DẪN NHẬP

I. CĂN TÍNH CỦA GIÁO HỘI THEO TRUYỀN THỐNG ĐAN TU

1. Hiệp thông trong tình huynh đệ

2. Mở cửa cho người nghèo

II. GIÁO HỘI LÀ MẸ CỦA NGƯỜI NGHÈO

1. Giáo hội là Hiền thê và là người nghèo

1.1 Tình yêu - Mối dây liên kết giữa đan sĩ với người nghèo

1.2 Gương mặt của Chúa Kitô

1.3 Lòng thương xót người nghèo, dấu chỉ của sự thánh thiện trong đời sống đan tu

2. Giáo hội là Mẹ của người nghèo

3. Tương quan giữa đức tin và lòng thương xót

4. Chứng tá từ các thánh nhân

5. Sự đồng hóa của Chúa Kitô và người nghèo

KẾT LUẬN


DẪN NHẬP

Tiếp nối Thông điệp Dilexit Nos (Người đã yêu thương chúng ta, 24.10.2024) của Đức Phanxicô về tình yêu nhân loại và thần linh của Trái Tim Chúa Giêsu Kitô, Đức Lêô XIV đã ban hành Tông huấn Dilexi Te (Ta đã yêu con, 9.10.2025) - văn kiện khai mạc triều đại giáo hoàng của ngài với 121 số - nhấn mạnh về tình yêu của Thiên Chúa, về căn tính của Giáo hội, đưa chúng ta lại gần hơn với người nghèo: “Giáo hội chỉ đúng nghĩa là hiền thê của Chúa khi Giáo hội cũng là chị em của người nghèo.”[1]

Tông huấn này khẳng định tình yêu của Giáo hội dành cho Thiên Chúa chỉ trọn vẹn khi gắn liền với sự chia sẻ, đồng hành với những người nghèo, kẻ túng thiếu. Trở nên “chị em của người nghèo” đảm bảo Giáo hội không đánh mất đi sự khiêm nhường và bác ái. Tông huấn Dilexi Te cho thấy Giáo hội không thể tách rời đức tin khỏi tình yêu dành cho người nghèo; Giáo hội thực sự là mẹ khi luôn đứng về phía và chăm sóc những người nghèo khổ, bị loại trừ, bởi vậy “không một Kitô hữu nào có thể xem người nghèo chỉ là một vấn đề xã hội; họ là một phần của ‘gia đình’ chúng ta. Họ là ‘một trong chúng ta.”[2] Và họ là những người ưu tiên được đón nhận Tin Mừng, bởi “người nghèo thì anh em luôn có bên mình” (Mt 26,11).

Với tựa đề “Giáo hội là mẹ của người nghèo theo truyền thống đan tu”, bài viết xin trình bày hai phần: 1) Căn tính của Giáo hội theo truyền thống đan tu; và 2) Giáo hội là mẹ hiền của người nghèo.

 

I. CĂN TÍNH CỦA GIÁO HỘI THEO TRUYỀN THỐNG ĐAN TU

Trong Tông huấn Dilexi Te, Đức Lêô XIV đã viết: “Truyền thống đan tu dạy chúng ta rằng cầu nguyện và bác ái, thinh lặng và phục vụ, tu phòng và bệnh viện tạo thành một cấu trúc tâm linh duy nhất.”[3] Một sự gắn kết không tách rời, nghĩa là cầu nguyện phải đi đôi với bác ái; thinh lặng đi đôi với phục vụ.

Cầu nguyện, thinh lặng và tu phòng là chiều kích hướng thượng (chiều dọc), là nơi người đan sĩ đối thoại riêng tư với Thiên Chúa: “Lúc nào đan sĩ cũng phải chuyên tâm giữ thinh lặng, nhất là ban đêm. Vì thế bất luận ngày nào, dù ngày giữ chay hay ngày có ăn trưa, nếu vào ngày có ăn trưa, thì liền sau bữa tối, anh em qui tụ lại một nơi, rồi một anh em sẽ đọc các bài giáo thuyết hay hạnh tích các tổ phụ hoặc một sách gì khác xây dựng cho người nghe.”[4]

Bác ái, phục vụ và bệnh viện là chiều kích hướng tha (chiều ngang), là nơi tình yêu Thiên Chúa được cụ thể hóa bằng những hành động: “Trước hết và trên hết mọi sự phải ý săn sóc bệnh nhân như phục vụ chính Chúa Kitô, vì Ngài đã phán: ‘Ta đau ốm và các ngươi đã viếng thăm.’ Và rằng, ‘Điều gì các ngươi làm cho một trong những kẻ bé mọn này là làm cho chính Ta.’ Còn những anh em đau ốm phải nhận thức rằng người ta phục vụ mình là vì tôn kính Chúa, nên đừng quá yêu sách mà làm phiền lòng những kẻ giúp mình. Tuy nhiên ta phải kiên nhẫn chịu đựng anh em như thế, vì nhờ họ mà ta được nhiều công phúc hơn…”[5]

Theo tinh thần đan tu, mỗi đan sĩ vừa là Maria trong tu phòng, vừa là Mácta trong bệnh viện. Do đó, đan viện được xem là nơi đan dệt giữa sự thinh lặng, phụng vụ và phục vụ, và là nơi giao thoa giữa cầu nguyện và bác ái, nghĩa là “lắng nghe và hành động, thờ phượng và chia sẻ.”[6] Công đồng Vaticanô II đã khẳng định:

“Tu sĩ các hội dòng phải kín múc và chuyên tâm vun trồng tinh thần cầu nguyện cũng như chính việc cầu nguyện, từ nơi nguồn mạch đích thực của nền tu đức Kitô giáo. Trước hết, hằng ngày, phải có quyển Thánh Kinh trong tay, đọc và suy niệm để học được ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Đức Giêsu Kitô’ (Pl 3,8). Hãy cử hành Phụng vụ thánh, nhất là mầu nhiệm Thánh Thể, với cả tâm hồn và miệng lưỡi như ý Giáo hội mong muốn, và tìm thấy nơi đó nguồn mạch phong phú nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng.”[7]

1. Hiệp thông trong tình huynh đệ

Trong Tông hiến Tìm Kiếm Tôn Nhan Thiên Chúa (Vultum Dei Quarere, 29.6.2016), Đức Phanxicô đã nhắn gửi các đan sĩ:

“Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn là một yếu tố thiết yếu trong đời tu nói chung và trong đời sống đan viện nói riêng, cho dù thuộc về các đặc sủng khác nhau.

Mối tương quan hiệp thông là một sự tỏ lộ của tình yêu tuôn trào từ trái tim Chúa Cha và được đổ tràn vào trái tim của chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng mà Chúa Giêsu đã hứa ban cho chúng ta. Điều này trở thành một thực tại hữu hình nơi Giáo hội, là ngôi nhà của Thiên Chúa, là dấu chỉ của sự hiệp nhất sâu sắc với Ngài và tỏ lộ như một ngôi nhà nơi đó kinh nghiệm trao ban đầy sống động này trở nên có thể cho tất cả mọi người. Qua việc mời gọi một số người nam cũng như nữ chia sẻ đời sống với mình, chính Chúa Kitô, là Thiên Chúa đã thiết lập một cộng đoàn nhờ đó “việc chia sẻ của cải, tình yêu huynh đệ, chia sẻ những dự phóng cũng như mọi hoạt động trở thành một thực tại hữu hình. Điều này xảy ra nhờ việc đón nhận lời mời bước theo Ngài một cách tự do hơn và gần gũi hơn”. Đời sống huynh đệ, một đời sống mà qua đó những người nam và nữ nỗ lực để “trở nên một lòng một trí” (Cv 4,32) theo khuôn mẫu của các cộng đoàn Giáo hội tiên khởi, “là một lời chứng hùng hồn cho mầu nhiệm Ba Ngôi”.

