I. GIÁO DỤC TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ (ASD)TRONG TRƯỜNG MẦM NON

II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THI HÀNH SỨ VỤ

1. TÂM

1.1 Chiều kích nội tâm – thiêng liêng

1.2 Chiều kích nhân bản – tâm lý

2. TRÍ

2.1 Điều kiện chuyên môn – sư phạm

2.2 Hiểu về trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD)

2.3. Vì sao cần can thiệp sớm cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD)?

2.4. Rối loạn phổ tự kỷ (ASD) không được gọi là “bệnh”

2.5. Cần can thiệp sớm để giảm thiểu những khó khăn đối với trẻ rối loạn phổ tự kỷ

2.6. Những lưu ý khi can thiệp giáo dục cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ ở lứa tuổi mầm non (dưới 6 tuổi)[10]

3. LỰC

4. CỘNG ĐỒNG

III. HƯỚNG ĐẾN MỘT MÔ HÌNH CAN THIỆP SỚM VÀ LỚP HÒA NHẬP TRONG TRƯỜNG MẦM NON

1. Định nghĩa, những thuận lợi và những khó khăn

1.1. Định nghĩa

1.2. Thuận lợi

1.3. Khó khăn

2. Nguyên tắc tổ chức mô hình

3. Mục tiêu giáo dụccho trẻ rối loạn phổ tự kỷ[12]

4. Nguyên tắc giáo dục rối loạn phổ tự kỷ[13]

5. Giáo dục “Lấy trẻ rối loạn phổ tự kỷ là trung tâm”[14]

6. Giáo dục có cấu trúc[15]

7. Chương trình và phương pháp giáo dục dựa trên các bằng chứng khoa học[16]

8. Đầu tư cơ sở vật chất (gợi ý)

9. Sĩ số học sinh cho 1 lớp hòa nhập (gợi ý)

10. Cơ cấu nhân sự (gợi ý)

IV. HƯỚNG MỤC VỤ: GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA CÙNG CHUNG TAY

1. Những buổi gặp gỡ phụ huynh định kỳ

2. Những nhóm hỗ trợ

3. Những giúp đỡ về vật chất, kinh phí cho sứ vụ

4. Cầu nguyện và đồng hành thiêng liêng

V. KẾT

I. GIÁO DỤC TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ (ASD)TRONG TRƯỜNG MẦM NON

Ơn gọi thừa sai của người nữ tu hôm nay trong lãnh vực giáo dục mầm non – đặc biệt dành cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD), là lời đáp trả tình yêu Thiên Chúa bằng sự tận hiến, dấn thân trong sứ vụ giáo dục khi chăm sóc, và đồng hành với những trẻ mầm non bé nhỏ, yếu đuối và dễ tổn thương. Đây không chỉ là một công việc chuyên môn, mà còn là sứ mạng thừa sai của tình yêu. Vì sao? Bởi khi thực hiện sứ mạng này, người nữ tu còn gieo niềm hy vọng cho cha mẹ của các em, khơi dậy tiềm năng của trẻ, giúp trẻ từng bước hòa nhập, hưởng trọn vẹn niềm vui của tuổi thơ, lớn lên trong an bình và sống một cuộc đời hạnh phúc như bao trẻ bình thường khác.

Khi dấn thân trong sứ vụ này, người nữ tu sẽ trở nên dấu chỉ của lòng thương xót và sự hiện thân tình yêu dịu dàng của Đức Kitô, để mỗi trẻ, dù mang nơi mình những giới hạn của rối loạn phổ tự kỷ – vẫn cảm nhận mình được yêu thương, được trân trọng và có chỗ đứng trong cộng đồng nhân loại và trong chính Trái Tim Thiên Chúa.

II. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THI HÀNH SỨ VỤ

Để có thể thực hiện tốt sứ vụ đặc biệt này, cần phải có tâm và có tầm, hay nói cách khác, cần đầu tư cả tâm – trí – lực cũng như có được sự hỗ trợ từ cộng đồng.

Người nữ tu tham gia sứ vụ đặc biệt này luôn học để hiểu biết và không ngừng khám phá thêm về trẻ đặc biệt này. Ngoài những đặc điểm cơ bản của những trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, mỗi trẻ lại có mức độ và những biểu hiện không giống nhau, có nhu cầu, sở thích, khả năng, tiềm năng… rất khác nhau; mỗi trẻ như một thế giới riêng biệt. Vì thế, không thể xếp chung các bé rối loạn phổ tự kỷ vào một loại hay vài loại, cũng không thể dùng chung một phương pháp giảng dạy, càng không thể tiếp cận với từng bé, giúp bé thành công mà không đồng hành liên tục để hiểu về bé mỗi ngày nhiều hơn.

Ngoài tâm huyết và chuyên môn của người nữ tu thi hành sứ vụ này, còn cần đến sự hỗ trợ của gia đình, học đường, giáo xứ và cả cộng đoàn sứ vụ. Nhưng, trên tất cả, chiếc chìa khóa vạn năng giúp chúng ta thi hành sứ vụ đặc biệt này, chính là tình yêu thương dành cho các em. Vì nhờ tình yêu thương ấy, chúng ta có thể mở cánh cửa đến từng thế giới rất riêng của các em, bước vào và chạm tới được tâm hồn các bé.

1. TÂM

1.1 Chiều kích nội tâm – thiêng liêng

Vì là một sứ vụ đặc biệt mà Thiên Chúa mời chúng ta dấn bước, trước hết, và căn bản, người nữ tu phải biết luôn kết hợp với Chúa, nhìn thấy Chúa trong tâm hồn các em, để yêu thương, trân quý, kiên nhẫn trong khi giáo dục các em. Nhờ đó, chúng ta có khả năng để tiếp cận với từng bé khi can thiệp cá nhân và giải gỡ những “bối rối” vì không biết phải sử dụng phương pháp nào, cách nào, cho mỗi một “ca lâm sàng” rất đặc biệt; hoặc làm thế nào để đơn sơ làm bạn với trẻ, chơi với trẻ, trong tính khiêm hạ như Chúa cúi xuống trên các em.

Thứ đến, chúng ta cũng đừng sợ mang trẻ có rối loạn phổ tự kỷ vào lời cầu nguyện của mình khi bỗng nhiên bị chia trí trong giờ kinh, trong Giờ Chầu Thánh Thể (có thể đó là một trường hợp đặc biệt mà chúng ta đang bận tâm lo lắng khi thấy mình không đủ kiến thức chuyên môn…). Đừng sợ những chia trí kiểu đó! Hãy dâng luôn những chia trí ấy cho Chúa, kể cho Chúa nghe về đứa trẻ và rồi, hãy đặt đứa trẻ ấy vào lòng Ngài, bình tâm phó dâng bé ấy cho Chúa lo liệu, vì chính Chúa đã nói: “Cứ để trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng.” (Mt 19,14)

Vấn đề ở đây là chúng ta cần sự cậy trông, tín thác hoàn toàn cho Chúa, an tâm để Chúa dẫn dắt mình trên con đường sứ vụ đầy thách đố này. Đồng thời, chúng ta nhận ra những khó khăn ấy cũng là những cơ hội để cho mình nên thánh, sống trọn vẹn ơn gọi được sai đi. Người nữ tu hãy chỉ sợ bị lạc hướng, đánh mất chính mình, chỉ vì đã chọn công việc của Chúa, thay vì chọn chính Chúa.

Chỉ khi có đời sống kết hiệp thâm sâu với Chúa, kín múc sức mạnh từ Lời Chúa và Thánh Thể, người nữ tu mới có thể trung thành với sứ vụ, kiên nhẫn, hiền hòa cùng với tình yêu thương vô điều kiện trong khi đón nhận sự khác biệt của từng trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Nhờ vậy, trong từng lời nói, hành động, cách ứng xử của người nữ tu đối với trẻ và với cha mẹ trẻ luôn luôn phản chiếu lòng thương xót và sự khiêm nhường thẳm sâu của Đức Kitô.

Ngay từ khi được Bề trên phân công thi hành sứ vụ, người nữ tu nhận công việc phục vụ trẻ đặc biệt như một sứ mạng thừa sai, chứ không phải như một công việc trong xã hội! Thế nên, ngay cả khi thành công trong sứ vụ, được phụ huynh tín nhiệm, giúp được rất nhiều trẻ rối loạn phổ tự kỷ hòa nhập vào cuộc sống, thì người nữ tu vẫn ý thức rằng: mình chỉ là công cụ Chúa dùng, mọi ơn lành đều phát xuất từ nơi Chúa, nguyện cho Danh Chúa được vinh quang.

