Mở đầu

I. BỐI CẢNH CỦA TÔNG THƯ

1. Hội Giáo Sĩ Truyền Giáo (1917)

2. Thánh Bộ cho Hội Thánh Phương Đông (1917)

3. Maximum Illud (30 tháng 11, 1919)

4. Hội Thánh Phêrô Tông Đồ

II. TÍNH THỜI SỰ CỦA TÔNG THƯ

1. Đức Tổng Giám Mục Marek Zalewski

2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Tông Thư Maximum Illud

3. Mục đích Tông Thư Maximum Illud (MI)

4. Nội dung Tông Thư và các chủ đề chính

III. CÁC HUẤN TỪ

1. Một số hướng dẫn cụ thể cho việc chuẩn bị cử hành “Tháng Mười Đặc Biệt Truyền Giáo 2019”

2. Tâm sự của Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi chúng ta qua Đức Hồng Y Filoni

IV. ĐỂ ĐI XA HƠN

 

Mở đầu

Các đây hơn 10 năm, tôi học triết và sau đó là học thần học. Thách đố lúc đó là làm sao để tìm thông tin trên “Google” hiệu quả. Khi học và viết bài, công cụ tìm kiếm này không thể thiếu đối với bất kỳ sinh viên nào. Giáo sư cũng khuyến khích chúng tôi tìm nguồn tài liệu phong phú ở trên mạng. Cần lưu ý rằng làm sao để “tiêu hóa” những tài liệu này, để trở nên nguồn tri thức cho chính mình? Lúc đó, chẳng ai ngu ngơ “copy” và “paste” nguyên “con” mà không trích nguồn. Hình thức khác là chúng tôi cần viết lại (paraphrase) để trở thành văn phong của mình. Cách học này giúp chúng tôi vừa đọc, vừa học và vừa suy tư và sau cùng hy vọng kín múc được một chút tri thức triết thần. Lối học truyền thống này đang gặp thách đố với sự ra đời của trí tuệ nhân tạo!

I. BỐI CẢNH CỦA TÔNG THƯ

Ngày 3 tháng 9, 1914, vài tuần sau khi Thế Chiến I nổ ra, Hồng Y Della Chiesa lên ngôi Giáo Hoàng ở tuổi 60. Từng là thư ký của Hồng y Rampolla từ 1883 đến 1903 tại tòa Khâm Sứ ở Madrid hay tại tòa Quốc Vụ Khanh, rồi của Hồng y Merry del Val cho tới khi chính ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục Bologne ngày 16 tháng 12, 1907, Đức tân Giáo Hoàng rất thông thạo các vấn đề chung của Hội Thánh, hoàn toàn cho việc cai quản Hội Thánh trong lãnh vực truyền giáo cũng như trong các lãnh vực khác.

1. Hội Giáo Sĩ Truyền Giáo (1917)

Một năm sau khi lên ngôi Giáo Hoàng, ngày 23 tháng 10, 1916, trong một cuộc tiếp kiến dành cho Hồng y Serafini, tổng trưởng Thánh Bộ Propaganda Fide, ngài chính thức tuyên dương một công cuộc sẽ giúp mở rộng đức tin trong thế giới: Hội Giáo Sĩ Truyền Giáo, nhờ sự nhiệt tình của Cha Paolo Manna, thuộc Tu Hội Truyền Giáo Milan. Từ Miến Điện trở về lần đầu năm 1901 khi 29 tuổi, rồi trở về vĩnh viễn năm 1908 vì lý do sức khoẻ, Cha Manna sẽ dành cả cuộc đời mình cho hai mục tiêu mà ngài nghĩ chỉ là một: sự hiệp nhất của thế giới Kitô giáo và sự tiến bộ của các công cuộc truyền giáo. Ngay từ năm 1908, cha đã trình bày tư tưởng của mình trong một cuốn sách nhỏ: Operarii, autem pauci [“Nhưng thợ gặt thì ít”] trong đó cha nêu bật sự dửng dưng của thế giới Kitô giáo đối với việc phúc âm hoá thế giới và cha dự kiến việc thiết lập tại mỗi chủng viện một liên minh cầu nguyện cho sự hoán cải của các dân ngoại, và thành lập tại mỗi giáo phận một hội các linh mục tận tâm lo các công cuộc truyền giáo.

Nhà truyền giáo này lập tức nhận được sự ủng hộ của một vị giám mục giàu tâm hồn truyền giáo: Đức Cha Conforti, tổng giám mục Parma và là người sáng lập của một hội cùng tên gọi, và đệ trình lên vị giám mục này bản điều lệ và chương trình của Unio clero pro missionibus. Đến cuối năm 1917, đã có 1.254 linh mục tại Ý thuộc hai mươi bốn giáo phận ghi danh gia nhập Hội. Vị linh mục đầu tiên ghi danh tại Rôma là Đức Ông Ratti, giáo hoàng Piô XI tương lai. Đến tháng 10 năm 1918 đã có 1.824 linh mục ghi danh.

2. Thánh Bộ cho Hội Thánh Phương Đông (1917)

Rất quan tâm đến các Kitô hữu Phương Đông, ngày 1 tháng 5, 1917, Đức Bênêđictô XV đã giải thể Uỷ Ban Truyền Giáo cho nghi lễ Phương Đông và thiết lập Thánh Bộ cho Hội Thánh Phương Đông.

Ngày 15 tháng 10, 1917, ngài đã lập Viện Phương Đông, và nhờ đó gỡ bỏ khỏi Bộ Truyền Giáo mọi vấn đề liên quan đến các công cuộc truyền giáo của Phương Đông.

Sáng kiến này, cũng như việc công bố Bộ Giáo Luật mới, là một phần trong kế hoạch toàn thể để tái tổ chức Hội Thánh vào thời kỳ đầy biến động này của chiến tranh. Chiến tranh đã giáng một đòn thô bạo vào công cuộc truyền giáo. Việc các nhà truyền giáo bị động viên, các biện pháp mạnh tại các nước đồng minh và các thuộc địa của họ chống lại các nhà truyền giáo Đức và Áo và tại các lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ chống lại các công dân Pháp đã phá vỡ nhiều tổ chức truyền giáo của Hội Thánh.

