SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA

NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO NĂM 1981
Hoạt động loan báo Tin Mừng của gia đình

Anh chị em thân mến trong Chúa Kitô!

Ngày Thế giới Truyền giáo là một biến cố quan trọng trong đời sống của Giáo hội. Có thể nói tầm quan trọng của nó đang gia tăng không ngừng.

Có lẽ chưa bao giờ như hôm nay, nhiệm vụ được Đấng sáng lập trao cho Giáo hội của Ngài: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19; x. Mc 16, 15), đã mang tính bao quát và cấp bách như thế. Hơn bao giờ hết, Giáo hội phải thực hiện lời của vị tông đồ: “khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cor 9,16).

1. Cho một Giáo hội truyền giáo

Ngày Thế giới Truyền giáo là một cơ hội tuyệt vời để nắm bắt chung về nhận thức của bổn phận truyền giáo và để nhắc nhở mọi thành phần trong Giáo hội, bất kể chức vụ gì hay địa vị nào của họ có liên can đến bổn phận này. Mọi người phải suy gẫm các bản văn hùng hồn của Công đồng Vaticano II, nơi xác định rõ toàn thể Giáo hội là truyền giáo, mà công việc loan báo Tin Mừng là bổn phận cơ bản của Dân Thiên Chúa” (AG số 35) và mỗi môn đệ của Chúa Kitô là một phần trong sứ vụ truyền bá đức tin (LG số 17). Cần không ngừng lấy lại sự giảng dậy của Công đồng, được diễn tả trong rất nhiều tài liệu, được nghiên cứu từ Thượng Hội Đồng Giám mục năm 1974 và được tổng hợp từ Đức Thánh Cha Phaolô VI trong tông huấn “Loan báo Tin Mừng” ngày 8 tháng 12 năm 1975. Một lần nữa, tôi xin anh chị em quay trở lại những tài liệu này, chúng thường được trích dẫn, bởi vì tôi xác tín về tầm quan trọng của chúng, phải luôn được đào sâu càng nhiều hơn nữa.

Ngày Thế giới Truyền giáo là cơ hội để mỗi người thực hiện một sự thẩm vấn lương tâm về vấn đề này và chỉ ra cho Dân Chúa thấy giáo huấn của Giáo hội: thật vậy, tương lai của việc loan báo Tin Mừng cho thế giới đang bị đe doạ. Nếu tất cả các Kitô hữu được thuyết phục về bổn phận truyền giáo của mình, thì những khó khăn sẽ nhẹ đi rất nhiều.

Theo nghĩa này, thật là nguồn hy vọng lớn lao khi nhìn thấy các cộng đoàn nhỏ đang sinh sôi nảy nở trong thế giới, năng động và cởi mở; họ đã hiểu rõ trách nhiệm riêng của mình trong việc công bố Tin Mừng, hứa hẹn một sự thăng tiến cho một thế giới tốt đẹp hơn.

Một hiện tượng khác khiến chúng ta vui mừng và cảm tạ Chúa đó chính là sự ra đời của một phong trào truyền giáo trong các Giáo hội trẻ, từ những người rao giảng Tin Mừng trở thành những người được rao giảng Tin Mừng. Trong nhiều quốc gia truyền giáo, con số các nhà truyền giáo ra đi mang sứ điệp Tin Mừng cho những người ngoài Kitô giáo, có thể là những vùng khác nhau trong đất nước của họ, có thể là các quốc gia khác nhau, có thể là các lục địa khác nhau, đang tăng lên từng ngày. Ở mỗi châu lục, hiện nay các nhà truyền giáo xuất phát từ mỗi quốc gia trên thế giới.