1.2 Chiều kích nhân bản – tâm lý

Thực tế khi đối diện với những hành vi khó khăn của trẻ, người nữ tu cũng khó kiên nhẫn và không tránh khỏi những cảm xúc chán nản khi chính mình đã áp dụng những phương pháp can thiệp được học mà không thấy hiệu quả cao trên trẻ như mình mong muốn, nhất là khi áp lực ấy đến từ phía cha mẹ trẻ, cũng ít nhiều gây ảnh hưởng. Chúng ta chỉ có thể kiên nhẫn khi đặt mình vào hoàn cảnh của phụ huynh để hiểu những đau khổ của người cha, người mẹ khi thấy con mình không bình thường như bao trẻ khác. Đau khổ ấy còn nặng nề hơn nữa khi đứa trẻ ấy lại là con một duy nhất của gia đình. Thế nên, họ có thể không chấp nhận sự thật về con mình, khi được thông báo kết quả chẩn đoán từ các chuyên viên – bác sĩ nhi, bác sĩ tâm lý – rằng con họ có rối loạn phổ tự kỷ! Bao hy vọng tương lai về con cái của họ đã sụp đổ! Họ không muốn tin, cũng không muốn chấp nhận sự thật đó!

Nhưng một khi đã chấp nhận sự thật, họ sẽ tìm mọi cách để con mình được “chữa lành”. Nếu có điều kiện về kinh tế và thời gian, những cha mẹ đó sẵn sàng gác lại mọi chuyện, kể cả nghề nghiệp, hay việc kinh doanh buôn bán…, để đem con đi can thiệp tại trung tâm này, chạy đến các trung tâm khác nữa. Có những trường hợp, phụ huynh đau khổ thốt lên “Soeur ơi! Con tôi, rồi sẽ ra sao đây?”, bởi họ thấy sự can thiệp trên con không hiệu quả như họ mong đợi, và “thời gian vàng” can thiệp của con họ không còn nhiều nữa. Còn với những trường hợp cha mẹ eo hẹp kinh tế, lo cơm áo từng ngày, thì với họ, chi phí gửi con vào trường Mầm Non thôi cũng đã là chật vật lắm rồi, lấy tiền đâu ra mà cho con đi học can thiệp cá nhân?

Hiện nay, mức học phí can thiệp cá nhân tại nhiều trung tâm là khoảng từ 200.000 - 250.000 ĐVN/ 1giờ. Nếu một tháng cho con học can thiệp 25 giờ, thì phụ huynh cần phải chi cho con họ khoảng 5.000.000 – 6.250.000 VNĐ, chưa kể những học phí khác sau giờ can thiệp như tiếp tục cho con vào học trường mầm non hay lớp mầm non hòa nhập.

Lại có những phụ huynh cũng khá đặc biệt. Khi gửi con mình với những dấu hiệu phát triển không bình thường như bé chậm nói, không tương tác mắt, có những hành vi hay trò chơi rập khuôn…, họ đòi các nữ tu phải cho kết quả tốt nhất, nhanh nhất. Nếu không, họ phàn nàn, kêu trách... Trước những áp lực đó, người nữ tu cần làm chủ cảm xúc của mình, thật lòng thấu cảm và yêu thương những phụ huynh này. Như vậy, chúng ta mới có thể kiên nhẫn lắng nghe; không chỉ là những chia sẻ về thông tin của con họ mà còn thấu cảm những cảm xúc tiêu cực đang đè nặng trên họ. Ước gì không những con họ được “chữa lành”, mà cả cha mẹ của trẻ có rối loạn phổ tự kỷ cũng vơi đi những nỗi buồn phiền, nhờ người nữ tu sẵn sàng đồng hành giúp họ mà không phán xét hoặc có định kiến về họ hay về con họ.

Bên cạnh đó, người nữ tu còn trở nên cầu nối giữa các bậc cha mẹ có con em rối loạn phổ tự kỷ: giúp phụ huynh gặp gỡ nhau, chia sẻ những hiểu biết, kinh nghiệm đồng hành cùng con, hầu có thể giảm bớt những gánh nặng của lo lắng, đồng thời được tiếp thêm nghị lực tích cực, tiếp tục cùng con họ vượt khó.

2. TRÍ

2.1 Điều kiện chuyên môn – sư phạm

Cần trang bị kiến thức và kỹ năng về giáo dục đặc biệt để hiểu và đồng hành với trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

2.1.1. Học tập chính quy và bồi dưỡng chuyên môn

– Tham gia các khóa đào tạo về Giáo dục đặc biệt (ví dụ: can thiệp sớm, phương pháp ABA, PECS, TEACCH, trị liệu ngôn ngữ…). Các khóa đào tạo học trực tiếp hoặc học online có cấp chứng chỉ do các trường Đại học Sư phạm tổ chức như Trường Sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3 (SPMGTW3) TP. HCM; Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương (SPTW) Nha Trang hay Trường Cao đẳng SPTW TP. Hà Nội.

– Tham dự các buổi tập huấn – hội thảo – chuyên đề do các trung tâm, các trường đại học hay Bệnh viện Nhi Đồng 2 – TP. HCM tổ chức với hình thức học trực tiếp hoặc học trực tuyến trên nền tảng Zoom.

– Tự học từ những tài liệu chuyên ngành: đọc sách, tạp chí khoa học, cẩm nang về can thiệp sớm, tâm lý phát triển trẻ ASD.[1]

– Tìm kiếm nhiều nguồn tài liệu, thông tin trên Internet: Ví dụ: website National Institute of Mental Health (NIMH)[2] – Autism Spectrum Disorder[3] (bản dịch tự động tiếng Việt[4]). Từ website này, chúng ta biết phổ tự kỷ là gì; nguyên nhân khiến trẻ có rối loạn phổ tự kỷ cũng như các dấu hiệu và triệu chứng của nó; cách chẩn đoán ở trẻ nhỏ và người lớn; các phương pháp hỗ trợ và điều trị… Tính giá trị và hữu ích của những nguồn thông tin này được đánh giá cao vì là những nghiên cứu khoa học của tổ chức chính phủ về sức khỏe tâm thần của Mỹ, với đội ngũ chuyên gia, tính cập nhật nghiên cứu mới và liên tục, thông tin rõ ràng. Những kiến thức tại đây không chỉ dành cho bác sĩ hay nhà nghiên cứu, nhưng còn dành cho phụ huynh, giáo viên, nên dễ hiểu.

– Tham gia học online từ các khóa học quốc tế uy tín, có cấp chứng chỉ: Coursera, edX, FutureLearn… có các khóa về Autism Education, Inclusive Education, Applied Behavior Analysis (ABA).

– Tham quan – Thực tập: tại các trung tâm giáo dục đặc biệt hoặc trường hòa nhập: quan sát trực tiếp, học cách thiết kế hoạt động, quản lý hành vi, phối hợp nhóm…

– Tham gia nhóm hỗ trợ phụ huynh – giáo viên: nhiều hội nhóm (offline/online) chia sẻ kinh nghiệm thực tế khi dạy trẻ ASD, giúp bổ sung kiến thức sống động.

– Học hỏi liên ngành: không chỉ từ giáo viên, mà còn từ chuyên viên ngôn ngữ trị liệu, âm ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu… để có cái nhìn toàn diện.

– Ứng dụng công nghệ cao: Ví dụ: sử dụng phần mềm AAC công nghệ cao (máy tính bảng) sử dụng được nút “xin” “giúp con”, AAC = Augmentative and Alternative Communication[5] (Giao tiếp Tăng cường và Thay thế)[6]. Loại công nghệ cao này có thiết bị tạo giọng nói (Speech Generating Devices, SGD), máy tính bảng/app với màn hình cảm ứng, biểu tượng hình ảnh, video hỗ trợ trong giao tiếp. Nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng AAC không làm trẻ bị “phụ thuộc” vào nó mà còn hỗ trợ phát triển lời nói nếu có cơ hội và được kết hợp đúng cách.

2.1.2. Học hỏi từ thực tiễn

– Thực tập, quan sát và tham gia trợ giảng trong các lớp dành cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ hoặc trường mầm non hòa nhập. Hiện nay có những trung tâm mà người đứng đầu là người Công giáo, có tâm huyết với những trẻ đặc biệt và sẵn sàng nhận các soeur thực tập miễn phí tại trung tâm của họ, thời gian có thể từ 3 tháng – 6 tháng (Ví dụ TT Giáo Dục Hòa Nhập Harmony Hồ Chí Minh.[7])

– Làm việc trực tiếp với chuyên viên (ngôn ngữ trị liệu, tâm lý, giáo dục đặc biệt) để học các phương pháp can thiệp.

– Ghi chép nhật ký sư phạm: theo dõi tiến bộ, hành vi, phản ứng của trẻ để rút kinh nghiệm.