Sự hiệp thông huynh đệ là một sự phản ảnh chính cách thức hiện hữu của Thiên Chúa và cách Ngài trao ban chính bản thân mình; đời sống ấy làm chứng cho chân lý “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4, 8.16). Đời sống dâng hiến tuyên xưng đức tin, sống đức ái của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và do đó, đời sống cộng đoàn trở thành một sự phản chiếu ân sủng của Thiên Chúa Ba Ngôi là tình yêu.

Không giống như các ẩn sĩ, những người sống trong “thinh lặng và cô tịch” và những người cũng được Giáo hội hết sức yêu mến, đời sống đan tu đòi hỏi đời sống cộng đoàn không ngừng được lớn lên hầu tạo ra một sự hiệp thông huynh đệ đích thực, koinonia. Điều này có nghĩa là mọi thành viên phải xem mình là người xây dựng cộng đoàn chứ không chỉ đơn giản là người nhận kết quả cuối cùng. Một cộng đoàn tồn tại bởi vì nó cần thiết và được xây dựng nhờ vào sự đóng góp của mọi thành viên, mỗi người theo khả năng của mình, nhờ vào sự lớn lên trong tinh thần hiệp thông mãnh liệt, sự hiệp thông mà mỗi người kinh nghiệm được một cảm thức thuộc về. Chỉ có thế đời sống cộng đoàn mới có thể trao cho các thành viên một sự trợ giúp cần thiết giúp họ sống trọn vẹn ơn gọi của mình.”[8]

Cộng đoàn đan tu được qui tụ gồm nhiều thành phần với sự khác biệt về tuổi tác, vùng miền, kiến thức, văn hóa,… nhưng lại có chung lý tưởng là tình yêu Chúa Kitô, “một sự diễn tả cụ thể ở đây và lúc này mầu nhiệm vĩ đại của sự hòa giải toàn thể nhân loại dưới sự lãnh đạo của Chúa Kitô.”[9] Tu luật thánh Biển Đức ghi rõ: “Đàn em hãy kính trọng đàn anh, đàn anh hãy yêu thương đàn em. Về việc xưng hô, không ai được phép gọi suông tên người khác. Nhưng đàn anh hãy gọi người dưới là “em”, còn đàn em phải xưng đàn anh là “cha”, để tỏ lòng kính trọng họ như cha… Anh em gặp nhau bất cứ ở đâu, đàn em phải xin đàn anh chúc lành cho. Khi đàn anh đi qua, đàn em hãy đứng lên nhường chỗ cho đàn anh ngồi, và đừng tự tiện ngồi khi đàn anh chưa bảo ngồi, hầu giữ đúng như lời đã chép: “Anh em hãy ân cần tôn kính lẫn nhau.”[10]

Trong Tông huấn về Đời Sống Thánh Hiến (Vita Consecrata, 25.03.1996), thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhấn mạnh:

“Đời sống huynh đệ, hiểu như là một đời sống chia sẻ trong tình yêu, là một dấu chỉ hùng hồn về sự hiệp thông Giáo Hội. Nó được vun trồng kỹ càng trong các dòng tu và các tu đoàn tông đồ, những nơi mà đời sống cộng đoàn mang một ý nghĩa đặc biệt… Trong đời sống cộng đoàn, người ta phải xác tín rằng sự hiệp thông huynh đệ không chỉ là một phương tiện giúp thi hành một sứ mạng nào đó, mà còn là nơi Thiên Chúa ngự, nơi mà người ta có thể kinh nghiệm được sự hiện diện bí nhiệm của Chúa phục sinh (x. Mt 18,20). Ðiều này được thực hiện nhờ tình yêu hỗ tương của các phần tử trong cộng đoàn, tình yêu được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và Thánh thể, được thanh luyện nhờ bí tích Hòa giải, được nâng đỡ nhờ lời nguyện xin ơn hiệp nhất, là một ân huệ Thánh Thần ban cho những ai biết sẵn sàng lắng nghe Tin Mừng với lòng vâng phục. Chính Thánh Thần là Ðấng dẫn đưa tâm hồn vào trong sự hiệp thông với Chúa Cha và với Con của Chúa Cha là Ðức Giêsu Kitô (x. 1 Ga 1,3), sự hiệp thông này là nguồn mạch của đời sống huynh đệ...”[11]

Trong đời sống chung, các đan sĩ luôn khắc họa hình ảnh của người đi tìm Chúa. Cầu nguyện chính là phương thế, là con đường để người đan sĩ gặp gỡ Chúa. Do đó, có thể nói đan sĩ là con người của cầu nguyện. Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn và dẫn đưa người đan sĩ vào mối tương giao mật thiết với Chúa, kết hiệp chặt chẽ với Ngài và với anh em mình. Các đan sĩ sống trong môi trường cộng đoàn, mà Chúa Kitô là Đầu, môi trường “phụng sự Chúa” nên được mời gọi sống tinh thần hiệp nhất, cầu nguyện cách trọn vẹn: “Ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Chính đời sống huynh đệ trong cộng đoàn đời sống đan tu là cách thế loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau” (Ga 13,35).

Vì thế, đan viện vừa là nơi thờ phượng Chúa, sống trọn vẹn cho Chúa, vì Chúa và trong Chúa, vừa là nơi để người đan sĩ chia sẻ với người nghèo (như tinh thần của Dòng Xitô và của thánh Bênađô). Như người Samaritanô nhân hậu, họ khám phá và cảm nghiệm rằng: “Sự hiện hữu của mỗi người chúng ta gắn liền với sự hiện hữu của những người khác: cuộc sống không đơn giản chỉ thời gian trôi qua, mà còn là thời gian để gặp gỡ tương tác nữa.”[12]

2. Mở cửa cho người nghèo

Việc chiêm niệm không tách rời khỏi lòng thương xót. Giáo hội chỉ thể hiện đúng căn tính Tin Mừng khi đứng về phía những người yếu thế và bị gạt ra bên lề, giống như cộng đoàn Philađenphia được nhắc đến trong sách Khải Huyền: “Ta biết các việc ngươi làm: này Ta để một cửa mở trước mặt ngươi, không ai có thể đóng lại được, bởi vì tuy ngươi ít thế lực, ngươi cũng đã giữ lời Ta và đã không chối bỏ danh Ta. Này Ta sẽ ban cho ngươi một số người thuộc hội đường của Xa-tan, những kẻ xưng mình là Do-thái, mà thật ra không phải, vì chúng nói dối. Này Ta sẽ bắt chúng đến phủ phục dưới chân ngươi và nhận biết rằng Ta đã yêu mến ngươi” (Kh 3,8-9). Yêu Chúa không thể tách khỏi yêu người nghèo. Thánh Gioan Tông đồ đã viết: “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20).

Điều cần thiết mà Đức Lêô XIV nhắc nhớ trong Tông huấn Dilexi Te ở chỗ “lòng trắc ẩn không phải là một lựa chọn thêm, mà là con đường đích thực để theo Chúa Kitô.”[13] Con đường đích thực để theo Chúa Kitô không gì khác hơn là mở con tim, mở rộng cửa cho người nghèo. Bất cứ nơi nào Giáo hội đón nhận người nghèo, ở đó có sự hiện diện đích thực của Chúa.

