Dẫn nhập

Sự đồng thuận gần như tuyệt đối

Huấn quyền của Hội thánh

Lòng tôn kính của các tín hữu

Phụng vụ của các Giáo hội Đông phương và Tây phương

Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời

Tiếng nói của các thánh Giáo phụ

Giáo huấn của các nhà thần học

Giáo huấn của Thánh Albertô Cả và Thánh Tôma Aquinô

Lời giải thích của Thánh Bônaventura

Quan điểm của nền thần học kinh viện vào thế kỷ XV

Sự xác nhận của các tác giả thánh cận đại

Đức Maria là Evà mới

Những lý do cho việc định tín tín điều mới

Định tín long trọng

Diễn văn của Đức Giáo hoàng Piô XII trong nghi thức long trọng công bố Tín điều Đức Trinh nữ Maria rất thánh hồn xác lên trời


ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XII

TÔI TỚ CỦA CÁC TÔI TỚ THIÊN CHÚA

ĐỂ LƯU TRUYỀN MUÔN ĐỜI

TÔNG HIẾN

MUNIFICENTISSIMUS DEUS[1]

VỀ VIỆC ĐỊNH TÍN TÍN ĐIỀU

ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Ngày 1 tháng 11 năm 1950

Dẫn nhập
1. Thiên Chúa vô cùng quảng đại, Đấng toàn năng và mọi an bài của sự quan phòng Ngài đều được thực hiện trong sự khôn ngoan và yêu thương, theo những kế hoạch khôn dò của Ngài, đã dung hòa trong đời sống các dân tộc cũng như trong cuộc đời từng con người những đau khổ và niềm vui, để bằng những nẻo đường và theonhiều cách thế khác nhau, “mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa” (x. Rm 8,28).

2. Triều đại Giáo hoàng của tôi, cũng như thời đại hiện nay, đang bị đè nặng bởi biết bao mối bận tâm, lo âu và thống khổ, vì những tai ương hết sức nghiêm trọng đang xảy ra và vìnhiều người đã lìa xa chân lý và nhân đức. Tuy nhiên, điều mang lại cho tôi niềm an ủi lớn lao khi thấy rằng, trong khi đức tin Công giáo được biểu lộ cách công khai và sống động hơn hơn, thì lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, lại ngày càng bừng cháy và trở nên nhiệt thành hơn; hầu như ở khắp nơi, lòng sùng kính ấy trở thành động lực và dấu chỉ báo trước một đời sống tốt lành và thánh thiện hơn. Vì thế, trong khi Đức Trinh Nữ rất thánh chu toàn cách đầy yêu thương thiên chức làm mẹ đối với những người đã được cứu chuộc bằng máu châu báu Đức Kitô, thì tâm trí và con tim của đoàn con Mẹ được thôi thúc mạnh mẽ hơn nữa để chiêm ngắm những đặc ân của Mẹ với lòng yêu mến.

3. Quả thật, Thiên Chúa, Đấng từ muôn thuở đã đoán nhìn Đức Trinh Nữ Maria với sự hài lòng đặc biệt và trọn vẹn, thì “khi thời gian tới hồi viên mãn” (Gl 4,4), đã thực hiện kế hoạch quan phòng của Ngài bằng cách làm cho các đặc ân và đặc quyền mà Ngài đã rộng ban cho Mẹ rạng ngời trong sự hòa hợp hoàn hảo. Và nếu Hội thánh, qua mọi thời đại, luôn nhìn nhận và ngày càng thấu hiểu sâu xa hơn sự quảng đại vô biên ấy cùng sự hòa hợp viên mãn của các ân sủng, thì trong thời đại chúng ta, đặc ân Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, được cả hồn lẫn xác lên trời chắc chắn đã được làm sáng tỏ hơn bao giờ hết.

4. Đặc ân này càng rạng ngời hơn kể từ khi vị tiền nhiệm của tôi, Đức Piô IX, Đấng đáng ghi nhớ muôn đời, long trọng tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Thiên Chúa. Quả thật, hai đặc ân này gắn bó mật thiết với nhau. Đức Kitô đã chiến thắng tội lỗi và sự chết bằng chính cái chết của Người; và nhờ quyền năng của Đức Kitô, những ai đã được tái sinh một cách siêu nhiên nhờ bí tích Thánh Tẩy cũng chiến thắng cả tội lỗi lẫn sự chết. Tuy nhiên, theo quy luật chung, Thiên Chúa không muốn ban cho người công chính hưởng trọn vẹn hiệu quả của chiến thắng ấy trên sự chết cho đến khi thời tận thế đến. Vì thế, ngay cả thân xác của những người công chính cũng phải tan rã sau khi chết, và chỉ trong ngày sau hết, mỗi thân xác mới được kết hợp lại với chính linh hồn vinh hiển của mình.

5. Nhưng Thiên Chúa đã muốn miễn trừ Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc khỏi quy luật chung này. Nhờ một đặc ân hoàn toàn độc nhất vô nhị, Mẹ đã chiến thắng tội lỗi ngay từ giây phút đầu tiên hiện hữu nhờ đặc ân Vô nhiễm Nguyên tội. Bởi vậy, Mẹ không phải chịu quy luật hư nát trong mồ, cũng không phải chờ đến tận thế mới được hưởng ơn cứu chuộc thân xác.


Sự đồng thuận gần như tuyệt đối

6. Vì thế, khi Hội thánh long trọng tuyên bố rằng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã được gìn giữ khỏi vết nhơ nguyên tội ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai, các tín hữu càng được tràn đầy niềm hy vọng sống động rằng chẳng bao lâu nữa Huấn quyền tối cao của Hội thánh cũng sẽ định tín tín điều về việc Đức Trinh Nữ Maria được rước về trời cả hồn lẫn xác.

7. Thật vậy, không những các tín hữu Công giáo riêng lẻ, mà cả các đại diện của nhiều quốc gia hoặc các giáo tỉnh, và thậm chí không ít nghị phụ của Công đồng Vatican, đã tha thiết thỉnh cầu Tòa thánh ban hành định tín này.

8. Theo thời gian, những thỉnh nguyện và lời thỉnh cầu ấy chẳng những không giảm bớt mà còn gia tăng từng ngày về số lượng cũng như mức độ khẩn thiết. Vì mục đích ấy, nhiều phong trào cầu nguyện đã được phát động. Nhiều nhà thần học lỗi lạc đã chuyên tâm nghiên cứu vấn đề này, cả trong phạm vi cá nhân lẫn tại các học viện Giáo hội và các cơ sở đào tạo khác chuyên về các ngành thánh học. Tại nhiều nơi trong thế giới Công giáo, các Đại hội Thánh Mẫu đã được tổ chức, cả ở cấp quốc gia lẫn cấp quốc tế. Tất cả những công trình nghiên cứu và khảo cứu ấy đã làm sáng tỏ hơn rằng tín điều về việc Đức Trinh Nữ Maria được cả hồn lẫn xác lên trời đã được chứa đựng trong kho tàng đức tin được ký thác cho Hội thánh; và nhìn chung, từ đó đã phát sinh những thỉnh nguyện khẩn thiết xin Tòa thánh long trọng định tín chân lý này.

9. Trong cuộc vận động đầy đạo đức này, các tín hữu đã hiệp nhất cách kỳ diệu với các vị chủ chăn của mình. Chính các ngài, với một số lượng thật đông đảo, cũng đã gửi những thỉnh nguyện tương tự lên Tông tòa Phêrô. Vì thế, khi tôi được nâng lên ngai tòa Giáo hoàng, thì Tông tòa này đã nhận được nhiều ngàn thỉnh nguyện như thế từ khắp nơi trên thế giới và từ mọi thành phần Dân Chúa: từ các người con yêu quý của tôi là các Hồng y thuộc Hồng y đoàn, từ các Hiền huynh đáng kính là các Tổng Giám mục và Giám mục, cũng như từ các giáo phận và giáo xứ.