Các Giáo hội trẻ, một khi được trở nên các nhà truyền giáo, họ phải chứng tỏ sự trưởng thành của mình trong đức tin. Họ hiểu rằng một Giáo hội địa phương không truyền giáo, thì không hoàn toàn là Công giáo. Thật vậy, nếu toàn thể Giáo hội là truyền giáo, thì các Giáo hội địa phương cũng phải như vậy: “Các Giáo hội này được thành lập theo hình ảnh của Giáo hội phổ quát: chính nhờ và trong các Giáo hội ấy mà có một Giáo hội Công giáo, duy nhất” (LG số 23). Một Giáo hội đóng kín chính mình, không cởi mở cho việc truyền giáo thì chưa phải là một Giáo hội hoàn thiện hoặc là một Giáo hội bệnh hoạn. Chẳng hạn về việc thức tỉnh truyền giáo trong các Giáo hội trẻ có thể nhắc sự thật này cho các Giáo hội lâu đời, vì các Giáo hội ấy, sau khi đã phát triển với một nỗ lực đáng ngưỡng mộ, đôi khi họ dường như chán nản và nghi nghờ về bổn phận truyền giáo của họ.

2. Việc phục vụ truyền giáo của Đức Thánh Cha

Bổn phận truyền giáo này nhắc nhở Đức Thánh Cha và tất cả các Anh em của Ngài trong Chúa Kitô. Với tư cách là mục tử tối cao của Giáo hội hoàn toàn truyền giáo, ngài phải là nhà truyền giáo đầu tiên, cố gắng theo gương Chúa Kitô, “nhà truyền giáo đầu tiên tuyệt vời nhất” (EN số 7), và đặt mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, “Tác nhân chính của việc loan báo Tin Mừng” (EN số 75).

Từ khi bắt đầu triều đại Giáo Hoàng của tôi, tôi đã suy nghĩ những lời của Công đồng Vaticano II, rằng người kế vị thánh Phêrô “là người được đặc biệt ủy thác nhiệm vụ cao cả truyền bá danh hiệu Kitô hữu” (LG số 23; x. EN số 67). Theo gương vị tiền nhiệm Phaolô VI, tôi bắt đầu lên đường đi thăm nhiều quốc gia, trong đó có một số nước, Chúa Kitô mới được biết đến hoặc việc loan truyền Tin Mừng vẫn chưa hoàn tất. Các chuyến đi của tôi ở Châu Mỹ La Tinh, Châu Phi và Châu Á có “mục đích tôn giáo và truyền giáo”, như tôi đã nói trước khi lên đường đến Châu phi. Tôi muốn tự mình công bố Tin Mừng, bằng cách làm cho mình trở thành một giáo lý viên lưu động, và khuyến khích tất cả những người đang phục vụ Hội thánh, cho dù họ đến từ quốc gia của mình, hay đến từ các quốc gia khác để phục vụ một Giáo hội địa phương. Tôi muốn bày tỏ sự kính trọng và diễn tả lòng biết ơn của tôi nhân danh Giáo hội hoàn vũ.

Những chuyến hành trình đã cho phép tôi chiêm ngưỡng đức tin, sự phong phú tinh thần và sức sống của các Giáo hội trẻ, để chia sẻ niềm vui, nhu cầu và những đau khổ của họ, khuyến khích họ nỗ lực nhằm bén rễ sâu vào đức tin Kitô giáo trong nền văn hoá riêng của họ. Việc tiếp xúc với số lượng lớn những người vẫn còn chưa biết Chúa Kitô đã làm cho tôi xác tín hơn trước đây về sự khẩn cấp của việc loan báo Tin Mừng. Thế giới rất cần Chúa Kitô! Và những người đi tiên phong trong sứ vụ loan báo Tin Mừng này biết rõ điều đó hơn bất kỳ người nào. Sự cộng tác của tất cả các Giáo hội trong việc loan báo Tin Mừng của thế giới không được giảm sút.

3. Hoạt động loan báo Tin Mừng của gia đình

Kêu gọi sự cộng tác của tất cả mọi người cho công cuộc truyền giáo, trước hết tôi muốn ngỏ lời với các gia đình Kitô giáo. Thời đại của chúng ta cần đặt lại giá trị về tầm quan trọng của gia đình, đời sống và sự cân bằng của gia đình. Điều này đúng trên bình diện con người: gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, là nền tảng của những phẩm chất sâu sa của nó. Và điều này đúng ngay cả đối với Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô, là Giáo hội; đó chính là lý do Công đồng đặt cho gia đình một danh hiệu xinh đẹp là “Giáo hội tại gia” (LG số 11). Việc loan báo Tin Mừng của gia đình, do đó, là mục tiêu chính của hoạt động mục vụ, và điều này lần lượt không đạt được đầy đủ mục đích riêng của nó, nếu các gia đình Kitô giáo không trở nên chính những người loan báo Tin Mừng và các nhà truyền giáo: đào sâu ý thức tinh thần cá nhân đảm bảo rằng mỗi người, cha mẹ và con cái, có vai trò riêng và tầm quan trọng riêng của mình đối với đời sống Kitô hữu của tất cả các thành viên khác trong gia đình.