Đời sống đan tu nhìn người nghèo dưới hai góc độ: sống tinh thần nghèo khó và phục vụ người nghèo. Trong truyền thống của thánh Biển Đức thành Norcia, với chủ trương sống đơn sơ khó nghèo, việc đón tiếp khách và chăm sóc người nghèo được xem là một phần của đời sống thiêng liêng. Luật thánh Biển Đức (gồm 73 chương) dạy rằng tất cả các khách gõ cửa tu viện phải được đón tiếp như chính Chúa Kitô, với thái độ tôn kính, họ phải cư xử với người nghèo và khách hành hương bằng “tất cả sự ân cần và quan tâm.”[14] Điều này cho thấy đời sống chiêm niệm không tách rời khỏi lòng hiếu khách và bác ái:

“Mọi khách đến Đan Viện phải được đón tiếp như Chúa Kitô vì chính Người đã nói: “Ta là khách và các ngươi đã đón tiếp ta.” Phải tỏ lòng tôn trọng xứng hợp với từng người, nhất là những người phục vụ Tin Mừng và khách hành hương. Vậy, vừa khi được tin khách đến, Bề trên hoặc anh em hãy trọn tình bác ái đi đón khách. Hãy cùng nhau cầu nguyện trước đã rồi mới trao bình an. Cầu nguyện trước khi hôn chúc bình an là để tránh những phỉnh gạt của ma quỷ. Ta hãy hết lòng khiêm tốn chào hỏi khách đến cũng như đi. Hãy cúi đầu hoặc phủ phục thờ lạy và đón tiếp Chúa Kitô trong quí khách. Khi đã đón chào, hãy dẫn khách đi cầu nguyện, sau đó Bề trên hoặc người được Bề trên chỉ định ở lại tiếp khách. Hãy đọc luật Chúa cho họ nghe để mưu ích cho họ, rồi ân cần tiếp đãi khách…

Vì có khách, Bề trên được chuẩn chay, trừ phi đó là ngày chay buộc, anh em khác vẫn giữ chay như thường lệ. Viện phụ đưa nước cho khách rửa tay, Viện phụ và cả cộng đoàn cùng rửa chân cho khách. Rửa xong thì đọc câu này: “Lạy Chúa, chúng con đã đón nhận lòng thương xót Chúa ngay giữa đền thánh Chúa”. Với người nghèo và khách hành hương, ta phải hết sức ân cần đón tiếp, vì hơn nơi ai khác chính nơi họ mà ta đón tiếp Chúa Kitô. Còn về người giàu, nguyên việc kính nể đã làm ta tôn trọng họ.”[15]

Đức Phanxicô, trong Thông điệp về Tình Huynh Đệ và Tình Bạn Xã Hội (Fratelli Tutti, 3.10.2020), nhấn mạnh: “Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhóm dân cư nhỏ sống trong các vùng sa mạc đã phát triển khả năng rộng rãi để chào đón những người hành hương, do đó, là một dấu hiệu mẫu mực về nghĩa vụ thiêng liêng của lòng hiếu khách… Lòng hiếu khách là một cách cụ thể để đón nhận sự thách đố và món quà tặng chứa đựng trong một cuộc gặp gỡ với những người bên ngoài cộng đoàn của mình. Các đan sĩ nhận ra rằng tất cả những giá trị mà họ có thể trau dồi phải đi kèm với khả năng vượt lên trên bản thân mình trong sự cởi mở đối với người khác.”[16] Như thế, cộng đoàn đan tu, “một trường dạy bác ái”, được mời gọi trở thành dấu chỉ của lòng thương xót qua lối sống đơn sơ, hiếu khách và liên đới, là “dấu chỉ của một Giáo hội mở cửa, chào đón mà không cần hỏi han, và chữa lành mà không đòi hỏi bất cứ điều gì đáp lại.”[17] Theo Tu luật thánh Biển Đức, người giữ cổng “khi vừa nghe có ai gõ cửa hay kẻ nghèo kêu xin, người hãy thưa ngay ‘Tạ ơn Chúa’, hay: ‘Ngợi khen Chúa.’ Rồi hết sức dịu dàng lấy lòng kính sợ Chúa mà mau mắn trả lời với tình bác ái nhiệt thành.”[18]

 

II. GIÁO HỘI LÀ MẸ CỦA NGƯỜI NGHÈO

Ngay từ những lời đầu tiên của Hiến chế Mục vụ (Gaudium et Spes), công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và của bất cứ ai đang đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà họ lại không cảm nhận trong đáy lòng họ.”[19] Như thế, Giáo hội luôn ưu tư về người nghèo vì Giáo hội là mẹ của người nghèo.

Trong sứ điệp ngày thế giới người nghèo lần thứ IX, được cử hành vào ngày 16.11.2025, Đức Lêô XIV đã nhắc lại rằng “người nghèo không phải là sự sao nhãng đối với Giáo hội, nhưng là những anh chị em yêu dấu của chúng ta, bởi vì bằng cuộc sống, lời nói và sự khôn ngoan của họ, họ giúp chúng ta tiếp xúc với chân lý của Phúc âm…là trung tâm của toàn bộ sứ mạng mục vụ của Giáo hội.”[20]

1. Giáo hội là Hiền thê và là người nghèo

“Giáo hội tự thể hiện mình như mình là và như mình muốn là, như là Giáo hội của mọi người, và đặc biệt là Giáo hội của người nghèo.” Lời diễn văn của thánh Giáo hoàng Gioan XXIII vào ngày 11.9.1962, một tháng trước khi khai mạc Công đồng Vaticanô II: Giáo hội phải là Giáo hội nghèo và vì người nghèo.

Tông huấn Dilexi Te nhấn mạnh: “Giáo hội muốn trở thành Giáo hội của Chúa Kitô, thì Giáo hội phải là Giáo hội của các Mối Phúc, một Giáo hội dành chỗ cho những người bé mọn và nên nghèo với người nghèo, một nơi mà người nghèo có chỗ ưu tiên (x. Gc 2,2-4).”[21] Quả thật, người nghèo luôn có một vị trí đặc biệt trong trái tim Thiên Chúa và sự chọn lựa ưu tiên cho người nghèo là nền tảng thần học, bởi sự chọn lựa ấy không xuất phát từ chương trình của con người, nhưng từ chính trái tim của Thiên Chúa. Đức Bênêđictô XVI trong Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu (Deus Caritas est, 25.12.2005) cũng khẳng định rằng việc phục vụ bác ái là một trong những nhiệm vụ thiết yếu, cùng với việc trao ban Bí tích và công bố Lời Chúa.[22]

1.1 Tình yêu - Mối dây liên kết giữa đan sĩ với người nghèo

Nền tảng của sự nghèo khó trong đời sống đan tu là chính Chúa Kitô. Thánh Justinô nhấn mạnh: “Ở trung tâm phụng vụ Kitô giáo, tình yêu của Chúa Kitô dành cho Giáo hội không thể tách rời khỏi tình yêu của Người dành cho những người nghèo.”[23] Thiên Chúa cứu độ nhân loại không phải từ ngai vàng quyền lực nhưng là từ hang đá nghèo hèn và thập giá nơi Con Một, Đấng “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8,9), và Ngài “còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự…” (Pl 2,6-11).

Công đồng Vaticanô II khẳng định: “Như Chúa Kitô đã thực hiện công trình cứu chuộc trong khó nghèo và bách hại, Giáo hội cũng được mời gọi đi theo cùng một lối để thông ban cho nhân loại hoa trái của ơn cứu độ.”[24] Giáo hội không tìm kiếm vinh quang trần thế, nhưng bước theo con đường khiêm hạ của Chúa Kitô. Giáo hội không được phép ở vị trí quyền lực, nhưng phải chấp nhận hạ mình làm chị em, làm “kẻ nhỏ hơn” bên cạnh người nghèo, người túng thiếu.

