Ủy ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
Ban Nghiên Huấn
THƯỜNG HUẤN GIÁO DÂN THÁNG 02/2026
BÀI I - GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH KHAI MỞ ĐỜI SỐNG MỚI
Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng
Những gì được ghi lại về sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô trong Tân ước đều là những kinh nghiệm sống động của các tông đồ đã thấy, đã nghe, đã đụng chạm đến Đấng Phục Sinh. Đó là kinh nghiệm của những con người đã gặp gỡ Đấng Phục Sinh và được Ngài biến đổi hoàn toàn. Tân ước cho thấy hai tình trạng trái ngược nhau của các môn đệ trước và sau khi Chúa sống lại. Trước khi Chúa sống lại các ông là những người nhát đảm, sợ sệt, phản bội, chối thầy, bỏ thầy… Thế nhưng, sau khi gặp Chúa Phục sinh thì họ được biến đổi hoàn toàn trở nên can đảm, mạnh mẽ… Ra đi loan báo Tin mừng không chút sợ hãi. Cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh không chỉ là một sự kiện nhất thời mà mở ra một đời sống mới cho các môn đệ, đời sống của những sứ giả Tin mừng Phục sinh. Nhìn vào sự biến đổi của các Tông đồ sau khi gặp Chúa Kitô Phục sinh cho thấy các chiều kích mới mẻ trong đời sống của người gặp được Đấng Phục Sinh :
* Niềm tin vững chắc: Sự phục sinh của Đức Kitô là nền tảng cho niềm tin vững mạnh của các ông. Như Thánh Phaolô đã xác quyết: nếu Ðức Kitô đã không sống lại, thì lời giảng của chúng tôi sẽ nên trống rỗng, và đức tin của anh em cũng ra trống rỗng. Vì chưng nếu kẻ chết không sống lại, thì chúng tôi bị coi là những chứng nhân giả dối về Thiên Chúa, vì lẽ chúng tôi đã làm chứng nghịch với Thiên Chúa rằng: Chúa đã phục sinh Ðức Kitô, khi mà Chúa đã không làm cho Người sống lại (1Cr 15,13-15). Cuộc gặp gỡ mang lại xác tín tuyệt đối: Đức Giêsu phục sinh là nền tảng cho toàn bộ đức tin Kitô giáo.
* Sự bình an và hy vọng: Chúa Giêsu Phục Sinh mang đến sự bình an đích thực, giải thoát các môn đệ khỏi lo âu và sợ hã Đây là sự bình an đích thực, sâu thẳm từ trái tim xót thương, kết hợp ơn tha thứ tội lỗi và ơn Thánh Thần, giúp con người tìm thấy sự an hòa giữa những giông tố cuộc đời (Ga 20, 21-23).
* Sứ mạng tông đồ: Sau khi gặp gỡ Chúa, các môn đệ được biến đổi thành những chứng nhân can đảm. Từ những người ẩn mình trong phòng kín, họ sẵn sàng ra đi loan báo Tin mừng Phục sinh cho muôn dân theo lệnh truyền của Thầy chí thánh: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20).
* Đón nhận Thánh Thần: Khi Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra với các Tông đồ, Người trao ban Thánh Thần cho các ông (Ga 20, 22). Các ông được lãnh nhận Chúa Thánh Thần và quyền tha tội, làm cho đời sống các ông từ nay có một linh hồn, một ý nghĩa và mục đích cao cả hơn.
Như thế, cuộc gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh làm cho các Tông đồ được biến đổi tận căn với một đời sống hoàn toàn mới mẻ. Cũng thế, mỗi người tín hữu một khi gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh cũng sẽ được biến đổi để sống một đời sống mới, vượt qua tội lỗi và sự chết, và trở nên chứng nhân sống động cho niềm hy vọng và tình yêu của Thiên Chúa trong thế giới hôm nay. Với chủ đề của năm mục vụ “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai” theo định hướng của Hội đồng Giám mục Việt Nam thì để sống đúng căn tính người môn đệ thừa sai thì mỗi Kitô hữu cần phải đi vào một cuộc gặp gỡ cá nhân riêng tư với Chúa Kitô Phục Sinh để được biến đổi hoàn toàn bằng cầu nguyện, bằng việc suy niệm, thực thi Lời Chúa mỗi ngày và bằng việc siêng năng đón nhận Mình Thánh Chúa cách xứng đáng.
Hồi tâm
1/ Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai trước hết phải là một môn đệ. Anh chị em có kinh nghiệm gì về sự gặp gỡ với Đức Kitô?
2/ Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời mình. Bao lâu nay sống đức tin, anh chị em có thấy mình được biến đổi không?
3/ Anh chị em đã có kinh nghiệm gì khi được chính Chúa thúc bách phải sống và làm chứng cho Tin mừng?
