêu đích danh Đức Giáo hoàng và Đức Giám mục: sự hiệp nhất là một thực tại hết sức cụ thể, có tên gọi rõ ràng. Nhờ đó, sự hiệp nhất trở nên hữu hình; nó trở thành một dấu chỉ cho thế gian và là một tiêu chuẩn cụ thể cho chính chúng ta.

Thánh Luca đã lưu lại cho chúng ta một yếu tố rất cụ thể trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu cho sự hiệp nhất: “Simon, Simon, này Satan đã xin được sàng anh em như sàng gạo; nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy củng cố anh em mình” (Lc 22,31-32). Ngày nay, một lần nữa, chúng ta đau đớn nhận ra rằng Satan đã được phép sàng các môn đệ trước mặt toàn thế giới. Và chúng ta biết rằng Đức Giêsu vẫn cầu nguyện cho đức tin của Phêrô và các đấng kế vị ngài. Chúng ta biết rằng Phêrô, người đang bước về phía Chúa trên những làn sóng dữ của lịch sử và luôn có nguy cơ chìm xuống, không ngừng được nâng đỡ bởi bàn tay của Chúa và được Người dẫn dắt vượt qua sóng nước. Nhưng Đức Giêsu còn nói thêm một lời tiên báo và một sứ mạng: “một khi đã trở lại…”. Mọi con người, ngoại trừ Đức Maria, đều luôn cần đến sự hoán cải. Đức Giêsu báo trước cho Phêrô về sự chối bỏ sắp xảy đến và cuộc trở lại của ông. Nhưng Phêrô cần phải hoán cải khỏi điều gì? Ngay từ lần đầu được gọi, khi kinh ngạc trước quyền năng thần linh của Chúa và trước sự yếu đuối của chính mình, Phêrô đã thưa: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Trong ánh sáng của Chúa, ông nhận ra sự bất xứng của mình. Chính trong sự khiêm nhường của người biết mình là tội nhân, ông được mời gọi. Và ông phải luôn khám phá lại sự khiêm nhường ấy. Tại Xêdarê Philípphê, Phêrô không thể chấp nhận rằng Đức Giêsu phải chịu đau khổ và chịu đóng đinh: điều đó không phù hợp với hình ảnh ông có về Thiên Chúa và Đấng Mêsia. Trong Phòng Tiệc ly, ông không muốn để Đức Giêsu rửa chân cho mình: điều đó không phù hợp với hình ảnh ông có về phẩm giá của Thầy. Trong vườn Cây Dầu, ông rút gươm ra. Ông muốn chứng tỏ lòng can đảm của mình. Thế nhưng, trước một cô tớ gái, ông lại tuyên bố rằng mình không biết Đức Giêsu. Khi ấy, ông có thể nghĩ đó chỉ là một lời nói dối nhỏ để tiếp tục ở gần Chúa. Nhưng toàn bộ sự anh hùng của ông đã sụp đổ trong một nỗ lực tầm thường nhằm giữ mình ở trung tâm mọi sự. Cả chúng ta cũng vậy, tất cả chúng ta cần học lại để đón nhận Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô như chính Người là, chứ không phải theo cách chúng ta muốn Người phải là. Chúng ta cũng khó chấp nhận rằng Người đã liên đới chính mình với những giới hạn của Giáo hội và các thừa tác viên của Giáo hội. Chúng ta cũng không muốn chấp nhận rằng Người dường như bất lực trong thế giới này. Chúng ta cũng dễ viện cớ khi việc làm môn đệ của Người trở nên quá tốn kém, quá nguy hiểm. Tất cả chúng ta đều cần một sự hoán cải giúp mình đón nhận Đức Giêsu trong thực tại của Người, vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Chúng ta cần sự khiêm nhường của người môn đệ biết bước theo ý muốn của Thầy mình. Đêm nay, chúng ta muốn nài xin Đức Giêsu nhìn đến chúng ta, như Người đã từng nhìn Phêrô bằng ánh mắt hiền từ đúng vào thời điểm thích hợp, và xin Người hoán cải chúng ta.

Sau khi Phêrô được hoán cải, ông được mời gọi củng cố anh em mình. Không phải ngẫu nhiên mà sứ mạng ấy được trao cho ông ngay trong Phòng Tiệc ly. Thừa tác vụ hiệp nhất có vị trí hữu hình của nó nơi việc cử hành Bí tích Thánh Thể. Anh chị em thân mến, đối với Đức Giáo hoàng, đó là một niềm an ủi lớn lao khi biết rằng trong mỗi Thánh lễ, mọi người đều cầu nguyện cho ngài, và lời cầu nguyện của chúng ta được kết hợp với chính lời cầu nguyện của Chúa dành cho Phêrô.