Không còn nghi ngờ gì nữa, về khía cạnh tôn giáo cũng như khía cạnh con người, hoạt động của gia đình tuỳ thuộc vào cha mẹ, vào nhận thức về trách nhiệm riêng của mình, vào giá trị Kitô giáo của họ. Vì vậy, tôi muốn đặc biệt hướng về các gia đình. Bằng lời nói và chứng tá bằng đời sống của họ như tông huấn “Giáo lý trong thời đại của chúng ta” dạy: các bậc cha mẹ là những giáo lý viên đầu tiên của con cái họ” (xem số 68). Trong hoạt động này, cầu nguyện phải là mối quan tâm hàng đầu và tôi xin phép phải nhấn mạnh về điểm này. Thật vậy, mặc dù nhận thấy có sự biến đổi tốt đẹp đó đây, nhưng cầu nguyện vẫn còn khó khăn đối với nhiều Kitô hữu ít cầu nguyện. Họ tự hỏi: cầu nguyện để phục vụ cho cái gì? Có thích hợp với cảm thức hiện đại của chúng ta về hiệu quả hay không? Chả lẽ có gì hẹp hòi trong việc đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của thế giới bằng việc cầu nguyện sao?

Trước những khó khăn này, chúng tôi không ngừng trình bày việc cầu nguyện Kitô giáo không thể tách rời khỏi niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần; khỏi đức tin của chúng ta trong tình yêu và quyền năng cứu độ của Ngài, vốn đang thực hiện ở trong thế giới. Vì vậy, lời cầu nguyện có giá trị trước hết đối với chúng ta: Lạy Chúa, “xin tăng thêm đức tin cho chúng con!” (Lc 17, 6). Đức tin có mục đích hoán cải chúng ta, nghĩa là, như thánh Cipriano đã giải thích, sự sẵn sàng bên trong và bên ngoài, ý chí tự mở ra cho hành động biến đổi của Ân Sủng. “Ngài nói: xin cho danh cha cả sáng..., chúng ta xin một cách kiên trì bởi vì chúng ta được thánh hoá qua bí tích rửa tội, để kiên trì trong những điều chúng ta đã bắt đầu được... Nước Cha trị đến: chúng ta xin Nước Thiên Chúa thực hiện giữa chúng ta theo nghĩa chúng ta khẩn cầu danh của Ngài được cả sáng trong chúng ta... rồi chúng ta thêm: ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời, bởi vì chúng ta có thể làm điều mà Thiên Chúa muốn... Ý muốn của Thiên Chúa là điều mà Chúa Kitô đã thực hiện và đã dạy (thánh Cipriano, “De oratione domenica”). Sự thật của lời cầu nguyện liên hệ đến sự thật của đời sống; cầu nguyện là hai mặt nguyên nhân và kết quả của một lối sống đặt dưới ánh sáng của Tin Mừng. Theo nghĩa này, lời cầu nguyện của cha mẹ, cũng như lời cầu nguyện của cộng đoàn Kitô hữu, sẽ là sự khởi đầu của các con trong việc tìm kiếm Thiên Chúa và lắng nghe lời mời gọi của Ngài. Vậy chứng nhân của một đời sống sẽ nhận ra trong tất cả giá trị của nó. Nó giả thiết rằng con cái học được từ gia đình, như kết quả bình thường của lời cầu nguyện, để nhìn ra thế giới bằng cặp mắt Tin Mừng trong tư cách là Kitô hữu! Điều này cũng giả thiết rằng con cái trong gia đình, học được một cách cụ thể rằng trong đời sống, có rất nhiều điều cần quan tâm sâu sa hơn tiền của, kỳ nghỉ hay giải trí! Vậy thì việc giáo dục truyền đạt cho con cái khả năng mở ra cho sự năng động truyền giáo như cho một chiều kích bên trong của đời sống Kitô hữu, bởi vì cha mẹ và các nhà giáo dục biết làm cho mình thấm nhuần tinh thần truyền giáo, vốn không thể tách rời ý nghĩa của Giáo hội. Với gương sống của họ, thậm chí nhiều hơn cả lời nói, chỉ dậy cho con cái của họ có lòng quảng đại hướng về những người yếu đuối hơn, để chia sẻ đức tin và vật chất với các trẻ em và những người trẻ vẫn chưa được biết Chúa Kitô hoặc những nạn nhân đầu tiên của sự nghèo đói và thiếu hiểu biết. Vậy thì, các cha mẹ Kitô hữu trở thành những người có khả năng quan sát sự trổ hoa của ơn gọi Linh mục hay Tu sĩ truyền giáo như một trong những bằng chứng đẹp nhất về tính xác thực của việc giáo dục Kitô hữu được truyền đạt từ họ và họ cầu nguyện: lạy Chúa xin hãy gọi một trong những đứa con của con. Như thế, sự quan tâm truyền giáo được biểu lộ như một yếu tố thiết yếu của sự thánh thiện của gia đình Kitô giáo. Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I nhấn mạnh: “bằng lời cầu nguyện của gia đình, Giáo hội tại gia trở thành một thực tại hiệu quả và mang đến một sự biến đổi thế giới. Và mọi nỗ lực của cha mẹ toả sáng tình yêu của Thiên Chúa nơi con cái họ, nâng đỡ họ bằng gương sáng đức tin, thiết lập một hoạt động tông đồ khá quan trọng giữa thế kỷ XX” (diễn văn gửi các Giám mục Châu Mỹ trong chuyến viếng thăm ad limina”, ngày 21 tháng 9 năm 1978, ASS 70, [1978], 767).

