Đức Lêô XIV, Bài giảng Chúa nhật 26 Thường niên năm A (27/9/2026) - Hãy trở thành những nhà truyền giáo của hy vọng
(Thánh lễ tại Lộ Đức trong chuyến tông du nước Pháp)
Anh chị em thân mến, những người hành hương đến từ nước Pháp và khắp thế giới, khi nhìn anh chị em quy tụ sáng nay trong nhà của Mẹ chúng ta, tôi thấy khuôn mặt phổ quát của Giáo hội. Có những người trong anh chị em đã vượt qua các châu lục, trải qua bao nhọc nhằn, mang niềm vui và những gánh nặng của mình đến Hang Đá linh thiêng này. Thật hạnh phúc biết bao khi được ở bên nhau, chung một lòng, cùng một gia đình!
Tôi đặc biệt muốn chào thăm những người hành hương đến từ mọi miền và mọi giáo phận của nước Pháp. Hôm nay, anh chị em đặt chân lên mảnh đất được chúc phúc này, nơi đã lãnh nhận biết bao ân sủng. Ước gì cuộc hành hương thắp lại ngọn lửa đức tin trong gia đình và giáo xứ của anh chị em. Hãy mang niềm an ủi của Lộ Đức đến với những người láng giềng, người thân và toàn thể dân Pháp.
Các bản văn Phụng vụ của Chúa nhật hôm nay chạm đến một khía cạnh trọng tâm trong sứ điệp Đức Trinh Nữ Maria đã trao cho thánh nữ Bernadette: lời mời gọi hoán cải vừa dịu dàng vừa khẩn thiết. Trong Tin mừng, Đức Giêsu nhìn những tâm hồn khép kín bằng ánh mắt thấu suốt sự thật và đầy buồn thương: “Các ông vẫn không chịu hối hận!” (Mt 21,32). Vì sao Trái Tim Chúa Kitô mang nỗi đau ấy? Bởi Thiên Chúa không muốn con cái Người phải hư mất. Ngôn sứ Êdêkien nhắc chúng ta: “Người làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết”; còn nếu người ấy hoán cải, nếu “nhận ra và từ bỏ mọi tội phản nghịch nó phạm, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết” (x. Ed 18,26.28). Vì thế, lời mời gọi sám hối không ngừng vang lên trong Sách Thánh và xuyên suốt việc rao giảng Tin mừng qua các thế kỷ. Sức nặng của lời mời gọi ấy cho thấy việc hoán cải cấp bách và cần thiết đến mức nào: chính hôm nay – chứ không phải ngày mai – là lúc phải hoán cải; chính hôm nay là thời thuận tiện, là ngày cứu độ (x. 2 Cr 6,2). Vâng, Thiên Chúa muốn con người được sống, mở mắt ra và trở về với Người. Hoán cải là rời bỏ những nẻo đường lầm lạc để bước vào con đường sự sống, mở lòng đón nhận niềm vui duy nhất không qua đi.
Chính Đức Giêsu cũng nói rất thẳng thắn khi Người kêu gọi sám hối, như thánh Luca thuật lại: “Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy” (Lc 13,5). Nhưng Người mở rộng chân trời sự sống trần thế đến chân trời sự sống đời đời. Hạnh phúc ở đời này là một thực tại chóng qua, tương đối, và đôi khi, đáng buồn thay, có những người không thể đạt tới; trái lại, hạnh phúc đích thực được hứa ban cho tất cả mọi người trong niềm hy vọng. Hạnh phúc ấy phải là điều chính yếu mà chúng ta tìm kiếm, nỗ lực đạt tới và hướng các chọn lựa của mình về đó. Chẳng phải Đức Trinh Nữ Maria đã nói với thánh nữ Bernadette thế này sao: “Mẹ không hứa cho con được hạnh phúc ở đời này, nhưng ở đời sau”?
Lời hứa được công bố ngay tại nơi này vang lên với sức mạnh đặc biệt trên mảnh đất Pháp và chất vấn cách nghĩ của con người thời nay. Trong thời điểm lịch sử này, giữa một xã hội tìm kiếm tiến bộ và sự sung túc vật chất nhưng đôi khi bị cám dỗ quên đi chân trời vĩnh cửu, Đức Maria đến nhắc chúng ta về sự cao cả của ơn gọi được sống, được sống đời đời. Trước những trào lưu hiện nay muốn định nghĩa lại giá trị của sự sống con người khi đối diện với bệnh tật, đau khổ hay tuổi già, Hang Đá Massabielle hiện lên như một thánh địa của niềm hy vọng Kitô giáo. Ở đây, không một ai bị khước từ vì sự mong manh của mình. Những chiếc nạng, những xe lăn, những giọt nước mắt thầm kín của anh chị em không phải là trở ngại: chính nơi những điều ấy, anh chị em được tôn trọng và được đón nhận trọn vẹn, được biến đổi bởi tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Lộ Đức là nơi được chúc phúc để tuyên xưng niềm tin vào vẻ đẹp và sự thánh thiêng của sự sống, bởi tại đây, sự sống được đón nhận như hồng ân quý giá của Thiên Chúa, được mời gọi triển nở đến muôn đời trong tình yêu của Chúa Cha.