Như thế, sự nghèo khó trong đời sống đan tu trước hết là chọn sống theo cách của Chúa Kitô. Khó nghèo không chỉ là không sở hữu của cải riêng, mà còn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Đời sống khó nghèo của các đan sĩ là một chứng tá cho thấy rằng con người không sống nhờ của cải nhưng hạnh phúc đích thực đến từ sự hiệp thông với Thiên Chúa và tha nhân, cụ thể là người nghèo. Chúa Giêsu chính là kho tàng của các đan sĩ.

Thánh Bênađô thành Clairvaux (1090-1153), một trong những vị thánh có ảnh hưởng lớn của Dòng Xitô, đã ví đức khó nghèo tự nguyện như một thành trì kiên cố bảo vệ người đan sĩ khỏi lòng ghen tị, tham vọng và sự lệ thuộc vào của cải. Vì thế, người đan sĩ sử dụng của cải cách chừng mực và sẵn sàng chia sẻ với cộng đoàn và người túng thiếu, bởi người nghèo như hiện thân của Chúa Kitô, là đối tượng của tình yêu, bác ái và phục vụ, là thầy dạy về sự tín thác vào Thiên Chúa. Chính “kinh nghiệm về nghèo đói giúp họ có khả năng nhận ra những khía cạnh của thực tại mà người khác không thể thấy; vì lý do này, xã hội cần lắng nghe họ.”[25] Đức Lêô XIV nhắc nhở thêm: “Người nghèo là những người thầy thầm lặng cho chúng ta, giúp ta ý thức được sự kiêu ngạo của mình và gieo vào chúng ta một tinh thần khiêm nhường đúng đắn.”[26]

1.2 Gương mặt của Chúa Kitô

Giáo hội chỉ phản chiếu đúng khuôn mặt đích thực của Chúa Kitô khi đồng hành, nâng đỡ và nhận ra Người “nơi những người nghèo khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập nghèo khó và khổ đau của mình, cố gắng làm giảm bớt nỗi khổ của họ và nỗ lực phục vụ Chúa Kitô trong họ.”[27] Thánh Kinh cho thấy Chúa Giêsu luôn sống gần gũi người nghèo, người đau khổ, yếu thế và bị gạt ra bên lề: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Người đã xức dầu tấn phong tôi, để loan báo Tin Mừng cho người nghèo” (Lc 4,18). Ngài đã tự nguyện sống nghèo, “con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20) và Ngài còn đồng hóa mình với họ: “Mỗi lần anh em làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là anh em đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40).

Với thánh Bênađô, người nghèo không chỉ là người thiếu thốn về vật chất, mà còn là người có tâm hồn khiêm nhường, biết mình cần đến Thiên Chúa. Bắt nguồn và kế thừa tinh thần của thánh Biển Đức,[28] các tổ phụ Xitô mở ra hướng mới phù hợp với thời cuộc. Là một đan sĩ Xitô, thánh Bênađô đã cổ võ lối sống thanh bần, lao động chân tay, tránh sự xa hoa và tìm kiếm Thiên Chúa trong thinh lặng theo mẫu gương của Chúa Giêsu và Mẹ Maria:

“Bậc sống của chúng tôi bị xã hội chê bỏ. Nó là sự khiêm nhường, tự nguyện sống khó nghèo, vâng phục, bình an và vui mừng trong Thánh Thần. Bậc sống của chúng tôi có nghĩa là qui phục thầy dạy, viện phụ, Tu luật và những thói lệ. Bậc sống của chúng tôi có nghĩa là hiến mình cho sự thinh lặng, chay tịnh, canh thức, cầu nguyện và lao động chân tay. Nhưng trên tất cả, nó có nghĩa là bám chặt vào một con đường tuyệt vời hơn, đó là tình yêu. Tình yêu này được lớn lên hằng ngày trong tất cả những điều này và kiên trì trong nó cho tới giây phút cuối cùng.”[29]

Tông huấn Dilexi Te nhấn mạnh rằng thánh Bênađô “đã nghiêm khắc nhắc nhở cần phải sống tiết độ và chừng mực, trong ăn uống cũng như trong y phục và nhà cửa, và kêu gọi việc hỗ trợ cũng như chăm sóc người nghèo.”[30] Thánh nhân thường chiêm ngắm Chúa Kitô trong mầu nhiệm Nhập Thể. Trong Bài giảng thứ 20 về sách Diễm Ca, ngài nhấn mạnh con đường dẫn tới sự hoàn thiện, trọn hảo không phải là một suy niệm trừu tượng, mà là yêu một Ngôi Vị sống động, là chính Chúa Kitô.[31] Ngài đã học nơi người thầy của mình là Chúa Giêsu qua mối phúc đầu tiên của Tám Mối Phúc trong Bài giảng Trên Núi[32] được công bố tại núi Xinai: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).

Như thế, với người đan sĩ, điều cốt yếu là trở nên “nghèo trong tinh thần”: khiêm nhường để nhìn nhận mình cần Thiên Chúa, không cậy dựa vào quyền lực hay của cải và biết đón nhận mọi sự như hồng ân. Họ cố gắng làm việc để tự nuôi sống bản thân, không lệ thuộc: “Chỉ khi nào họ sống bằng thành quả lao động của chính mình như các tổ phụ và như các Tông đồ, khi ấy họ mới thực sự là đan sĩ.”[33] Thánh Biển Đức trong chương nói về lao động chân tay trong đan viện đã chỉ ra ý nghĩa và giá trị như sau: “Ở nhưng (ở không) là thù địch của linh hồn, thế nên anh em phải có giờ làm việc chân tay, có giờ đọc sách.”[34] Chính sự nghèo khó tự nguyện này trở thành dấu chỉ của Nước Trời giữa lòng thế giới hôm nay.

Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium, 24.11.2013), Đức Phanxicô đã khẳng định: “Đối với Hội thánh, lựa chọn người nghèo là một phạm trù chủ yếu thần học hơn là một phạm trù xã hội học, chính trị hay triết học. Thiên Chúa tỏ ‘lòng thương xót của Người trước tiên’ cho những người nghèo. Sự ưu ái này của Thiên Chúa có những hệ quả cho đời sống đức tin của người Kitô hữu, vì chúng ta được kêu gọi để có ‘tâm tình như Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 2,5). Được gợi hứng bởi điều này, Hội thánh đã có sự chọn lựa vì người nghèo, được hiểu như là một ‘hình thức đặc biệt của vị trí hàng đầu trong việc thực thi bác ái Kitô giáo mà toàn thể truyền thống của Hội thánh luôn làm chứng’. Sự lựa chọn này - như Đức Bênêđictô dạy - ‘hàm ẩn trong đức tin Kitô giáo của chúng ta vào một vị Thiên Chúa đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, để chúng ta trở nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Người. Đây là lý do tại sao tôi muốn một Hội thánh nghèo và cho người nghèo. Họ có nhiều điều để dạy chúng ta…”[35] Đức Phanxicô luôn quan tâm đến người nghèo, và mong muốn một Giáo hội nghèo và cho người nghèo, vì thế, ngài đã chọn tên hiệu là Phanxicô từ lời nói đầy tình người của bạn ngài là Hồng Y Brazil - Claudio Hummes, lặp lại lời của thánh Phaolô Tông đồ: “Phải nhớ đến người nghèo” (Gl 2,10). Đức Lêô XIV trong Tông huấn Dilexi Te cũng nhấn mạnh: “Không một Kitô hữu nào có thể xem người nghèo chỉ là một vấn đề xã hội; họ là một phần của ‘gia đình’ chúng ta. Họ là ‘một trong chúng ta’”[36] Do vậy, không thể nói về Thiên Chúa khi ta chưa chạm đến nỗi đau của người nghèo, bởi “họ không phải là một phạm trù xã hội học, mà là chính ‘xác thịt’ của Chúa Kitô.”[37] Do đó, đối với người đan sĩ, lòng thương xót đối với người nghèo là một cách gặp gỡ và phục vụ Chúa Kitô.[38]