Trong trường hợp này tôi muốn gửi đến các bậc cha mẹ và tất cả những nhà giáo dục Công giáo một công việc quan trọng mà nó được thiết lập hơn một thế kỷ (1843), để giúp họ trong việc giáo dục truyền giáo, đặc biệt dành cho con cái, trong đó cung cấp cho họ các phương tiện thích đáng. Cha muốn nhắc đến Hội thánh Nhi, nhằm mục đích khuyến khích quảng bá tinh thần truyền giáo ở nơi các trẻ em.

4. Các Hội Giáo hoàng Truyền giáo nhằm phục vụ sứ vụ phổ quát

Việc tổ chức hoạt động truyền giáo trong tháng 10, tháng của các sứ vụ, trong đó Ngày Thế giới Truyền giáo là cao điểm, được trao cho các Hội Giáo hoàng Truyền giáo, bởi vì sự thiết lập ngày này là do sáng kiến của họ. Trong những năm gần đây, các Hội Giáo hoàng Truyền giáo đã được hình thành trong tất cả các Giáo hội trẻ. Ở khắp nơi các Hội có mục đích “khơi lên trong những người Công giáo, ngay từ tuổi thơ, một tinh thần thực sự Công giáo và phổ quát” (AG số 38). Như đã nói trong Qui chế mà tôi đã phê duyệt vào năm ngoái (16/6/1980), điều này tạo nên mục đích đầu tiên và chủ yếu của các Hội. Các Hội cũng được dành riêng để cổ võ sự cộng tác truyền giáo của mỗi Giáo hội địa phương, mỗi Giám mục, mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn, từng gia đình và từng người. Vì đây là bổn phận dành cho tất cả mọi người, nên nó có thể đòi hỏi mỗi người nâng đỡ hoạt động của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo như một ưu tiên.