“Mẹ hứa với con!” Vâng, sự sống đời đời là lời hứa vững chắc và chắc chắn Chúa dành cho chúng ta. Người đã giành lấy sự sống ấy cho chúng ta nhờ cái chết trên thập giá và sự phục sinh của Người; và mỗi ngày, Người đã thực hiện lời hứa ấy nơi chúng ta nhờ ân sủng của Bí tích Rửa tội. Sự sống ấy ở trong tầm tay chúng ta, nhưng mỗi người phải tự do đón nhận, nắm lấy và không ngăn trở sự sống ấy. Trở ngại đối với ân sủng và sự sống đời đời – trở ngại duy nhất – chính là tội lỗi, là việc khép kín nơi bản thân, là sự từ chối Thiên Chúa khiến chúng ta bị giam hãm trong bóng tối của mình! Vì thế, trách nhiệm cá nhân của mỗi người được đặt ra, và đó là một trách nhiệm lớn lao! Thiên Chúa muốn chúng ta được tự do, vì tự do là điều kiện của tình yêu; không ai có thể yêu vì bị ép buộc. Cần dùng tự do được ban ấy để thưa “xin vâng” với Đức Kitô, nhờ sự trợ giúp của ân sủng Người và theo gương Đức Maria; một lời “xin vâng” được lặp lại không ngừng cho đến hơi thở cuối cùng: “khi nay và trong giờ lâm tử…”, như chúng ta đọc trong kinh Kính Mừng.
Lời mời gọi hoán cải khẩn thiết ấy cũng được tìm thấy trong những lời Đức Maria nói ngay tại nơi này: “Sám hối! Sám hối! Sám hối!” Mẹ lặp lại từ ấy ba lần…! Và Mẹ mời Bernadette thực hiện một số cử chỉ sám hối! Vì sao vậy? Phải chăng chúng ta chậm hiểu? Phải chăng chúng ta quá dễ dàng cho rằng mình không có tội? Phải chăng chúng ta chưa thực hành việc sám hối cho đủ? Đức Mẹ xin chúng ta ăn năn sám hối, không chỉ cho chính mình, vì bản thân mỗi người cũng cần điều ấy, mà còn “cho những người tội lỗi”, cho một thế giới đang gặp nhiều bất ổn. Làm sao lòng ta không bị lay động trước những cuộc xung đột ngày càng lan rộng, hủy hoại biết bao sinh mạng vô tội? Thật vậy, sự dữ mà thời đại chúng ta đang trải qua phát sinh từ lòng con người; Thiên Chúa không chịu trách nhiệm về điều đó: “Không phải đường lối của Ta không ngay thẳng – Người nói với con cái Israel – mà chính đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng” (Ed 18,25). Vì thế, lòng người cần được biến đổi, bắt đầu từ chính lòng mình.
Việc sám hối là một việc làm được tình yêu khơi dậy trong tình liên đới với nhân loại: tình yêu dành cho Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta muốn đền bù nỗi đau nơi Trái Tim Người do tội lỗi của mình gây ra; tình yêu dành cho tất cả anh chị em đồng loại, những người không nghe lời mời gọi hoán cải ấy và đang bị lỗi lầm của mình dẫn tới cái chết. Đòi hỏi hoán cải này cũng đặt ra cho chính Giáo hội trên hành trình lữ hành trần thế. Giáo hội phải có can đảm sống sự hoán cải ấy trước tiên. Để chữa lành những vết thương sâu xa, những sự bất trung và lầm lạc đau đớn đã xảy ra trong lòng Giáo hội, chúng ta phải khiêm tốn đặt mình dưới ánh nhìn thanh luyện của Chúa. Nhận ra những lỗi lầm của chính mình là điều không thể thiếu để tiến bước trong đời sống thiêng liêng, như thánh Augustinô từng viết: “Hãy luôn không bằng lòng với điều mình đang là, nếu muốn đạt tới điều mình chưa là” (Bài giảng 169, 15.18).
Lời Mẹ nhắc nhở về bổn phận cầu nguyện và hoán cải đổ đầy lòng chúng ta niềm hy vọng lớn lao, bởi Mẹ chỉ cho chúng ta phương thế để thay đổi chiều hướng của sự việc: kết hợp với cuộc Thương Khó của Đức Kitô. Anh chị em là những bệnh nhân đang chịu đau khổ, hiện diện rất đông tại Lộ Đức, anh chị em có thể sống những gian nan và đau đớn của mình trong tinh thần dâng hiến ấy, để tham dự vào công trình cứu chuộc mà thế giới đang rất cần. Theo nghĩa đó, anh chị em thật sự ở trong trái tim của Giáo hội, và vai trò của anh chị em không thể thay thế.