2.1.3. Rèn luyện và phát triển kỹ năng mềm cần thiết

– Kỹ năng giao tiếp đa kênh: sử dụng cử chỉ, hình ảnh, bảng biểu, thẻ tranh (PECS) hoặc sử dụng app/hình ảnh AAC cải thiện khả năng diễn đạt và hiểu, đặc biệt khi phụ huynh và giáo viên cùng phối hợp thực hiện.

– Kỹ năng kiên nhẫn và quan sát tinh tế: nhận biết dấu hiệu nhỏ trong hành vi, cảm xúc của trẻ.

– Kỹ năng thiết kế hoạt động: biến trò chơi, sinh hoạt hằng ngày thành cơ hội giáo dục và trị liệu.

– Kỹ năng quản lý hành vi tích cực: biết cách củng cố hành vi tốt, giảm hành vi chưa phù hợp mà không gây áp lực cho trẻ.

Tóm lại, chỉ cần chúng ta muốn học, thì chung quanh ta đều có “trường, lớp”, đều có thầy cô! Mình có học cả đời cũng không hết, nhất là những nghiên cứu hiện nay về trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Quan trọng là chúng ta hãy xem việc học của mình không phải chỉ là để “giỏi nghề” mà là một bổn phận của sứ vụ: phục vụ bằng cả trái tim và cũng bằng cả trí tuệ nữa. Và, trên tất cả, “Hãy học cùng Giêsu”.

2.2 Hiểu về trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD)

Trong phạm vi bài này- chỉ là những gợi ý, chia sẻ tâm tư thao thức về một sứ vụ đặc biệt trong thời đại hôm nay mà người nữ tu nên tham gia nhiều hơn, và chuyên sâu nhiều hơn nữa, để đáp ứng những nhu cầu cấp bách của trẻ rối loạn phổ tự kỷ và của gia đình trẻ. Do đó, chúng ta chỉ đề cập một cách khái quát đến: khái niệm về trẻ rối loạn phổ tự kỷ, nguyên nhân, triệu chứng phổ biến về trẻ này (ASD), tỉ lệ trẻ tự kỷ hiện nay ra sao, và tầm quan trọng về “thời gian vàng” dành cho việc can thiệp, chữa trị. (Những phần như sàng lọc, chẩn đoán hay điều trị... xin dành cho những bài nghiên cứu chuyên sâu).

2.2.1. Khái niệm

Rối loạn phổ tự kỷ (ASD)Autism Spectrum Disorder là một rối loạn phát triển thần kinh ảnh hưởng đến cách tương tác với người khác, giao tiếp, học tập và hành vi của trẻ. Mặc dù tự kỷ có thể được chẩn đoán ở mọi lứa tuổi, nhưng nó được mô tả là “rối loạn phát triển”, vì các triệu chứng thường xuất hiện trong 2 năm đầu đời. Gọi là “phổ” (spectrum) vì mức độ và biểu hiện ở mỗi trẻ rất khác nhau: có em chỉ chậm nói nhẹ, nhưng cũng có em gặp khó khăn nặng nề trong mọi kỹ năng.

2.2.2. Các hành vi giao tiếp xã hội và tương tác xã hội của trẻ bị hạn chế:

Không phải tất cả những trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ đều có tất cả các hành vi dưới đây, nhưng hầu hết sẽ có một số hành vi được liệt kê như sau:

– Giao tiếp bằng mắt ít hoặc không nhất quán.

– Có vẻ như không nhìn hoặc không lắng nghe những người đang nói chuyện.

– Ít khi chia sẻ sở thích, cảm xúc hoặc niềm vui về đồ vật hoặc hoạt động (bao gồm việc ít khi chỉ tay hoặc cho người khác xem đồ vật).

– Không phản ứng hoặc phản ứng chậm khi nghe tên mình hoặc các lời chào.

– Gặp khó khăn trong việc trao đổi qua lại trong cuộc trò chuyện.

– Thường nói dài dòng về một chủ đề quan tâm mà không xem xét đến các tín hiệu xã hội hoặc sự trao đổi trong giao tiếp.

– Thể hiện nét mặt, cử chỉ và hành động không phù hợp với những gì đang nói.

– Có giọng nói khác thường, có thể nghe đều đều, thiếu cảm xúc hoặc thay đổi âm điệu.

– Gặp khó khăn trong việc hiểu quan điểm của người khác hoặc không thể dự đoán hoặc hiểu hành động của người khác.

– Khó khăn trong việc điều chỉnh hành vi phù hợp với các tình huống xã hội khác nhau.

– Khó khăn trong việc chia sẻ trò chơi tưởng tượng hoặc kết bạn.

2.2.3. Các hành vi hạn chế hoặc lặp đi lặp lại có thể bao gồm:

– Lặp lại một số hành vi nhất định hoặc có những hành vi bất thường, chẳng hạn như lặp lại các từ hoặc cụm từ (một hành vi được gọi là echolalia).

– Có hứng thú lâu dài và mãnh liệt với các chủ đề cụ thể, chẳng hạn như số liệu, chi tiết hoặc sự kiện.

– Thể hiện sự quan tâm quá mức, chẳng hạn như với các vật thể chuyển động (ví dụ ngắm bánh xe quay rất lâu giờ) hoặc với các bộ phận của vật thể.

– Trở nên khó chịu khi có những thay đổi nhỏ trong thói quen và gặp khó khăn khi chuyển đổi.

2.2.4. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ thường có những khác biệt về cảm giác như:

– Nhạy cảm hơn hoặc kém nhạy cảm hơn những người khác với các yếu tố cảm giác như ánh sáng, âm thanh, quần áo hoặc nhiệt độ.

– Trẻ mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ cũng có thể gặp vấn đề về giấc ngủ và cáu kỉnh.

2.2.5. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ cũng có thể có nhiều điểm mạnh như:

– Có khả năng học mọi thứ một cách chi tiết và ghi nhớ thông tin trong thời gian dài.

– Trở thành người học mạnh mẽ về thị giác và thính giác.

– Xuất sắc trong toán học, khoa học, âm nhạc hoặc nghệ thuật.

2.2.6. Nguyên nhân nào gây ra rối loạn phổ tự kỷ (ASD)?

Các nhà nghiên cứu chưa biết nguyên nhân chính gây ra rối loạn phổ tự kỷ, nhưng các nghiên cứu cho thấy gen các yếu tố môi trường của một người có thể ảnh hưởng đến sự phát triển theo những cách dẫn đến rối loạn phổ tự kỷ. Một số yếu tố liên quan đến khả năng mắc rối loạn phổ tự kỷ cao hơn, bao gồm:

– Có anh chị em mắc chứng phổ tự kỷ (di truyền trong gia đình).

– Có cha mẹ lớn tuổi.

– Biến chứng khi mẹ mang thai.

– Mắc một số bệnh lý di truyền nhất định (như hội chứng Down hoặc hội chứng X mỏng manh).

– Sinh non, có cân nặng khi sinh rất thấp

Tuy nhiên, không phải bất kỳ trẻ nào có những yếu tố trên đều có rối loạn phổ tự kỷ.

2.2.7. Những dấu hiệu cảnh báo sớm trẻ có rối loạn phổ tự kỷ (nên lưu ý):

– 6 tháng: Trẻ không cười, không đáp ứng vui vẻ hoặc có biểu hiện thích thú.

– 9 tháng: Trẻ không có sự tương tác qua lại bằng âm thanh, nụ cười hoặc biểu lộ bằng ánh mắt, nét mặt.[8]

– 12 tháng: Trẻ không nói bập bẹ nguyên âm. Trẻ không tương tác qua lại bằng cử chỉ, điệu bộ như chỉ ngón trỏ, với hoặc vẫy tay.

– Sau 12 tháng: Trẻ không phản ứng khi được gọi tên

– Sau 14 tháng: Không chỉ tay vào đồ vật để chia sẻ sự quan tâm.

– 16 tháng: Trẻ chưa nói được từ đơn.

– Sau 18 tháng: Không chơi trò chơi giả vờ (cho búp bê ăn, lái xe đồ chơi).

– 24 tháng: Trẻ chưa nói được câu 2 từ rõ nghĩa hoặc có dấu hiệu nhại lời.

– Trẻ mất kỹ năng ngôn ngữ hoặc mất kỹ năng xã hội ở bất kỳ lứa tuổi nào.

– Ít hoặc không giao tiếp bằng mắt, thích chơi một mình.

– Chậm nói, nhại lời, hoặc nói không phù hợp ngữ cảnh.

– Khó chịu trước những thay đổi nhỏ, có sở thích cứng nhắc.

– Thường lắc lư, vỗ tay, quay vòng.