BÀI II - ĐỒNG HÀNH VỚI NHỮNG NGƯỜI RỜI XA CỘNG ĐOÀN
Lm. Antôn Hà Văn Minh
Đức Thánh cha Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium đã nói: “Trong một nền văn hoá đầy nghịch lý giữa sự đau khổ vì không được ai biết đến và đồng thời bị ám ảnh vì các tình tiết trong cuộc đời của những người khác khiến chúng ta rơi vào thái độ tò mò bệnh hoạn và đáng xấu hổ, Hội thánh phải nhìn người khác bằng đôi mắt thân tình và thiện cảm hơn. Trong thế giới chúng ta, các mục tử có chức thánh và các nhà hoạt động mục vụ khác có thể hiện thực hoá hương thơm sự gần gũi và cái nhìn thân mật của Đức Kitô. Hội thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người - linh mục, tu sĩ, và giáo dân - vào trong “nghệ thuật đồng hành” này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác (x. Xh 3,5). Bước chân đồng hành này phải có nhịp đều và vững vàng, phản ánh thái độ gần gũi và cái nhìn cảm thông của chúng ta, giúp chữa lành và khích lệ sự tăng trưởng trong đời sống Kitô giáo”[1]. Và việc đồng hành thiêng liêng được coi là hành vi phúc âm hóa trong nỗ lực củng cố hoặc làm sống lại đời sống đức tin, “Chẳng hạn giữa cộng đoàn nhân loại mà họ đang sống, một Kitô hữu hay một nhóm Kitô hữu, biểu lộ khả năng cảm thông và đón nhận, chia sẻ đời sống và số phận với những người khác, tỏ tình liên đới trong những nỗ lực chung nhằm đạt được những gì là cao qúy và tốt đẹp nhất”[2]. Đặc biệt, việc đồng hành thiêng liêng với “những người đã chịu phép rửa nhưng không hành đạo”, “những người sống trong cộng đoàn Kitô hữu nhưng lại không hề theo những nguyên tắc Kitô giáo” cũng là yêu cầu cấp bách trong công việc loan báo Tin mừng mà ơn gọi Bí tích Rửa tội yêu cầu.
1. Ai là những người được coi là rời xa cộng đoàn
Những người rời xa cộng đoàn không phải là những người hoàn toàn đánh mất đức tin. Họ là những người có thể là:
- Những người rời xa thực hành đức tin, chẳng hạn họ không còn tham dự Thánh lễ Chúa nhật hoặc các sinh hoạt phụng vụ, không lãnh nhận các bí tích (Hòa giải, Thánh Thể…) trong thời gian dài, hoặc không còn quan tâm đến việc cầu nguyện cá nhân
- Những người ở trong tình trạng bất hòa hoặc bị loại trừ, chẳng hạn những người cảm thấy bị tổn thương vì bị xúc phạm, bị xét đoán hay không được đón nhận; Người sống trong các hoàn cảnh hôn nhân - gia đình phức tạp như rối vợ rối chồng …; Người từng có xung đột với linh mục chánh xứ, hội đoàn hoặc cơ cấu giáo xứ.
- Những người tin nhưng không thuộc về: tự nhận mình là Công giáo nhưng không sống gắn bó với giáo xứ hay với cộng đoàn, chủ trương “giữ đạo tại tâm” không cần phải giữ một hình thức tôn thờ nào.
- Những người bị đẩy ra bên lề vì hoàn cảnh xã hội, chẳng hạn người nghèo, người lao động nhập cư, người nghiện ngập, người từng ở tù, người khuyết tật, người cao tuổi bị cô lập, người trẻ cảm thấy Giáo hội “không có chỗ cho mình”.
- Những người bị khủng hoảng đức tin hoặc nghi ngờ sâu sắc, chẳng hạn những người bị tác động bởi gương xấu, tai tiếng, hoặc đau khổ cá nhân; những người trải qua những mất mát, bất công mà không tìm được lời giải thích thỏa đáng; những con người không còn thấy ý nghĩa của phụng vụ hay giáo huấn của Giáo hội.
Thánh Giáo hoàng Phaolô VI nói đến những người rời xa cộng đoàn như sau: “Đó là những người không sống đạo, hiểu một cách rộng rãi, rất nhiều người đã được rửa tội và mặc dù không minh nhiên chối bỏ phép rửa của mình, nhưng lại hoàn toàn ở bên lề của nó và không sống nó nữa. Hiện tượng những người không sống đạo đã có từ xa xưa trong lịch sử Kitô giáo. Nó được coi như một yếu đuối tự nhiên, như một sự rã rời sâu xa mà chúng ta mang trong thâm tâm mình. Nhưng ngày nay, hiện tượng đó có những đường nét mới mẻ. Nguyên do thường ở chỗ mất gốc, nhất là đối với thời đại chúng ta. Nó cũng phát sinh từ sự kiện các Kitô hữu phải thường xuyên tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của những người vô thần. Vả lại, những người không sống đạo ngày nay hơn những người xưa, tìm cách giải thích và biện minh lập trường của mình, nhân danh một lối sống đạo nội tâm, nhân danh một lối sống tự trị và trung thực của cá nhân… Những người không sống đạo thì lại chống đối một cách bất đồng với thái độ hơi thù nghịch của những người cảm thấy quá quen thuộc như ở nhà mình, họ quả quyết đã biết tất cả, đã nếm tất cả nên không tin tưởng vào đó nữa. Sự bỏ đạo xuất hiện nơi người lớn và thanh niên, nơi hạng ưu tú và giữa đám quần chúng, trong mọi lãnh vực văn hóa, trong các Giáo hội già cũng như Giáo hội trẻ”[3] .