Những người hành hương, anh chị em thân mến, anh chị em sẽ không rời Lộ Đức như lúc đến đây: anh chị em sẽ ra về như những nhà truyền giáo của niềm hy vọng! Đó là phép lạ của nơi này: khơi dậy niềm vui của hy vọng ngay giữa thử thách và đau thương. Đức Trinh Nữ Maria chữa lành cái nhìn của chúng ta và biến đổi tâm hồn chúng ta khi ban cho tâm hồn sự bình an. Tại đất nước, giáo phận và gia đình của mình, anh chị em hãy trở thành những chứng nhân tích cực của sức mạnh và sự dịu dàng thần linh ấy, nhờ đó chúng ta có thể tiếp tục cuộc hành trình và tới đích. Được nâng đỡ bởi lời cầu nguyện của các bệnh nhân và tình thương của Mẹ chúng ta, anh chị em hãy tin tưởng tiến về tương lai. Đừng sợ những cơn bão của thế gian: Thánh Mẫu Thiên Chúa dõi theo bước đường của chúng ta, Mẹ phủ áo choàng dịu hiền trên Giáo hội; là Sao Mai rực sáng, Mẹ dẫn bước chúng ta để trong niềm vui, Mẹ sinh chúng ta vào chính sự sống của Đức Giêsu, Con của Mẹ.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (01/10/2023) – Thiên Chúa yêu chúng ta vô điều kiện
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Tin Mừng Phụng vụ hôm nay trình bày cho chúng ta một dụ ngôn đáng ngạc nhiên: người chủ vườn nho đi ra từ sáng sớm đến chiều muộn để gọi một số người đi làm công cho ông, nhưng cuối cùng, ông trả lương cho mọi người như nhau, kể cả những người mới chỉ làm việc được một giờ (x. Mt 20.1-16). Có vẻ như một sự bất công, nhưng không nên đọc câu chuyện dụ ngôn qua tiêu chí tiền lương; đúng hơn, Chúa muốn chúng ta nhìn thấy những tiêu chuẩn của Thiên Chúa, Đấng không tính toán công trạng của chúng ta, nhưng yêu thương chúng ta như những người con.
Hãy nhìn vào hai hành động của Thiên Chúa trong câu chuyện. Đầu tiên, Thiên Chúa luôn đến để kêu gọi chúng ta; thứ hai, Người trả cho tất cả mọi người với cùng một “quan tiền”.
Trước hết, Thiên Chúa là Đấng luôn đến để kêu gọi chúng ta. Dụ ngôn kể rằng người chủ “vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình” (câu 1), nhưng sau đó tiếp tục đi ra vào nhiều giờ khác nhau trong ngày cho đến khi mặt trời lặn để tìm những người chưa có ai thuê làm việc. Do đó, chúng ta hiểu rằng trong dụ ngôn, những người làm công không chỉ là con người, mà trước hết là Thiên Chúa, Đấng luôn đi ra suốt ngày không mệt mỏi. Thiên Chúa là như vậy: Người không chờ đợi những cố gắng của chúng ta để đến với chúng ta, Người không làm cuộc khảo sát để đánh giá công trạng của chúng ta trước khi tìm kiếm chúng ta, Người không bỏ cuộc nếu chúng ta chậm đáp lại; thay vào đó, chính Người đã chủ động và trong Chúa Giêsu, Người “đi ra” hướng về phía chúng ta, để biểu lộ cho chúng ta thấy tình yêu của Người. Và như Thánh Grêgôriô Cả nói, Người tìm chúng ta vào mọi thời điểm trong ngày, vào các giai đoạn và mùa khác nhau của cuộc đời chúng ta cho đến tuổi già (x. Bài giảng Tin Mừng, 19). Đối với tình yêu của Người thì không bao giờ là quá muộn, Người tìm kiếm chúng ta và luôn chờ đợi chúng ta. Đừng quên điều này: Chúa tìm kiếm chúng ta và Người luôn đợi chúng ta, luôn luôn!
Chính vì tình yêu lớn như thế mà Chúa – với hành động thứ hai – trả cho tất cả mọi người với cùng một “quan tiền”, đó là tình yêu của Người. Đây là ý nghĩa sâu xa nhất của dụ ngôn: những người làm công vào giờ chót được trả lương như những người đầu tiên, vì trên thực tế, sự công bằng của Thiên Chúa thì cao hơn, xa hơn. Sự công bằng của con người nói rằng “hãy trả cho mỗi người những gì họ xứng đáng”, trong khi công bằng của Thiên Chúa không đo lường tình yêu dựa trên bậc thang hiệu quả của chúng ta, thành tích hay thất bại của chúng ta: Thiên Chúa yêu chúng ta và chỉ có thế, Người yêu chúng ta vì chúng ta là những người con, và Người làm điều đó với tình yêu vô điều kiện và vô vị lợi.