Nếu thấy trẻ có những dấu hiệu trên, cha mẹ và nhà trường nên đưa trẻ đi khám sàng lọc, chẩn đoán và can thiệp sớm cho trẻ.

2.3. Vì sao cần can thiệp sớm cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD)?

2.3.1. Tỉ lệ trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷngày càng tăng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ trẻ tự kỷ ước tính khoảng 1/100 trẻ em (2022). Ở nhiều quốc gia, con số thống kê thực tế còn cao hơn, do việc chẩn đoán ngày càng chính xác. Tại Việt Nam, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy số lượng trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ có xu hướng tăng rõ rệt, đặt ra nhu cầu bức thiết cho công tác can thiệp sớm.

2.3.2. Thời gian vàng cho trẻ rối loạn phổtự kỷ:

Các chuyên gia khẳng định giai đoạn từ 0–6 tuổi, đặc biệt là trước 5 tuổi, là “thời gian vàng” để can thiệp.

2.3.3. Lý thuyết về “Sự cắt tỉa của synap thần kinh”:[9]

a/ Khái niệm:

Synap: là điểm nối kết giữa các tế bào thần kinh (nơ-ron), nơi truyền tín hiệu qua lại.

Synaptic pruning (cắt tỉa synap): là quá trình loại bỏ những synap ít sử dụng hoặc không cần thiết, giữ lại và củng cố những synap mạnh, thường xuyên được kích hoạt.

Nói đơn giản: não trẻ giống như một khu vườn, synap là các nhánh cây. Ban đầu mọc rất rậm rạp, nhưng sau đó “cắt tỉa” để cây gọn gàng và khỏe mạnh hơn.

b/ Quá trình phát triển synap ở trẻ 0–6 tuổi:

– Giai đoạn bùng nổ synap (0–3 tuổi)

- Khi sinh ra, trẻ có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh, nhưng kết nối giữa chúng còn rất ít.

- Trong 2–3 năm đầu, synap hình thành với tốc độ cực nhanh – mỗi giây có thể tạo hàng trăm ngàn synap.

- Đến khoảng 2–3 tuổi, số lượng synap nhiều gấp đôi người lớn.

- Đây là thời kỳ “cửa sổ vàng” cho học hỏi, tiếp nhận ngôn ngữ, vận động, cảm xúc.

– Giai đoạn cắt tỉa mạnh mẽ (3–6 tuổi):

- Bắt đầu từ khoảng 3 tuổi trở đi, não bước vào giai đoạn chọn lọc: những synap nào được dùng thường xuyên thì được củng cố (myelin hóa, kết nối mạnh), còn những synap ít hoạt động sẽ bị loại bỏ.

- Quá trình này giúp não tinh gọn, hiệu quả, tiết kiệm năng lượng.

- Đến 6 tuổi, cấu trúc não đã được định hình khá rõ, tạo nền tảng cho kỹ năng học tập, cảm xúc xã hội, tự kiểm soát hành vi.

c/ Cơ chế “cắt tỉa” synap:

– Nguyên tắc “use it or lose it” (dùng hoặc mất):

- Nếu trẻ thường xuyên nghe nhạc, giao tiếp, vận động… thì các synap liên quan đến hoạt động đó được củng cố.

- Nếu ít được kích thích → synap bị loại bỏ.

– Vai trò của môi trường và trải nghiệm:

- Tương tác với cha mẹ, người chăm sóc, chơi đùa, đọc sách, trò chuyện… đều là “nguyên liệu” cho việc giữ lại những synap quan trọng.

- Thiếu thốn kích thích (ví dụ: trẻ bị bỏ mặc, ít tiếp xúc xã hội) sẽ dẫn đến nhiều synap bị mất đi, ảnh hưởng lâu dài đến trí tuệ và cảm xúc.

d/ Ý nghĩa của quá trình cắt tỉa synap:

– Giúp bộ não trở nên chuyên biệt và hiệu quả theo trải nghiệm của từng đứa trẻ.

– Tạo nên sự khác biệt cá nhân: mỗi đứa trẻ có mạng lưới synap riêng, tùy thuộc vào những gì trẻ đã trải qua.

– Đặt nền tảng cho sự phát triển về:

- Ngôn ngữ (giai đoạn học nói, phát âm).

- Kỹ năng vận động (chạy, nhảy, cầm nắm).

- Kỹ năng cảm xúc – xã hội (biết chia sẻ, đồng cảm, tự kiểm soát).

e/ Tóm lại:

0–3 tuổi: não tạo synap ồ ạt, số lượng gấp đôi người lớn.

3–6 tuổi: bắt đầu “cắt tỉa” → giữ lại những kết nối quan trọng, loại bỏ cái ít dùng.

Nguyên tắc: “Dùng thì giữ – bỏ thì mất”.

Vai trò môi trường: càng được kích thích, yêu thương, trò chuyện, trẻ càng phát triển tối ưu.

2.4. Rối loạn phổ tự kỷ (ASD) không được gọi là “bệnh”

“Bệnh” thường hàm ý có nguyên nhân cụ thể (như vi khuẩn, virus, rối loạn miễn dịch...) và có thể chữa khỏi hoàn toàn bằng thuốc hoặc phẫu thuật.

Tự kỷ không phải do một “tác nhân gây bệnh” đơn lẻ nào gây ra. Đây là một rối loạn phát triển thần kinh (neurodevelopmental disorder), nghĩa là não bộ của trẻ phát triển theo một cách khác biệt so với thông thường, ảnh hưởng đến:

- Giao tiếp xã hội.

- Hành vi, sở thích, cách xử lý thông tin.

Vì vậy, rối loạn phổtự kỷ không có thuốc chữa khỏi hoàn toàn, nhưng có thể hỗ trợ – can thiệp – đồng hành để trẻ phát triển tốt nhất có thể.

2.5. Cần can thiệp sớm để giảm thiểu những khó khăn đối với trẻ rối loạn phổ tự kỷ

Khó khăn kéo dài: Trẻ thường gặp trở ngại trong ngôn ngữ, giao tiếp xã hội, và kỹ năng tự lập.

Gia tăng hành vi không phù hợp: Vì thiếu kỹ năng diễn đạt nhu cầu, trẻ dễ dùng hành vi tiêu cực (khóc, la hét, tự gây thương tích).

Giảm cơ hội học tập – hòa nhập: Khi vào tiểu học, trẻ khó theo kịp chương trình, dễ bị tách biệt, thậm chí bỏ học.

Tổn thương tâm lý: Cảm giác bị cô lập, không hiểu được người khác, dễ dẫn đến trầm cảm hoặc lo âu khi lớn lên.

Gánh nặng cho gia đình và xã hội: Cha mẹ căng thẳng, trẻ khó có việc làm, khó hòa nhập cộng đồng.

Tóm lại, nếu không can thiệp sớm, những khó khăn sẽ trở thành rào cản lớn (ví dụ: không biết diễn đạt nhu cầu → dễ bùng nổ cảm xúc, bị hiểu lầm, dẫn đến cô lập).

Can thiệp không phải để “biến trẻ thành người bình thường”, mà để giúp trẻ sống đúng với chính mình, đồng thời hòa nhập với cộng đồng.

Nói cách khác, nếu bỏ mất “thời gian vàng” (0–6 tuổi), việc can thiệp sau này vẫn có thể có hiệu quả, nhưng chậm hơn, khó hơn và ít trọn vẹn hơn.

2.6. Những lưu ý khi can thiệp giáo dục cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ ở lứa tuổi mầm non (dưới 6 tuổi)[10]

Trong can thiệp giáo dục sớm, đòi hỏi các hoạt động can thiệp giáo dục phải:

– Đủ về cường độ và thời gian 3 giờ mỗi ngày (3 giờ/ngày là lý tưởng, nhưng không phải là “chuẩn bắt buộc” cho mọi trẻ). Quan trọng là CHẤT LƯỢNG của giờ can thiệp và TÍNH NHẤT QUÁN giữa giáo viên can thiệp, giáo viên hỗ trợ trong lớp hòa nhập và GIA ĐÌNH. Nếu biết tận dụng các hoạt động thường ngày, phụ huynh hoàn toàn có thể hỗ trợ con mà không quá tốn kém, quá trình can thiệp vẫn tiến triển tốt.

– Chương trình và phương pháp giáo dục dựa trên các bằng chứng khoa học.

– Người thực hiện can thiệp giáo dục đòi hỏi phải được đào tạo và có kinh nghiệm thực hành.

– Vì có những bất thường trong cấu trúc kết nối hệ thống não bộ, nên trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ còn hiếu động hơn rất nhiều, một số trẻ còn có rối loạn cảm giác, vì thế trẻ cần nhiều trải nghiệm vận động – cảm giác hơn nữa, cần nhiều các hoạt động vui chơi với sự tham gia của cha mẹ và các thành viên trong gia đình..