Trước một tình hình nghiêm trọng như thế, việc truyền giáo của Công Giáo cần có một thủ lãnh vững vàng và cương quyết. Đó là Hồng y Guillaume van Rossum, được bổ nhiệm làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo ngày 12 tháng 3 năm 1918. Hồng y Rossum đã giữ chức vụ này trong mười bốn năm có thể gọi là những năm bản lề của công cuộc truyền giáo ở thế kỷ 20.

Các hoạt động truyền giáo dưới sự điều hành linh động và bền bỉ của vị hồng y vĩ đại này sẽ tạo một sức bật kỳ diệu: gia tăng con số các hạt pháp lý truyền giáo, gia tăng con số các nhà truyền giáo, phát triển hàng giáo sĩ và hàng giám mục bản địa, tập trung hoá các hội giáo hoàng truyền giáo. Vị hồng y này kiên trì khẳng định trong mọi hoàn cảnh rằng các tu hội là để phục vụ Hội Thánh và các tông đồ của Đức Kitô phải tránh cả dáng dấp bề ngoài của chủ nghĩa dân tộc.

3. Maximum Illud (30 tháng 11, 1919)

Đó là cùng một âm vang từ các ý tưởng được khai triển trong các nguyên tắc được đặt ra bởi Tông thư Maximum Illud của Đức Bênêđictô, được công bố ngày 30 tháng 11 năm 1919, và sẽ là đại hiến chương của công cuộc truyền giáo thời hiện đại, mà Đức Piô XI sẽ chỉ bổ túc, xác định thêm và cho áp dụng. Từ đó trở đi, các nguyên tắc được đặt ra trong văn kiện này sẽ chi phối mọi hoạt động truyền giáo.

Liên quan đến những sự tàn phá do chủ nghĩa dân tộc gây nên, Đức Giáo Hoàng nói, “sẽ là thảm kịch nếu các thừa sai của chúng ta hoàn toàn quên mất sự cao cả của chức vụ của họ khiến họ chỉ bận tâm tới những lợi ích của quê hương trần thế của mình mà sao nhãng những bổn phận của quê hương trên trời.” Một người truyền giáo quá lo lắng cho lợi ích của quê hương mình có thể là “bệnh dịch đáng sợ nhất” và gây phương hại triệt để cho sứ vụ của họ. “Vì dù một dân tộc có thể là man rợ và thô lỗ, họ vẫn biết rõ người truyền giáo đang làm gì tại đất nước họ và muốn gì nơi họ. Họ sẽ có cách của họ để điều tra, và nếu người truyền giáo có một mục tiêu nào không phải là lợi ích thiêng liêng của họ, họ sẽ khám phá ra điều đó.” Người tông đồ không phải là nhà truyền giáo của tổ quốc mình, nhưng là của Đức Kitô. Đức Thánh Cha vô cùng đau buồn “khi thấy trong những năm vừa qua xuất hiện những tạp chí truyền giáo mà các chủ biên của chúng tỏ ra quan tâm tới những lợi ích của quê hương họ nhiều hơn là lợi ích của Nước Thiên Chúa.”

Đức Bênêđictô XV cũng nhận xét, “Làm sao mà vẫn còn một số vùng trên thế giới, mặc dù đã được nghe rao giảng đức tin trong nhiều thế kỷ, nhưng vẫn có một hàng giáo sĩ địa phương kém chất lượng? Đúng là cũng có một số nước đã được ánh sáng đức tin thấm nhuần sâu xa, và ngoài ra, cũng đã đạt tới một trình độ văn minh có thể sản sinh ra những nhân vật lỗi lạc trong mọi lãnh vực của đời sống thế tục - thế nhưng, mặc dù họ đã sống dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Hội Thánh và Tin Mừng trong hàng trăm năm, họ vẫn chưa sản sinh ra được những giám mục cho việc quản trị đời sống thiêng liêng hay những linh mục cho việc hướng dẫn thiêng liêng. Từ những sự kiện này, ta thấy rõ rằng tại một số nơi hệ thống thông thường được sử dụng từ trước đến giờ để đào tạo các nhà truyền giáo tương lai vẫn còn yếu và kém.”

Sẽ ra sao trong hoàn cảnh Hội Thánh bị bách hại nếu số lượng các giáo sĩ địa phương không đủ và không được tổ chức vững chắc?

Để đương đầu với nhiệm vụ vẫn còn bao la này, Đức Giáo Hoàng kêu gọi sự thành tâm thiện chí của mọi người. Các bề trên truyền giáo đừng sợ luôn luôn tiến về phía trước, nắm giữ mọi lãnh thổ đã được uỷ thác cho các ngài, và nếu cần, mời gọi những người truyền giáo của các dòng tu khác và các nước khác. Phải phát triển các nữ tu truyền giáo. Mọi tín hữu phải chăm lo cầu nguyện cho các xứ truyền giáo, cổ vũ các ơn gọi truyền giáo, tỏ ra quảng đại đối với các công cuộc truyền giáo. Các linh mục hãy ghi danh gia nhập Hội Giáo Sĩ Truyền Giáo. Là hiến chương của việc mở mang truyền giáo tại các nước ngoại giáo, Maximum Illud cũng là hiến chương của phong trào truyền giáo tại các nước Kitô giáo. Một Huấn thị của Thánh Bộ Truyền Giáo, được ký năm 1920 bởi Hồng Y van Rossum, đã xác định và củng cố các hướng dẫn tổng quát này. Huấn thị này yêu cầu các nhà truyền giáo hãy tôn trọng các nền văn hoá của các nước mà mình đến rao giảng Tin Mừng, không được truyền bá văn hóa và phong tục của mẫu quốc mình, và phải giữ trung lập về chính trị.

4. Hội Thánh Phêrô Tông Đồ

Một công cuộc được thiết lập tại Caen năm 1889 để hỗ trợ hàng giáo sĩ bản địa nhằm phục vụ các kế hoạch của giáo hoàng: đó là Hội Thánh Phêrô Tông Đồ. Hội đề ra cho mình nhiệm vụ cầu nguyện và quyên góp từ thiện cho mục đích này. Sau nhiều bước thăng trầm, cuối cùng Hội đã được uỷ thác cho các Nữ Tu Phan Sinh Thừa sai Đức Mẹ; năm 1919, các Nữ Tu này đã xin cho Hội được đặt dưới sự bảo trợ của Hồng Y van Rossum. Ngày 26 tháng 4, 1920, Hội Thánh Phêrô Tông Đồ chính thức được sự phê chuẩn của Thánh Bộ Truyền Giáo và trở thành một Hội giáo hoàng.