10. Vì vậy, trong khi sốt sắng dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện tha thiết, xin Ngài ban ánh sáng của Chúa Thánh Thần cho tâm trí tôi, để có thể quyết định về một vấn đề hệ trọng như thế, tôi đã truyền thực hiện những biện pháp đặc biệt nhằm phối hợp mọi nỗ lực và khởi sự các công trình nghiên cứu nghiêm túc hơn về đề tài này. Đồng thời, tôi cũng truyền phải cẩn thận thu thập và cân nhắc tất cả các thỉnh nguyện liên quan đến việc Đức Trinh Nữ Maria rất diễm phúc được cả hồn lẫn xác lên trời, đã được gửi đến Tông tòa này từ thời vị tiền nhiệm khả kính của tôi là Đức Piô IX, Đấng đáng ghi nhớ, cho đến thời đại của tôi.[2]


Huấn quyền của Hội thánh

11. Nhưng vì đây là một vấn đề hết sức trọng đại và quan trọng, tôi xét thấy cần trực tiếp và chính thức thỉnh ý tất cả các Hiền huynh khả kính trong hàng giám mục, để các ngài công khai bày tỏ quan điểm của mình. Vì thế, ngày 1 tháng 5 năm 1946, tôi đã gửi đến các ngài Thông điệp Deiparae Virginis Mariae, trong đó tôi hỏi rằng: “Các Hiền huynh khả kính, với sự khôn ngoan và thận trọng đặc biệt của mình, liệu các Hiền huynh có cho rằng tín điều về việc Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được rước cả hồn lẫn xác về trời có thể được trình bày và định tín như một tín điều đức tin hay không? Và liệu các Hiền huynh có mong muốn điều đó, cùng với hàng giáo sĩ và các tín hữu thuộc quyền chăm sóc mục vụ của mình, hay không?”

12. Và những vị mà “Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội thánh của Thiên Chúa” (Cv 20,28) đã trả lời gần như hoàn toàn đồng thuận theo hướng khẳng định đối với cả hai câu hỏi. “Sự đồng thuận đặc biệt của hàng Giám mục Công giáo và của các tín hữu”,[3] khi xác tín rằng việc Đức Mẹ được cả hồn lẫn xác lên trời có thể được định tín như một tín điều đức tin, đồng thời trình bày cho tôi giáo huấn nhất trí của Huấn quyền thông thường của Hội thánh cũng như đức tin đồng tâm của toàn thể Dân Kitô giáo, vốn được Huấn quyền nâng đỡ và hướng dẫn, tự nó đã biểu lộ một cách chắc chắn và bất khả ngộ rằng đặc ân ấy là một chân lý được Thiên Chúa mạc khải và được chứa đựng trong kho tàng đức tin mà Đức Kitô đã ký thác cho Hiền thê của Người là Hội thánh, để Hội thánh gìn giữ cách trung thành và công bố cách bất khả ngộ.[4] Chắc chắn, Huấn quyền của Hội thánh, không phải bằng bất kỳ nỗ lực thuần tuý nào của con người nhưng nhờ sự trợ giúp của Thần Khí Sự Thật (x. Ga 14,26); vì thế, Huấn quyền chu toàn cách bất khả ngộ nhiệm vụ gìn giữ các chân lý được mạc khải luôn tinh tuyền và nguyên vẹn, đồng thời truyền lại các chân lý ấy không sai lạc, không thêm, không bớt. Thật vậy, như Công đồng Vatican đã dạy: “Chúa Thánh Thần không được hứa ban cho những người kế vị Thánh Phêrô để nhờ sự mạc khải của Người mà họ công bố một giáo lý mới, nhưng để nhờ sự trợ giúp của Người, họ gìn giữ cách bất khả xâm phạm và trình bày cách trung thành mạc khải đã được các Tông đồ truyền lại, tức là kho tàng đức tin.””[5] Bởi đó, từ sự đồng thuận phổ quát của Huấn quyền thông thường của Hội thánh, người ta có được một chứng cứ chắc chắn và vững vàng để khẳng định rằng việc Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được rước cả hồn lẫn xác lên trời – một chân lý mà, xét về việc thân xác đồng trinh của Mẹ Thiên Chúa được tôn vinh trên trời, không một khả năng tự nhiên nào của con người có thể tự mình nhận biết – chính là một chân lý do Thiên Chúa mạc khải. Vì thế, mọi con cái của Hội thánh đều phải tin chân lý ấy bằng đức tin vững vàng và trung thành. Quả vậy, cũng chính Công đồng Vatican dạy rằng: “Phải tin bằng đức tin thần linh và Công giáo tất cả những điều được chứa đựng trong Lời Thiên Chúa, hoặc đã được ghi chép, hoặc được truyền khẩu, và được Hội thánh, qua phán quyết long trọng hoặc qua Huấn quyền thông thường và phổ quát, đề nghị phải tin như những chân lý do Thiên Chúa mạc khải.”[6]

13. Về đức tin chung này của Hội thánh, từ thời xa xưa qua dòng các thế kỷ đã có nhiều chứng từ, dấu chỉ và bằng chứng; hơn nữa, đức tin ấy ngày càng được biểu lộ rõ ràng hơn.

14. Được các vị chủ chăn hướng dẫn và giáo huấn, các tín hữu đã học biết từ Thánh kinh rằng Đức Trinh Nữ Maria, trong suốt cuộc lữ hành trần thế của mình, đã sống một cuộc đời đầy những ưu tư, khắc khoải và đau khổ. Hơn nữa, nơi Mẹ đã ứng nghiệm lời tiên báo của cụ già thánh thiện Simêon, khi một lưỡi gươm sắc bén đã đâm thâu tâm hồn Mẹ dưới chân thập giá của Người Con chí thánh là Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Cũng vậy, các tín hữu không gặp khó khăn khi nhìn nhận rằng Đức Maria đã qua đời, như chính Người Con Một của Mẹ đã trải qua cái chết. Nhưng điều đó không ngăn cản họ tin và công khai tuyên xưng rằng thân xác thánh thiện của Mẹ không phải chịu cảnh hư nát trong mồ, và nhà tạm uy nghi của Ngôi Lời Thiên Chúa chưa bao giờ bị tan rã thành tro bụi. Trái lại, được ánh sáng ân sủng Thiên Chúa soi dẫn và được thúc đẩy bởi lòng yêu mến dành cho Đấng vừa là Mẹ Thiên Chúa vừa là Mẹ rất dịu hiền của chúng ta, họ đã chiêm ngắm ngày càng rõ nét hơn sự hòa hợp kỳ diệu của những đặc ân mà Thiên Chúa quan phòng đã ban cho Đấng là cộng sự yêu thương của Đấng Cứu Chuộc chúng ta, những đặc ân đã đạt tới đỉnh cao khôn sánh, mà chưa một thụ tạo nào, ngoại trừ nhân tính của Chúa Giêsu Kitô, đã từng đạt tới.


Lòng tôn kính của các tín hữu

15. Chính đức tin ấy được minh chứng rõ ràng qua vô số đền thờ được dâng kính Thiên Chúa để tôn vinh Đức Trinh Nữ Maria Hồn Xác Lên Trời, cũng như qua các ảnh thánh được đặt tại đó để các tín hữu tôn kính, hầu giúp mọi người có thể chiêm ngắm chiến thắng kỳ diệu này của Đức Trinh Nữ diễm phúc. Hơn nữa, nhiều thành phố, giáo phận và miền đất đã được đặt dưới sự bảo trợ đặc biệt của Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Tương tự như vậy, với sự chuẩn nhận của Hội thánh, nhiều Hội dòng mang tước hiệu gắn liền với đặc ân này cũng đã được thành lập. Cũng không thể quên rằng trong kinh Mân Côi kính Đức Maria, việc lần hạt vốn được Tòa thánh hết sức khuyến khích, có một mầu nhiệm được dành cho việc suy niệm sốt sắng về việc Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được rước lên trời cả hồn lẫn xác, như mọi người đều biết.