1.3 Lòng thương xót người nghèo, dấu chỉ của sự thánh thiện trong đời sống đan tu

Trong Thánh Kinh, lòng thương xót đối với người nghèo là đặc tính của chính Thiên Chúa. Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phản ánh lòng thương xót ấy bằng đời sống cụ thể (x. Mt 25,40). Như thế, lòng thương xót dành cho người nghèo không chỉ là một việc bác ái, mà còn là cuộc gặp gỡ với chính Chúa Kitô. Tông huấn Hãy Vui Mừng Hoan Hỉ (Gaudete et Exsultate, 19.03.2018) nhấn mạnh: “Lòng thương xót là sự viên mãn của công lý và biểu lộ rạng rỡ nhất sự thật của Thiên Chúa. Đó là ‘chìa khóa dẫn vào Thiên Đàng’.’’[39]

Đời sống đan tu được xây dựng trên việc tìm kiếm Thiên Chúa. Tuy nhiên, việc tìm kiếm ấy không chỉ được thể hiện qua cầu nguyện, thinh lặng và khổ chế, mà còn qua lòng thương xót đối với người nghèo và đau khổ. Một đời sống chiêm niệm đích thực sẽ sinh hoa trái là lòng thương xót, sự khiêm nhường, tinh thần phục vụ và sự quan tâm đến kẻ nghèo và những người đau khổ. Trong Tông huấn Gaudete et Exsultate, Đức Phanxicô đã nói:

“Sự thánh thiện, vì thế, không có nghĩa là ngây ngất trong một trạng thái huyền nhiệm xuất thần. Như Thánh Gioan Phaolô II đã nói: Nếu chúng ta thật sự bắt đầu lại từ việc chiêm ngắm Chúa Kitô, thì chúng ta phải biết nhìn thấy Người cách đặc biệt nơi khuôn mặt của những kẻ mà chính Người muốn đồng hóa với họ”. Đoạn văn Mátthêu 25,35-36 “không chỉ là một lời mời gọi sống đức ái: đó là một trang Kitô học tỏa chiếu một tia sáng trên mầu nhiệm của Chúa Kitô”. Trong lời kêu gọi nhận ra Người nơi những người nghèo và đau khổ này, chúng ta thấy tỏ lộ chính Thánh Tâm của Chúa Kitô, những tình cảm và chọn lựa sâu thẳm nhất của Người mà mọi vị thánh đều tìm cách noi theo.”[40]

Đức Phanxicô giải thích rằng người Kitô hữu nói chung, cách riêng với người đan sĩ không thể tách việc thờ phượng Thiên Chúa khỏi việc phục vụ tha nhân. Vì thế, việc chăm sóc người nghèo không chỉ là một hoạt động xã hội, mà là con đường thánh thiện thiết yếu. Đó không phải là một hoạt động phụ thêm, mà là hoa trái của sự kết hiệp với Thiên Chúa và là dấu chỉ của sự thánh thiện, vì “trong tiếng gọi nhận ra Người nơi người nghèo và những người đau khổ, chúng ta thấy tỏ lộ chính trái tim của Chúa Kitô, những tình cảm và những lựa chọn sâu xa nhất của Người, mà tất cả các thánh đều tìm cách noi theo.”[41] Một đời sống nên thánh được biểu lộ bằng lòng thương xót, sự cảm thông, việc thực thi bác ái và sự dấn thân vì công lý.

Quả vậy, “đan sĩ không chỉ là một nhà khổ hạnh, mà còn là một người phục vụ.”[42] Việc thực thi lòng thương xót đối với người nghèo không chỉ đem lại lợi ích cho người được giúp đỡ mà còn biến đổi chính người thực hành. Khi biết chia sẻ của cải, bảo vệ phẩm giá của người yếu thế, đồng hành với người đau khổ, tha thứ và phục vụ vô vị lợi, người đan sĩ ngày càng trở nên giống Chúa Kitô, Đấng “đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).

Như thế, lòng thương xót đối với người nghèo là dấu chỉ của sự thánh thiện, là nền tảng của đời sống Giáo hội vì nó phản ánh chính tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Chúa Giêsu Kitô. Người đan sĩ không chỉ tìm kiếm sự thánh thiện qua đời sống nội tâm, nhưng còn diễn tả sự thánh thiện ấy bằng những hành động cụ thể của lòng bác ái và công bằng. Khi cúi xuống phục vụ người nghèo, các đan sĩ không chỉ thi hành bổn phận luân lý, mà còn gặp gỡ Chúa Kitô, chạm đến thân thể Chúa Kitô và để cho đời sống mình được biến đổi theo hình ảnh của Người. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa chiêm niệm và hành động, giữa đức tin và đức ái, vốn là cốt lõi của đời sống Kitô hữu. Đức Phanxicô đã nhắc nhở trong Tông huấn Evangelii Gaudium như sau: “Sự kỳ thị tồi tệ nhất mà người nghèo phải chịu là thiếu chăm sóc thiêng liêng. Đa số người nghèo có một sự mở lòng đặc biệt với đức tin; họ cần Thiên Chúa và chúng ta không thể không cống hiến cho họ tình bạn, sự chúc lành, lời nói, việc cử hành các bí tích và một hành trình lớn lên và trưởng thành trong đức tin.”[43]

2. Giáo hội là Mẹ của người nghèo

“Giáo hội là mẹ của người nghèo” là một cách diễn tả rất phù hợp với truyền thống Công giáo. Cách nói này diễn tả sứ mạng của Giáo hội là yêu thương, chăm sóc và đồng hành với những người nghèo theo gương Chúa Kitô. “Giáo hội là mẹ của người nghèo” là cộng đoàn được Chúa Kitô qui tụ và Chúa Thánh Thần hướng dẫn, thực thi tình mẫu tử của Thiên Chúa bằng việc đón nhận, yêu thương, bảo vệ, đồng hành và thăng tiến phẩm giá của người nghèo, để họ được gặp gỡ Chúa Kitô và tham dự trọn vẹn vào đời sống của Giáo hội.

2.1 Tình mẫu tử

Công đồng Vaticanô II trình bày Giáo hội như người mẹ sinh dưỡng các tín hữu qua Lời Chúa và các Bí tích, để họ lớn lên trong đời sống đức tin và hiệp thông với Chúa Kitô.[44] Người mẹ ấy đón nhận mọi người không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Người mẹ ấy nuôi dưỡng đức tin, chữa lành những vết thương của con người bằng lòng thương xót và sự đồng hành, đồng thời nâng đỡ những phận người hèn mọn, đau khổ và bị bỏ rơi.

Trái tim của Giáo hội (như một người mẹ) phải mở rộng để ôm ấp những nỗi đau, sự khốn cùng và tiếng kêu than của các vùng ngoại biên. Việc chăm sóc người nghèo không chỉ là hoạt động bác ái, mà còn là sự diễn tả tình mẫu tử của Giáo hội, tiếp nối sứ mạng của Chúa Kitô bằng việc loan báo Tin Mừng, cử hành các Bí tích, bảo vệ phẩm giá con người và đồng hành với người nghèo trên hành trình đức tin và cuộc sống.