Như vậy, Tông thư đã nhắc đến 4 Hội giáo hoàng truyền giáo (số 37-40) trong bối cảnh Hội thánh cần được xây dựng và phát triển tại những địa phương khác nhau trên thế giới tuỳ hoàn cảnh thực tế thúc đẩy. Tới hôm nay trong bối cảnh “thế giới thời 4.0”. Tông thư Maximum Illud cũng còn cất vang lên lần thứ 100 lời kêu gọi tha thiết của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô. Chúng ta cùng lắng nghe lời kêu gọi của Ngài.

II. TÍNH THỜI SỰ CỦA TÔNG THƯ

1. Đức Tồng Giám Mục Marek Zalewski

Đức Tồng Giám Mục Marek Zalewski Trong câu trả lời phỏng phấn tuần báo Công giáo và Dân tộc số 2196, ngày 8-14/3/2019 cho rằng: “Tông Thư Maximum Illud kêu gọi vượt lên trên các ranh giới quốc gia và lấy tinh thần ngôn sứ và sự bạo dạn của Tin Mừng để làm chứng cho ý muốn cứu độ của Thiên Chúa nhờ sứ mạng phổ quát của Hội Thánh. Chúng ta phải tái khám phá ý nghĩa thực sự của việc phúc âm hoá, và như Đức Thánh Cha của chúng ta nói: chiến đấu chống lại cơn cám dỗ rình rập dưới mọi hình thức của một Hội Thánh quy về mình, rút vào vùng an toàn tiện nghi, bi quan mục vụ và tiếc nuối dĩ vãng một cách vô ích. Trái lại, chúng ta hãy mở lòng mình ra cho sự mới mẻ của niềm vui Tin Mừng. Tôi thực sự hi vọng rằng Tin Mừng được công bố cho thế giới với nhiệt tâm mới và khơi dậy niềm tin và hy vọng nơi mọi người; đó là Tin Mừng rằng trong Đức Giêsu, ơn tha thứ chiến thắng tội lỗi, sự sống đánh bại sự chết và tình yêu chinh phục sự sợ hãi.

Đối với lịch sử truyền giáo, Tông Thư này đánh dấu một ranh giới quyết định, vì hai lý do chính này: trong khi đổi mới theo Tin Mừng, nó đã tách biệt công cuộc phúc âm hoá với công việc thuộc địa hoá; và nó nhấn mạnh việc thiết lập một hàng giáo sĩ và hàng giáo phẩm công giáo địa phương tại các xứ truyền giáo.

Hơn nữa, phù hợp với ý muốn của Công Đồng Vaticanô II đưa missio ad gentes trở về với trách nhiệm của mỗi người đã được rửa tội, việc chọn lựa chủ đề cho Tháng Đặc Biệt Truyền Giáo sắp tới là: “Được rửa tội và được sai đi. Hội Thánh Chúa Kitô thi hành sứ mạng trong thế giới.”

Đức Thánh Cha Phanxicô đã chọn chủ đề này, nó chứa đựng những yếu tố cơ bản phải lưu ý khi lập kế hoạch và sống sáng kiến này. Chúng ta đã nhận được sự sống của Thiên Chúa khi chịu phép rửa và nhờ đó chúng ta là những ngôn sứ, nghĩa là những người loan báo mầu nhiệm Chúa Kitô, được Chúa Kitô sai đi. Đức Kitô, Đấng sai chúng ta đi, cũng chính là nội dung của sứ mạng: Hội Thánh không truyền lại sứ điệp của chính mình, nhưng truyền lại sứ điệp Hội Thánh đã nhận từ Đức Kitô, nghĩa là chính bản thân của Hội Thánh.

Việc cải tổ các cơ cấu theo đòi hỏi của sự hoán cải mục vụ chỉ có thể được hiểu trong ánh sáng này: như là một phần cố gắng làm cho các cơ cấu ấy có định hướng truyền giáo nhiều hơn, làm cho hoạt động mục vụ ở mọi cấp trở nên bao gồm và mở rộng hơn, gợi hứng cho những người hoạt động mục vụ một ước muốn bền bỉ đi ra với mọi người và bằng cách này khơi dậy một lời đáp tích cực từ tất cả những ai Đức Kitô kêu gọi vào tình nghĩa thiết với Người. Như Đức Gioan Phaolô II nói với các giám mục Châu Đại Dương, “Mọi canh tân trong Hội Thánh phải lấy truyền giáo làm mục tiêu nếu không muốn rơi vào tình trạng của một Hội Thánh tự quy về mình.”

Như vậy ta thấy rõ Vị đại diện Đức Thánh Cha đã nhắc lại rất rõ ràng bài học của quá khứ cần phải ôn lại và thực hiện bài học đó ngày hôm nay.

Cũng để xác tín vào sứ vụ, chúng ta hãy nhìn lại nội dung của Tông thư

2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Tông Thư Maximum Illud

Nhân ngày lễ Khánh Nhật Truyền Giáo 2017, trong một lá thư gửi Hồng Y Fernando Filoni, Bộ Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng cho các Dân Tộc, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố một “Tháng Đặc Biệt Truyền Giáo” sẽ được cử hành vào tháng 10 năm 2019 để mừng Kỷ Niệm 100 Năm Tông Thư Maximum Illud của Đức Thánh Cha Bênêđictô XV.

Đức Thánh Cha viết: “Ngày 30 tháng 11, 2019, chúng ta sẽ cử hành Kỷ Niệm 100 Năm Đức Thánh Cha Bênêđictô XV công bố Tông Thư Maximum Illud, qua đó ngài muốn tạo một sức thúc đẩy mới cho công việc truyền giáo là loan báo Tin Mừng.” Vì vậy, Đức Phanxicô viết tiếp, “bằng lá thư này tôi yêu cầu cử hành một Tháng Đặc Biệt Truyền Giáo vào tháng Mười năm 2019, nhằm thúc đẩy việc gia tăng ý thức về missio ad gentes, (sứ mạng đến với muôn dân), và hăng say tiếp tục sự biến đổi truyền giáo trong đời sống và hoạt động mục vụ của Hội Thánh.”