Phụng vụ của các Giáo hội Đông phương và Tây phương

16. Tuy nhiên, đức tin của các vị mục tử thánh thiện và của các tín hữu Kitô giáo được biểu lộ rực rỡ và phổ quát hơn cả qua việc, từ thời xa xưa, cả Đông phương lẫn Tây phương đều cử hành một lễ phụng vụ trọng thể. Chính từ đó, các thánh Giáo phụ và các Tiến sĩ Hội thánh không ngừng kín múc ánh sáng, bởi như ai cũng biết, phụng vụ thánh, “vốn cũng là một lời tuyên xưng các chân lý trên trời và đặt dưới quyền huấn giáo tối cao của Hội thánh, có thể cung cấp những lý chứng và chứng từ quan trọng để xác định một số điểm riêng biệt trong giáo lý Kitô giáo”.[7]

17. Trong các sách phụng vụ ghi lại lễ Đức Mẹ an giấc hay lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, người ta gặp những cách diễn đạt nhất quán khi khẳng định rằng, lúc Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, rời cuộc lưu đày trần thế này để vào thiên quốc, thì theo sự an bài của Thiên Chúa Quan Phòng, nơi thân xác thánh của Mẹ đã xảy đến những điều tương xứng với phẩm giá của Mẹ là Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể và với các đặc ân khác mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ. Điều ấy được khẳng định cách đặc biệt trong cuốn Sách Bí tích mà vị tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo hoàng Adrianô I, Đấng đáng ghi nhớ muôn đời, đã gửi cho Hoàng đế Charlemagne. Trong đó có lời nguyện sau: “Lạy Chúa, ngày lễ hôm nay thật đáng để chúng con tôn kính, vì trong ngày này, Thánh Mẫu Thiên Chúa đã chịu cái chết tạm thời, nhưng Đấng đã cưu mang và sinh hạ Con Một Chúa, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con, nhập thể nơi mình, thì không thể bị khuất phục bởi xiềng xích của sự chết.”[8]

18. Điều mà Phụng vụ Rôma chỉ diễn tả với sự cô đọng vốn có, thì trong các sách phụng vụ cổ kính khác, cả Đông phương lẫn Tây phương, lại được trình bày đầy đủ và minh nhiên hơn. Chẳng hạn, Sách Bí tích Gallican gọi đặc ân này của Mẹ Maria là “mầu nhiệm khôn tả, càng đáng ca ngợi bội phần vì việc Đức Trinh Nữ hồn xác lên trời là điều độc nhất vô nhị giữa loài người.” Còn trong Phụng vụ Byzantine, việc Đức Maria được rước lên trời cả hồn lẫn xác nhiều lần được liên kết không chỉ với phẩm giá là Mẹ Thiên Chúa, mà còn với các đặc ân khác của Mẹ, nhất là thiên chức làm Mẹ đồng trinh đã được tiền định theo kế hoạch đặc biệt của Thiên Chúa Quan Phòng: “Thiên Chúa là Vua của vũ trụ, đã ban cho Mẹ những điều vượt trên lẽ tự nhiên. Vì như khi sinh hạ Con Chúa, Ngài vẫn gìn giữ Mẹ đồng trinh, thì trong mộ, Ngài cũng đã gìn giữ thân xác Mẹ khỏi hư nát, và tôn vinh Mẹ bằng bằng việc đưa Mẹ vào vinh quang thiên quốc.”[9]


Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời

19. Việc Tông tòa, thừa hưởng sứ vụ được trao cho Thủ lãnh các Tông đồ là “củng cố đức tin cho anh em” (x. Lc 22,32), đã dùng thẩm quyền của mình để làm cho lễ này ngày càng được cử hành cách long trọng hơn, đã khích lệ hữu hiệu các tín hữu biết quý trọng hơn bao giờ hết sự cao cả của mầu nhiệm này. Nhờ đó, lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, vốn đã có vị trí cao quý ngay từ đầu trong các lễ kính Đức Maria, dần dần được nâng lên hàng những lễ trọng bậc nhất trong toàn bộ năm phụng vụ. Vị tiền nhiệm của tôi là Thánh Giáo hoàng Sergiô I, khi quy định việc đọc kinh cầu hoặc cử hành cuộc rước kiệu trọng thể cho bốn lễ kính Đức Maria, đã liệt kê các lễ Sinh nhật Đức Maria, lễ Truyền tin, lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh, và lễ Đức Mẹ an giấc.[10] Sau đó, Thánh Giáo hoàng Lêô IV muốn tăng thêm phần long trọng cho lễ này, vốn đã được cử hành dưới tước hiệu lễ Đức Mẹ Thiên Chúa hồn xác lên trời, bằng cách ấn định thêm ngày lễ vọng và tuần bát nhật; và trong dịp ấy, chính ngài đã đích thân tham dự thánh lễ giữa đông đảo tín hữu.[11] Hơn nữa, việc từ thời xa xưa lễ này đã được chuẩn bị bằng việc giữ chay được minh chứng rõ ràng trong lời xác nhận của vị tiền nhiệm Thánh Giáo hoàng Nicôla I, khi ngài nói về những kỳ chay chính “mà Hội thánh Rôma đã lãnh nhận từ thuở ban sơ và vẫn còn tuân giữ cho đến ngày nay.”[12]

20. Tuy nhiên, vì phụng vụ của Hội thánh không tạo nên đức tin Công giáo, nhưng giả thiết đức tin ấy đã hiện hữu; và cũng như hoa trái phát sinh từ cây, các việc cử hành phụng tự phát xuất từ đức tin, nên các thánh Giáo phụ và các Tiến sĩ vĩ đại của Hội thánh, trong các bài giảng và huấn từ dành cho dân chúng nhân dịp lễ này, không coi phụng vụ là nguồn đầu tiên của giáo lý. Trái lại, các ngài nói về giáo lý ấy như một điều đã được các tín hữu biết đến và đón nhận; các ngài giải thích rõ hơn, xác định và đào sâu ý nghĩa cũng như đối tượng của giáo lý ấy, đặc biệt làm sáng tỏ điều mà các sách phụng vụ nhiều khi chỉ gợi lên cách vắn tắt, đó là: đối tượng của lễ này không chỉ là việc thân xác vô hồn của Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được gìn giữ khỏi hư nát, mà còn là chiến thắng của Mẹ trên sự chết và việc Mẹ được tôn vinh trên trời, theo gương Người Con Một của Mẹ là Đức Giêsu Kitô.


Tiếng nói của các thánh Giáo phụ

21. Trong số các chứng nhân nổi bật của truyền thống này, Thánh Gioan Đamascênô nổi bật hơn cả. Khi chiêm ngắm việc Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được rước cả hồn và xác lên trời dưới ánh sáng của các đặc ân khác mà Mẹ đã lãnh nhận, ngài đã hùng hồn tuyên bố: “Thật xứng đáng khi Mẹ, Đấng đã gìn giữ trọn vẹn đức đồng trinh khi sinh hạ Con mình, cũng phải gìn giữ thân xác mình khỏi mọi hư nát sau khi chết. Thật xứng đáng khi Mẹ, Đấng đã cưu mang trong cung lòng mình Đấng Tạo Hóa làm người, phải được cư ngụ trong các đền đài thiên quốc. Thật xứng đáng khi Hiền thê, Đấng mà Chúa Cha đón nhận, được sống trong cung điện trên trời. Thật xứng đáng khi Mẹ, Đấng đã nhìn thấy Con mình trên thập giá và nhờ đó đón nhận trong lòng mình lưỡi gươm đau khổ mà Mẹ không phải chịu khi sinh hạ Người, được chiêm ngắm Người ngự bên hữu Chúa Cha. Thật xứng đáng khi Mẹ Thiên Chúa được hưởng những gì thuộc về Con Mẹ, và được mọi tạo vật tôn kính như là Mẹ và là Nữ tỳ của Thiên Chúa.”[13]

22. Những lời này của Thánh Gioan Đamascênô hoàn toàn phù hợp với những lời dạy của các vị khác, cũng khẳng định cùng một giáo lý. Thật vậy, người ta cũng gặp những lời lẽ không kém phần rõ ràng và minh bạch trong các bài giảng nhân dịp lễ này của nhiều Giáo phụ sống trước hoặc cùng thời với ngài. Chẳng hạn, Thánh Germanô thành Constantinople cho rằng việc thân xác của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, được gìn giữ khỏi hư nát và được đưa lên trời không những phù hợp với thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa, mà còn tương xứng với sự thánh thiện đặc biệt của chính thân xác đồng trinh của Mẹ: “Đúng như đã chép, Mẹ xuất hiện ‘trong vẻ đẹp rạng ngời’; thân xác trinh nguyên của Mẹ hoàn toàn thánh thiện, hoàn toàn tinh tuyền, hoàn toàn là nơi Thiên Chúa ngự. Vì thế, thân xác ấy cũng không thể bị tan thành bụi đất; tuy là thân xác nhân loại, nhưng đã được biến đổi để bước vào sự sống cao cả của tình trạng bất hoại, vẫn sống động, đầy vinh quang, nguyên vẹn và tràn đầy sự sống.”[14] Một tác giả cổ khác cũng viết: “Là Mẹ vinh hiển của Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ và là Thiên Chúa của chúng ta, Đấng ban sự sống và sự bất tử, Mẹ được chính Ngài ban cho sự sống, mặc lấy thân xác trong tình trạng bất hoại vĩnh cửu, cùng với Ngài, Đấng đã cho Mẹ sống lại từ mồ và đưa Mẹ về với Ngài theo cách thức chỉ một mình Ngài biết.”[15]

23. Khi lễ phụng vụ này ngày càng được cử hành rộng rãi và với lòng sùng kính đạo đức ngày càng tăng, các vị mục tử của Hội thánh và các nhà giảng thuyết, cũng ngày càng ý thức bổn phận phải trình bày cách công khai và rõ ràng mầu nhiệm là đối tượng của ngày lễ, đồng thời làm nổi bật mối liên hệ hết sức mật thiết của mầu nhiệm ấy với các chân lý khác đã được Thiên Chúa mạc khải.