Anh chị em thân mến, đôi khi chúng ta có nguy cơ tương quan với Thiên Chúa kiểu “mua bán”, chú ý đến sự tài giỏi của chúng ta hơn là vào lòng quảng đại của ân sủng Người. Đôi khi, ngay cả với tư cách là Giáo hội, thay vì đi ra vào mọi giờ trong ngày và mở rộng vòng tay với mọi người, chúng ta có thể thấy mình đứng đầu lớp, xét đoán những người ở xa, mà không nghĩ rằng Thiên Chúa cũng yêu thương họ bằng tình yêu như Người yêu chúng ta. Và ngay cả trong các mối tương quan, vốn có trong các cơ cấu xã hội, công bằng mà chúng ta thực hành đôi khi không thể thoát ra khỏi cái lồng tính toán và chúng ta giới hạn việc cho đi theo những gì chúng ta nhận được, không dám đi xa hơn, không dám đặt cược hiệu quả dựa trên sự tốt lành vô vị lợi và tình yêu được trao ban với tấm lòng rộng mở. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tự hỏi: với tư cách là một Kitô hữu, tôi có biết cách đến với người khác không? Tôi có quảng đại với mọi người không, tôi có biết cách cho đi “nhiều hơn” về sự hiểu biết và tha thứ, như Chúa Giêsu làm cho tôi và làm tất cả mọi ngày cho tôi không?
Xin Đức Mẹ giúp chúng ta hoán cải theo thước đo của Thiên Chúa, bằng một tình yêu không thước đo.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (27/9/2020 ) – Vâng lời không phải bằng lời nói mà bằng hành động
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Với lời rao giảng về Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su phản đối một thứ tôn giáo không liên quan đến đời sống con người, không thách đố lương tâm và trách nhiệm của mình trước điều tốt và điều xấu. Ngài cũng cho thấy điều này qua dụ ngôn về hai người con trong Tin Mừng thánh Matthêu hôm nay (x. 21, 28-32). Theo lời mời của cha đi làm vườn nho, người con thứ nhất đã hấp tấp trả lời “không, con không đi”, nhưng sau đó ăn năn và đi; ngược lại, người thứ hai ngay lập tức trả lời “dạ, con đi”, nhưng thực tế lại không. Vâng lời không phải là lời nói “có” hoặc “không”, mà luôn luôn là hành động, làm trong vườn nho, trong việc nhận biết Nước Thiên Chúa. Với ví dụ đơn giản này, Chúa Giê-su muốn vượt lên một thứ tôn giáo chỉ tập trung vào thực hành bề ngoài và theo thói quen, không liên quan đến cuộc sống và thái độ của con người, một thứ tôn giáo bề nổi, chỉ “nghi lễ” theo nghĩa xấu của từ.
Những đại biểu cho tôn giáo “bề ngoài” này vào thời đó, mà Chúa Giê-su không tán thành, đó là “các thượng tế và kỳ mục trong dân” (c. 23), những người mà, theo lời khuyến cáo của Chúa, trong Nước Trời họ sẽ bị những người thu thuế và các cô gái điếm vượt mặt (xem c. 31). Chúa Giêsu nói với họ: “Những người thu thuế, nghĩa là những người tội lỗi, và các cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Lời khẳng định này không được khiến chúng ta nghĩ rằng những người không tuân theo các điều răn của Thiên Chúa, và không theo luân lý đạo đức, là tốt, và nói rằng: “những người đi nhà thờ còn tệ hơn chúng tôi”. Không, đây không phải là lời dạy của Chúa Giêsu. Chúa Giê-su không có ý nói những người thu thuế và những cô gái điếm là mẫu mực, nhưng là “những người được đặc ân nhờ Ân Sủng”. Bởi vì sự hoán cải là một ân sủng. Một ân sủng mà Chúa ban cho những ai mở lòng ra và hoán cải trở về với Ngài. Thật vậy, những người này, khi nghe lời rao giảng, đã ăn năn và hoán cải đời sống. Hãy nghĩ đến thánh Matthêu chẳng hạn, một người thu thuế, kẻ phản bội dân tộc đã hoán cải.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, người để lại hình ảnh tốt nhất là người thứ nhất, không phải vì anh nói “không” với bố, nhưng vì sau khi nói “không” anh đã chuyển thành “có”, anh đã hối hận. Thiên Chúa kiên nhẫn với mỗi chúng ta: Ngài không mệt mỏi, không từ bỏ sau lời nói “không” của chúng ta; Ngài để chúng ta tự do, ngay cả quay lưng lại với Ngài và phạm sai lầm. Hãy nghĩ đến sự kiên nhẫn của Thiên Chúa tuyệt vời biết mấy! Chúa đã luôn chờ đợi chúng ta thế nào; luôn ở bên cạnh để giúp đỡ chúng ta; nhưng vẫn tôn trọng tự do của chúng ta. Và Ngài mong mỏi chờ đợi câu trả lời “có” của chúng ta, để chào đón chúng ta một lần nữa trong vòng tay phụ tử và lấp đầy chúng ta bằng lòng thương xót vô hạn của Ngài. Đức tin vào Thiên Chúa đòi hỏi phải đổi mới sự lựa chọn mỗi ngày của điều thiện trên điều ác, của sự thật trên sự dối trá, của tình yêu tha nhân trên sự ích kỷ. Ai hoán cải theo sự lựa chọn này, sau khi đã trải qua kinh nghiệm tội lỗi, sẽ tìm được những vị trí đầu tiên trong Nước Trời, nơi vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn hơn vì chín mươi chín người công chính (x. Lc 15,7).