2. Người môn đệ thừa sai thi hành sứ vụ đồng hành thiêng liêng
Sứ vụ của người môn đệ thừa sai không chỉ là hướng tới những người chưa nhận biết Chúa, nhưng còn nhìn đến những con người xa rời cộng đoàn để lên đường tìm kiếm, như dụ ngôn tìm con chiên lạc (x. Mt 18,12–14; Lc 15,3–7). Trong sứ điệp gửi đến hội thảo về chủ đề “Truyền giáo với các gia đình ngày nay và tương lai” ngày 02/6/2025, Đức Thánh cha Lêô XIV nhấn mạnh rằng cần phải quan tâm đặc biệt tới những gia đình “xa cách nhất về mặt tâm linh”, những người vì nhiều lý do khác nhau không cảm thấy mình được tham gia hoặc cảm thấy bị loại trừ khỏi các hoạt động của Giáo hội, nhưng vẫn mong muốn trở thành một phần của cộng đồng, và ngài mời gọi các tín hữu tham gia vào công việc của toàn thể Giáo hội trong việc tìm kiếm những người không còn đến với chúng ta nữa, học cách đồng hành với họ và giúp họ đón nhận đức tin. Ngài nhắn nhủ các tín hữu đừng vội đưa ra câu trả lời cho những câu hỏi đầy thách thức nhưng phải đến gần hơn, cố gắng hiểu những cách để vượt qua khó khăn, "cũng sẵn sàng cởi mở, khi cần thiết, với những tiêu chuẩn đánh giá mới và những cách hành động khác nhau, bởi vì mỗi thế hệ đều khác nhau và có những thách thức, ước mơ và câu hỏi riêng".[4]
Giáo hội Chúa Kitô được thiết lập nhằm lên đường đi tìm chứ không chờ đợi, nói như Đức Phanxicô: Giáo hội Chúa Kitô là Hội thánh đi ra, Hội thánh “đi ra” là một cộng đoàn các môn đệ truyền giáo đi bước trước, dấn thân và nâng đỡ, sinh hoa trái và vui mừng. Một cộng đoàn loan báo Tin mừng biết rằng Chúa đã có sáng kiến, Ngài đã yêu chúng ta trước, và vì thế chúng ta có thể dấn bước, mạnh dạn có sáng kiến, đến với người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đứng ở các ngả đường để đón mời những người bị gạt ra bên lề. Một cộng đoàn như thế có một ước muốn khôn nguôi là tỏ lòng thương xót, kết quả của kinh nghiệm bản thân của cộng đoàn về sức mạnh lòng thương vô biên của Thiên Chúa.”[5]
Vì thế hoạt động truyền bá Tin mừng của Giáo hội không thể bỏ qua những người rời xa Giáo hội “mà không đối diện với họ, phải kiên trì tìm ra những phương thế và ngôn ngữ thích hợp để dẫn giải cho họ hoặc trình bày lại cho họ mặc khải của Thiên Chúa và niềm tin vào Đức Giêsu Kitô”[6]. Sứ vụ loan báo này ngày nay gọi là đồng hành thiêng liêng qua những cuộc gặp gỡ thân tình để người sống xa rời có thể tiếp cận được những chứng tá đức tin sống động. Vì thế, những người đồng hành thiêng liêng phải là “những người thành thạo trong các tiến trình đòi hỏi sự thận trọng, cảm thông, kiên nhẫn và ngoan ngoãn vâng nghe Chúa Thánh Thần, để họ có thể bảo vệ chiên khỏi sói dữ làm tan tác đàn chiên. Chúng ta cần phát triển nghệ thuật lắng nghe, chứ không chỉ là nghe suông. Trong lãnh vực truyền thông, lắng nghe là sự mở lòng để có được thái độ gần gũi mà thiếu nó thì không thể có sự gặp gỡ thiêng liêng. Lắng nghe giúp chúng ta tìm ra cử chỉ và lời nói thích hợp để chứng tỏ chúng ta không chỉ là những khách qua đường. Chỉ khi có thái độ lắng nghe với lòng tôn trọng và cảm thông, chúng ta mới có thể bước vào con đường tăng trưởng đích thực và đánh thức một khát vọng về lý tưởng Kitô giáo”[7].