Chỉ nhờ lời cầu nguyện của Chúa và của Giáo hội mà Đức Giáo hoàng mới có thể chu toàn sứ mạng củng cố anh em mình – chăn dắt đoàn chiên của Đức Kitô và trở nên người bảo đảm cho sự hiệp nhất, một sự hiệp nhất trở thành chứng tá hữu hình cho sứ mạng mà Đức Giêsu đã lãnh nhận từ Chúa Cha.

“Thầy những khát khao mong mỏi được ăn lễ Vượt Qua này với anh em”. Lạy Chúa, Chúa khát khao chúng con, Chúa khát khao chính con. Chúa tha thiết mong muốn trao ban chính mình cho chúng con trong Bí tích Thánh Thể, để nên một với chúng con. Xin Chúa khơi dậy trong chúng con niềm khát khao hướng về Chúa. Xin củng cố chúng con trong sự hiệp nhất với Chúa và với nhau. Xin ban cho Giáo hội Chúa được hiệp nhất, để thế gian tin. Amen.

WHĐ (21/4/2011)

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Tiệc ly ngày 13/4/2006 - Anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!

Anh em trong hàng giám mục và linh mục thân mến,
Anh chị em thân mến,

“Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1).

Thiên Chúa yêu con người - thụ tạo của Ngài; Ngài thậm chí còn yêu con người ngay cả khi con người sa ngã và Ngài không bỏ mặc con người. Ngài yêu con người đến cùng. Tình yêu của Ngài thúc đẩy Ngài yêu đến cùng, đến tận cùng: Ngài đã hạ mình, trút bỏ vinh quang thần tính của Ngài.

Ngài cởi bỏ bộ trang phục vinh quang thần tính của mình và khoác lên mình bộ trang phục nô lệ. Ngài đã xuống đến mức tận cùng trong sự thấp hèn sa ngã của chúng ta. Ngài quỳ trước chúng ta và làm cho chúng ta công việc phục vụ của một người nô lệ: Ngài rửa đôi bàn chân bẩn thỉu của chúng ta để chúng ta được nhận vào bàn tiệc của Ngài và được xứng đáng ngồi cùng bàn với Ngài - điều mà tự mình, chúng ta không thể và sẽ không bao giờ làm được.

Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa xa xôi, quá xa vời đến mức không bận tâm đến những chuyện vặt vãnh của chúng ta. Vì Thiên Chúa là vĩ đại nên Ngài có thể quan tâm đến những việc nhỏ nhặt. Vì Ngài là vĩ đại nên linh hồn của con người, cũng như chính con người, được tạo dựng bởi tình yêu vĩnh cửu, không phải là điều nhỏ nhặt mà là điều vĩ đại và xứng đáng với tình yêu của Ngài.

Sự thánh thiện của Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là một sức mạnh rực sáng mà chúng ta buộc phải rút lui trốn tránh vì kinh hãi. Nhưng đó còn là sức mạnh của tình yêu, sức mạnh có sức thanh tẩy và chữa lành.

Thiên Chúa hạ mình và trở thành nô lệ, Ngài rửa chân cho chúng ta để chúng ta được đến bàn tiệc của Ngài. Ở đây, toàn bộ mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô được thể hiện. Trong đó, ý nghĩa của sự cứu chuộc trở nên rõ ràng. Cái chậu mà Ngài rửa sạch chúng ta là tình yêu của Ngài, sẵn sàng đối mặt với cái chết. Chỉ có tình yêu mới có sức mạnh thanh tẩy, rửa sạch bụi bẩn khỏi chúng ta và nâng chúng ta lên địa vị cao cả của Thiên Chúa.

Cái chậu thanh tẩy chúng ta là chính Thiên Chúa, Đấng hiến thân cho chúng ta không chút dè dặt - đến tận vực thẳm đau khổ và cái chết của Ngài. Ngài không ngừng là tình yêu thanh tẩy chúng ta; nơi các bí tích thanh tẩy - Rửa tội và Giải tội - Ngài liên tục quỳ dưới chân chúng ta và thực hiện cho chúng ta việc phục vụ của một người nô lệ, việc phục vụ thanh tẩy, làm cho chúng ta có khả năng phục vụ Thiên Chúa.

Tình yêu của Thiên Chúa là vô tận, nó thực sự đi đến tận cùng.