Nhưng sự hoán cải, thay đổi con tim, là một quá trình, một quá trình thanh lọc chúng ta khỏi những vỏ bọc đạo đức. Và đôi khi, đó là một quá trình đau đớn, bởi vì không có con đường nào dẫn đến sự thánh thiện nếu không có một số từ bỏ và không có sự chiến đấu thiêng liêng. Chiến đấu cho điều thiện, chiến đấu để không rơi vào cám dỗ, làm những gì về phần mình chúng ta có thể, để sống trong bình an và niềm vui của các Mối Phúc. Bài Tin Mừng hôm nay đặt vấn đề về lối sống của người Kitô hữu, không phải được tạo nên từ những ước mơ và khát vọng cao đẹp, nhưng bằng những dấn thân cụ thể, để luôn mở lòng đón nhận thánh ý Chúa và yêu thương anh em mình. Nhưng điều này, ngay cả một dấn thân cụ thể nhỏ nhất, cũng không thể thực hiện được nếu không có ân sủng. Sự hoán cải là một ân sủng mà chúng ta phải luôn cầu xin: “Lạy Chúa, xin ban cho con ân sủng để con nên tốt hơn. Xin ban cho con ơn trở thành một Kitô hữu tốt”.
Xin Mẹ Maria Rất Thánh giúp chúng con ngoan nguỳ trước tác động của Chúa Thánh Thần. Ngài là Đấng làm tan chảy sự chai cứng của trái tim, để ăn năn, để có được sự sống và ơn cứu độ mà Chúa Giê-su đã hứa.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 26 Thường niên năm A (25/9/2011) – Đừng giữ đạo theo thói quen
(Tông du nước Đức)
Anh chị em thân mến,
Đối với tôi, thật là cảm động khi cử hành tại đây Thánh Lễ tạ ơn, với bao nhiêu người đến từ các miền của nước Đức và các nước láng giềng. Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ trước tiên lên Thiên Chúa, trong Ngài chúng ta sống và cử động. Nhưng tôi cũng muốn cám ơn tất cả anh chị em vì đã cầu nguyện cho người kế vị thánh Phêrô để người có thể tiếp tục thi hành sứ vụ trong vui tươi và tín tưởng hy vọng, cũng như củng cố anh chị em trong đức tin.
“Thiên Chúa biểu lộ quyền năng nhất là qua lòng từ bi và tha thứ..”, đó là lời chúng ta tuyên xưng trong lời kinh tổng nguyện đầu lễ hôm nay. Trong bài đọc Một, chúng ta đã nghe Thiên Chúa biểu lộ quyền năng của lòng thương xót như thế nào trong lịch sử dân Israel. Trải nghiệm cuộc lưu đày Babylon đã khiến người dân rơi vào tình trạng khủng hoảng đức tin sâu sắc: Tại sao tai họa này lại xảy ra? Có lẽ Chúa không thực sự mạnh mẽ chút nào?