Giáo huấn của các nhà thần học

24. Trong số các nhà thần học kinh viện, không thiếu những vị, với ước muốn đi sâu hơn vào các chân lý mạc khải và trình bày sự hòa hợp giữa lý luận thần học với đức tin Công giáo, đã chỉ ra rằng đặc ân Đức Mẹ hồn xác lên trời hoàn toàn phù hợp với những chân lý được Thánh kinh truyền dạy.

25. Dựa trên nền tảng ấy, các ngài đã nêu lên nhiều lý do để minh giải đặc ân của Đức Maria, mà hầu như tất cả đều hàm chứa trong nguyên lý này: vì lòng hiếu thảo của mình, Chúa Giêsu đã muốn đưa Đức Maria lên trời. Do đó, các ngài cho rằng sức mạnh của những lập luận ấy được đặt nền tảng trên phẩm giá vô song của thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa và trên tất cả những đặc ân phát sinh từ thiên chức đó: sự thánh thiện siêu việt của Mẹ, vượt trên mọi người và mọi thiên thần; sự kết hợp hết sức mật thiết giữa Đức Maria với Người Con của mình; và tình yêu cao vời mà Người Con dành cho Người Mẹ rất xứng đáng của mình.

26. Người ta cũng thường gặp các nhà thần học và các nhà giảng thuyết, theo bước các thánh Giáo phụ,[16] khi trình bày niềm tin của mình vào việc Đức Mẹ được cả hồn lẫn xác lên trời, đã vận dụng với một mức độ tự do nhất định các sự kiện và lời văn trong Thánh kinh. Chẳng hạn, chỉ để nêu một vài bản văn thường được trích dẫn, có những vị viện dẫn lời Thánh vịnh: “Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa ngự về chốn nghỉ ngơi.” (Tv 132, 8), và coi Hòm bia Giao ước, được làm bằng gỗ không hư nát và được đặt trong Đền thờ Chúa, như một hình ảnh báo trước thân xác tinh tuyền của Đức Trinh Nữ Maria, được gìn giữ khỏi mọi hư nát của mồ mả và được nâng lên hưởng vinh quang rạng rỡ trên trời. Cũng nhằm mục đích ấy, các ngài mô tả vị nữ hoàng tiến vào cung điện thiên quốc cách khải hoàn và ngự bên hữu Đấng Cứu Chuộc thần linh (Tv 44, 10.14-16), cũng như tân nương trong sách Diễm ca, “tiến lên từ sa mạc, tựa hồ những cột mây, thơm ngát mùi nhũ hương một dược” để được đội triều thiên (Dc 3, 6; x. 4, 8; 6, 9). Cả hai hình ảnh này được trình bày như những hình bóng của vị Nữ hoàng và Tân nương thiên quốc, Đấng được đưa lên cung điện trên trời cùng với vị Tân lang thần linh của mình.

27. Hơn nữa, các Tiến sĩ kinh viện nhận thấy hình bóng của việc Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa được rước lên trời cả hồn lẫn xác không chỉ nơi nhiều hình ảnh trong Cựu ước, mà còn nơi hình ảnh Người Phụ nữ mặc áo mặt trời mà Thánh Gioan Tông đồ đã chiêm ngắm trên đảo Patmos (Kh 12, 1tt). Tương tự như vậy, trong các bản văn Tân ước, các ngài đặc biệt chú ý đến lời sứ thần truyền tin: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà, bà có phúc hơn mọi người nữ” (Lc 1, 28), vì các ngài nhận thấy nơi mầu nhiệm Đức Mẹ hồn xác lên trời sự hoàn tất của tình trạng đầy ân sủng đã được ban cho Đức Trinh Nữ diễm phúc, cũng như một phúc lành độc nhất vô nhị, đối nghịch với lời nguyền dành cho bà Eva.

28. Do đó, ngay từ buổi đầu của nền thần học kinh viện, Đức Giám mục Amadeus thành Lausarme đã khẳng định rằng thân xác của Đức Trinh Nữ Maria vẫn nguyên vẹn – thật sai lầm khi tin rằng thân xác Mẹ lại chịu cảnh hư nát – bởi vì thân xác ấy đã thực sự được hợp nhất lại với linh hồn Mẹ và cùng với linh hồn được đội triều thiên vinh quang vĩ đại trên thiên đàng. Ngài viết: “Vì bà đầy ân sủng và có phúc hơn mọi người nữ (Lc 1, 28). Chỉ mình Mẹ xứng đáng cưu mang Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, Mẹ đã sinh hạ Người mà còn đồng trinh, đã nuôi dưỡng Người bằng chính dòng sữa của mình, ấp ủ Người trong vòng tay, và đã dâng lên Người mọi sự phục vụ cùng tôn kính thánh thiện.”[17]

29. Trong số các tác giả thánh thời kỳ này, những vị đã dùng các bản văn Thánh kinh hoặc các hình ảnh và phép loại suy để minh giải và củng cố giáo lý về việc Đức Mẹ được rước lên trời cả hồn lẫn xác, thì Tiến sĩ Hội thánh, Thánh Antôn thành Padova, chiếm một vị trí đặc biệt. Trong bài giảng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, khi chú giải lời ngôn sứ Isaia: “Ta sẽ làm cho nơi Ta đặt chân được vẻ vang.” (Is 60, 13), ngài quả quyết rằng Đấng Cứu Chuộc chí thánh đã tôn vinh cách tuyệt hảo Người Mẹ rất yêu dấu của mình, Đấng từ đó Người đã nhận lấy bản tính nhân loại. Ngài nói: “Từ đó có thể thấy rõ ràng rằng Đức Trinh Nữ diễm phúc đã được rước lên trời cả hồn lẫn xác, vì chính nơi thân xác ấy đã từng là nơi đặt chân của Chúa.” Vì thế, tác giả Thánh vịnh đã viết: “Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa ngự về chốn nghỉ ngơi.” Và Thánh Antôn giải thích rằng, cũng như Chúa Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết và lên ngự bên hữu Chúa Cha, thì hòm bia thánh thiện của Ngài cũng “đã trỗi dậy, vì trong ngày này, Đức Trinh Nữ Maria đã được rước lên thiên đàng.”[18]


Giáo huấn của Thánh Albertô Cả và Thánh Tôma Aquinô

30. Khi nền thần học kinh viện đạt đến thời kỳ rực rỡ nhất trong thời Trung Cổ, Thánh Albertô Cả, sau khi thu thập nhiều luận chứng dựa trên Thánh kinh, Thánh truyền, Phụng vụ và lý luận thần học để chứng minh chân lý này, đã kết luận: “Từ những lý lẽ và chứng cứ ấy, cũng như từ nhiều lý do khác, rõ ràng rằng Đức Mẹ rất diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác, vượt trên các phẩm trật thiên thần. Và chúng tôi tin điều đó là hoàn toàn chân thật”.[19] Trong một bài giảng vào lễ Truyền tin, khi giải thích lời chào của sứ thần: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng …”, vị Tiến sĩ hoàn vũ đã đối chiếu Đức Trinh Nữ rất thánh với bà Evà, và minh nhiên khẳng định rằng Đức Maria đã được miễn trừ khỏi bốn hình phạt mà bà Evà đã phải chịu.[20]