Việc đẩy mạnh truyền giáo diễn tả bằng nhiều cách khác nhau. “Vì loan báo Tin Mừng trước hết là hành động của Chúa Thánh Thần, nên cần dành riêng chỗ nhất cho việc cầu nguyện và hy sinh”, như tôi vừa nhấn mạnh cũng như Qui chế của các Hội có lý khi nhắc nhở. Hơn nữa, cần có một nỗ lực chung và mạnh mẽ để làm nảy sinh và gia tăng các ơn gọi truyền giáo. Nếu thế giới cần Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài hơn bao giờ hết, thì số những người rao giảng Tin Mừng cũng phải được gia tăng cho cân xứng.

Sự cộng tác truyền giáo cũng có mục đích hỗ trợ vật chất cho công việc loan báo Tin Mừng. Bỏ qua hay chỉ trích khía cạnh này có thể là một cái cớ tinh vi để tuyên bố miễn trừ sự quảng đại. Những nhu cầu tài chính của các Giáo hội trẻ hầu hết thuộc các quốc gia thế giới thứ ba, vẫn còn rất lớn, mặc dù họ đã nỗ lực hết sức để đạt tới một nền tài chính tự trị. Đối với họ, cần một sự trợ giúp vừa dành cho các chủng viện, nơi bảo đảm việc huấn luyện và duy trì các Linh mục tương lai; vừa để nuôi các cộng tác viên truyền giáo hiện tại hoặc cho phép xây dựng các nhà thờ, các trường học, các trạm xá, các trung tâm cần thiết cho một hoạt động xã hội. Để đối phó với những nhu cầu cần thiết hằng ngày và thiết yếu, các Giáo hội trẻ cần phải cậy dựa vào sự trợ giúp thường xuyên và chắc chắn. Đó chính là lý do mà tôi kêu gọi tất cả mọi người, để họ đóng góp cho quĩ trung ương của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo mà mục đích thực sự của họ là để bảo đảm sự cộng tác thường xuyên này của họ. Chẳng hạn các Kitô hữu trong các quốc gia có hoàn cảnh khó khăn, mặc dù nghèo, họ trút món tiền dâng cúng nhỏ bé của mình, khiến cần phải nghĩ tới những người trong các nước giàu, họ thường cho đi một phần nhỏ trong cái dư thừa của họ.

Một lý do để vui mừng khi thấy gần đây rất nhiều Kitô hữu có sự quan tâm đến các nhu cầu của các quốc gia và của các Giáo hội thuộc thế giới thứ ba ngày càng tăng, cũng như sự gia tăng ngày càng nhiều những hình thức đáng kể và sáng kiến đặc biệt để hỗ trợ con người hoặc dự án trong các vùng này. Đây là dấu hiệu về ý thức truyền giáo và ý thức công lý đã trưởng thành. Tuy nhiên, nên chỉ định một vị trí đặc quyền cho các Hội Giáo hoàng Truyền giáo, để họ hỗ trợ cho việc loan báo Tin Mừng cách trực tiếp, đó là nhiệm vụ cơ bản và bổn phận của Giáo hội. Chính trong lời loan báo này nói lên nền tảng của sự phát triển thực sự và sự giải phóng con người thực sự.

Ngày nay, thông qua các chương trình viện trợ phổ quát của họ, các Hội Giáo hoàng Truyền giáo chăm sóc các nhu cầu của tất cả các Giáo hội trẻ mà không loại trừ bất kỳ Giáo hội nào. Sự phổ quát này là đặc tính riêng của họ. Đây chính là lí do tại sao những người làm tông đồ quan tâm đến đất nước của họ hoặc các dự án được thông báo cách cá nhân không trở nên độc quyền, nhưng phối hợp với nhau để nỗ lực loan báo Tin Mừng nhằm phục vụ tất cả các Giáo hội trẻ. Cho đến nay, mục tử của các Giáo hội này mang gánh nặng về vật chất và sáng kiến truyền giáo. Vì vậy, trong việc cộng tác truyền giáo, cần phải nghĩ đến điều gì trước tiên cho các Giáo hội trẻ, và đặc trưng cho tất cả các Giáo hội này. Do đó, cách thức cộng tác này có thể đưa đến hệ quả là làm cho chúng ta cảm thấy ít dấn thân một cách cá nhân và nhu cầu trao ban một cách vị tha hơn. Nhưng hình thức trao ban này có thể biểu lộ Tin Mừng hơn và hiệu quả hơn.