Đức Phanxicô, Giáo hoàng của lòng thương xót, làm chứng cho khuôn mặt mẫu tử của Giáo hội khi ngài cúi xuống phục vụ những người nghèo, túng thiếu và bị gạt ra bên lề; rửa chân cho các tù nhân, người bệnh và người tị nạn…vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh…

2.2 Giáo hội không phải là một cơ cấu tự qui chiếu

Đây là ý tưởng nổi bật trong giáo huấn của Đức Phanxicô. Ý tưởng này không phủ nhận cơ cấu phẩm trật của Giáo hội, nhưng nhấn mạnh rằng Giáo hội không tồn tại vì chính mình, Giáo hội hiện hữu để qui hướng về Chúa Kitô và thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng.

Giáo hội không phải là một cơ cấu tự qui chiếu, nhưng là Bí tích của ơn cứu độ, được Chúa Kitô thiết lập để qui tụ nhân loại vào hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người.[45] Vì thế, là dấu chỉ và khí cụ, Giáo hội không khép kín trong các cơ cấu và hoạt động nội bộ nhằm bảo vệ chính mình, mà luôn được sai đi loan báo Tin Mừng và phục vụ con người, đặc biệt những người ở “vùng ngoại biên”, người nghèo và bị gạt ra bên lề.

Đức Phanxicô nhiều lần cảnh báo về một Giáo hội “tự qui chiếu”, nghĩa là chỉ quan tâm đến cơ cấu, tổ chức hoặc uy tín của mình mà khép kín trước những đau khổ của thế giới. Một Giáo hội chỉ lo cho chính mình, bận tâm bảo tồn các hình thức bên ngoài mà quên mất người nghèo sẽ đánh mất căn tính Tin Mừng, mất đi tinh thần truyền giáo vì “người nghèo là những người ưu tiên được đón nhận Tin Mừng và việc Tin Mừng được tự do rao giảng cho họ là dấu chỉ về vương quốc mà Chúa Giêsu đến để thiết lập…”[46]

Từ thời các Kitô hữu tiên khởi, Giáo hội đã coi việc chăm sóc người nghèo là một sứ mạng thiết yếu: “Mỗi người hãy cho tùy theo lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương” (2Cr 9,7). Tác giả sách Công vụ Tông đồ đã phác họa hình ảnh của cộng đoàn Kitô hữu thuở ban đầu rất đẹp, một cộng đoàn “nghe giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42), một cộng đoàn “hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung, bán đất đai làm của cải và lấy tiền chia cho mọi người tùy theo nhu cầu” (Cv 2,44-45). Trong Tông huấn Evangelii Gaudium, Đức Phanxicô kêu gọi một Giáo hội “đi ra”, sẵn sàng đến với những vùng ngoại biên hiện sinh và địa lý để gặp gỡ những người nghèo, người bị loại trừ và những ai chưa được nghe và đón nhận Tin Mừng:

“Tôi thà có một Hội Thánh bị bầm dập, mang thương tích và lem luốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình. Tôi không muốn một Hội Thánh chỉ lo đặt mình vào trung tâm để rốt cuộc bị mắc kẹt trong một mạng lưới các nỗi ám ảnh và các thủ tục. Nếu có cái gì đáng phải khiến chúng ta trăn trở và áy náy lương tâm, thì đó chính là sự kiện nhiều anh chị em chúng ta đang sống mà không có sức mạnh, ánh sáng và niềm an ủi phát sinh từ tình bạn với Chúa Giêsu Kitô, không có một cộng đoàn đức tin nâng đỡ họ, không tìm thấy ý nghĩa và mục tiêu trong đời. Tôi mong rằng, thay vì sợ đi lạc, chúng ta nên sợ bị giam hãm trong những cấu trúc làm cho chúng ta có một cảm giác an toàn giả tạo, những qui tắc biến chúng ta thành những quan tòa tàn nhẫn, với những thói quen làm chúng ta cảm thấy an thân, trong khi ở ngoài cửa người ta đang chết đói và Chúa Giêsu không ngừng nói với chúng ta: “Anh em hãy cho họ ăn đi!” (Mc 6,37).”[47]

3. Tương quan giữa đức tin và lòng thương xót

Theo nghĩa thông thường, lòng thương xót là sự biểu lộ của sự đồng cảm và chia sẻ với những nỗi đau, bất hạnh của người khác. Dưới cái nhìn của Thánh Kinh, trong Cựu ước, lòng thương xót là từ khóa mô tả hành động của Thiên Chúa thể hiện qua việc Người luôn tín trung, yêu thương, tha thứ đối với dân Israel sau mỗi lần họ bất trung, phạm tội (x. Is 54,8-10). Trong Tân ước, Chúa Giêsu chính là hiện thân lòng thương xót của Thiên Chúa. Không chỉ giảng dạy bằng lời nói (x. Mt 7,28-29), Ngài còn thể hiện qua những hành động cụ thể: rao giảng Tin Mừng Nước Trời, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân (x. Mt 4,23-25), yêu thương, tha thứ (x. Lc 15,1-32). Đỉnh cao lòng thương xót của Thiên Chúa là cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá.[48]

Đức tin và lòng thương xót không tách rời nhau. Đức tin là nền tảng thiêng liêng thúc đẩy người đan sĩ đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, còn lòng thương xót là hoa trái và biểu hiện cụ thể của một đức tin sống động trong đời sống cộng đoàn: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Đức Phanxicô đã nhấn mạnh: “Có một mối dây liên kết không thể phân ly giữa đức tin của chúng ta và người nghèo. Chúng ta đừng bao giờ bỏ họ.”[49] Trong đan viện, đức tin giúp các đan sĩ nhìn thấy dung mạo Chúa Kitô nơi những người anh em đồng lao, đặc biệt là những người già yếu, tàn tật hay những khách bộ hành ghé thăm đan viện theo tu luật thánh Biển Đức. Vì thế, “nội vi đan viện không chỉ là nơi ẩn náu khỏi trần thế, mà còn là trường học nơi người ta học cách phục vụ trần thế tốt hơn.”[50] Bác ái không phải là việc làm phụ thêm mà là bằng chứng cụ thể của lòng mến Chúa.

“Yêu thương người khác là một sức mạnh thiêng liêng kéo chúng ta vào sự hiệp nhất với Thiên Chúa; thực vậy, ai không yêu thương “thì đi trong bóng tối” (1 Ga 2,11), “ở trong sự chết” (1 Ga 3,14) và “không biết Thiên Chúa” (1 Ga 4,8). Đức Bênêđictô XVI nói rằng “nhắm mắt trước người thân cận cũng là bịt mắt chúng ta trước Thiên Chúa”, và rằng tình yêu, xét cho cùng, là ánh sáng duy nhất “có thể luôn luôn chiếu sáng một thế giới đang tối đi và cho chúng ta can đảm cần thiết để tiếp tục sống và làm việc”. Khi chúng ta sống một thứ linh đạo gần gũi với người khác và tìm kiếm hạnh phúc của họ, lòng chúng ta được mở rộng trước các quà tặng tuyệt vời và đẹp nhất của Chúa. Khi chúng ta gặp gỡ người khác với lòng yêu thương, chúng ta học được một điều gì mới về Thiên Chúa…”[51]

Trong Tông sắc Dung Mạo Lòng Thương Xót (Misericordiae Vultus, 11.04.2015), Đức Phanxicô đã nhắn gửi:

“Chúng ta có thể có được kinh nghiệm như thế nào về việc chúng ta sẽ mở cõi lòng mình ra cho tất cả những ai đang sống tại những vùng rìa khác nhau của kiếp hiện sinh mà thế giới hiện tại tạo ra chúng, nhưng thường là trong những cách thức bi ai… Giáo hội còn được mời gọi hơn nữa trong việc chữa trị những vết thương ấy, hầu xoa dịu những vết thương ấy bằng dầu ủi an, băng bó những vết thương ấy bằng Lòng Thương Xót, và chữa lành những vết thương ấy bằng tình liên đới và sự kính trọng có tính bổn phận… Chúng ta hãy mở cặp mắt mình ra để nhìn thấy những nỗi khốn cùng của thế giới này, những vết thương của rất nhiều anh chị em mà họ đang bị cướp đi phẩm giá của họ…. Cha mong muốn một cách khẩn khoản rằng, các Kitô hữu sẽ suy tư về các công việc của Lòng Thương Xót: Thương Người Có Mười Bốn Mối. Việc đó sẽ trở thành một hình thức nhằm đánh thức lương tâm của chúng ta, mà lương tâm ấy thường hay bị ngủ thiếp đi trước tấn bi kịch của sự nghèo túng, cũng như càng ngày càng tiến vào trong trung tâm của Tin Mừng, mà trong đó, người nghèo chính là những người được Lòng Thương Xót của Thiên Chúa ưu ái hơn…”[52]

Giáo hội chỉ có thể là hiền thê thánh thiện và tinh tuyền của Chúa Kitô khi biết chạnh lòng thương và đồng hành cùng những người túng thiếu. Trong bài giảng đầu tiên trong Thánh lễ tại nguyện đường thánh Mácta ở Vatican, Đức Phanxicô đã nói: “Biết bao nhiêu người trong chúng ta có lẽ đáng bị lên án! Và điều đó cũng đúng. Nhưng Người tha thứ! Như thế nào? Bằng lòng thương xót mà không xóa bỏ tội lỗi: chỉ có sự tha thứ của Chúa mới xóa bỏ tội lỗi, trong khi lòng thương xót vượt xa hơn thế. Giống như bầu trời: chúng ta nhìn lên đó, thấy rất nhiều ngôi sao, nhưng khi mặt trời mọc vào buổi sáng, ánh sáng chói chang làm các ngôi sao không thể nhìn thấy được. Lòng thương xót của Chúa cũng vậy: một ánh sáng lớn của tình yêu, của sự dịu dàng, bởi vì Chúa tha thứ không phải bằng một sắc lệnh, mà bằng một sự âu yếm.”[53]

4. Chứng tá từ các thánh nhân

Đời sống đan tu minh chứng rằng việc cầu nguyện và chăm sóc các bệnh nhân, người nghèo tạo thành một cấu trúc tâm linh duy nhất. Chiêm niệm gắn liền với lòng thương xót. Trong Tông hiến Vultum Dei Quarere, Đức Phanxicô đã nhắn nhủ các đan sĩ:

“Như các vị đại thánh trong đời sống chiêm niệm đã cảnh tỉnh, lao động chưa bao giờ bóp nghẹt tinh thần chiêm niệm. Đời sống của các con phải “thực sự trở nên nghèo khó và phải được sống bằng sự điều độ trong công việc” - như lời khấn nghèo khó đòi hỏi. Vì lý do này, việc lao động của các con nên được thực hiện một cách cẩn trọng và trung tín, đừng để mình bị rơi vào nền văn hóa thời nay cũng như não trạng hiệu quả và hoạt động liên tục của nền văn hóa ấy. “Ora et labora” theo truyền thống Bênêđictô vẫn luôn là nguồn gợi hứng cho các con và giúp các con tìm thấy sự cân bằng đúng đắn giữa việc tìm kiếm Đấng tuyệt đối và việc dấn thân vào đời sống thường ngày, giữa sự bình an của việc chiêm niệm và nỗ lực hết mình trong công việc.”[54]

Nội vi đan viện, theo tu luật thánh Biển Đức, được sánh ví là “cơ xưởng để sử dụng các khí cụ” (Tu luật, chương 4,78), “không chỉ là nơi ẩn náu khỏi trần thế, mà còn là trường học phục vụ để cho người ta biết cách phục vụ trần thế tốt hơn.”[55]

Với thánh Basilio Cả (329-379), được xem là “tổ phụ các đan sĩ Phương Đông”, ngài là người luôn quan tâm yêu thương chăm sóc người nghèo. Ngài nhấn mạnh: “Thực phẩm mà bạn không dùng là thực phẩm của người đói; quần áo bạn treo trong tủ là quần áo của người trần truồng; giày dép bạn không dùng là giày dép của người chân không; tiền bạc bạn cất giữ là tiền bạc của người nghèo; hành động bác ái mà bạn không thi hành là những bất công mà bạn đã phạm.”[56]

Với thánh Bênađô, đức khó nghèo chỉ có ý nghĩa khi đi đôi với đức ái. Nếu từ bỏ của cải mà không có tình yêu dành cho Thiên Chúa và tha nhân, thì sự nghèo khó chỉ là một hình thức bên ngoài. Bất cứ nơi nào các cộng đoàn tu trì mở rộng vòng tay với người nghèo, ở đó Giáo hội cho thấy lòng thương xót chính là hoa trái tinh tuyền nhất của sự cầu nguyện.[57] Thánh nhân xem sự nghèo khó như một con đường dẫn đến sự tự do nội tâm: khi không bị ràng buộc bởi của cải hay danh vọng, người đan sĩ có thể yêu mến Thiên Chúa cách trọn vẹn hơn và phục vụ tha nhân với tấm lòng quảng đại. Họ càng có khả năng cảm thông với nỗi đau của người khác và sẵn sàng chia sẻ thời gian, công sức và của cải. Như thế, lòng thương xót trở thành dấu chỉ hữu hình của đời sống nội tâm được biến đổi bởi ân sủng.

5. Sự đồng hóa của Chúa Kitô và người nghèo

Đức Bênêđictô XVI đã nói: “Từ chân trời vô hạn của tình yêu. Thiên Chúa muốn đi vào trong những giới hạn lịch sử của loài người và của thân phận con người. Người đã mang lấy một thân xác và một trái tim. Như vậy, chúng ta có thể chiêm ngưỡng và gặp gỡ sự vô hạn trong cái hữu hạn, gặp gỡ mầu nhiệm vô hình và khôn tả trong trái tim nhân loại của Chúa Giêsu người Nadarét.”[58] Trong thời gian rao giảng ba năm công khai, Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với những phận nghèo. Ngài không chỉ bảo vệ người nghèo, mà còn hiện diện cách đặc biệt nơi họ. Vì thế, phục vụ người nghèo là chạm đến chính thân thể Chúa Kitô chịu thương tích. Cho người đói ăn là phục vụ Chúa Kitô, thăm người bệnh là thăm Chúa Kitô, đón tiếp người lữ khách là đón tiếp Chúa Kitô (x. Mt 25,40).

Hơn nữa, nơi người nghèo, Giáo hội nói chung và cách riêng người đan sĩ nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Việc tiếp xúc, đụng chạm và đồng hành với người nghèo không dừng lại ở lòng trắc ẩn xã hội thông thường, mà là sự mạc khải. Nơi thân xác khổ đau của người nghèo, Giáo hội nhận ra dung mạo đích thực của Chúa Kitô chịu đóng đinh, tái hiện trọn vẹn mầu nhiệm Nhập Thể và tình yêu tự hiến của Ngài. Vì thế, người đan sĩ không coi người nghèo là “một vấn đề cần giải quyết” mà là “ân sủng để gặp gỡ Chúa”. Mỗi cử chỉ yêu thương của người đan sĩ dù là nhỏ nhất đều mang lại sự an ủi lớn lao cho người nghèo.