– Môi trường can thiệp giáo dục chủ yếu diễn ra tại gia đình, bởi phần lớn trẻ sống và tiếp xúc với cha mẹ, người chăm sóc và các thành viên khác. Hoạt động can thiệp giáo dục chủ yếu dựa vào các hoạt động diễn ra theo lịch trình sinh hoạt của trẻ, kết hợp với các trò chơi vận động cảm giác vui nhộn có ý nghĩa sẽ đem lại những tác động tích cực đến trẻ.

– Và yếu tố then chốt trong giai đoạn can thiệp giáo dục này là- cần tập trung vào việc tư vấn, hướng dẫn, đào tạo cho cha mẹ, người chăm sóc về phương pháp can thiệp giáo dục, để hỗ trợ trẻ có hiệu quả nhất .

– Những nội dung can thiệp giáo dục sớm trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ cần bao phủ tất cả các kỹ năng phát triển của trẻ, chứ không phải chỉ chú trọng lời nói và giao tiếp. Trong đó, can thiệp giáo dục sớm sẽ tập trung vào các hoạt động:

- Hướng sự chú ý của trẻ tới những người xung quanh;

- Khiến các trò chơi xã hội trở nên thích thú hơn;

- Dạy trẻ các kỹ năng nền tảng để học hỏi;

- Chú ý đến khuôn mặt, giọng nói và hành động của người khác;

- Bắt chước, sử dụng lời nói, giọng điệu và điệu bộ cơ thể để giao tiếp;

- Chia sẻ cảm xúc, nhu cầu và sở thích với người khác;

- Hiểu ý nghĩa các thông điệp giao tiếp của người khác;

- Chơi với đồ chơi theo cách khuyến khích sự phát triển;

- Học cách hiểu và sử dụng lời nói;

- Giảm thiểu các hành vi ảnh hưởng tiêu cực đến việc học hỏi.

Tóm lại:

Nguyên tắc trong can thiệp giáo dục sớm trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ là:

– Đáp ứng với nguyên tắc chung trong can thiệp giáo dục;

– Toàn diện;

– Dựa trên các hoạt động chơi và các hoạt động can thiệp giáo dục;

– Dễ tiếp cận;

– Dễ đào tạo đối với gia đình;

– Có cấu trúc;

– Thực hiện tại các môi trường tự nhiên;

– Được thiết kế cá nhân hóa với trẻ và gia đình;

– Lôi kéo sự tham gia của nhiều thành viên khác trong cộng đồng.[11]

3. LỰC

Cộng đoàn – Cơ sở vật chất:

Xây dựng mô hình giáo dục hòa nhập Kitô giáo cho trẻ ASD: Là kết hợp giáo dục đặc biệt với đời sống đức tin, để mỗi em được phát triển kỹ năng, hòa nhập xã hội và cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa:

– Lấy Lời Chúa làm ánh sáng định hướng – “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Thầy” (Mt 19,14), và lấy Thánh Thể làm sức mạnh“Không có Thầy, các con không thể làm gì được” (Ga 1, 5): Vì thế, trong trường, lớp nên có một góc nhỏ đơn sơ, ở đó có thể tập cho trẻ làm dấu Thánh Giá, nói chuyện với Chúa mỗi ngày bằng những lời cầu nguyện tự phát đơn sơ, bằng những bài hát và câu Lời Chúa đơn giản. Có thể cho trẻ xem những truyện Kinh Thánh bằng hình ảnh và dạy trẻ đóng kịch, sắm vai những nhân vật trong Kinh Thánh rất đơn giản với 1-2 câu nói hoặc một bài múa hát v.v… Cũng có thể dẫn trẻ vào viếng Chúa trong nhà nguyện của Cộng đoàn; ở đó, trước Thánh Thể, người nữ tu dâng trao trẻ cho Chúa, để chính Chúa “chữa lành”. Hằng ngày hay mỗi dịp lễ hội, nên tổ chức cho trẻ các hoạt động bác ái ngay từ nhỏ: trẻ biết chia sẻ đồ chơi, biết chờ đến lượt chơi, biết quan tâm đến bạn…

Đối xử công bằng và tôn trọng sự khác biệt của trẻ: Vì khẳng định rằng mỗi trẻ rối loạn phổ tự kỷ đều là hình ảnh Thiên Chúa, có phẩm giá và ơn gọi riêng, do đó mọi trẻ, dù có rối loạn phổ tự kỷ hay không, đều có chỗ đứng trong lớp học, đều có chỗ trong trái tim của người nữ tu.

Hòa nhập toàn diện: không chỉ là học kiến thức và kỹ năng, nhưng cả đời sống thiêng liêng, văn hóa, xã hội; đồng thời gieo mầm niềm tin – hy vọng – tình thươngtrong tâm hồn trẻ ngay khi còn thơ bé.

4. CỘNG ĐỒNG

Cộng đoàn Hội Dòng- liên ngành:

Kết hợp chuyên môn giáo dục đặc biệt với Linh đạo của Hội Dòng.Khi chúng ta có được sự kết hợp như thế sẽlàm cho Linh đạo Dòng ngày càng phong phú, linh hoạt, rõ nét hơn, cách riêng trong sứ vụ đặc biệt này. Trên nền tảng đó, trong lời nguyện hằng ngày của cộng đoàn luôn dành cho sứ vụ và những chị em đang thi hành sứ vụ đó nhân danh Hội Dòng, chứ không làm việc với tư cách cá nhân.

Người nữ tu say mê dấn thân trong sứ vụ này sẽ lôi cuốn được chị em trong Hội Dòng không chỉ chung sức, chung lòng qua lời cầu nguyện mà còn chung tay giúp đỡ công việc, và ngày càng có nhiều chị em tham gia học thêm về Giáo dục Đặc biệt. Ước gì mỗi nữ tu khi tham gia dạy trẻ trong các lớp mầm non hôm nay cũng được học hỏi, tự tích cực trang bị thêm kiến thức và kỹ năng đủ để hỗ trợ trẻ rối loại phổ tự kỷ trong các lớp mầm non hòa nhập của Hội Dòng. Có như vậy, chúng ta vừa làm cho công việc của những giáo viên ở lớp mầm non hòa nhập bớt gánh năng, vừa giúp cho các kỹ năng của trẻ có rối loạn phổ tự kỷ được củng cố thường xuyên và mau chóng đạt kết quả.

Để phát triển sứ vụ, Hội Dòng nên dành ưu tiên mời gọi và cho những chị em yêu thích, có tâm huyết với sứ vụ, có những khả năng và đức tính phù hợp theo học và làm việc trong ngành này. Và chắc chắn, không thể thiếu sự đầu tư, hỗ trợ của Hội Dòng về cơ sở vật chất; sao cho phòng lớp phù hợp với trẻ, nhất là đầy đủ giáo cụ, học cụ dành riêng để can thiệp cá nhân cho trẻ.

Ngoài ra, người nữ tu còn cần phải quan tâm đến việc xây dựngnhịp cầu nối kết giữa gia đình – nhà trường – giáo xứ, giáo viên, chuyên viên liên ngành, để thống nhất cách can thiệp, để chia sẻ kinh nghiệm, để hiểu rõ bối cảnh gia đình, thói quen và điểm mạnh, điểm yếu của trẻ. Đồng thời qua các phương tiện truyền thông, chúng ta giúp mọi người trong xã hội – khởi đi từ những người gần mình nhất, trong khu vực dân cư mình sống – nhận ra giá trị và phẩm giá nơi trẻ có rối loạn phổ tự kỷ, khơi dậy tinh thần đồng cảm và liên đới của mọi người.

Làm thế nào để có thể truyền cảm hứng, khích lệ cả cộng đoàn dân Chúa và xã hội cùng dấn thân trong công cuộc này, khi mà sự báo động về tỉ lệ các trẻ phổ tự kỷ ngày càng cao, khi mà triệu chứng của phổ tự kỷ này còn được nhận ra nơi cả các em thanh thiếu niên: có thể các em đã có rối loạn phổ tự kỷ từ nhỏ, nhưng không được nhận diện, hoặc đã không được can thiệp trong thời gian vàng.

Đây không phải là một việc nhỏ, nên cần đến cả cộng đồng xã hội quan tâm giúp đỡ về cả tinh thần và vật chất; bằng việc dành cho trẻ sự yêu thương, tôn trọng và giúp đỡ, để trẻ bớt đi những khó khăn trong cuộc sống. Đó cũng là cách giúp gia đình và xã hội bớt đi những gánh nặng nhờ giúp các trẻ em rối loạn phổ tự kỷ được chữa lành, và được thực sự hòa nhập vào cuộc sống.