Việc long trọng Kỷ Niệm 100 Năm Tông Thư Maximum Illud cho thấy ý nghĩa và ảnh hưởng to lớn của Tông Thư này đối với đời sống và đặc biệt đối với hoạt động truyền giáo của Hội Thánh cho tới tận thời đại chúng ta hôm nay. Vì thế Đức Phanxicô muốn “coi Tháng Đặc Biệt Truyền Giáo vào Tháng Mười năm 2019 là một sự chuẩn bị tốt cho việc cử hành này bằng cách làm cho mọi tín hữu quan tâm tới việc rao giảng Tin Mừng và giúp các cộng đoàn của họ gia tăng nhiệt tình truyền giáo và phúc âm hóa. Ước gì tình yêu đối với việc truyền giáo của Hội Thánh, cũng là một ‘niềm say mê Đức Giêsu và say mê dân của Người' ngày càng lớn mạnh hơn!”

3. Mục đích Tông Thư Maximum Illud (MI)

Năm 1919, thế giới vừa ra khỏi một cuộc chiến tàn khốc, bi thảm: Thế Chiến I (1914-1918). Ngay từ năm 1914, khi cuộc chiến mới chỉ bắt đầu, Đức Thánh Cha Bênêđictô XV đã mô tả nó là một “cảnh tượng quái dị”, và là “cái roi của cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”. Khi cuộc chiến đang ở giai đoạn khốc liệt nhất, ngài mô tả nó là một “cuộc tàn sát vô ích”. Sau khi Thế Chiến kết thúc, hoà bình được vãn hồi, cả thế giới tan hoang, đổ nát, đời sống con người trở nên thê thảm, cùng kiệt. Tình cảnh đau thương vật chất và tinh thần của loài người sau chiến tranh càng làm cho Vị Mục Tử đại diện Chúa Kitô đau buồn và thậm chí “choáng váng khi thấy rằng ngay bây giờ, trên thế giới vẫn còn những đám đông vô kể những con người đang ở trong chốn tối tăm và trong bóng tối sự chết.” (MI, số 6)

“Số phận đáng thương của vô số linh hồn này là nguồn gây đau buồn khôn tả cho Tôi. Từ những ngày đầu tiên lãnh nhận trọng trách tông tòa này, Tôi đã ước ao chia sẻ những ơn phúc cứu độ của Thiên Chúa với những con người bất hạnh này. Vì thế, Tôi hết sức vui mừng khi thấy rằng, dưới sự linh hứng của Thần Khí Thiên Chúa, các cố gắng cổ vũ và phát triển các công cuộc truyền giáo ở hải ngoại đã gia tăng về số lượng và cường độ tại nhiều nơi trên thế giới. Nhiệm vụ của Tôi là nâng đỡ và làm hết sức mình để khuyến khích các công cuộc này, và bổn phận này hoàn toàn trùng khớp với các ước muốn sâu xa nhất của chính Tôi.

“Khi viết thư này, Tôi nghĩ đến hai mục đích: khích lệ Chư Huynh, hàng linh mục của Chư Huynh và dân của Chư Huynh trong các cố gắng này, và thứ hai, vạch ra các phương pháp Chư Huynh có thể sử dụng để đẩy mạnh việc hoàn thành công cuộc vô cùng quan trọng này.” (MI, số 7)

4. Nội dung Tông Thư và các chủ đề chính

4.1/ Mở đầu (số 1-7)

Đức Bênêđictô XV mở đầu Tông Thư bằng huấn lệnh của Đức Giêsu sai các Tông Đồ đi rao giảng Tin Mừng: “Anh em hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Qua huấn lệnh này, Đức Giêsu đã uỷ thác cho các Tông Đồ một nhiệm vụ quan trọng và thánh thiện, và các Tông Đồ đã đi khắp nơi loan báo Lời Thiên Chúa, khiến cho “tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu, và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Tv 18,5). Nhiệm vụ này đã không kết thúc với cái chết của các Tông Đồ, nhưng “từ đó trở đi, qua các thế kỷ, Hội Thánh chưa bao giờ quên lệnh truyền của Thiên Chúa, và chưa bao giờ ngưng sai đi đến khắp cùng thế giới các sứ giả loan truyền giáo lý Người đã uỷ thác cho Hội Thánh” (MI, số 1).

Với những lời mở đầu này, Tông thư muốn chúng ta tập trung chú ý vào sứ mạng truyền giáo phổ quát của Hội Thánh: “Hãy đi khắp thế gian.” Đó là điều mà Hội Thánh đã làm trong ba thế kỷ đầu sau khi các Tông Đồ qua đời: trong thời kỳ mà Hội Thánh bị bách hại và “toàn thể nền văn minh tràn ngập máu người Kitô hữu, thì ở những vùng xa xôi ngoài biên cương Đế Quốc [Rôma], các sứ giả Tin Mừng vẫn đi đây đó loan báo tin vui của họ.” Và Đức Bênêđictô XV đã nêu gương một số sứ giả Tin Mừng lỗi lạc, như Thánh Grêgôriô, biệt danh Người Chiếu Sáng, đã đem đức tin đến Armenia. Một vị khác là Victoriô, tông đồ của Styria [Nước Áo]. Vị thứ ba là Frumentiô, loan báo Tin Mừng cho Êtiôpia... (MI, số 2).

Trải qua các thời kỳ tiếp theo cho tới hôm nay, vô số vị Tông Đồ thánh thiện và nhiệt thành khác của Tin Mừng vẫn tiếp tục dấn thân để mở rộng các công cuộc truyền giáo, đem đức tin đến những vùng đất mới chưa từng được biết đến trước đó.

Đời sống dấn thân cho Tin Mừng của tất cả các vị ấy khiến chúng ta “không thể không cảm thấy bị ấn tượng sâu xa: bằng tất cả những nỗi vất vả đáng sợ mà các nhà truyền giáo của chúng ta đã trải qua để mở mang đức tin, sự sốt sắng tuyệt vời mà họ đã chứng tỏ, và vô vàn những gương sáng về sự dũng cảm chịu đựng mà họ đã cống hiến cho chúng ta” (MI số 3-6).

Tất cả là để thi hành lệnh truyền của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” Với lệnh truyền này, sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh là một sứ mạng phổ quát, vì Hội Thánh “tự bản chất là truyền giáo.”