31. Tiếp bước vị thầy lỗi lạc của mình, Tiến sĩ Thiên thần là Thánh Tôma Aquinô, tuy không bao giờ trực tiếp bàn riêng về vấn đề này, nhưng mỗi khi có dịp đề cập, ngài luôn nhất quán với giáo huấn của Hội thánh Công giáo khi xác tín rằng không chỉ linh hồn, mà cả thân xác của Đức Maria cũng đã được đưa lên trời.[21]


Lời giải thích của Thánh Bônaventura

32. Cùng một lập trường ấy còn được Tiến sĩ Seraphim, Thánh Bônaventura, chia sẻ cùng với nhiều nhà thần học khác. Ngài quả quyết rằng cũng như Thiên Chúa đã gìn giữ Đức Maria rất thánh khỏi mọi tổn hại đến sự thanh khiết và đức đồng trinh của Mẹ trong việc thụ thai và sinh hạ Con mình, thì Ngài cũng không để thân xác của Mẹ bị hư nát thành tro bụi.[22] Khi giải thích và áp dụng theo nghĩa thích ứng cho Đức Trinh Nữ diễm phúc lời Thánh kinh: “Kìa ai đang tiến lên từ sa mạc, nép mình vào người yêu?” (Dc 8, 5), Thánh Bônaventua lập luận: “Từ đây có thể hiểu rằng Mẹ hiện diện tại đó (trong Thành Thánh trên trời) cả về thân xác.… Thật vậy, vì hạnh phúc viên mãn sẽ không trọn vẹn nếu Mẹ không hiện diện cách cá vị; mà cá vị không chỉ là linh hồn, nhưng là sự kết hợp giữa linh hồn và thân xác, cho nên rõ ràng Mẹ hiện diện tại đó với toàn thể con người mình, nghĩa là cả hồn lẫn xác; nếu không, Mẹ sẽ không hưởng trọn vẹn niềm phúc lạc”.[23]


Quan điểm của nền thần học kinh viện vào thế kỷ XV

33. Vào giai đoạn cuối của nền thần học kinh viện, tức là trong thế kỷ XV, Thánh Bernardinô thành Siena, khi tổng hợp và cẩn thận khảo xét lại tất cả những gì các nhà thần học thời Trung Cổ đã trình bày và bàn luận về vấn đề này, không chỉ giới hạn ở việc nhắc lại các lập luận chính của các bậc tiền bối, nhưng còn bổ sung thêm những luận chứng mới. Theo ngài, sự tương đồng giữa Mẹ Thiên Chúa và Con Thiên Chúa, xét về phẩm giá và vinh dự của cả linh hồn lẫn thân xác, khiến ta không thể nghĩ rằng Nữ Vương thiên quốc lại bị tách rời khỏi Vua trời; điều này minh nhiên đòi hỏi rằng “Đức Maria không thể ở nơi nào khác ngoài nơi Đức Kitô đang ngự”[24]. Ngoài ra, điều hợp lý và thích đáng là cả linh hồn lẫn thân xác, nơi người nam cũng như nơi người nữ, đều được vinh hiển trên trời. Sau hết, việc Hội thánh chưa bao giờ tìm kiếm hay đưa các thánh tích thân xác của Đức Trinh Nữ diễm phúc ra để các tín hữu tôn kính cũng là một luận chứng có thể được xem như “một bằng chứng thực nghiệm hầu như hiển nhiên.”[25]


Sự xác nhận của các tác giả thánh cận đại

34. Trong thời gian gần đây hơn, các quan điểm nói trên của các thánh Giáo phụ và các Tiến sĩ Hội thánh đã trở thành giáo huấn phổ biến. Tiếp nối sự đồng thuận của các Kitô hữu được lưu truyền qua các thế kỷ, Thánh Rôbêtô Bellarminô thốt lên: “Xin hỏi, ai lại có thể tin rằng Hòm bia thánh thiện, nơi cư ngụ của Ngôi Lời, Đền thờ của Chúa Thánh Thần lại có thể bị huỷ diệt? Tâm trí tôi ghê sợ ngay cả khi nghĩ rằng thân xác đồng trinh đã cưu mang Thiên Chúa, sinh hạ Ngài, nuôi dưỡng Ngài và bồng ẵm Ngài, lại có thể bị biến thành tro bụi hoặc bị làm mồi cho giòi bọ”[26].

35. Cũng vậy, Thánh Phanxicô Salêsiô, sau khi khẳng định rằng không thể nghi ngờ việc Chúa Giêsu Kitô đã chu toàn cách hoàn hảo nhất điều răn của Thiên Chúa truyền cho con cái phải hiếu kính cha mẹ, đã đặt ra câu hỏi: “Người con nào lại không muốn làm cho mẹ mình sống lại và sau khi bà qua đời lại không đưa bà vào thiên đàng cùng mình?”[27] Và Thánh Anphongsô Maria Ligôri viết: “Chúa Giêsu đã gìn giữ thân xác Đức Maria khỏi hư nát, vì sẽ là một xúc phạm đến chính Người nếu thân xác đồng trinh mà Người đã từng mặc lấy lại bị mục nát bởi sự thối rữa.”[28]

36. Tuy nhiên, một khi mầu nhiệm là đối tượng của ngày lễ này đã được làm sáng tỏ, thì không thiếu những bậc tiến sĩ, thay vì chỉ chuyên chú đến các lý do thần học nhằm chứng minh sự hết sức thích hợp của việc Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được đưa cả hồn lẫn xác lên trời, lại hướng sự chú ý đến đức tin của Hội thánh, Hiền thê mầu nhiệm của Đức Kitô, Đấng “không tỳ ố, không vết nhăn” (x. Ep 5, 27), và được thánh Tông đồ gọi là “cột trụ và nền tảng của chân lý” (1 Tm 3, 15). Và dựa trên đức tin chung ấy, các ngài cho rằng quan điểm phủ nhận tín điều này là một lập trường liều lĩnh, nếu không muốn nói là lạc giáo. Chẳng hạn, giữa nhiều vị khác, Thánh Phêrô Canisiô, sau khi giải thích rằng thuật ngữ ‘lên trời’ không chỉ có nghĩa là linh hồn được tôn vinh mà còn bao hàm cả thân xác, và sau khi nhấn mạnh rằng Hội thánh đã tôn kính và long trọng cử hành mầu nhiệm Đức Mẹ hồn xác lên trời suốt nhiều thế kỷ, đã viết: “Giáo lý này đã được đón nhận từ nhiều thế kỷ, đã ăn sâu vào tâm hồn các tín hữu đạo đức và được toàn thể Hội thánh chấp nhận đến nỗi những ai phủ nhận rằng thân xác Đức Maria đã được đưa lên trời thì không những không đáng được kiên nhẫn lắng nghe, mà còn phải bị bác bỏ như những kẻ quá ngoan cố hoặc hoàn toàn liều lĩnh, mang một tinh thần không phải là Công giáo mà là lạc giáo.”[29]

37. Cùng thời kỳ đó, Thánh Suarez lỗi lạc đã đặt ra như một nguyên tắc trong Thánh Mẫu học rằng: “Các mầu nhiệm ân sủng mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Trinh Nữ không được đo lường theo các quy luật thông thường, nhưng theo quyền năng vô hạn của Thiên Chúa, miễn là điều đó tự thân thích hợp và không có bất cứ điều gì mâu thuẫn hay trái ngược với Thánh kinh”[30]. Dựa trên đức tin của toàn thể Hội thánh về mầu nhiệm Đức Maria hồn xác lên trời, ngài có thể kết luận rằng phải tin mầu nhiệm này với cùng một mức độ xác tín vững chắc như mầu nhiệm Đức Maria vô nhiễm nguyên tội; và ngay thời đó, ngài đã cho rằng cả hai chân lý này đều có thể được long trọng định tín.

38. Tất cả những lý lẽ và suy tư của các thánh Giáo phụ và các nhà thần học đều đặt nền tảng tối hậu trên Thánh kinh, vốn trình bày cho chúng ta thấy hình ảnh Đức Mẹ rất thánh, Mẹ Thiên Chúa, luôn kết hợp mật thiết với Con Thiên Chúa và luôn thông phần vào số phận của Người. Vì thế, hầu như không thể hình dung được rằng sau cuộc đời trần thế này, Đấng đã cưu mang Đức Kitô, sinh hạ Người, nuôi dưỡng Người bằng dòng sữa của mình, ẵm bồng Người trên cánh tay và ôm Người vào lòng, lại có thể bị tách lìa khỏi Đức Kitô, không chỉ nơi linh hồn mà ngay cả nơi thân xác. Vì Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, là Con của Đức Maria, nên với tư cách là Đấng chu toàn cách hoàn hảo lề luật Thiên Chúa, Người không thể không tôn kính, bên cạnh Chúa Cha hằng hữu, cả Người Mẹ rất yêu dấu của mình. Mà vì Người có quyền ban cho Mẹ vinh dự cao cả là gìn giữ Mẹ khỏi sự hư nát của mồ mả, nên chúng ta phải tin rằng Người đã thực sự thực hiện điều đó.