Từ việc chỉ dẫn này, người đồng hành thiêng liêng trước tiên phải là chứng tá, điều đó có nghĩa là người đó “biểu lộ khả năng cảm thông và đón nhận, chia sẻ đời sống và số phận với những người khác, tỏ tình liên đới trong những nỗ lực chung nhằm đạt được những gì là cao quý và tốt đẹp nhất.” “Họ chiếu tỏa niềm tin của mình nơi những giá trị vượt xa những giá trị thông thường, niềm trông cậy vào điều mà người khác không thấy và có lẽ không dám mơ tưởng tới.”[8] Người đồng hành thiêng liêng phải thể hiện sự hiện diện, sự chia sẻ và tỏ bày tình liên đới. Đức Phanxicô còn chỉ rõ: “Ai đồng hành với người khác cần hiểu rằng mỗi tình huống của một cá nhân trước mặt Chúa và đời sống trong ân sủng của họ là những mầu nhiệm mà không một ai có thể hiểu đầy đủ từ bên ngoài. Tin mừng dạy chúng ta sửa lỗi cho người khác và giúp họ lớn lên dựa trên việc nhìn nhận sự xấu xa của các hành động của họ, nhưng không phê phán về trách nhiệm và sự có tội của họ”[9]. Họ dấn thân để ôm ấp lấy những sai lầm của người sống rời xa cộng đoàn và mời gọi họ sẵn sàng để mình được chữa lành.
Trình thuật hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13–35) thường được xem như một mô hình kinh điển của đồng hành thiêng liêng. Sau khi chứng kiến cảnh khổ nạn của Chúa Giêsu, hai môn đệ thất vọng và đánh mất niềm tin vào Đấng Mêsia, lên đường rời bỏ cộng đoàn các môn đệ, mong muốn trở lại nếp sống cũ. Và Chúa Giêsu đã xuất hiện cùng đồng hành với họ. Cách Đức Giêsu tiếp cận họ mang tính sư phạm thiêng liêng sâu sắc: Người lắng nghe, giải thích Kinh thánh, và chỉ tự mặc khải trong cử chỉ bẻ bánh. Điều đáng chú ý ở đây chính là việc Chúa Giêsu không mở một lời mời hay ép buộc các môn đệ phải quay lại với cộng đoàn môn đê, Ngài tôn trọng sự chuyển biến nội tâm của họ, để sự nhận biết Chúa được nảy sinh từ nhận thức của họ. Đồng hành, theo nghĩa này, là một hình thức đồng hiện diện trong hy vọng, qua đó Thiên Chúa đi cùng con người ngay cả trong sự hoang mang và khủng hoảng[10].
Việc đồng hành thiêng liêng giúp người xa rời cộng đoàn trở về với đời sống đức tin không phải là một chiến lược mục vụ, nhưng đây là sứ vụ phát xuất từ niềm tin vào sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong đời sống con người. Người đồng hành không thay thế Thiên Chúa, không làm thay công việc của Chúa, nhưng là đồng hành với họ, giúp cho người được đồng hành nhận ra dấu chỉ của ân sủng trong chính kinh nghiệm của đời sống họ, khuyến khích họ đọc những gì lay động trong tâm hồn, nơi tinh tế mà Chúa nói chúng ta.[11]
3. Thái độ phải có của người đồng hành thiêng liêng
Một Giáo hội trung thành với căn tính của mình không thể chỉ được hiểu như một tập hợp những người “ở lại”, nhưng như một cộng đoàn luôn rộng mở cho những hành trình đức tin bị gãy đổ, hoặc đang dở dang và nỗ lực phục hồi cuộc hành trình đức tin này trở về. Việc đồng hành với người rời xa cộng đoàn đòi hỏi người đồng hành một sự hoán cải mục vụ, có nghĩa là việc đồng hành thiêng liêng của người môn đệ thừa sai cần được thực thi trong tinh thần của một Giáo hội hiệp hành, “chúng ta cần phải mở lòng mình hướng đến một sự hoán cải thật sự trong các mối tương quan, điều sẽ định hướng lại các ưu tiên của mỗi người. Chúng ta phải học lại từ Tin mừng rằng việc chăm sóc các mối tương quan không chỉ là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mặc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho các mối tương quan dù còn mong manh của chúng ta được chiếu qua bởi ân sủng của Chúa Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, thì chúng ta tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi bằng chính đời sống của mình”[12]
Điều đó có nghĩa người đồng hành thiêng liêng luôn vâng theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ giúp chúng ta khám phá cách thế để giúp đỡ những người xa rời nhận ra tình thương của Thiên Chúa.“Tin mừng trình bày những ví dụ khác nhau về những cuộc đối thoại với Chúa Giêsu, những cuộc đối thoại làm sáng tỏ và giải thoát. Ví dụ chúng ta hãy nghĩ đến những cuộc nói chuyện với người phụ nữ Samaria, luôn có sự khôn ngoan và dịu dàng này của Chúa Giêsu; chúng ta hãy nghĩ đến cuộc đối thoại với ông Giakêu, với người phụ nữ tội lỗi, với ông Nicôđêmô, với các môn đệ trên đường Emmaus: cách thế Thiên Chúa đến gần con người. Những ai thực sự gặp gỡ Chúa Giêsu thì không sợ mở lòng ra với Người, trình bày sự yếu đuối và bất toàn của mình. Bằng cách này, việc chia sẻ chính mình của họ trở thành một kinh nghiệm về ơn cứu độ, về sự tha thứ được đón nhận cách nhưng không”[13].