Kết thúc phần mở đầu, Đức Bênêđictô XV nêu lên hai mục đích của Tông Thư: 1) khích lệ các giám mục, linh mục và giáo dân trong các cố gắng truyền giáo, và 2) vạch ra các phương pháp để đẩy mạnh việc hoàn thành công cuộc vô cùng quan trọng này. (MI, số 7).

4.2/ Phương pháp và các vai trò truyền giáo

Trong thư công bố “Tháng Mười Đặc Biệt Truyền Giáo 2019” để kỷ niệm 100 năm Tông Thư Maximum Illud, Đức Thánh Cha Phanxicô tóm tắt một số chủ đề chính của Tông Thư này như sau:

“Đức Thánh Cha [Bênêđictô XV] nhận thấy cần phải có một phương thức mới cho hoạt động truyền giáo trên thế giới, để hoạt động này được tẩy sạch mọi âm hưởng của chủ nghĩa thuộc địa và tránh xa các mục tiêu của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bành trướng, vốn đã tỏ ra tai hại như thế nào. ‘Hội Thánh của Thiên Chúa có tính phổ quát, không xa lạ với bất cứ dân tộc nào,' ngài viết, đồng thời ngài mạnh mẽ kêu gọi loại trừ mọi hình thức tư lợi, vì mục đích duy nhất của hoạt động truyền giáo là làm cho lời rao giảng và tình yêu của Chúa Giêsu được lan rộng nhờ đời sống thánh thiện và các việc lành của người truyền giáo. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô nhấn mạnh missio ad gentes, ‘sứ mạng đến với muôn dân', ngài dùng các khái niệm và ngôn ngữ của thời ngài để tìm cách làm sống lại, đặc biệt giữa hàng giáo sĩ, một ý thức bổn phận đối với các công cuộc truyền giáo.”

Một cách cụ thể, Tông Thư Maximum Illud trình bày các điểm quan trọng sau đây:

Trước hết là nhiệm vụ và vai trò của các vị (Bề Trên) Đặc Trách các xứ truyền giáo (MI số 8-17).

“Tất cả trách nhiệm truyền bá đức tin được đặt trực tiếp trên vai họ, và chính họ được Hội Thánh ủy thác cho việc mở rộng Hội Thánh trong tương lai” (số 8). Vì thế Đức Bênêđictô muốn họ “phải là linh hồn của công cuộc truyền giáo dưới sự chăm sóc của họ, phải quan tâm sâu sắc tới công việc của các linh mục, cũng như của tất cả những người trợ giúp họ trong việc chu toàn bổn phận...” (số 9-10).

Bề trên của một công cuộc truyền giáo phải coi mối bận tâm chính của mình là lo mở mang và phát triển đầy đủ công cuộc truyền giáo của mình. Vì thế, họ phải làm việc vì sự cứu rỗi đời đời của mọi người dân sống trong vùng họ phụ trách, và phải trở thành người hướng dẫn và bảo vệ những đứa con mà họ đã sinh ra trong Chúa Giêsu Kitô. Họ không bao giờ được tự mãn, nhưng phải làm việc không ngơi nghỉ để đưa những cư dân khác còn rất đông đảo trong vùng được chia sẻ đức tin và đời sống Kitô giáo. Để làm được điều này, một trong những phương tiện hiệu quả là thiết lập được nhiều giáo điểm.

Đức Bênêđictô ca ngợi các Bề Trên đã hết lòng lo mở mang công việc này, và khuyến khích họ mời gọi sự cộng tác và giúp đỡ từ các dòng tu (số 11). Trái lại, ngài cũng nghiêm khắc cảnh cáo những vị nào “coi đó là tài sản riêng của mình và không muốn một người ngoài nào được đụng tay vào!” Các Bề Trên cũng phải phát triển các mối quan hệ gần gũi và thân thiết với các đồng nghiệp của mình tại các vùng lân cận (số 12-13).

Một yếu tố rất quan trọng được Đức Bênêđictô đặc biệt nhấn mạnh và là một nét son trong chiến lược truyền giáo phổ quát của ngài: đó là việc đào tạo và thiết lập hàng giáo sĩ địa phương (hay bản địa). Ngài nhận ra rằng “vì người linh mục địa phương là một với đồng bào mình do sinh quán, bản tính, các mối đồng cảm và các khát vọng, nên họ đặc biệt hiệu quả trong việc tác động đến lối suy nghĩ của dân chúng và nhờ đó lôi kéo dân chúng đến với đức tin. (số 14). Nhưng cần phải tạo điều kiện để các linh mục bản địa nhận được một sự chuẩn bị tốt, với một nền đào luyện hoàn bị, xuất sắc trong mọi giai đoạn, tương đương với việc đào luyện linh mục của người Châu Âu, chứ không phải chỉ là một sự chuẩn bị sơ đẳng, cẩu thả để chỉ thi hành một số bổn phận khiêm nhường nhằm phụ giúp các linh mục ngoại quốc... Họ phải đảm nhận công việc của Thiên Chúa trong tư cách của những người ngang hàng, để một ngày kia họ có thể đảm nhận trọng trách lãnh đạo thiêng liêng cho dân của họ. (số 15).

Hội Thánh không phải là người lạ với bất cứ dân tộc nào. Hội Thánh không đi xâm lược một đất nước nào. Vì vậy, điều hợp lý là những người thi hành tác vụ thánh phải đến từ mọi quốc gia, để đồng bào của họ có thể tìm đến họ để được học hỏi về lề luật Chúa và được họ hướng dẫn đến con đường cứu độ. (số 16).

Chính vì lý do này, Đức Bênêđictô mạnh mẽ thúc đẩy các Bề Trên truyền giáo quan tâm tối đa tới việc đào tạo và thiết lập hàng giáo sĩ địa phương (số 17). Mặc dù ngài không có vinh dự tấn phong một linh mục bản địa nào lên chức giám mục, nhưng chiến lược truyền giáo và tác động của Tông Thư Maximum Illud của ngài đã giúp cho các vị giáo hoàng kế vị ngài thực hiện được điều này: Đức Piô XI đích thân truyền chức cho 6 giám mục người Trung Hoa tiên khởi năm 1926, giám mục tiên khởi người Nhật năm 1927 và giám mục tiên khởi người Việt Nam năm 1933 [Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng]. Đức Piô XI cũng thiết lập Ngày Chúa Nhật Truyền Giáo hằng năm cho toàn thể Giáo Hội, và tuyên phong Thánh Phanxicô Xaviê và nữ tu Têrêsa Lisieux dòng Cát Minh làm bổn mạng các công cuộc truyền giáo, và ủng hộ nghị quyết về cuộc Tranh Cãi về Nghi Thức, một tiến trình được chính thức hoàn tất dưới thời Đức Piô XII năm 1941, gần ba trăm năm sau khi tiến trình này bắt đầu.