Chúa nói: “Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” (Ga 13:10). Câu này cho thấy món quà thanh tẩy tuyệt vời mà Ngài ban cho chúng ta. Bởi vì Ngài muốn ngồi cùng bàn với chúng ta, trở thành lương thực của chúng ta nên Ngài trao món quà thanh tẩy cho chúng ta. “Nhưng không phải tất cả đâu” - mầu nhiệm từ chối vẫn tồn tại, điều này trở nên rõ ràng qua hành động của Giuđa, vào chính Thứ Năm Tuần Thánh, ngày Chúa Giêsu hiến thân. Điều này sẽ khiến chúng ta phải suy nghĩ. Tình yêu của Thiên Chúa không có giới hạn, nhưng con người có thể đặt ra giới hạn cho tình yêu đó.

“Anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”: Điều gì làm cho con người trở nên ô uế?

Đó chính là sự từ chối tình yêu, không muốn được yêu, hay không được yêu. Đó là niềm kiêu ngạo tin rằng họ không cần bất kỳ sự thanh tẩy nào, họ khép kín trước sự tốt lành cứu rỗi của Thiên Chúa. Đó là sự kiêu ngạo không muốn thừa nhận hay không nhận ra rằng chúng ta đang rất cần được thanh tẩy.

Nơi Giuđa, chúng ta thấy bản chất của sự từ chối này rõ ràng hơn. Giuđa đánh giá Chúa Giêsu theo tiêu chuẩn quyền lực và thành công. Đối với ông, chỉ có quyền lực và thành công là có thật; tình yêu không được tính đến. Và ông lại tham lam: tiền bạc quan thì trọng hơn sự hiệp thông với Chúa Giêsu, quan trọng hơn Thiên Chúa và tình yêu của Ngài.

Do đó, ông cũng trở thành một kẻ nói dối, chơi trò hai mặt và đoạn tuyệt với sự thật; một người sống trong sự lừa dối và do đó đánh mất ý thức về sự thật tối cao, về Thiên Chúa. Bằng cách này, Giuđa trở nên chai đá và không có khả năng hoán cải, không còn tin tưởng vào sự trở lại như Đứa Con Hoang Đàng, và ông đã từ bỏ cuộc sống.

“Anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!”. Hôm nay, Thiên Chúa cảnh báo chúng ta về sự tự mãn đặt ra giới hạn cho tình yêu vô hạn của Ngài. Ngài mời gọi chúng ta bắt chước sự khiêm nhường của Ngài, hãy dấn thân theo điều đó, hãy để mình được “thấm nhập” bởi điều đó.

Dù chúng ta có cảm thấy mất mát, thì Ngài vẫn mời gọi chúng ta hãy trở về nhà, hãy để lòng nhân lành thanh tẩy của Ngài nâng đỡ chúng ta và giúp chúng ta có thể ngồi cùng bàn với Ngài, Thiên Chúa của chúng ta.

Chúng ta hãy thêm lời cuối cùng vào đoạn Tin Mừng đầy ý nghĩa này: “Vì Thầy đã nêu gương cho anh em” (Ga 13:15); “Anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13:14). “Rửa chân cho nhau” bao gồm những gì? Nó thực sự có nghĩa là gì?

Việc rửa chân là mọi việc lành mình làm cho người khác - đặc biệt cho những người đau khổ và những người bị coi là không có giá trị gì.

Chúa kêu gọi chúng ta làm việc rửa chân này: hãy hạ mình xuống, học sự khiêm nhường và lòng can đảm của sự tốt lành, cũng như sẵn sàng chấp nhận sự từ chối, nhưng vẫn luôn tin tưởng vào sự tốt lành và kiên trì trong việc đó.

Nhưng còn có một khía cạnh khác sâu sắc hơn. Chúa tẩy sạch vết bẩn khỏi chúng ta bằng sức mạnh thanh tẩy của lòng nhân hậu của Ngài. Rửa chân cho nhau trước hết có nghĩa là tha thứ cho nhau một cách không mệt mỏi, cùng nhau bắt đầu lại từ đầu, cho dù điều đó có vẻ vô nghĩa đến đâu. Nó có nghĩa là thanh tẩy lẫn nhau bằng cách chịu đựng lẫn nhau và khoan dung với nhau; thanh tẩy lẫn nhau là trao ban cho nhau sức mạnh thánh hóa của Lời Chúa và dẫn nhau vào Bí tích tình yêu của Thiên Chúa.

Chúa thanh tẩy chúng ta, và vì lý do này, chúng ta mới có thể dám đến gần bàn tiệc của Ngài. Chúng ta hãy cầu xin Ngài ban cho tất cả chúng ta ân sủng để một ngày nào đó, chúng ta có thể trở thành khách mời mãi mãi trong tiệc cưới vĩnh cửu. Amen!

WHĐ (14.04.2006)