Phụng vụ Chúa nhật 25 Thường niên khởi đi từ một khoảng cách cần được lấp đầy, khoảng cách giữa cách chúng ta suy nghĩ và đường lối của Thiên Chúa: “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,9).
Động từ đượcngôn sứ sử dụng không nhằm gợi lên một sự hiện diện gây cảm giác nặng nề của Thiên Chúa trên sự yếu đuối của con người. Trái lại, khi gợi nhớ kinh nghiệm Xuất hành - nơi giao ước với Israel được thiết lập - hình ảnh ấy có thể được hiểu như một sự hiện diện từ trên cao, luônđồng hành và gìn giữ cuộc lữ hành, ngay cả khi tương quan vẫn còn những khó khăn và bất ổn.Thật vậy, như chính ngôn sứ nói, sau khi tuyên bố về vực thẳm phân cách giữa tư tưởng của con người với đường lối của Thiên Chúa, con người cần tìm kiếm và kêu cầu Chúa ngay từ chính khoảng cách không thể khoả lấp này. Khi con người can đảm từ bỏ đường lối của mình để tìm cách trở về với Chúa, họ biết chắc rằng Người “sẽ xót thương”, vì Người “rộng lòng tha thứ” (Is 55,7). Đối với chúng ta, những người tin, kinh nghiệm tìm kiếm và nhận biết tình yêu thương xót của Thiên Chúa luôn có thể diễn ra trong việc lắng nghe Lời Người được chứa đựng trong Kinh thánh, nơi chúng ta có thể quỳ xuống với lòng yêu mến, trong lúc chờ đợi được chạm đến bằng sự thuyết phục dịu dàng của Thánh Thần: “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên” (Is 55, 6).
Trong dụ ngôn nổi tiếng về những người thợ làm vườn nho vào giờ cuối, Chúa Giêsu cố gắng diễn tả khoảng cách luôn có thể vượt qua giữa chúng ta và Thiên Chúabằng mộtcâu chuyện. Lời phàn nàn của những người thợ vào làm từ giờ đầu thốt ra, khi nhận ra mình cũng được lãnh cùng một mức tiền công như những người đến vào giờ cuối, cho thấy một cách sống động nỗi thất vọng mà chúng ta thường cảm nghiệm khi sự quan phòng của Thiên Chúa dường như lại đối xử “bất công” với chính chúng ta hơn là với người khác.Đó là một sự bất mãn khó kìm nén trong lòng, giống như những người thợ khi nhận tiền công đã lẩm bẩm trách ông chủ: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20,11).
Dĩ nhiên, khi bắt đầu trả tiền công từ những người đến sau hết, ông chủ vườn nho xem ra rõ ràng có ý muốn tạo nên một chút xáo trộn giữa những người làm công cho ông. Đến mức phản ứng của những người thợ vào làm từ giờ thứ nhất tưởng chừng như hoàn toàn có lý, khi họ phàn nàn vì được trả ngang bằng với những người thực sự đã làm việc ít thời gian hơn rất nhiều: “Những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền” (Mt 20,9).Thế nhưng, nếu đọc kỹ bản văn, chúng ta sẽ nhận ra rằng lời than phiền của những người thợ vào làm từ giờ thứ nhất không đòi tăng tiền công, nhưng là sự phản đối trước lòng quảng đại của ông chủ dành cho những người đến sau. Lời lẩm bẩm của họ không phát xuất từ một nhu cầu, nhưng từ một tâm thức ẩn đằng sau vỏ bọc công bằng, điều mà theo Thánh Phaolô cho thấy một lối suy nghĩ không “xứng với Tin mừng của Đức Kitô” (Pl 1,27).Vì thế, ông chủ không còn cách nào khác ngoài việc giúp những người thợ đến từ giờ đầu nhìn lại những động lực đã khiến họ dấn thân vào công việc, thay vì sa vào ảo tưởng rằng mình đang phải chịu một sự bất công phi lý: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi” (Mt 20,13-14). Có lẽ khoảng cách giữa chúng ta và Thiên Chúa, Đấng làm cho cả “sự sống” lẫn “sự chết” trở nên khác đi (Pl 1,21), ít là trong cách chúng ta cảm nhận và đón nhận chúng, nằm trọn nơi sự tự do biết trao ban mà không mong đợi bất cứ điều gì đáp lại, ngoài niềm vui được sống trọn vẹn chính mình: “Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20, 14).
Dĩ nhiên, ý muốn và sự tự do này chỉ có thể thực hiện khi chúng ta luôn ý thức con người cũ của chúng ta cần phải chết đi, và con người mới luôn được đổi mới, trong tiến trình không ngừng làm cho Đức Kitô được tôn vinh nơi thân xác chúng ta: “Tôi ước ao chết để được ở với Ðức Kitô thì tốt hơn bội phần” (Pl 1, 23).
Lm. Roberto Pasolini, OFM Cap. (nellaparola.it)