Nhiệm vụ và vai trò các Thừa Sai (MI số 18-30)

Đức Bênêđictô XV gọi các vị thừa sai là “những người nắm trong tay trách nhiệm trực tiếp loan truyền sự khôn ngoan của Đức Kitô, với trách nhiệm cứu rỗi vô số các linh hồn... Các con đã được gọi để đem ánh sáng đến cho những người đang ngồi trong bóng tối sự chết và mở đường lên trời cho những linh hồn đang lao xuống hố huỷ diệt... Hãy nhớ rằng bổn phận của các con không phải là mở rộng một bờ cõi của loài người, nhưng mở rộng bờ cõi của Đức Kitô; và các con cũng hãy nhớ rằng mục tiêu của các con là giành được các công dân cho quê hương trên trời, không phải cho một quê hương dưới đất.” (số 18)

Ngài cảnh báo các thừa sai: “Sẽ là thảm kịch nếu một người tông đồ tiêu hao bản thân mình chỉ để gia tăng hay tôn vinh uy tín của quê hương mình sau khi đã rời bỏ nó. Một thái độ như thế sẽ làm ô nhiễm việc tông đồ của họ như một dịch bệnh.” (số 19-20). Trái lại, họ phải làm việc hoàn toàn vô vị lợi, và chỉ có một mục tiêu duy nhất là chinh phục các linh hồn cho Chúa và làm vinh danh Chúa. Họ phải từ bỏ mình theo gương Thánh Phaolô, sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi gian khổ của việc thi hành sứ vụ, và sống bằng chính việc lao động chân tay của mình. (số 21).

Đối với các thừa sai, Đức Bênêđictô cũng nhấn mạnh nhu cầu có một nền đào tạo hoàn bị, cẩn thận. Đương nhiên để cải hoá tâm hồn người ta, sự trau dồi nhân đức thì quý giá hơn sự hiểu biết những điểm tinh tế của văn chương. Nhưng nếu một người không có những kiến thức chắc chắn và đáng tin thì không thể hiệu quả trong công việc tông đồ của mình được. Vì vậy Tông Huấn đòi hỏi người thừa sai phải được đào tạo cẩn thận để 1) thông thạo mọi ngành tri thức, bao gồm cả các môn thánh và các môn thế tục cần thiết cho các xứ truyền giáo. 2) thông thạo ngôn ngữ để có thể tiếp xúc được với tất cả những người có học cũng như vô học, vì mục đích chính của họ là để rao giảng Tin Mừng tại bất cứ nơi nào họ được gửi đến. Cụ thể, Đức Bênêđictô khi có kế hoạch mở rộng Hội Thánh tại Phương Đông, ngài đã thiết lập tại Rôma một học viện đặc biệt về ngôn ngữ và văn hóa Phương Đông cho những người sẽ được sai đi hoạt động tông đồ tại vùng này. (số 22-25).

Nhưng một đòi hỏi không thể thiếu của người tông đồ là phải có đời sống thánh thiện, “vì ai rao giảng Thiên Chúa thì bản thân họ phải là người của Thiên Chúa.” Họ phải nêu gương sáng cho những người họ gặp gỡ, bằng đời sống khiêm nhường, vâng phục và thánh thiện. Và mẫu gương của họ chính là cuộc đời Chúa Giêsu Kitô. (số 26-29). Sau cùng, Tông thư đề cao vai trò truyền giáo của các phụ nữ, đặc biệt của các nữ tu dấn thân phục vụ công việc giáo dục và các công cuộc bác ái và đạo đức. (số 30).

Nhiệm vụ và vai trò của mọi người Công Giáo và của các hội đoàn, các tổ chức

Bất cứ ai đã lãnh nhận đức tin do lòng thương xót của Thiên Chúa thì cũng phải góp phần bằng bất cứ việc phục vụ nào mình có thể để đem ánh sáng đến cho những người khác chưa có đức tin. Và cách phục vụ tốt nhất là trợ giúp các công cuộc truyền giáo. (số 31).

Đức Bênêđictô đặc biệt nêu lên ba cách trợ giúp sau đây (số 32-40):

- Cầu nguyện, là cách phục vụ nằm trong khả năng của mọi người. “Lao nhọc của các nhà truyền giáo sẽ trở nên vô ích và vô hiệu nếu không có ơn Chúa làm cho nó sinh động và hiệu quả.” Đức Thánh Cha đặc biệt nhấn mạnh và giới thiệu Nhóm Tông Đồ Cầu Nguyện cho mục đích này.

- Nuôi dưỡng các ơn gọi nhằm gia tăng số lượng các vị thừa sai. Đức Thánh Cha kêu gọi các Bề Trên truyền giáo và các Bề Trên các dòng tu chăm lo nuôi dưỡng và sai đi các tông đồ truyền giáo nhân đức, nhiệt thành, thánh thiện để đi chinh phục các linh hồn cho Thiên Chúa.

- Trợ giúp kinh tế. Chiến tranh đã tàn phá rất nhiều trường học, bệnh viện, tiêu diệt các tổ chức từ thiện và xoá số nhiều tổ chức hoạt động khác. Vì thế các xứ truyền giáo cần được trợ giúp kinh tế rất nhiều. Đức Thánh Cha kêu gọi sự hào phóng của mọi Kitô hữu tùy theo khả năng đóng góp của họ. Ngài trích lại lời Thánh Gioan: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (1 Ga 3,17).

Sau cùng, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người Công Giáo giúp đỡ các tổ chức truyền giáo. Đặc biệt ngài liệt kê các hội chính thức thuộc Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin, gồm: Hội Truyền Bá Đức Tin, Hội Thánh Nhi Truyền Giáo, Hội Thánh Phêrô Tông Đồ, Hội “Liên Hiệp Giáo Sĩ Truyền Giáo”.