Vì vậy trong việc đồng hành thiêng liêng này đòi hỏi người môn đệ thừa sai phải: Lắng nghe trước khi nói, lắng nghe không nhằm sửa lỗi, nhưng để hiểu nỗi đau; phải khiêm tốn và kiên nhẫn, không đòi “kết quả mục vụ” nhanh chóng, và sẵn sàng chấp nhận những bước rất nhỏ; và phải trung tín trong cầu nguyện, người đồng hành thiêng liêng trước hết là đặt người được đồng hành trong lời cầu nguyện.
Kết
Đức Giáo hoàng Lêô XIV đưa ra nhận định: “Ngày nay, ranh giới của sứ mạng truyền giáo không còn là ranh giới địa lý nữa”. Nếu trước đây, sứ mạng truyền giáo thường gắn liền với việc lên đường đến những miền đất xa xôi, thì ngày nay, “sự nghèo đói, đau khổ và khát khao về một niềm hy vọng lớn lao hơn lại tìm đến với chúng ta.” Kể từ nay, theo ngài, sứ mạng truyền giáo đang bước vào một “kỷ nguyên mới”, một kỷ nguyên mà Giáo hội cần học cách “ở lại” ngay tại nơi mình hiện diện, và mở rộng sứ mạng “qua việc đón tiếp, cảm thông và liên đới”[14]. Đó cũng là điều mà nhắc nhở người môn đệ thừa sai thi hành sứ vụ dành cho những người rời xa Giáo hội, rời xa cộng đoàn qua việc nỗ lực trở thành người đồng hành thiêng liêng. Việc đồng hành luôn đòi hỏi một sự tiếp cận với họ trong tình nghĩa cha con, tình huynh đệ, vì “nếu không có kinh nghiệm về tình con cái và tình huynh đệ, việc đồng hành có thể làm nảy sinh những kỳ vọng không thực tế, những hiểu lầm, những hình thức lệ thuộc khiến con người rơi vào tình trạng ngây ngô, trẻ con. Đồng hành với nhau như con cái Thiên Chúa và như anh chị em của nhau”[15].
Cuộc tiếp cận này rất cần thiết trong việc trở thành người đồng hành thiêng liêng, nhờ hình thành mối tương giao tình nghĩa bằng hữu, người môn đệ thừa sai có thể hiểu rõ cội nguồn xa rời cộng đoàn của người mình đang muốn đồng hành. Hiểu để gợi mở một cuộc đối thoại bằng ngôn ngữ của trái tim, qua cuộc đối thoại này người môn đệ thừa sai qua sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần tìm ra những cách thế “để họ có thể được chữa lành các vết thương, được phục hồi để có thể tự đứng trên chân của mình và tìm được ý nghĩa trong cuộc đời họ”[16]. Đức Thánh cha Phanxicô đã đưa ra một kết luận cho việc đồng hành thiêng liêng như sau: Có một câu nói khôn ngoan rằng: “Nếu bạn muốn nhanh đến nơi, hãy đi một mình; nhưng nếu bạn muốn đến nơi an toàn, hãy đi cùng những người khác.” Điều này quan trọng. Trong đời sống thiêng liêng, tốt hơn hết là được đồng hành bởi một người biết những câu chuyện của chúng ta và giúp đỡ chúng ta. Và đây là sự đồng hành thiêng liêng”[17].
BÀI III - Ở LẠI VỚI ĐỨC GIÊSU: HỌC SỐNG VỚI NGƯỜI
Nguyễn Thái
Năm 2026 được Giáo hội đặt làm năm “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai”. Đây là một lời mời vừa thách thức, vừa truyền cảm hứng cho mỗi người chúng ta sống đức tin một cách chủ động, sống làm chứng cho Tin mừng giữa đời thường. Thiên Chúa mời gọi mỗi người “là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14), đó là ánh sáng phát xuất từ chính sự kết hiệp mật thiết với Đức Kitô - Đấng trao ban nội lực thiêng liêng cho sứ vụ. Trong hành trình đó, chúng ta cần học “ở lại với Đức Kitô”, để được Người thắp sáng và biến đổi tâm hồn, từ đó bật lên thành ngọn lửa truyền giáo đích thực.
1. Lý tưởng đời mình: Đức Kitô là trung tâm
Để hành trình ơn gọi phát triển đúng hướng, chúng ta cần xây dựng một lý tưởng sống mà trung tâm là Đức Kitô - Đấng Cứu Độ và là nguồn mạch của mọi chân lý, niềm vui và ơn cứu độ. Nếu chúng ta để đời mình bị chi phối bởi danh vọng, lợi lộc, hoặc thỏa mãn dục vọng xác thịt, thì lý tưởng đó sẽ dễ bị lung lay và mất dần.
Thánh Giáo hoàng Phaolô VI từng nhấn mạnh trong Evangelii Nuntiandi (1975): “Tin mừng chẳng những giúp chúng ta nhận biết Chúa mà còn đốt lên trong lòng chúng ta một ngọn lửa để thay đổi đời sống”. Như vậy, lý tưởng sống của Kitô hữu phải là việc thánh hóa bản thân qua ơn gọi thừa sai, tức là sống theo chân lý Tin mừng từng ngày, để ánh sáng của Đức Kitô ngự trị trong tâm hồn và lan tỏa ra môi trường. Ở đây, lý tưởng không chỉ là một ước muốn, một giấc mơ, mà là sự hòa hợp giữa “tôi” và “Chúa” trong từng suy nghĩ, lời nói, hành động.