Có những nhà thần học, đứng trước bao nhiêu điều kinh khủng xảy ra trong thế giới ngày nay, họ nói rằng Thiên Chúa không thể là toàn năng. Phần chúng ta, đứng trước điều đó, chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Đấng Sáng tạo trời đất. Chúng ta vui mừng và biết ơn vì Chúa toàn năng. Nhưng đồng thời chúng ta cũng ý thức rằng Chúa thực thi quyền năng của ngài theo thể thức khác với cách thức con người thường làm. Chính Chúa đặt giới hạn cho quyền năng của ngài khi nhìn nhận tự do của các thụ tạo mà ngài dựng nên. Chúng ta vui mừng vì hồng ân tự do, nhưng khi chúng ta thấy những điều kinh khủng vì tự do của con người, chúng ta kinh hãi. Chúng ta hãy tín thác nơi Thiên Chúa, quyền năng của Chúa được biểu lộ nhất là qua lòng từ bi và tha thứ. Anh chị em tín hữu thân mến, chúng ta hãy tin chắc rằng: Thiên Chúa muốn cứu thoát dân ngài. Ngài muốn cứu độ chúng ta. Luôn luôn và nhất là trong thời kỳ nguy hiểm, có những thay đổi toàn diện, Chúa gần gũi chúng ta, con tim của Chúa cảm động vì chúng ta, ngài cúi mình trên chúng ta. Chúng ta cần mở lòng ra với Ngài để sức mạnh lòng thương xót của Ngài có thể chạm đến trái tim chúng ta. Chúng ta phải sẵn sàng tự do từ bỏ sự ác, đứng dậy khỏi sự thờ ơ và tạo không gian cho lời của Ngài. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của chúng ta. Ngài không ràng buộc chúng ta. Ngài đang đợi chúng ta nói “có”, Ngài đang như thể cầu xin chúng ta nói “có”.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập đến chủ đề cơ bản này qua lời rao giảng mang tính tiên tri. Ngài kể lại dụ ngôn hai người con được người cha mời đi làm việc trong vườn nho. Người con thứ đáp: “‘Tôi sẽ không đi’, nhưng sau đó hối hận và đi”. Người con thứ hai nói với người cha: “Thưa cha, con đi, nhưng lại không đi”. Khi Chúa Giêsu hỏi ai trong hai người con đã làm theo ý Cha, những người nghe đã trả lời đúng: “người con đầu tiên” (Mt 21:29-31). Sứ điệp của dụ ngôn thật là rõ: lời nói chẳng đáng kể gì, nhưng chỉ hành động, sự hoán cải và tin tưởng mới đáng kể. Chúa Giêsu gửi sứ điệp này cho các thượng tế và các kỳ mục trong dân, nghĩa là những chuyên gia về tôn giáo trong dân Israel. Thoạt đầu họ thưa xin vâng thánh ý Chúa. Nhưng rồi lòng đạo đức của họ trở thành thói quen, và họ chẳng còn quan tâm đến Thiên Chúa nữa. Vì thế, họ coi sứ điệp của Gioan Tẩy Giả và sứ điệp của Chúa Giêsu là điều làm cho họ khó chịu. Và Chúa kết luận dụ ngôn với những lời quyết liệt: “Những người thu thuế và mại dâm sẽ vào nước Chúa trước các ngươi..”. Nói theo ngôn ngữ thời nay, câu đó hơn kém có nghĩa là ”những người không biết Chúa, nhưng họ vẫn thao thức băn khoăn tìm Chúa; những người đau khổ vì tội lỗi chúng ta và ước muốn một con tim thanh sạch, họ gần nước Thiên Chúa hơn những tín hữu theo thói quen, những người từ nay chỉ nhìn thấy trong Giáo hội như một guồng máy, mà con tim của họ không được đức tin đánh động.
Lời Chúa Giêsu phải làm cho chúng ta suy nghĩ, đánh động chúng ta. Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả những người sống trong Giáo hội và làm việc cho Giáo Hội bị coi là xa lạ với Chúa Giêsu và Nước Chúa. Không, tuyệt đối là không. Đúng hơn, đây là lúc phải chân thành nồng nhiệt cám ơn bao nhiêu nhân viên cộng tác và những người thiện nguyện, nếu không có họ thì đời sống trong các giáo xứ và trong toàn thể Giáo Hội không thể tiến hành được. Giáo Hội Công Giáo tại Đức có nhiều tổ chức xã hội và bác ái trong đó tình bác ái đối với tha nhân được thực thi theo thể thức hữu hiệu về mặt xã hội, cho đến tận bờ cõi trái đất. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn và quí chuộng đối với tất cả những người dấn thân trong tổ chức Caritas Đức, hoặc trong các tổ chức khác, hoặc quảng đại dành thời giờ, sức lực để thi hành các công tác thiện nguyện trong xã hội. Việc phục vụ này trước tiên đòi phải có khả năng khách quan và chuyên nghiệp. Nhưng trong tinh thần giáo huấn của Chúa Giêsu, cần có cái gì hơn nữa: cần có con tim mở rộng, để cho tình yêu Chúa Kitô đánh động, và qua đó mang lại cho tha nhân đang cần chúng ta, không phải một sự phục vụ chuyên môn mà thôi, nhưng cả tình yêu trong đó Thiên Chúa Đấng yêu thương, Chúa Kitô trở nên hữu hình đối với tha nhân. Vì thế, chúng ta hãy tự hỏi: đâu là quan hệ bản thân của tôi với Thiên Chúa, trong kinh nguyện, trong việc tham dự thánh lễ Chúa nhật, trong việc đào sâu đức tin nhờ suy niệm Kinh Thánh và học Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo? Các bạn thân mến, xét cho cùng, việc canh tân Giáo Hội chỉ có thể thực hiện được qua sự sẵn sàng hoán cải và nhờ một niềm tin được đổi mới.