Tóm lại: cần hội tụ cả ba yếu tố TÂM (thiêng liêng & nhân bản) – TRÍ (chuyên môn) – LỰC (cộng đoàn & cơ sở hỗ trợ).

III. HƯỚNG ĐẾN MỘT MÔ HÌNH CAN THIỆP SỚM VÀ LỚP HÒA NHẬP TRONG TRƯỜNG MẦM NON

Hiện nay ở các thành phố lớn, cũng đã có những trung tâm can thiệp cho trẻ đặc biệt, những trường lớp hòa nhập; nhưng số lượng vẫn còn ít ỏi, chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho mọi trẻ rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Đó là chưa kể đến những trẻ vừa tự kỷ lại vừa tăng động giảm chú ý, hoặc những trẻ khuyết tật trí tuệ. Một đề nghị thiết thực và cấp thiết rằng: cần phải mở rộng, cần phải tăng thêm những trường mầm non theo mô hình này. Hiện nay, tại các tỉnh nhỏ, vùng thôn quê, nhất là vùng sâu vùng xa, vùng người đồng bào dân tộc sinh sống, cũng đã có nhiều trẻ bị tự kỷ, tăng động; nhưng lại không có các trung tâm dạy can thiệp gần trường, hoặc có mà rất ít. Một yếu tố khác nữa phụ thuộc vào chính kinh tế, gia cảnh khó khăn của phụ huynh, khiến cha mẹ, dù biết con mình bị rối loạn thần kinh, nhưng vì không đủ tài chính, không đủ thời gian cho con theo học các trung tâm can thiệp, nên “van nài” để được gửi con mình vào các nhóm lớp mẫu giáo dân lập, trường mầm non tư thục. Phần các hiệu trưởng, nhóm trưởng, cũng vì lòng thương nên đã nhận vào lớp những bé có rối loạn phổ tự kỷ hay tăng động. Tiếc thay, vì thiếu nhân sự có kiến thức và kỹ năng về giáo dục đặc biệt, nên trẻ chỉ “nhập mà không hòa” được. Kết quả là trẻ tiến bộ rất ít, nhất là vô tình đã “cướp” đi “thời gian vàng” của sự can thiệp đối với trẻ!

Những mô tả thực tế trên không nhằm xây dựng một mô hình lý tưởng về một ngôi trường hòa nhập hay lớp hòa nhập; vì cũng đã có những trường, lớp hòa nhập được mở rồi, nhưng là gợi ý về một mô hình khởi đầu với nhiều khó khăn hiện tại mà thực tế cho thấy. Tuy vậy, chúng ta hãy cứ can đảm bắt đầu, làm còn hơn là chẳng làm gì cả! Do đó, hy vọng mô hình gợi ý này sẽ có tính khả thi trong những giới hạn hiện nay về cơ sở vật chất trường lớp, kinh phí, nhất là về nhân sự.

1. Định nghĩa, những thuận lợi và những khó khăn

1.1. Định nghĩa

Trường mầm non hòa nhập là nơi trẻ bình thường và trẻ có nhu cầu đặc biệt (ASD) cùng học tập trong một môi trường chung, với sự hỗ trợ thích hợp.

1.2. Thuận lợi

– Trẻ rối loạn phổ tự kỷ được hòa nhập trong môi trường tự nhiên, sẽ có cơ hội phát triển bên cạnh những trẻ bình thường khác; các kỹ năng và thói quen tốt của trẻ được hình thành và củng cố liên tục, thường xuyên trong các giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ… (vd: kỹ năng tự phục vụ: rửa tay, đi vệ sinh…).

– Đa số các Hội Dòng nữ đều có sẵn cơ sở trường mầm non để tổ chức mô hình cho trẻ can thiệp cá nhân và nhận trẻ vào lớp hòa nhập.

– Người giáo viên là nữ tu khi thi hành sứ vụ trong lãnh vực này với tất cả tình thương và tâm huyết sẽ dễ tạo được sự tín nhiệm của phụ huynh và các giáo viên đồng nghiệp, thuận lợi cho việc làm cầu nối giữa gia đình – nhà trường – xã hội.

1.3. Khó khăn

– Hiện nay còn thiếu nhân sự có kiến thức và kỹ năng chuyên môn về giáo dục đặc biệt.

– Cơ sở vật chất còn thiếu phòng cách âm và đồ dùng dạy học can thiệp cá nhân cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

– Sĩ số lớp quá đông. Một lớp mẫu giáo bình thường khoảng 30-35 trẻ / 1 lớp. Chỉ cần đưa thêm vào lớp 1-2 trẻ tăng động vào lớp thôi là giáo viên cũng mệt mỏi, than trời! Vì thực tế, giáo viên còn phải “vật vã” với giáo án, sổ sách, làm đồ dùng dạy học; chưa kể đến áp lực khi Sở, Phòng GD đến thanh tra, hoặc kiểm tra của Trường…

2. Nguyên tắc tổ chức mô hình

Hòa nhập có hỗ trợ: Hòa nhập không phải là “đem tất cả trẻ đặc biệt về cùng một lớp” mà là tạo môi trường chung cho trẻ phổ tự kỷ và trẻ bình thường cùng hoạt động, nhưng trong lớp phải có nhân sự hỗ trợ chuyên biệt cho trẻ ASD (đa dạng hóa hoạt động, nhân sự hỗ trợ).

Cá thể hóa: mọi trẻ ASD đều cần Kế hoạch Giáo dục Cá nhân (IEP) phù hợp khả năng và nhu cầu.

Liên ngành: kết hợp giáo viên mầm non, giáo viên giáo dục đặc biệt, chuyên viên ngôn ngữ trị liệu/âm ngữ trị liệu, chuyên viên hoạt động trị liệu, tâm lý học.

Gia đình là trung tâm: Cha mẹ là “thầy cô” can thiệp quan trọng và trước tiên của trẻ, vì vậy cần hợp tác chặt chẽ với phụ huynh, tôn trọng bối cảnh gia đình, hướng dẫn thực hành tại nhà.

Linh đạo phục vụ: mô hình đào tạo, hành xử và mục vụ luôn gắn với đời sống cầu nguyện và tôn trọng phẩm giá con người.

Quy trình thực hiện: Bám sát những nguyên tắc, mục tiêu giáo dục khi tổ chức mô hình này, nhưng vẫn tích cực từng bước giải quyết những khó khăn về cơ sở vật chất, nhân sự, chuyên môn vv… Vấn đề là giữ vững những nguyên tắc bắt buộc, những mục tiêu then chốt, quan trọng, đồng thời linh hoạt trong cách thực hiện, giải quyết dần những vấn đề khó khăn, thuyết phục bề trên, hiệu trưởng và giáo viên đồng nghiệp…, cùng sự kiên trì và vững tin với niềm hy vọng. Đừng nản chí khi có ai đó làm việc bên cạnh mà có tư tưởng tiêu cực: “thấy cũng tội, mà thôi cũng kệ!”

3. Mục tiêu giáo dụccho trẻ rối loạn phổ tự kỷ[12]

Mục tiêu giáo dục chung: là hình thành và phát triển các năng lực cơ bản cho trẻ, làm nền tảng để giúp trẻ về lâu dài có thể sống độc lập, thành công và hòa nhập xã hội ở mức cao nhất.

Mục tiêu cụ thể:

- Giảm thiểu các khiếm khuyết cốt lõi (các khó khăn về giao tiếp và tương tác xã hội, các hành vi giới hạn, lặp lại) và các vấn đề đi kèm.

- Nâng cao khả năng độc lập nhất có thể, bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và đạt được các kỹ năng thích ứng.

- Loại trừ, giảm thiểu hoặc ngăn ngừa các hành vi không mong muốn làm cản trở sự phát triển các kỹ năng.

4. Nguyên tắc giáo dục rối loạn phổ tự kỷ[13]

Năm 2001, Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ đã đưa ra các tiêu chuẩn về chương trình can thiệp giáo dục hiệu quả cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ:

– Can thiệp bắt đầu càng sớm càng tốt.

– Chương trình can thiệp nên được cá nhân hóa cho từng trẻ, tính đến đặc điểm riêng, những điểm mạnh và thách thức của mỗi trẻ.

– Chương trình can thiệp nên được thiết kế và xem xét bởi một nhóm các nhà chuyên môn đa ngành được đào tạo bài bản.

– Chương trình nên cung cấp các tập hợp số liệu liên tục trong tiến trình trẻ thực hiện mỗi một kỹ năng, và sự điều chỉnh chương trình phải được thực hiện khi sự tiến bộ không rõ rệt.

– Trẻ được tích cực tham gia vào các hoạt động can thiệp, và nên nhận 25 giờ can thiệp mỗi tuần.