Chính từ Bí tích Thánh tẩy, chúng ta được mời gọi “tái sinh trong Đức Kitô” (Ga 3,3), để lý tưởng đó không phải chỉ là lời nói suông mà thực sự trở thành hơi thở, nhịp sống, và động lực để dấn thân phục vụ.
2. Ở lại với Đức Kitô: hoán cải tâm hồn để đón nhận ánh sáng
“Ở lại với Đức Kitô” không chỉ là một cụm từ đẹp đẽ mà còn mang một ý nghĩa sâu sắc. Đó là lời mời gọi đào sâu đời sống thiêng liêng, mỗi ngày thanh lọc tâm hồn bằng sự ăn năn, sám hối, để nhường chỗ cho ánh sáng của Người chiếu vào từng ngõ ngách tâm hồn.
Có thể chúng ta chưa gặp được Đức Kitô thật sự vì tâm hồn vẫn chất chứa tham lam tiền bạc, quyền lực hoặc những tín ngưỡng thế gian khác, những “vị thần ngoại lai” cản trở sự ngự trị của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dạy rõ: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14, 23). Để ở lại với Chúa, cần có sự chuẩn bị bằng tấm lòng khiêm nhu, sẵn sàng để Người biến đổi.
Chứng nhân đời sống cho thấy, khi tâm hồn được “dọn sạch”, khi tình yêu của Chúa tràn đầy trong lòng, đó là lúc Chúa thực sự ngự trị, như ngọn đèn được thắp sáng, không chỉ soi rọi mà còn truyền sức sống cho mọi hoạt động của con người.
Chứng nhân
Tôi đã từng không biết đến việc “ở lại với Chúa Giêsu” một cách sâu sắc. Tuổi thơ tôi, dù lớn lên trong gia đình Công Giáo, nhưng nhiều lúc vẫn chìm trong sự thờ ơ, thiếu hiểu biết về Lời Chúa và sự hiện diện thực sự của Chúa trong đời.
Thời gian đầu, việc dự lễ nhà thờ mỗi tuần một lần, có nhiều năm một tuần vài lần, chỉ là thói quen, chưa tạo ra một mối liên hệ sống động với Đức Kitô, do đó linh hồn tôi vẫn còn “trống rỗng” trước những thử thách của đời sống. Nhưng nhờ ơn Chúa và sự cộng tác, tôi được dẫn dắt vào các cộng đoàn tông đồ như Giới Doanh nhân Công Giáo, Phong trào Cursillo, nơi tôi học được cách thiết lập mối tương quan cá vị với Chúa Giêsu, sống lời Ngài và đặc biệt là ở lại với Người qua cầu nguyện.
Từ đó, cuộc sống tôi được biến đổi sâu sắc, không còn là những hình thức bề ngoài, mà là một lòng yêu mến bền bỉ, một lòng cậy trông đặt nơi sự quan phòng của Thiên Chúa. Tôi cũng được mời gọi trở thành môn đệ thừa sai, không chỉ giữ đạo, mà còn mạnh dạn làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa qua đời sống và lời nói.
3. Học theo gương Người và sống với Người: nội lực thiêng liêng cho sứ vụ
Học theo Đức Kitô là bước tiếp nối sự hiện diện và “ở lại với Người.” Đức Giêsu dạy: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9, 23). Chúng ta không phải chỉ làm những việc đạo đức bề ngoài, nhưng cần học sống với Người trong cầu nguyện, trong hy sinh, trong phục vụ bằng cả tấm lòng.
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Redemptoris Missio (1990) nhấn mạnh rằng: “Sứ vụ loan báo Tin mừng đòi hỏi một nội lực thiêng liêng sâu sắc nơi những ai được sai đi...Đây chính là sự sống của ngôn sứ và người loan báo Tin mừng, vốn trút bỏ mình vào sự cầu nguyện và hiệp thông mật thiết với Chúa Kitô”.
Bởi vậy, để trở thành “ánh sáng thế gian” thì mỗi Kitô hữu phải được tiếp thêm sức mạnh từ Lời Chúa, từ Bí tích Thánh Thể và từ tinh thần cầu nguyện liên lỉ. Chỉ khi đó, Tin mừng mới thực sự được tác sinh trong đời mình, lan tỏa và thắp sáng cho mọi người chung quanh.
Cầu nguyện
Lạy Chúa, hành trình đức tin không phải là con đường dễ dàng, nhưng nội lực thiêng liêng được nuôi dưỡng nơi sự “ở lại với Đức Kitô” sẽ giúp chúng con vững mạnh tiến bước. Lý tưởng đời chúng con phải là Đức Kitô, người dẫn đường và là mục tiêu. Để được như vậy, xin cho chúng con không ngừng thanh tẩy tâm hồn, để Chúa thực sự ngự trị, xin cho chúng con học theo gương Người, sống với Người trong sự hiện diện thường xuyên và sâu sắc.