Đức Maria là Evà mới

39. Nhưng đặc biệt cần ghi nhớ rằng, ngay từ thế kỷ II, Đức Trinh Nữ Maria đã được các thánh Giáo phụ gọi là Evà mới, gắn bó mật thiết với Ađam mới, tuy vẫn lệ thuộc vào Người, trong cuộc chiến chống lại kẻ thù hỏa ngục. Cuộc chiến ấy, như đã được tiên báo trong tiền Tin mừng (St 3, 15), sẽ kết thúc bằng chiến thắng trọn vẹn trên tội lỗi và sự chết, hai thực tại vốn luôn vị Tông đồ dân ngoại liên kết với nhau trong các thư của ngài (x. Rm 5 và 6; 1 Cr 15, 21-26.54-57). Vì thế, cũng như cuộc phục sinh vinh hiển của Đức Kitô là phần thiết yếu và là dấu chỉ sau cùng của chiến thắng ấy, thì đối với Đức Maria, cuộc chiến mà Mẹ cùng chia sẻ với Con của mình cũng phải được hoàn tất bằng việc thân xác đồng trinh của Mẹ được tôn vinh. Bởi vì, như chính vị Tông đồ này đã nói: “Khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng!” (1 Cr 15, 54).

40. Như thế, Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa cao cả, từ muôn thuở đã được kết hợp cách nhiệm mầu với Đức Giêsu Kitô “trong cùng một ý định tiền định”[31]; được gìn giữ vô nhiễm trong biến cố thụ thai, trinh nguyên tinh tuyền trong thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa, người cộng sự cao quý của Đấng Cứu Chuộc thần thánh, Đấng đã toàn thắng tội lỗi và mọi hậu quả của nó. Sau cùng, như là triều thiên cao quý nhất của mọi đặc ân, Mẹ đã được gìn giữ khỏi sự hư nát của mồ phần, và sau khi chiến thắng sự chết như chính Người Con của mình, Mẹ đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác, nơi Mẹ rạng ngời như Nữ Vương ngự bên hữu Người Con, là vị Vua bất diệt muôn đời (x. 1 Tm 1, 17).


Những lý do cho việc định tín tín điều mới

41. Vì Hội thánh hoàn vũ, nơi Thần Khí Sự Thật hằng sống và dẫn dắt Hội thánh cách bất khả ngộ tới sự hiểu biết các chân lý được mạc khải, qua dòng các thế kỷ đã nhiều lần bày tỏ đức tin của mình, và bởi vì tất cả các giám mục trong thế giới Công giáo đều đồng thanh thỉnh cầu rằng chân lý về việc Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được rước cả hồn lẫn xác lên trời cần được định tín như một tín điều thuộc đức tin Công giáo và thần linh; một chân lý được đặt trên nền tảng Thánh kinh, được khắc ghi sâu đậm vào tâm khảm các tín hữu, được việc phụng tự của Hội thánh xác nhận từ thuở xa xưa, hoàn toàn phù hợp với các chân lý mạc khải khác, đồng thời được các nhà thần học dùng kiến thức và sự khôn ngoan của mình minh giải và trình bày cách rạng ngời, thì tôi nhận thấy đã đến thời điểm được Thiên Chúa Quan phòng định liệu, để long trọng công bố đặc ân này của Đức Trinh Nữ Maria.

42. Tôi, người đã đặt triều đại giáo hoàng của mình dưới sự bảo trợ đặc biệt của Đức Trinh Nữ rất thánh, Đấng mà tôi đã nhiều lần chạy đến khẩn cầu trong những hoàn cảnh bi thương nhất. Tôi, người đã long trọng thánh hiến toàn thể nhân loại cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ và đã nhiều lần cảm nghiệm được sự bảo trợ đầy quyền năng của Mẹ, vững tin rằng việc long trọng công bố và định tín tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho toàn thể nhân loại, vì điều đó sẽ làm vinh danh Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, Đấng mà Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, được gắn bó bằng những mối dây liên kết đặc biệt. Thật vậy, có cơ sở để hy vọng rằng tất cả các Kitô hữu sẽ được thúc đẩy đến lòng sùng kính sâu xa đối với Mẹ trên trời; rằng tâm hồn của tất cả những ai hãnh diện mang danh Kitô hữu sẽ được khơi dậy lòng khát khao nên một với Thân Thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, đồng thời gia tăng lòng yêu mến đối với Đấng có tấm lòng từ mẫu dành cho mọi chi thể của Thân Thể cao trọng ấy. Hơn nữa, có cơ sở để hy vọng rằng tất cả những ai chiêm ngắm tấm gương sáng vinh hiển của Đức Maria sẽ ngày càng xác tín hơn về giá trị của đời sống con người, khi đời sống ấy được hoàn toàn hiến dâng cho việc thực thi thánh ý Chúa Cha và thiện ích của tha nhân. Trong khi chủ nghĩa duy vật và sự suy đồi luân lý bắt nguồn từ đó đang đe dọa cuốn trôi mọi nhân đức và hủy hoại biết bao sinh mạng và gây nên các chiến tranh, thì tín điều này sẽ đặt trước mắt mọi người, bằng một ánh sáng hết sực rực rỡ, cùng đích cao cả mà cả linh hồn lẫn thân xác con người được mời gọi đạt tới. Sau hết, niềm tin vào việc Đức Maria được rước cả hồn lẫn xác lên trời sẽ củng cố và làm cho đức tin của chúng ta vào sự phục sinh của chính mình trở nên vững mạnh và sinh nhiều hoa trái hơn.

43. Đối với tôi, sự trùng hợp đầy ý nghĩa của biến cố trọng đại này với Năm thánh đang được cử hành là một niềm vui đặc biệt. Nhờ đó, giữa lúc cử hành Đại Toàn xá trọng thể, tôi được vinh dự tô điểm vầng trán của Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, bằng viên ngọc rực rỡ này, đồng thời để lại một chứng tích trường tồn về lòng tôn kính nồng nhiệt của tôi đối với Nữ Vương thiên quốc.


Định tín long trọng

44. “Vì thế, sau khi một lần nữa dâng lên Thiên Chúa những lời khẩn cầu tha thiết và cầu xin ánh sáng của Thần Khí Sự Thật, để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng, Đấng đã tuôn đổ trên Đức Trinh Nữ Maria ân huệ đặc biệt của Người, để tôn kính Con của Người là Vua bất diệt muôn đời và Đấng chiến thắng tội lỗi cùng sự chết, để làm rạng ngời hơn nữa vinh quang của Thân Mẫu cao sang của Người, và để đem lại niềm vui mừng hoan hỷ cho toàn thể Hội thánh, bằng quyền bính của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta, của hai Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông đồ, và bằng thẩm quyền của mình, tôi công bố, tuyên xưng và định tín rằng: đây là một tín điều được Thiên Chúa mạc khải: Đức Maria, Người Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả linh hồn lẫn thân xác.”

45. Vì vậy, nếu có ai, điều mà xin Thiên Chúa đừng để xảy ra, dám cố tình phủ nhận hoặc nghi ngờ điều tôi đã định tín này, thì người ấy hãy biết rằng mình đã từ bỏ đức tin Công giáo và đức tin thần linh.

46. Để định tín về việc Đức Trinh Nữ Maria được đưa cả hồn và xác lên trời này được phổ biến đến toàn thể Giáo hội hoàn vũ, tôi muốn rằng Tông hiến này được lưu truyền để ghi nhớ muôn đời. Tôi truyền rằng tất cả mọi bản sao hay ấn bản, có chữ ký của một công chứng viên và được đóng ấn của một vị có chức vụ trong hàng giáo phẩm, sự xác tín hoàn toàn giống như đối với chính bản văn hiện tại, nếu được xuất trình hoặc công bố.