– Cha mẹ có liên quan mật thiết với các hoạt động can thiệp và việc xác định các mục tiêu ưu tiên, và nên được hướng dẫn để thực hiện các chiến lược can thiệp tại nhà.

5. Giáo dục “Lấy trẻ rối loạn phổ tự kỷ là trung tâm”[14]

– Mỗi trẻ tự kỷ là một cá thể riêng biệt, tất cả trẻ đều có cơ hội học tập theo những cách riêng phù hợp với trẻ.

– Giáo dục có sự tham gia tích cực của các thành viên trong gia đình trẻ; phối hợp cùng với các chuyên gia, nhà trị liệu, giáo viên nhằm đảm bảo hiệu quả tốt nhất có thể.

– Gia đình được hướng dẫn và trợ giúp trong suốt quá trình giáo dục.

6. Giáo dục có cấu trúc[15]

– Người tiến hành giáo dục được đào tạo theo chuyên ngành của mình.

– Chương trình giáo dục được cá nhân hóa, phù hợp với đặc điểm, khó khăn và nhu cầu của trẻ cũng như của gia đình.

– Chương trình giáo dục có thể điều chỉnh linh hoạt.

– Các hoạt động giáo dục được tổ chức có hệ thống, dễ tiếp cận đối với gia đình trẻ tự kỷ.

– Cung cấp môi trường học tập thuận lợi: Trẻ được an toàn và được tạo điều kiện để phát huy năng lực cá nhân.

– Có các hoạt động phù hợp nhằm hỗ trợ trẻ đi học hòa nhập.

– Có các hoạt động giúp trẻ có cơ hội tiếp xúc với trẻ cùng lứa phát triển bình thường.

7. Chương trình và phương pháp giáo dục dựa trên các bằng chứng khoa học[16]

– Được xây dựng dựa trên các học thuyết, có bằng chứng khách quan về tính hiệu quả thông qua các nghiên cứu khoa học.

– Được thiết kế dựa trên đặc điểm riêng của rối loạn phổ tự kỷ

– Tập trung vào việc phát triển các kỹ năng mà trẻ tự kỷ thiếu sót: chú ý, giao tiếp, bắt chước, ngôn ngữ, kỹ năng xã hội, nhận thức.

– Bao gồm các chiến lược giúp trẻ học các kỹ năng mới, và sử dụng chúng trong các bối cảnh khác nhau (khái quát hóa).

8. Đầu tư cơ sở vật chất (gợi ý)

Phòng cách âm: Cần thiết kế phòng cách âm, để tránh cho trẻ những sao nhãng về âm thanh, ánh sáng…) khi trẻ học can thiệp cá nhân. Môi trường học can thiệp của trẻ cần đơn giản, phù hợp với trẻ: ít hình ảnh mầu sắc kích thích, giảm đồ vật trang trí khiến trẻ bị phân tâm.

Có các góc chức năng rõ ràng: các góc học (góc động, góc tĩnh), góc nghỉ ngơi (góc thư giãn)… Các góc này trong các lớp mầm non bình thường cũng đã đầu tư theo yêu cầu chuyên môn của ngành; chỉ cần chú ý tạo thêm góc trị liệu nhỏ để GV2 hoặc“giáo viên hỗ trợ” hướng dẫn trẻ thêm với phương pháp phù hợp với trẻ khi trẻ gặp khó khăn trong việc thực hiện bài tập, hoặc chuẩn bị trước cho trẻ kỹ năng thực hiện một bài tập nào đó mà trong giáo án giáo viên 1 đã soạn và biết trẻ sẽ gặp khó khăn (ví dụ GV1 dạy số lượng 5, mà trẻ chưa thuần thục kỹ năng đếm đến 4), hoặc củng cố thêm những kỹ năng sau khi GV1 đã lên tiết dạy. Khi trẻ có rối loạn phổ tự kỷ làm được những bài tập như các bạn, trẻ sẽ thêm mạnh dạn, tự tin, dễ dàng hòa chung với các trẻ bình thường trong lớp.

Dụng cụ hỗ trợ giao tiếp: Thẻ hình; bảng PECS; iPad với ứng dụng công nghệ cao AAC trẻ dùng giao tiếp khi cần.

Đồ chơi, học cụ giảng dạy: Trong trường, lớp mầm non thường đã đầu tư về đồ chơi, học cụ giảng dạy. Những trò chơi như chơi cầu trượt, nhảy bao bố… vừa giúp trẻ tăng cường vận động thô, vừa giúp trẻ biết chờ đến lượt khi chơi với bạn. Cần lưu ý đầu tư đầy đủ hơn những giáo cụ đặc biệt khi dạy can thiệp cá nhân; điều này rất quan trọng, vì những đồ dùng giảng dạy hoặc những đồ chơi này rất hiệu quả và cần thiết, phù hợp cho việc dạy trẻ rối loạn phổ tự kỷ. Nếu kinh phí còn giới hạn, chúng ta cố gắng đầu tư hoặc xin ân nhân giúp mua mỗi loại 1-2 đồ chơi, rồi theo thời gian và theo nhu cầu mà tăng cường dần lên cho đủ.

Ngày nay, để hỗ trợ giáo dục, các nhà đầu tư đã cung cấp nhiều đồ chơi và học cụ rất hay; giúp chúng ta trong việc giáo dục, can thiệp trẻ tự kỷ, ví dụ như đồ chơi giúp cân bằng cảm giác. Các nhóm đồ chơi gợi ý dưới đây thường được dùng trong trị liệu cảm giác (sensory play):

Đồ chơi phát triển xúc giác (touch/tactile)

- Hộp cảm giác: thùng gạo, đậu, cát sạch, hạt nhựa… để trẻ sờ, nắm, vốc.

- Đồ chơi có nhiều chất liệu: xốp mềm, gỗ, nhựa, vải nhung, cao su gai.

- Đất nặn, slime, bột kinetic sand.

- Thú nhồi bông có lông mềm hoặc đồ chơi có gai massage.

--> giúp trẻ quen dần với cảm giác chạm khác nhau, giảm lo âu với kích thích mới.

Đồ chơi phát triển cảm giác vận động – thăng bằng (vestibular)

- Xích đu, võng, bập bênh (thường trường nào cũng có sẵn).

- Bóng tập gym (ngồi, lăn, bật).

--> giúp trẻ cân bằng cơ thể, điều hòa cảm giác vận động.

Đồ chơi phát triển cảm giác sâu (proprioception)– nhận biết cơ thể)

- Trò chơi kéo – đẩy (xe kéo nhỏ, hộp gỗ).

- Gạch Lego to để lắp ghép.

- Túi cát nhỏ đeo tay/đeo chân.

- Búa cao su, đồ chơi cần lực ấn, bóp, kéo giãn.

--> giúp trẻ cảm nhận vị trí, lực của cơ thể, từ đó tự điều chỉnh hành vi.

Đồ chơi phát triển thính giác

- Nhạc cụ gõ: trống, lục lạc, chuông, thanh gõ.

- Hộp phát âm thanh động vật, tiếng mưa, tiếng suối.

--> giúp trẻ làm quen dần với âm thanh, giảm nhạy cảm hoặc tăng khả năng chú ý.

Đồ chơi phát triển thị giác

- Đèn nhấp nháy nhẹ, bong bóng xà phòng.

- Đĩa xoay màu, ống nhòm có lăng kính.

- Tranh ghép hình nhiều màu.

--> giúp trẻ rèn khả năng quan sát và điều tiết thị giác.

Lưu ý khi chọn đồ chơi:

- Phải an toàn, không có cạnh sắc.

- Chơi dưới sự quan sát của người lớn để điều chỉnh khi trẻ phản ứng quá mạnh.

- Chọn theo mức độ nhạy cảm: nếu trẻ quá nhạy cảm thì bắt đầu từ đồ chơi dịu nhẹ → tăng dần; nếu trẻ ít nhạy cảm thì cần đồ chơi mạnh mẽ hơn để kích thích.

- Có thể kết hợp thành “góc chơi cảm giác” tại lớp hoặc ở nhà.