Hồi tâm
1/ Trong vai trò là môn đệ thừa sai, bạn phải làm gì để được thắp sáng bởi tình yêu và sức mạnh Đức Kitô?
2/ Bạn có nghĩ Lời Chúa theo Tin mừng thánh Luca chương 9 câu 23 giúp bạn đáp trả tiếng gọi sứ vụ bằng một đời sống thánh thiện, bằng nhân chứng sống động của đức tin, hy vọng và yêu thương trong xã hội hôm nay?
BÀI IV - CHỮA LÀNH CĂN TÍNH BỊ TỔN THƯƠNG QUA TƯƠNG QUAN CÁ VỊ VỚI THIÊN CHÚA
Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn
Con người thời đại hôm nay thường mang trong mình những vết thương sâu xa do tội lỗi gây nên, không chỉ nơi hành vi mà ngay trong chính căn tính của mình. Đó là những tổn thương nơi tâm lý, tâm hồn và tinh thần. Căn tính con người bị tổn thương cả từ quá khứ lẫn hiện tại, do tác động từ chính bản thân cũng như từ các mối tương quan trong gia đình và xã hội.
Căn tính con người không hệ tại ở những gì ta làm được hay những gì ta sở hữu; cũng không phải là tên tuổi, địa vị hay xuất thân. Căn tính đích thực là một thực tại nội tại, mang phẩm giá cao quý và bất khả xâm phạm. Việc con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa mang lại cho mỗi người một phẩm giá nội tại, bình đẳng và không thể bị tước đoạt, bất kể chủng tộc, khả năng hay địa vị xã hội. Sách Sáng thế thuật lại lời Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta…” (St 1,26). Nhờ được giống Thiên Chúa và là con cái của Ngài, con người được ban cho lý trí, ý chí, khả năng yêu thương và tự do, đồng thời được mời gọi làm chủ bản thân và thế giới.
Tuy nhiên, chính sự tự do cao quý ấy đã bị con người lạm dụng để kiêu ngạo chống lại Thiên Chúa. Đó là tội đầu tiên, nguồn gốc của mọi tội lỗi và sự chết. Tội lỗi làm con người xa lìa Thiên Chúa, đánh mất ý thức về giá trị đích thực của bản thân, khiến căn tính bị méo mó và tổn thương. Vì thế, căn tính con người cần được chữa lành để có thể sống xứng với nhân phẩm, hướng tới chân - thiện - mỹ và sống đúng ơn gọi làm con cái Thiên Chúa.
Việc chữa lành đích thực không chỉ đến từ các liệu pháp tâm lý hay những phương thức chữa lành thể xác và cảm xúc của con người. Những phương thế ấy tuy tốt và cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ. Điều cốt yếu là chữa lành căn tính con người qua tương quan cá vị với Thiên Chúa. Tương quan này không chỉ là niềm tin trừu tượng, mà là một hành trình sống động đưa con người trở về với Thiên Chúa. Chỉ khi tái thiết lập một mối tương quan mật thiết, yêu thương và mang tính cá nhân với Thiên Chúa, con người mới tìm lại được bản chất đích thực của mình và niềm hạnh phúc làm con cái, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa là Tình yêu.
Căn tính con người có thể bị tổn thương bởi nhiều nguyên nhân: bất công, bị chối bỏ, thiếu tình thương, thất bại và tuyệt vọng. Khi căn tính bị tổn thương, con người dễ mất phương hướng, không biết mình là ai, rơi vào mặc cảm tự ti hoặc tự tôn giả tạo, sống hai mặt để làm vừa lòng người khác, mang cảm giác bị bỏ rơi hoặc không xứng đáng để sống, để yêu và được yêu.
Tội lỗi đã làm méo mó căn tính con người, nhưng chính Đức Kitô đã phục hồi căn tính ấy qua cái chết và sự Phục sinh của Ngài. Ngài chết để xóa bỏ tội lỗi chúng ta, và sống lại để ban cho chúng ta một đời sống mới: đời sống trong chân - thiện - mỹ, trong yêu thương và hiệp thông, nơi mọi người là anh chị em con cùng một Cha trên trời. Đức Kitô đã khẳng định giá trị và nhân phẩm của mỗi người. Phần chúng ta là đáp lại bằng một mối tương quan cá vị tốt lành với Thiên Chúa, trong tự do và bằng toàn thể con người mình.
Tương quan cá vị với Thiên Chúa không chỉ là việc giữ đạo theo hình thức, mà là sống đạo theo thánh ý Ngài. Đó là cuộc gặp gỡ cá nhân giữa tạo vật với Đấng Tạo Hóa, giữa người con với người Cha. Tương quan ấy đòi hỏi tâm tình khiêm nhường, chân thành và yêu mến, bởi Thiên Chúa nhìn thấu tận đáy lòng con người (x. 1Sm 16,7) và gọi tên từng người trong yêu thương (x. Is 43,1). Ngài là Đấng giàu lòng xót thương, luôn sẵn sàng tha thứ và chữa lành khi con người biết ăn năn trở về.