Tin Mừng Chúa Nhật tuần này, như chúng ta đã thấy, nói về hai người con, nhưng đằng sau họ, một cách huyền nhiệm, là người con thứ ba. Người con cả nói “không” nhưng sau đó thì làm theo ý người cha. Người con thứ hai nói “có” nhưng sau đó thì không làm theo yêu cầu của cha. Người con thứ ba là người nói “có” và làm theo những gì được cha yêu cầu. Người con thứ ba này là Con Một của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã quy tụ tất cả chúng ta ở đây. Chúa Giêsu, khi bước vào thế gian, đã nói: “Lạy Thiên Chúa, con đến để làm theo ý Chúa” (Dt 10:7). Ngài không chỉ nói “có”, mà còn hành động theo tiếng “có” đó, và Ngài đã chịu đựng điều đó, thậm chí cho đến chết trên Thập Giá. Như bài thánh ca Kitô học trong bài đọc thứ hai nói: “Người [Chúa Giêsu] tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.” (Pl 2: 6-8). Trong sự khiêm tốn và vâng phục, Chúa Giêsu đã chu toàn thánh ý Chúa Cha, đã chịu chết trên thập giá vì anh chị em mình và đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự kiêu hãnh và ngoan cố. Chúng ta hãy cảm tạ Người vì sự hy sinh và uốn gối trước danh Chúa và cùng với các môn đệ thế hệ đầu tiên của Chúa tuyên xưng rằng: ”Đức Giêsu Kitô là Chúa - xin tôn vinh Thiên Chúa Cha” (Pl 2,11).
Đời sống Kitô hữu phải liên tục được đo lường bởi Chúa Kitô: “Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô.” (Pl 2:5), như Thánh Phaolô nói trong phần mở đầu bài thánh ca Kitô học. Và một vài câu trước đó, ngài khuyến khích chúng ta: “Nếu có sự an ủi nào trong Ðức Kitô, nếu có sự khích lệ nào trong đức mến, nếu có sự hiệp nhất nào trong Thánh Thần, nếu có lòng thương xót nào, thì anh em hãy làm cho tôi được trọn niềm hân hoan, để anh em hưởng cùng một niềm vui, được cùng chung một lòng mến, được đồng tâm nhất trí với nhau” (Pl 2:1-2). Như Chúa Kitô đã hoàn toàn hiệp nhất với Chúa Cha và vâng phục Ngài thế nào, các môn đệ cũng phải vâng phục Thiên Chúa và đồng lòng với nhau như vậy. Anh chị em thân mến, cùng với thánh Phaolô, tôi dám nhắn nhủ anh chị em rằng: anh chị em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn bằng cách kiên vững đoàn kết trong Chúa Kitô! Giáo hội tại Đức sẽ vượt thắng những thách đố lớn của hiện tại và tương lai, và sẽ tiếp tục là men trong xã hội nếu các LM, những người thánh hiến và tín hữu giáo dân của Chúa Kitô cộng tác trong sự đoàn kết, trong niềm trung thành với ơn gọi của mình; nếu các giáo xứ, các cộng đoàn và các phong trào nâng đỡ và làm cho nhau được phong phú; nếu các tín hữu đã chịu phép rửa và phép thêm sức, hiệp nhất với Đức Giám mục, giơ cao ngọn đuốc đức tin không bị biến thái và để cho kiến thức phong phú và khả năng của mình được soi sáng. Giáo hội tại Đức sẽ tiếp tục là một phúc lành cho cộng đoàn Công giáo thế giới, nếu tiếp tục trung thành hiệp nhất với các Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và các Tông Đồ, nếu quan tâm cộng tác bằng nhiều cách với các nước thuộc miền truyền giáo và để cho mình được lây niềm vui đức tin của các Giáo Hội trẻ.