Kết luận: Đức Bênêđictô khích lệ mọi người Công Giáo ở quê nhà cũng như ở các nơi truyền giáo hãy đáp ứng thích đáng các bổn phận truyền giáo, và ngài lạc quan tin tưởng rằng các cố gắng của họ sẽ mau chóng giúp phục hồi những tổn thương và mất mát nghiêm trọng do chiến tranh gây nên, để Hội Thánh tiếp tục tiến tới trong việc mở mang Nước Chúa. Sau cùng, ngài dâng lên Đức Trinh Nữ Maria lời cầu nguyện của toàn thể Hội Thánh, xin Mẹ chuyển cầu cho các sứ giả Tin Mừng để họ được đầy hồng ân Chúa Thánh Thần. (số 41-42).

III. CÁC HUẤN TỪ

1. Một số hướng dẫn cụ thể cho việc chuẩn bị cử hành “Tháng Mười Đặc Biệt Truyền Giáo 2019”

(Trích Thư Đức Hồng Y Fernando Filoni, Bộ Trưởng Bộ Loan Báo Tin Mừng cho các Dân Tộc, gửi các Hồng Y và Giám Mục, Vaticanô, 3-12-2017):

“Để đáp lại lời mời gọi của Đức Thánh Cha trong lá thư riêng của ngài ngày 22 tháng 10, 2017, tôi muốn chia sẻ với anh em và với các Hội Thánh được giao phó cho anh em coi sóc một số suy tư và đề nghị liên quan đến việc cử hành Tháng Đặc Biệt Truyền Giáo, Tháng Mười năm 2019.

“Trọng tâm của sáng kiến liên quan đến toàn thể Hội Thánh này là cầu nguyện, làm chứng và suy tư về tâm điểm của missio ad

gentes như là một tình trạng thường xuyên được sai đi loan báo Tin Mừng lần đầu tiên (Mt 28,19). Bổn phận hoán cải cá nhân và cộng đoàn để trở về với Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, phục sinh và đang sống trong Hội Thánh, sẽ đổi mới nhiệt tình và niềm đam mê làm chứng cho Tin Mừng về sự sống và niềm vui Phục Sinh, bằng cả lời nói và việc làm (Lc 24,46-49).

“Đức Thánh Cha đã vạch ra bốn chiều kích, hay cách thức để chuẩn bị và sống Tháng Đặc Biệt Truyền Giáo, Tháng 10 năm 2019, để khắc phục những chia rẽ và những quan điểm đối chọi giữa việc mục vụ thông thường và việc mục vụ truyền giáo, giữa các thách thức của việc truyền giáo tại các vùng trước kia là Kitô giáo nhưng nay đã bị tục hóa và dửng dưng với tôn giáo, và việc truyền giáo missio ad gentes giữa các nền văn hóa và các tôn giáo vẫn còn chưa biết đến Tin Mừng (EG 14). Bốn chiều kích này là:

- Gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu Kitô trong Hội Thánh của Người: Thánh Thể, Lời Chúa, cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn;

- chứng tá của các Thánh, các vị Tử Đạo Truyền Giáo và các Thánh Hiển Tu, là những biểu hiện độc đáo của các Hội Thánh trên khắp thế giới;

- đào luyện về Kinh Thánh, huấn giáo, thiêng liêng và thần học liên quan đến missio ad gentes;

- đức ái truyền giáo bằng việc nâng đỡ vật chất cho các công cuộc bao la của việc phúc âm hóa, đặc biệt missio ad gentes và việc đào luyện Kitô hữu tại các Hội Thánh địa phương thiếu thốn nhất.

Một cách thích đáng và phù hợp cho các Kitô hữu ở mỗi vùng, tôi đề nghị mỗi Hội Thánh địa phương và mỗi Hội Đồng Giám Mục quyết định cách thức để sống và noi theo các chiều kích này, để tạo nên một cuộc trở về mới với sứ mạng của Đức Giêsu.”

2. Tâm sự của Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi chúng ta qua Đức Hồng Y Filoni

Điều mà Đức Bênêđictô XV từng ước muốn hết sức thiết tha gần một thế kỷ qua, và Công Đồng Vatican II cũng đã lặp lại khoảng 50 năm trước đây, ngày nay vẫn còn hợp thời. Ngay cả bây giờ, cũng như trong quá khứ, “Hội Thánh được Chúa Kitô sai đi trình bày và thông ban tình yêu Thiên Chúa cho hết mọi người và mọi dân tộc, nhận thức rằng mình còn phải thực hiện một công việc truyền giáo bao la.” Về điểm này, Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nhận định rằng “sứ mạng của Đức Kitô Cứu Thế được ủy thác cho Hội Thánh vẫn còn lâu mới được hoàn thành”, và “một cái nhìn tổng quan về loài người cho thấy rằng sứ mạng này vẫn còn chỉ đang bắt đầu và chúng ta phải toàn tâm toàn ý dấn thân để phục vụ nó.” Do đó, bằng những lời mà bây giờ tôi muốn một lần nữa mời gọi mọi người chú ý, Thánh Gioan-Phaolô khuyên nhủ Hội Thánh thực hiện một “sự dấn thân mới cho truyền giáo”, với niềm xác tín rằng hoạt động truyền giáo “canh tân Hội Thánh, làm sống dậy đức tin và căn tính Kitô hữu, và cống hiến niềm phấn khởi mới và động lực mới. Đức tin được kiện cường khi nó được trao ban cho người khác! Chính trong sự dấn thân cho sứ mạng truyền giáo phổ quát của Hội Thánh mà việc tân phúc âm hóa của các dân tộc Kitô giáo sẽ tìm được nguồn cảm hứng và nâng đỡ.”