 

KẾT LUẬN

Thế giới đang đối diện với nhiều khuôn mặt của sự nghèo đói khác nhau: vật chất, văn hóa, thiêng liêng và luân lý,... Lòng thương xót người nghèo là thước đo trung thực nhất cho tình yêu của Giáo hội đối với Thiên Chúa: “Một Giáo hội không đặt ra giới hạn cho tình yêu, không biết đến kẻ thù nào để chiến đấu, nhưng chỉ biết yêu thương con người, đó là Giáo hội mà thế giới hôm nay đang cần.”[59]

Tông huấn Dilexi Te mời gọi các Kitô hữu nói chung và cách riêng với người đan sĩ trở nên chứng tá tình yêu, biến Giáo hội trở thành “bệnh viện dã chiến của lòng thương xót”[60] để chữa lành các vết thương của nhân loại. Đức Lêô XIV, trong sứ điệp ngày thế giới người nghèo lần thứ IX, khẳng định “giúp người nghèo là vấn đề công bằng, chứ không chỉ là lòng thương xót. Tôi hy vọng Năm Thánh này sẽ thúc đẩy phát triển các chính sách nhằm chống lại những hình thức nghèo đói, cũ và mới, và cũng khuyến khích những sáng kiến mới để hỗ trợ và giúp những người nghèo nhất. Công ăn việc làm, giáo dục, một mái nhà và sức khỏe là những điều kiện của an toàn mà không bao giờ có thể được bảo đảm bằng vũ khí. Tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với các sáng kiến đã có và được sự dấn thân hằng ngày ở cấp độ quốc tế của rất nhiều người thiện chí.”[61] Giống như kinh nghiệm của thánh Phanxicô Assisi ôm lấy người phong cùi và nhận ra Chúa Kitô, Tông huấn mời gọi mỗi Kitô hữu và các cộng đoàn bước ra khỏi vùng an toàn để được biến đổi khi đối thoại trực tiếp với người nghèo, trở thành cánh tay yêu thương, người mẹ hiền luôn chở che những người khốn cùng trong xã hội hôm nay.

Nguồn: gpquinhon.org


[1] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-dilexi-te---ta-da-yeu-con 

[2] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 104.

[3] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[4] Tu Luật Thánh Biển Đức, chương 42,1-3.

[5] Tu Luật Thánh Biển Đức, chương 36,1-5.

[6] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[7] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Sắc Lệnh Perfectae Caritatis, số 6.

[8] PHANXICÔ, Tông Hiến Vultum Dei Quarere, số 24-26.

[9] AUGUSTINE ROBERTS, OCSO, Gioan Tân Phan Văn Toàn, O.Cist chuyển ngữ, Đặt Nền Tảng trên Đức Kitô: Kim Chỉ Nam Thánh Hiến Đan Tu (Nxb: Đồng Nai, 2020), tr. 147.

[10] Tu Luật Thánh Biển Đức, chương 63,10-12.15-17.

[11] GIOAN PHAOLÔ II, Tông Huấn Vita Consecrata, số 42, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-vita-consecrata---tong-huan-doi-song-thanh-hien 

[12] PHANXICÔ, Thông Điệp Fratelli Tutti, số 66, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thong-diep-fratelli-tutti-ve-tinh-huynh-de-va-tinh-bang-huu-xa-hoi-41849 

[13] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[14] PHANXICÔ, Tông Huấn Gaudete et Exsultate, số 102, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-hay-vui-mung-hoan-hi-gaudete-et-exsultate-ve-on-goi-nen-thanh-trong-the-gioi-ngay-nay-51169 

[15] Tu Luật Thánh Biển Đức, chương 53,1-9.

[16] PHANXICÔ, Thông Điệp Fratelli Tutti, số 90.

[17] X. LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 55.

[18] Tu Luật Thánh Biển Đức, chương 66,2-4.

[19] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến Chế Gaudium et Spes, số 1.

[20] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2025-06/su-diep-duc-thanh-cha-ngay-the-gioi-nguoi-ngheo-ix.html. Cập nhật ngày 13/06/2025.

[21] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 21.

[22] BÊNÊĐICTÔ XVI, Thông Điệp Deus Caritas est, số 22.

[23] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 40.

[24] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến Chế Lumen Gentium, số 8, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hien-che-tin-ly-ve-giao-hoi--lumen-gentium-cua-cong-dong-vaticano-ii 

[25] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 100.

[26] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 108.

[27] CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến Chế Lumen Gentium, số 8.

[28] Tinh thần của thánh Biển Đức: đi tìm Thiên Chúa qua việc phụng sự Ngài trong sự thinh lặng, qua đời sống cầu nguyện, đời sống khổ chế được diễn ra hằng ngày trong “Trường học phụng sự Thiên Chúa” (x. lời mở đầu của tu luật thánh Biển Đức).

[29] AUGUSTINE ROBERTS, OCSO, Gioan Tân Phan Văn Toàn, O.Cist chuyển ngữ, Đặt Nền Tảng trên Đức Kitô: Kim Chỉ Nam Thánh Hiến Đan Tu, tr. 86.

[30] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[31] X. THOMAS MERTON, Gioan Tân Phan Văn Toàn, O.Cist chuyển ngữ, Thần Bí Kitô Giáo: Mười Ba Buổi Học cùng Vị Đan Sĩ Trappist (Nxb. Đồng Nai, 2025), tr.272.

[32] Điểm chính yếu trong Tin Mừng Mátthêu là các bài giảng. Bài giảng trên núi là bài giảng lớn đầu tiên trong năm bài giảng của Tin Mừng Mátthêu: Bài giảng trên núi (chương 5-7), bài giảng về sứ mạng của Giáo hội (chương 10), bài giảng bằng dụ ngôn (chương 13), bài giảng về đời sống cộng đoàn (chương 18), bài giảng cánh chung (chương 24-25).

[33] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 48,8.

[34] Tu luật Thánh Biển Đức, chương 48,1.

[35] PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 198.

[36] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 104.

[37] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 110.

[38] X. LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 53.

[39] PHANXICÔ, Tông Huấn Gaudete et Exsultate, số 105.

[40] PHANXICÔ, Tông Huấn Gaudete et Exsultate, số 96.

[41] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 3.

[42] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 54.

[43] PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 200.

[44] X. CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến Chế Lumen Gentium, số 14.64.

[45] X. CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II, Hiến Chế Lumen Gentium, số 1.

[46] PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 48, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-niem-vui-cua-tin-mung-evangelii-gaudium-46656 

[47] PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 49.

[48] X. HĐGMVN - UBGLĐT - BAN TỪ VỰNG CÔNG GIÁO, Từ Điển Công Giáo (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo, 2016), tr. 873.

[49] PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 48.

[50] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[51] PHANXICÔ, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 272.

[52] PHANXICÔ, Tông Sắc Dung Mạo Lòng Thương Xót, số 15.

[53] https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2025-04/dtc-phanxico-giao-hoang-long-thuong-xot.html. Cập nhật ngày 21/04/2025.

[54] PHANXICÔ, Tông Hiến Vultum Dei Quarere, số 32.

[55] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[56] https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-02-01-thanh-basilio-ca-va-thanh-gregorio-nazianzeno-30228. Cập nhật ngày 02/01/2026.

[57] X. LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 58.

[58] Kinh Truyền Tin ngày 1.6.2008: Mỗi Người Cần Cái Tâm, tại : https://www.archivioradiovaticana.va (01.06.2008).

[59] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 120.

[60] LÊÔ XIV, Tông Huấn Dilexi Te, số 52.

[61] https://vietnamese.rvasia.org/duc-giao-hoang/su-diep-cua-duc-thanh-cha-nhan-ngay-gioi-nguoi-ngheo-lan-thu-ix. Cập nhật ngày 15/11/2025, toàn văn sứ điệp tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-nguoi-ngheo-lan-thu-9-nam-2025---lay-chua-cua-con-chinh-ngai-la-niem-hy-vong-cua-con-ps-715