47. Vậy không ai được phép xâm phạm, phản đối hoặc chống lại bản công bố, tuyên xưng và định tín này của tôi. Nếu có ai dám thử làm như vậy, thì người ấy phải biết rằng sẽ chuốc lấy cơn thịnh nộ của Thiên Chúa toàn năng và của hai Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông đồ.

48. Ban hành tại Rôma, gần Đền thờ thánh Phêrô, Năm thánh 1950, ngày 1 thàng 11, lễ các Thánh, năm thứ mười hai triều đại giáo hoàng của tôi.

Đức Giáo hoàng Piô XII

____________


Diễn văn của Đức Giáo hoàng Piô XII

trong nghi thức long trọng công bố

Tín điều Đức Trinh nữ Maria rất thánh hồn xác lên trời

Thứ Tư, ngày 1 tháng 11 năm 1950


Các hiền huynh khả kính, các người con trai con gái yêu dấu đã quy tụ trước sự hiện diện của tôi, và toàn thể anh chị em đang lắng nghe tôi tại Thành thánh Rôma này cũng như khắp nơi trong hoàn vũ Công giáo!

Cảm động sâu xa trước việc công bố tín điều Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc được rước cả hồn lẫn xác về trời; hân hoan trong niềm vui tràn ngập tâm hồn mọi tín hữu, niềm vui đã đáp lại những khát mong tha thiết của họ; tôi cảm thấy một thúc bách không thể cưỡng lại được là phải cùng với anh chị em cất lên bài thánh ca tạ ơn sự quan phòng nhân lành của Thiên Chúa, Đấng đã muốn dành cho anh chị em niềm hoan lạc của ngày hôm nay, và ban cho tôi niềm an ủi là được đặt lên vầng trán của Thân Mẫu Chúa Giêsu và cũng là Mẹ chúng ta, Đức Maria, chiếc triều thiên sáng láng, làm rạng ngời những đặc ân tuyệt vời của Mẹ.

Theo ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa, trước mắt nhân loại của thế hệ hôm nay – một thế hệ đầy lao nhọc và thương đau, hoang mang và thất vọng, nhưng cũng được thúc đẩy trong việc tìm kiếm thiện hảo cao cả đã bị đánh mất – đã mở ra một khung trời sáng ngời, rực rỡ trong trắng, chan chứa hy vọng và phúc lạc, nơi Đức Maria, vừa là Nữ Vương vừa là Thân Mẫu, đang ngự trị bên cạnh Mặt Trời Công Chính.

Đã từ lâu hằng khẩn cầu, ngày trọng đại này nay đã đến với tôi; và nay cũng đã đến với anh chị em. Tiếng nói của muôn thế kỷ – hay đúng hơn, tôi có thể nói, tiếng nói của vĩnh cửu – chính là tiếng nói của tôi, tiếng nói đã được Chúa Thánh Thần nâng đỡ, long trọng định tín đặc ân cao cả của Mẹ thiên đàng. Và đó cũng là tiếng kêu của muôn thế kỷ nơi anh chị em, hôm nay vang dội trong khung cảnh bao la của ngôi thánh đường linh thiêng này, vốn đã được thánh hiến nhờ những vinh quang Kitô giáo, trở thành bến đỗ thiêng liêng của muôn dân, và giờ đây hóa thành bàn thờ và đền thánh cho lòng đạo đức tràn đầy của anh chị em.

Như được lay động bởi nhịp đập con tim và lời xúc động phát ra từ đôi môi anh chị em, những phiến đá của Đại Vương cung Thánh đường này cũng như rung chuyển, và cùng với chúng, tưởng chừng như các đền thờ muôn đời xưa cũ, vô số nơi được dựng lên để tôn vinh Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cũng đang hân hoan dậy sóng mầu nhiệm. Những ngôi đền ấy chính là những đài tưởng niệm của cùng một đức tin, và là bệ trần thế nâng đỡ ngai vinh hiển trên trời của Nữ Vương vũ trụ.

Trong ngày chan chứa hoan lạc này, từ khoảng trời được hé mở, cùng với khúc hoan ca thiên thần hợp điệu với toàn thể Giáo hội khải hoàn trên dương thế, không thể nào không tuôn đổ xuống các linh hồn một dòng thác ân sủng và giáo huấn, trở thành nguồn mạch phong nhiêu cho một đời sống thánh thiện được canh tân.

Vì thế, hướng về thụ tạo tuyệt vời ấy, từ mặt đất này, trong thời đại chúng ta, giữa thế hệ chúng ta, tôi cùng với tất cả anh chị em cất cao lời hô vang: Hãy nâng tâm hồn lên!

Đối với biết bao linh hồn xao xuyến và u sầu, di sản buồn thảm của một thời đại rối loạn và hỗn mang, những linh hồn bị đè nặng nhưng không cam chịu, đã chẳng còn tin tưởng vào sự thiện hảo của cuộc đời và chỉ còn chấp nhận, như thể miễn cưỡng, từng giây phút sống còn mong manh; thì Người Trinh Nữ khiêm nhu, vô danh nơi Nazarét, nay đã được vinh hiển trên trời, sẽ mở ra cho họ những viễn tượng cao cả hơn, và sẽ an ủi họ chiêm ngắm định mệnh siêu việt và những công trình vĩ đại mà Thiên Chúa đã tôn phong cho Đấng, được Ngài tuyển chọn làm Mẹ của Ngôi Lời Nhập Thể, đã khiêm tốn vâng nghe và đón nhận lời phán của Chúa.

Và anh chị em, những người gần gũi nhất trong trái tim tôi, nỗi khắc khoải giày vò ngày đêm của tôi, mối bận tâm ray rứt trong từng giây phút của tôi: đó là anh chị em, những người nghèo khổ, bệnh tật, lưu vong, tù đày, bị bách hại, những cánh tay không việc làm, những thân thể không mái nhà, những người đau khổ muôn vàn cách khắp mọi miền; anh chị em mà cuộc sống trần gian dường như chỉ trao tặng nước mắt và thiếu thốn, cho dù bao cố gắng đã và đang được thực hiện để cứu giúp – hãy ngước nhìn lên Đấng đã đi trước anh chị em trên những nẻo đường nghèo khó, khinh chê, lưu đày, sầu khổ, Đấng có linh hồn cũng đã bị lưỡi gươm đâm thâu dưới chân Thập giá, và nay kiên định hướng mắt về Ánh sáng vĩnh cửu.

Trước thế giới không có bình an này, bị dày xéo bởi ngờ vực lẫn nhau, bởi chia rẽ, tranh chấp, hận thù, vì trong đó đức tin đã suy yếu và cảm thức về tình yêu cùng tình huynh đệ trong Đức Kitô hầu như đã tắt lịm, khi chúng ta khẩn cầu với tất cả lòng sốt mến để xin cho Đức Mẹ hồn xác lên trời khơi lại ngọn lửa yêu thương và sức sống trong tâm hồn nhân loại, tôi vẫn không ngừng nhắc nhớ rằng không có gì có thể được phép lấn át thực tại và ý thức rằng tất cả chúng ta đều là con cái của cùng một Người Mẹ duy nhất, là Đức Maria, Đấng hằng sống trên trời, là mối dây hiệp nhất cho Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô, như là Evà mới và là người mẹ mới của muôn kẻ sống, Mẹ muốn dẫn đưa toàn thể nhân loại đến với chân lý và ân sủng của Con Thiên Chúa chí thánh của Mẹ.

Và giờ đây, chúng ta hãy sốt sắng sấp mình cầu nguyện!


LỜI NGUYỆN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PIÔ XII
DÂNG LÊN ĐỨC TRINH NỮ MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI

Lạy Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ nhân loại.

1. Chúng con tin với tất cả lòng sốt mến của đức tin chúng con vào việc Mẹ được rước cả hồn lẫn xác cách khải hoàn lên trời, nơi Mẹ được toàn thể ca đoàn các Thiên Thần và muôn vàn đạo binh các thánh tung hô là Nữ Vương;

và chúng con hiệp cùng các ngài để ca ngợi và chúc tụng Chúa, Đấng đã tôn vinh Mẹ trên hết mọi tạo vật tinh tuyền khác, và để dâng lên Mẹ khát vọng của lòng sùng kính cùng tình yêu của chúng con.