Ngoài lời kêu gọi hiệp nhất, Thánh Phaolô còn thêm lời kêu gọi khiêm nhường: “Chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác.” (Pl 2,3-4). Đời sống Kitô hữu là cuộc sống vì người khác: hiện hữu vì người khác, khiêm tốn phục vụ người lân cận và công ích. Anh chị em thân mến, khiêm tốn là một nhân đức ngày nay không được người ta quí trọng lắm. Nhưng các môn đệ của Chúa biết rằng nhân đức này có thể nói là dầu làm tiến trình đối thoại được phong phú, làm cho sự cộng tác được dễ dàng và sự hiệp nhất có tính chất thành tâm. Trong tiếng la tinh, khiêm nhường là Humilitas, có liên hệ tới humus, nghĩa làm gắn liền với đất, với thực tại. Những người khiêm tốn đứng bằng cả hai chân trên mặt đất. Nhưng nhất là họ lắng nghe Chúa Kitô là Lời của Thiên Chúa, Lời này không ngừng canh tân Giáo Hội và mọi phần tử của Giáo Hội.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ơn can đảm và khiêm tốn tiến bước trên con đường đức tin, kín múc nơi lòng từ bi phong phú của Chúa và luôn hướng nhìn về Chúa Kitô là Lời đổi mới mọi sự, là “Đường, là Sự Thật và là sự Sống” cho chúng ta (Ga 14,6), là tương lai của chúng ta. Amen.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (28/9/2008) – Cần biết khiêm tốn đón nhận hồng ân cứu chuộc
Anh chị em thân mến
Hôm nay phụng vụ trình bày cho chúng ta dụ ngôn về hai người con được cha mời vào làm việc trong vườn nho của mình. Một anh lập tức trả lời “dạ vâng” nhưng rồi không đi; anh kia thì lúc đầu từ chối, nhưng sau đó nghĩ lại và làm theo ý muốn của cha. Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn bày tỏ lòng quý mến đối với những tội nhân biết hoán cải, và Chúa dạy chúng ta hãy biết khiêm tốn đón nhận hồng ân cứu rỗi. Thánh Phaolô trong đoạn văn trích từ lá thư gửi các tín hữu Philippê mà chúng ta nghe hôm nay, cũng khuyên chúng ta hãy khiêm tốn. Người viết: “Anh em đừng làm điều gì vì cạnh tranh hoặc ham hố danh giá, nhưng với tâm tình khiêm tốn mỗi người hãy coi người khác hơn mình” Pl 2,3). Đó là những tâm tình của Chúa Kitô, vì chúng ta mà Người đã từ bỏ vinh quang thần linh, trở nên người phàm và hạ mình cho đến chết trên khổ giá (xc Pl 2,5-8). Động từ được sử dụng trong nguyên bản Hy-lạp ekenôsen theo nghĩa đen là khoét rỗng chính mình, và làm sáng tỏ sự khiêm tốn sâu xa và tình thương vô hạn của Chúa Giêsu, người tôi tớ khiêm tốn hơn ai hết.
Khi suy nghĩ nhưng bản văn của Kinh thánh, tôi liền nghĩ đến đức giáo hoàng Gioan Phaolô I, hôm nay giỗ 30 năm ngày băng hà. Khi được chọn làm giám mục, Người đã chọn khẩu hiệu giống như thánh Carlô Borromeo Humilitas (Khiêm tốn), một lời tóm tắt cốt yếu của đời sống Kitô hữu và chỉ dẫn nhân đức tất yếu của những kẻ trong Giáo hội được kêu vào việc phục vụ của quyền bính. Trong một trong số bốn bài tiếp kiến chung, Người đã nói thế này: “Tôi chỉ xin giới thiệu một nhân đức, nhân đức rất được Chúa Giêsu ưa thích, bởi vì Chúa nói: các con hãy học tôi là kẻ hiền lành và khiêm tốn … Nếu anh em có làm được việc gì vĩ đại, thì hãy nói: chúng tôi chỉ là những tôi tớ vô dụng”. Và Người nhận xét: “Khuynh hướng thường tình nơi tất cả chúng ta thì ngược lại: cứ thích khoe cho mọi người biết đến”. Nhân đức khiêm tốn có thể coi như là di chúc tinh thần của Người.
Nhờ nhân đức khiêm tốn này mà chỉ cần 33 ngày để đức thánh cha Gioan Phaolô II đi vào con tim của quần chúng. Trong các bài diễn từ, Người dụng những thí dụ rút ra từ cuộc sống thưòng ngày, từ những kỷ niệm gia đình và từ túi khôn bình dân. Tính đơn giản đã vận chuyển một giáo huấn vững chắc và phong phú, cộng thêm trí nhớ đặc biệt và học thức quảng bác, Người đã trích dẫn rất nhiều văn hào đạo cũng như đời. Ngưòi đã trở thành một giảng viên giáo lý tuyệt vời, theo gót thánh Piô X, ngưòi đồng hương và tiền nhiệm trong chức vụ thượng phụ Venezia và kế vị thánh Phêrô. Trong bài huấn từ vừa trưng dẫn, Người nói tiếp: “Chúng ta hãy tự nhận mình bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa. Tôi không ngại cảm thấy mình như đứa bé ở trước mặt mẹ của mình: em tin tưởng vào mẹ, tôi tin tưởng vào Thiên Chúa, tin vào điều Chúa đã mặc khải”. Những lời này đã nói lên tất cả bề sâu của lòng tin của Người. Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban tặng Người cho Giáo hội và thế giới, đồng thời chúng ta hãy duy trì tấm gương của Người, quyết tâm vun trồng nhân đức khiêm tốn, đã giúp cho Người có khả năng gặp gỡ hết mọi người, đặc biệt là các em bé và những kẻ được coi như xa lạ. Chúng ta hãy cầu xin Đức Maria, nữ tì khiêm tốn của Thiên Chúa, cầu cho chúng ta được ơn đó.
Nguồn: archivioradiovaticana.va