Trong Tân ước, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể đã tỏ lộ trọn vẹn lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa. Ngài mời gọi: “Hãy mang lấy ách của tôi… vì tôi hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,28-30). Ngài đến không để kết án, nhưng để chữa lành; không để loại trừ, nhưng để gặp gỡ, xót thương và tha thứ cho người tội lỗi (như người phụ nữ Samari, ông Giakêu, Maria Mađalêna…). Hơn nữa, Ngài còn hiến mạng sống mình để ban ơn cứu độ và đưa con người trở lại địa vị làm con Thiên Chúa.
Để được chữa lành căn tính bị tổn thương, con người cần trước hết can đảm đối diện với những tổn thương và tội lỗi của chính mình, nhìn nhận sự yếu đuối và nhu cầu được chữa lành. Trong tương quan cá vị với Thiên Chúa, con người đến với Ngài bằng tâm tình khiêm tốn của người con đối với Cha, mở lòng hoàn toàn cho Đấng giàu lòng xót thương. Qua việc lắng nghe Lời Chúa, con người nhận ra sự thật về chính mình, tin tưởng vào tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, cậy trông vào lòng thương xót của Ngài và đón nhận ơn tha thứ.
Trong đời sống hằng ngày, mỗi người được mời gọi ý thức và sống đúng căn tính của mình là con cái Thiên Chúa. Sự chữa lành phải được thể hiện cụ thể qua lời nói và hành động yêu thương, tha thứ và phục vụ. Con người được mời gọi cảm thông và tha thứ cho tha nhân cũng như cho chính mình, xác tín rằng: “Tôi là người được Thiên Chúa yêu thương và tha thứ,” và nhìn mọi người như anh chị em, đều xứng đáng được Thiên Chúa xót thương.
Nhờ tương quan cá vị với Thiên Chúa yêu thương, được Thánh Thần chữa lành và được Đức Kitô Phục sinh ban sự sống mới, con người đạt tới sự tự do nội tâm, từ chỗ cần được chữa lành trở nên người mang lại sự chữa lành cho người khác. Trong tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa, con người học biết yêu thương và tha thứ, đồng thời chia sẻ tình yêu ấy cho mọi người.
Tóm lại, việc chữa lành căn tính bị tổn thương không thể chỉ dựa vào sức riêng hay nỗ lực của con người. Mỗi người cần quay về chiều sâu bản thể của mình để tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa trong một tương quan cá vị. Chỉ trong Ngài, con người mới nhận ra giá trị đích thực của căn tính mình. Với sức riêng, con người không thể hiểu và sống trọn vẹn chính mình (x. Rm 7,14-15); nhưng nhờ ơn Thiên Chúa và một tương quan cá vị tốt đẹp với Ngài, con người có thể sống đúng ơn gọi của mình trong thánh ý của Thiên Chúa là Tình yêu.
Hồi tâm:
1/ Những tổn thương nào trong quá khứ hay hiện tại đang ảnh hưởng đến cách tôi nhìn về chính mình, và tôi có dám mang những tổn thương ấy đến gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện chưa?
2/ Trong đời sống hằng ngày, tôi đang xây dựng căn tính của mình dựa trên điều gì: thành công, đánh giá của người khác, hay trên xác tín rằng tôi là người con được Thiên Chúa yêu thương vô điều kiện?
3/ Mối tương quan cá vị của tôi với Thiên Chúa hiện nay đang ở mức độ nào, và tôi được mời gọi thay đổi điều gì để sống yêu thương, tha thứ và tự do hơn như một người con của Chúa?
------------------
[1] Đức Thánh cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, công bố ngày 24/11/2013, số 169.
[2] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, ngày 08/12/1975, số 21.
[3] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 56.
[4] Nguồn https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2025-06/dtc-leo-xiv-moi-goi-giao-dan-tham-gia-truyen-giao-gia-dinh.html
[5] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 24.
[6] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 56.
[7] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 171.
[8] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 21.
[9] Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 172.
[10] x. Luke Timothy Johnson, The Gospel of Luke, Sacra Pagina 3, Liturgical Press, 1991, tr 397-405.
[11] x. Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098
[12] Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng Giám mục thế giới lần thứ XVI, số 50.
[13] x. Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098
[14] Nguồn: https://giaophanxuanloc.net/chi-tiet/quan-diem-cua-duc-giao-hoang-leo-xiv-ve-su-mang-truyen-giao-ngay-nay
[15] Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098
[16] Đức Lêô XIV, Diễn văn dành cho các Nhà truyền giáo Kỹ thuật số và người Công giáo có ảnh hưởng vào ngày 29/7/2025. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dien-van-cua-duc-thanh-cha-leo-xiv-cho-cac-nha-truyen-giao-ky-thuat-so-va-nguoi-cong-giao-co-anh-huong
[17] Đức Phanxicô. Bài Giáo lý Phân định: Đồng hành Thiêng liêng, ngày 04/01/2023. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tiep-kien-chung-04-01-2023-giao-ly-phan-dinh-dong-hanh-thieng-lieng-49098