Trong Tông Huấn Evangelii Gaudium của tôi, lấy từ kỷ yếu của Hội Nghị Toàn Thể Thường Kỳ lần thứ XIII của Thượng Hội Đồng Giám Mục, là hội nghị được tổ chức để suy tư về việc tân Phúc âm hóa cho việc loan truyền đức tin Kitô giáo, một lần nữa tôi đã đưa ra lời kêu gọi khẩn cấp này trước toàn thể Hội Thánh. Trong Tông Huấn tôi đã viết, “Đức Gioan Phaolô II xin chúng ta nhận ra rằng ‘không được giảm bớt nỗ lực rao giảng Tin Mừng' cho những người ở xa Đức Kitô, ‘bởi vì đây là nhiệm vụ hàng đầu của Hội Thánh'. Thật vậy, ‘hoạt động truyền giáo hôm nay vẫn là thách thức lớn nhất cho Hội Thánh', và ‘nhiệm vụ truyền giáo phải là nhiệm vụ hàng đầu'. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta hiểu nghiêm túc những lời này? Chúng ta sẽ thấy rằng việc vươn ra truyền giáo là một hệ hình cho mọi hoạt động của Hội Thánh.”

Tôi tin chắc rằng thách thức này vẫn còn cấp bách như trước. “[Nó] mang ý nghĩa của một kế hoạch và có những hệ quả quan trọng. Tôi hi vọng tất cả các cộng đoàn sẽ dành những cố gắng cần thiết để tiến tới theo con đường của một sự hoán cải mục vụ và truyền giáo, không thể để tình hình tiếp tục như hiện tại. Việc ‘quản trị thuần tuý' đã trở nên bất cập. Trên khắp thế giới, chúng ta phải ‘thường xuyên trong trạng thái truyền giáo.'” Với lòng tin tưởng vào Thiên Chúa và can đảm, chúng ta đừng sợ thực hiện “một chọn lựa truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự, để các thói quen, các cách hành động, các giờ giấc và chương trình, ngôn ngữ và các cơ cấu của Hội Thánh có thể được khai thông thích hợp cho việc loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay, hơn là cho sự bảo tồn của Hội Thánh. Việc đổi mới các cơ cấu theo đòi hỏi của sự hoán cải mục vụ chỉ có thể được hiểu trong ánh sáng này: như một phần của cố gắng làm cho chúng có định hướng truyền giáo hơn, làm cho hoạt động mục vụ thông thường ở mọi cấp mang tính bao gồm và mở rộng hơn, khơi dậy nơi những người làm mục vụ một ước muốn không ngừng đi ra và nhờ đó kích thích một đáp ứng tích cực từ tất cả những người được Đức Kitô mời gọi đi vào tình bạn với Ngài. Như Đức Gioan Phaolô II có lần nói với các Giám Mục vùng Châu Đại Dương: ‘Mọi sự canh tân của Hội Thánh phải lấy truyền giáo làm mục tiêu để tránh rơi vào nguy cơ của một Hội Thánh quy vào chính mình.”

Tông thư Maximum Illud kêu gọi vượt lên trên những ranh giới quốc gia và làm chứng, bằng tinh thần ngôn sứ và sự bạo dạn Tin Mừng, cho ý muốn cứu độ của Thiên Chúa nhờ sứ mạng phổ quát của Hội Thánh. Chớ gì dịp kỷ niệm Bách Chu Niên Tông Thư ấy là một động lực cho chúng ta phấn đấu chống lại cơn cám dỗ dai dẳng luôn ẩn nấp dưới mỗi hình thức tự quy của Hội Thánh, sự thu mình lại của Hội Thánh để ẩn mình trong vùng an toàn, thái độ bi quan mục vụ và mối hoài cổ vô bổ về quá khứ. Trái lại, chớ gì chúng ta biết mở lòng mình ra cho niềm vui luôn mới mẻ của Tin Mừng. Trong thời đại đầy rối loạn này, bị xé nát bởi những thảm kịch của chiến tranh và bị đe dọa bởi khuynh hướng độc hại quá tập trung vào những khác biệt và kích động những xung đột, chớ gì Tin Mừng mà trong Chúa Giêsu sự tha thứ chiến thắng tội lỗi, sự sống chiến thắng tử thần và tình yêu chinh phục sợ hãi, chớ gì Tin Mừng ấy được rao giảng cho thế giới với sự nhiệt tình mới, và làm cho niềm tin tưởng và hi vọng thấm nhuần dần dần vào mọi người.

IV. ĐỂ ĐI XA HƠN

Chúng ta đã lược qua bối cảnh, nội dung và tầm quan trọng của Tông thư Maximum Illud mà Đức Giáo Hoàng Benêđictô XV ban hành 100 năm trước đây. Ngày nay trên khắp thế giới, hàng Giáo sĩ cũng như các tín hữu tông đồ giáo dân đang cùng thực hiện những nhiệm vụ luôn cấp thiết của sứ vụ Tin mừng dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Cha Phanxicô và Bộ Loan Báo Tin Mừng Cho Các Dân tộc. Trong cuộc gặp gỡ lần này chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi những sáng kiến thích hợp cho hoàn cảnh đặc thù của cánh đồng truyền giáo chuyên biệt của mỗi người trong chúng ta. Sự trao đổi này vừa để học hỏi, vừa làm giàu thêm, đồng thời thắp lên ngọn lửa lớn hơn trong cuộc dấn thân của chúng ta vào cánh đồng sứ vụ.

Để đi xa hơn, hãy cất bước đồng hành với Đức Thánh Cha Phanxicô theo lời kêu gọi của Ngài trong những câu mở đầu sứ điệp truyền giáo tháng 10/2019: “... Tôi đã xin toàn thể Hội Thánh làm sống lại sự ý thức và dấn thân truyền giáo của Hội Thánh khi chúng ta kỷ niệm một trăm năm Tông Thư Maximum Illud của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XV (30 tháng 11, 1919). Tầm nhìn xa mang tính tiên tri của Tông Thư về hoạt động tông đồ này đã giúp tôi một lần nữa hiểu ra tầm quan trọng của việc đổi mới sự dấn thân truyền giáo của Hội Thánh và tạo sức đẩy Tin Mừng mới cho công cuộc rao giảng và đem cho thế giới ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và phục sinh”.

Như vậy Tông thư Maximum Illud không chỉ mang tính thời sự mà là một lời gọi khẩn thiết trong giây phút hiện tại. Quý Vị hãy cùng lắng nghe sứ điệp của Đức Thánh Cha đính kèm sau đây...

Xin Chúa chúc lành cho những việc chúng con định làm để danh Chúa cả sáng. Amen.

Linh mục Đaminh Ngô Quang Tuyên

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 114 (Tháng 9 & 10 năm 2019)