Chỉ có quỹ liên đới trung tâm mới có thể tránh được nguy cơ lãng quên một vài Giáo hội, nhất là những Giáo hội nghèo hơn, hoặc những nhu cầu cần thiết của họ. Chỉ thông qua một chương trình viện trợ phù hợp các nhu cầu khác nhau, người ta có thể tránh được trở ngại của óc địa phương và của những viện trợ. Đây chính là điều mà Hội đồng Tối cao của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo đang tìm kiếm, Hội đồng này bao gồm các vị đại diện của tất cả các Giáo hội và quyết định các lời khuyên và những thông tin của thánh bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các dân tộc.

Bởi vậy, tháng mười phải được coi là tháng truyền giáo phổ quát khắp nơi, tháng viện trợ truyền giáo lẫn nhau dưới sự che chở của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo. Vì lý do này, theo Qui chế mới của Bộ, các Giám mục được mời gọi “cầu nguyện cho những người có trách nhiệm của các hội Công giáo và các tín hữu từ chối lạc quyên, có căn tính đặc biệt, trong thời điểm này”. Trong quá khứ, đã có rất nhiều Giám mục, theo gương Toà Thánh, trực tiếp đưa ra ý kiến này.

Cuối cùng, anh chị em chắc chắn nên ghi nhớ điều này, sự cộng tác truyền giáo không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, trong đó tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải gánh chịu. Ước mong cuộc khủng hoảng này, không trở thành một cái cớ làm giảm đi lòng quảng đại của các tín hữu tại các quốc gia giàu có! Ước gì họ không quên rằng các quốc gia và các Giáo hội thuộc thế giới thứ ba còn bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi cuộc khủng hoảng này!

Để kết luận, tôi muốn nhắc cho anh chị em rằng việc cử hành Đại hội Thánh Thể quốc tế tại Lộ Đức trong tháng Bảy phải khuyến khích sự nhiệt tình truyền giáo của Giáo hội. Thánh Thể, là bí tích làm nên Giáo hội và là “nguồn mạch và đỉnh cao của tất cả đời sống Kitô hữu” (LG 11), là bí tích có ý nghĩa và thực hiện sự duy nhất giữa tất cả các thành phần của Giáo hội. Thánh Thể liên kết người này với người kia, thúc đẩy để chia sẻ niềm tin của họ, làm phong phú tinh thần của họ, những đau khổ và bánh ăn hằng ngày của họ. Vì vậy, những người tham dự Thánh Thể cũng được mời gọi tham gia vào sứ vụ của Đức Kitô, để mang sứ điệp của Ngài cho tất cả mọi người: vì thế, phụng vụ Thánh Thể phải là trung tâm việc cử hành của Ngày Thế giới Truyền giáo cho các xứ truyền giáo.

Nguyện xin Thiên Chúa, Đấng đã ban cho Giáo hội mệnh lệnh làm cho tất cả các quốc gia trở thành môn đệ của Ngài, có thể biểu lộ qua sức mạnh của chúng ta quyền năng mà ngài đã ban cho trên trời và dưới đất (x. Mt 28, 18-19)! Xin Đức Trinh nữ Maria, bổn mạng của các nhà truyền giáo giúp chúng ta đáp trả giáo huấn của Đức Kitô sống lại! Còn các con, anh em đáng kính trong hàng ngũ Giám mục đoàn, cho tất cả các nhà truyền giáo, những người cống hiến thân mình mà không thấy mệt mỏi vì mùa gặt, cho các cộng đoàn Giáo phận và nhất là cho nhiều người biết nhận ra lời mời gọi này và đáp trả với lòng quảng đại, được thúc đẩy từ sự đổi mới bên trong, tôi xin gửi tới anh chị em với cả tấm lòng phép lành tông đồ của tôi.

Vatican, ngày 07 tháng 07 năm 1981, năm thứ 3 triều đại Giáo hoàng của tôi.

GIOAN PHAOLÔ II

Chuyển ngữ: Ủy Ban Loan Báo Tin Mừng

WHĐ (07.07.1981)