2. Chúng con biết rằng ánh mắt của Mẹ, xưa kia âu yếm nhìn nhân tính khiêm nhu và đau khổ của Chúa Giêsu trên dương thế, nay được no thoả trên trời khi chiêm ngắm nhân tính hiển vinh của Đấng Khôn Ngoan vô song; và niềm hân hoan trong tâm hồn Mẹ khi chiêm ngắm trực diện Ba Ngôi Chí Thánh làm cho trái tim Mẹ bừng dậy sự dịu dàng chan chứa phúc lành.

và chúng con, những kẻ tội lỗi nghèo hèn, chúng con với thân xác đè nặng cánh bay của linh hồn, khẩn nài Mẹ thanh luyện các giác quan chúng con, để chúng con học biết, ngay từ đời này, biết nếm hưởng Thiên Chúa, chỉ mình Thiên Chúa, trong vẻ đẹp huyền nhiệm của các tạo vật.

3. Chúng con tín thác rằng ánh mắt từ bi của Mẹ cúi nhìn trên những cảnh khốn cùng và thống khổ của chúng con, trên những cuộc chiến đấu và yếu đuối của chúng con; rằng đôi môi Mẹ sẽ mỉm cười trước niềm vui và chiến thắng của chúng con; rằng Mẹ nghe được tiếng Chúa Giêsu phán cùng Mẹ về từng người chúng con, như xưa đã phán về người môn đệ được yêu dấu: Này là con của Mẹ;

và chúng con, những kẻ kêu cầu Mẹ là Mẹ chúng con, chúng con đón nhận Mẹ, như thánh Gioan xưa, làm vị hướng dẫn, làm sức mạnh và niềm an ủi cho cuộc đời dương thế của chúng con.

4. Chúng con có sự xác tín ban sự sống rằng đôi mắt của Mẹ, những đôi mắt đã từng tuôn lệ trên mảnh đất thấm đẫm Máu Chúa Giêsu, nay vẫn còn hướng nhìn xuống thế giới này đang chìm trong chiến tranh, trong bách hại, trong cảnh đàn áp người công chính và kẻ yếu hèn;

và chúng con, giữa bóng tối của thung lũng nước mắt này, trông đợi nơi ánh sáng thiên quốc và lòng từ bi dịu ngọt của Mẹ sự ủi an cho những khổ đau của tâm hồn chúng con, cho những thử thách của Hội thánh và của quê hương chúng con.

5. Sau hết, chúng con tin rằng trong vinh quang, nơi Mẹ hiển trị, được khoác áo mặt trời và triều thiên bằng muôn vì sao, Mẹ là, sau Chúa Giêsu, nguồn vui mừng và hoan lạc của toàn thể các Thiên Thần và các Thánh;

và chúng con, từ chốn dương gian này, nơi chúng con đang lữ hành, được nâng đỡ bởi niềm tin vào sự phục sinh mai sau, ngước trông về Mẹ là sức sống, là sự ngọt ngào, là niềm hy vọng của chúng con; xin Mẹ lôi cuốn chúng con bằng sự dịu hiền của tiếng Mẹ, để một ngày kia, sau cuộc lưu đày này, Mẹ chỉ cho chúng con thấy Đức Giêsu, hoa quả chúc phúc của lòng dạ Mẹ, ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Đức Trinh Nữ Maria.

Chuyển ngữ từ: Vatican.va



[1] Đức Giáo hoàng Piô XII, Tông hiến Munificentissimus Deus, trong đó định tín mầu nhiệm Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, được đưa cả hồn và xác lên vinh quang Thiên Quốc, ngày 1.11.1950: AAS 42 (1950), tr. 753-771.

Việc tôn vinh Đức Maria qua mầu nhiệm Mẹ được đưa lên trời cả hồn lẫn xác là một chân lý ăn sâu trong cảm thức tôn giáo của các Kitô hữu, như được minh chứng qua vô số hình thức sùng kính đặc biệt trong dòng lịch sử, và đặc biệt là qua ngôn ngữ phụng vụ Đông phương và Tây phương. Các thánh giáo phụ và tiến sĩ Hội thánh, hòa tiếng với phụng vụ, trong các lễ kính Đức Mẹ hồn xác lên trời đã nói rõ về sự phục sinh và tôn vinh thân xác Đức Trinh Nữ như một chân lý được mọi tín hữu biết đến và chấp nhận. Các nhà thần học, khi bàn về vấn đề này, cho thấy sự hài hòa giữa đức tin và lý trí thần học, cũng như sự hợp lý của đặc ân này, dựa trên các sự kiện, lời nói, hình ảnh và các phép so sánh trong Thánh Kinh. Khi đã xác định được đức tin của toàn thể Hội thánh, Đức Giáo hoàng cho rằng đã đến lúc chuẩn nhận điều đó bằng quyền tối thượng của ngài.

[2] Petitiones de Assumptione corporea B. Virginis Mariae in Caelum definienda ad S. Sedem delatae, 2 tập, Nhà In đa ngữ Vatican, 1942.

[3] Sắc chỉ Ineffabilis Deus: Acta Pii IX, phần I, tập 1, tr. 615; EE 2/phụ lục.

[4] X. Công đồng Vatican I, Hiến chế tín lý Dei Filius về đức tin Công giáo, chương 4: COD 808-809.

[5] Công đồng Vatican I, Hiến chế tín lý Pastor aeternus về Hội thánh Đức Kitô, chương 4: COD 816.

[6] Công đồng Vatican I, Hiến chế tín lý Dei Filius về đức tin Công giáo, chương 3: COD 807.

[7] Thông điệp Mediator Dei: AAS 39 (1947), tr. 541; EE 6/475.

[8] Sacramentarium Gregorianum.

[9] Menaei totius anni.

[10] Liber Pontificalis.

[11] Ibidem.

[12] Responsa Nicolai Papae I ad consulta Bulgarorum, ngày 13.11.866.

[13] Thánh Gioan Đamascênô, Encomium in Dormitionem Dei Genetricis semperque Virginis Mariae, bài giảng II, đoạn 14; x. cả đoạn 3.

[14] Thánh Ghermanô thành Constantinople, In sanctae Dei Genetricis Dormitionem, bài giảng I.

[15] Encomium in Dormitionem sanctissimae Dominae nostrae Deiparae semperque Virginis Mariae, đoạn 14.

[16] X. Thánh Gioan Đamascênô, Encomium in Dormitionem Dei Genetricis semperque Virginis Mariae, bài giảng II, các đoạn 2, 11; Encomium in Dormitionem....

[17] Amêđêô thành Lausanne, De Beatae Virginis obitu, Assumptione in Caelum, exaltatione ad Filii dexteram.

[18] Thánh Antôn Padova, Sermones dominicales et in solemnitatibus, bài giảng về lễ Đức Maria hồn xác lên trời.

[19] Thánh Albertô Cả, Mariale sive quaestiones super Evangelium "Missus est", câu hỏi 132.

[20] Thánh Albertô Cả, Sermones de sanctis, bài giảng XV: In Annuntiatione B. Mariae; x. thêm: Mariale, câu hỏi 132.

[21] X. Summa Theologica, III, q. 27, a. 1 c.; ibid., q. 83, a. 5 ad 8; Expositio salutationis angelicae; In symbolum Apostolorum expositio, art. 5; In IV Sent., D. 12, q. 1, art. 3, sol. 3; D. 43, q. 1, art. 3, sol. 1 et 2.

[22] X. Thánh Bônaventura, De Nativitate B. Mariae Virginis, bài giảng 5.

[23] Thánh Bônaventura, De Assumptione B. Mariae Virginis, bài giảng 1.

[24] Thánh Bênađinô thành Siena, In Assumptione B.M. Virginis, bài giảng 2.

[25] Idem, l.c.

[26] Thánh Rôbêtô Bellarminô, Conciones habitae Lovanii, bài giảng 40: De Assumptione B. Mariae Virginis.

[27] Oeuvres de St François de Sales, bài giảng viết tay cho lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời.

[28] Thánh Alphongsô Maria de’ Liguori, Le glorie di Maria, phần II, bài nói chuyện 1.

[29] Thánh Phêrô Canisiô, De Maria Virgine.

[30] Francisco Suarez, In tertiam partem D. Thomae, vấn đề 27, bài 2, cuộc tranh luận 3, phần 5, số 31.

[31] Sắc chỉ Ineffabilis Deus: sđd, tr. 599; EE 2/phụ lục.