9. Sĩ số học sinh cho 1 lớp hòa nhập (gợi ý)

Tối ưu một lớp chỉ từ 8–12 trẻ, trong đó chỉ có 1–2 trẻ có nhu cầu đặc biệt. Để mô hình này khả thi, việc khởi đầu được dễ dàng, giảm bớt “gánh nặng” cho giáo viên và công việc thực sự có hiệu quả, Hiệu trưởng, Nhóm trưởng chỉ nên nhận vào lớp (với sự đồng ý của người có trách nhiệm can thiệp trẻ). Đó là những trẻ đã được qua sàng lọc, chẩn đoán, ở mức độ nhẹ và đã có những kỹ năng hòa nhập (biết tuân theo những yêu cầu chung của lớp; ví dụ không được chạy lung tung trong giờ học, biết chào hỏi, biết tên của mình, biết tự phục vụ những nhu cầu tối thiểu…)

Biết rằng sĩ số ít thì chất lượng cao, nhưng cái khó khăn thực tế chạm phải ở đây là kinh phí không đủ chi trả tiền lương cho các giáo viên, khi mà sĩ số trẻ trong lớp ít nhưng vẫn phải dành đủ 2 GV cho một lớp.

10. Cơ cấu nhân sự (gợi ý)

a/ Trường hợp hòa nhập

Giáo viên 1:Giáo viên chủ nhiệm lớp có trẻ hòa nhập sẽ chịu trách nhiệm chính trong lớp, ưu tiên dạy chương trình mầm non chung cho cả lớp (chăm sóc, giáo dục, tổ chức hoạt động) như vẫn thường làm. GV1 chỉ cần nắm tổng quan về đặc điểm của những trẻ hòa nhập trong lớp (biết trẻ có khó khăn gì, cần hỗ trợ gì trong giờ học chung).

Giáo viên 2: Vừa là GV2, vừa là “giáo viên hỗ trợ ” trẻ đặc biệt trong lớp.

+ Nếu giáo viên 2 có chuyên môn (giáo dục đặc biệt, tâm lý, trị liệu):

- Họ sẽ cùng tham gia xây dựng IEP với nhóm chuyên môn.

- Chịu trách nhiệm chính thực hiện – điều chỉnh mục tiêu cá nhân trong lớp (theo khung IEP đã duyệt).

- Hằng ngày phối hợp với GV1 để “lồng” hỗ trợ cá nhân vào hoạt động chung.

+ Nếu giáo viên 2 không có chuyên môn:

Nhà trường cần hỗ trợ kinh phí và tạo điều kiện cho GV2 học bổ sung về giáo dục đặc biệt (có thể học online qua zoom), để hỗ trợ GV1 tốt hơn vì GV2 chịu trách nhiệm đồng hành với trẻ có yêu cầu đặc biệt trong lớp. Ngoài ra, nên “bồi dưỡng” thêm cho GV1 và GV2 vì họ “vất vả” hơn, nhiều trách nhiệm hơn khi nhận trẻ rối loạn phổ tự kỷ vào lớp.

b/ Trường hợp có giáo viên can thiệp 1-1 (ngoài giờ học):

Giáo viên can thiệp riêng (trị liệu cá nhân) thường sẽ:

– Xây dựng mục tiêu cá nhân chi tiết (theo IEP tổng thể).

– Gửi kế hoạch hỗ trợ cho GV2/GV1 để phối hợp trong giờ lớp.

Như vậy, lớp mầm non hòa nhập chỉ cần điều chỉnh mức độ hỗ trợ trong môi trường nhóm, không phải gánh toàn bộ kế hoạch chi tiết.

Chuyên viên trị liệu (ngoại viện hoặc part-time): ngôn ngữ trị liệu, hoạt động trị liệu, tư vấn hành vi.

Nữ tu / nhân viên mục vụ: đồng hành tinh thần, kết nối gia đình, hỗ trợ kỹ năng sống và sinh hoạt đạo đức đơn giản.

Tình nguyện viên / thực tập sinh: kêu gọi sự tình nguyện tham gia của sinh viên sư phạm, thiện nguyện viên, giáo lý viên, kể cả phụ huynh hỗ trợ nhóm lớp hòa nhập khi tổ chức trò chơi trong những ngày lễ hội hoặc chơi với trẻ trong giờ đón trả trẻ.

IV. HƯỚNG MỤC VỤ: GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA CÙNG CHUNG TAY

1. Những buổi gặp gỡ phụ huynh định kỳ

Chia sẻ riêng về tiến triển của trẻ, chia sẻ chung về kinh nghiệm, phương pháp dạy trẻ đặc biệt…. Ngày nay, việc can thiệp trẻ có rối loạn phổ tự kỷ trong môi trường tự nhiên rất được khuyến khích: Phụ huynh áp dụng những phương pháp của giáo viên dạy con mình và tiếp tục thực hành tại gia đình trong những sinh hoạt ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân của trẻ… Như vậy sau giờ can thiệp cá nhân, trẻ tiếp tục vào học lớp hòa nhập trong trường mầm non; tối về với gia đình, cha mẹ lại giúp con củng cố những kỹ năng, hình thành thói quen tốt; nhờ vậy trẻ tiến bộ rất nhanh.

2. Những nhóm hỗ trợ

Tạo nhóm cha mẹ để chia sẻ kinh nghiệm và giảm cô đơn. Mời bác sĩ nhi chuyên về trẻ rối loạn phổ tự kỷ, chuyên viên tâm lý đến chia sẻ, nói chuyện về trẻ đặc biệt tại trường, lớp. Thiết lập những trang facebook, zalo để liên lạc với phụ huynh, để chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn. Tận dụng và nâng cao những hình thức truyền thông như sử dụng chương trình CANVA giáo dục để, nhiều phụ huynh được biết thêm kiến thức về trẻ rối loạn phổ tự kỷ, giảm stigmatisation (kỳ thị), nâng cao ý thức chấp nhận và cùng nhau giúp đỡ trẻ.

3. Những giúp đỡ về vật chất, kinh phí cho sứ vụ

Mặc dù đã có những Hội Dòng tham gia từ rất sớm vào việc chăm sóc, nuôi dạy những trẻ em mồ côi, trẻ khuyết tật và có cả trung tâm can thiệp cá nhân cho trẻ. Thế nhưng, “ở đây mới chỉ có 5 chiếc bánh và 2 con cá nhỏ… (Mc 6,39). Vì thế, ước mong mô hình trường lớp hòa nhập này được nhân rộng hơn nữa trong tất cả các trường mầm non của các Hội Dòng, và được các cơ quan từ thiện như Caritas hỗ trợ, được giáo dân trong các xứ đạo và xã hội quan tâm, thì mới mong các trường lớp mầm non hòa nhập này được thực hiện; đồng thời đủ đáp ứng nhu cầu phục vụ cho trẻ đặc biệt ngày càng tăng, nhất là giúp đỡ các nhóm lớp nơi vùng sâu, vùng xa. Nhờ đó, các trường lớp mầm non hòa nhập được hoạt động bền vững và phát triển như Lòng Chúa Ước Mong. Ngoài việc phó thác cho Chúa và để Chúa lo liệu mọi sự, nhưng hẳn là Chúa muốn mọi người cùng chung lòng, chung tay, chung sức để sống ơn cứu độ và mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Chúng tôi- những người nữ tu bé nhỏ, sẵn sàng dấn thân cho sứ vụ này: giáo dục, chăm sóc trẻ rối loạn phổ tự kỷ, vì đó là ơn gọi thừa sai mà chúng tôi giữ trong tim mình. Và như thế, chúng tôi muốn ra khơi, “chèo ra chỗ nước sâu”, nhưng chúng tôi cần thuyền và lưới!

4. Cầu nguyện và đồng hành thiêng liêng

Mời cộng đoàn cầu nguyện cho các gia đình, tổ chức giờ cầu nguyện dành cho các em đặc biệt này.

V. KẾT

“Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Luca 5,4) – Lời mời gọi của Chúa Giêsu dành cho người nữ tu hôm nay trong việc giáo dục trẻ mầm non - đặc biệt dành cho những trẻ đang mang nơi mình chứng rối loạn phổ tự kỷ, thật cấp thiết hơn bao giờ hết. Người nữ tu không thể chỉ bằng lòng với những thành quả đã đạt được trong nhiều năm khi tham gia công tác giáo dục mầm non, nhưng hôm nay, họ còn nghe Lời Chúa mời gọi quảng đại bước ra xa hơn nữa, dấn thân vào “chỗ nước sâu” – nơi tưởng như vượt quá tầm sức mỏng manh của mình, nơi còn đầy thiếu thốn, vất vả và gian nan. Nhưng chính ở đó, có biết bao trẻ thơ đặc biệt đang giơ tay chờ đón, khát khao được đồng hành, được nâng đỡ, để vượt qua những giới hạn, khó khăn của chứng rối loạn phổ tự kỷ mà lớn lên cùng bạn bè, và hạnh phúc hòa nhập vào cộng đồng nhân loại.

“…Lạy Chúa Giêsu! Thế giới thì bao la mà bàn tay chúng con lại quá nhỏ bé. Xin cho chúng con biết nắm lấy tay nhau lên đường, nhẹ nhàng và thanh thoát…” (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu –SJ).

“Xin cho từng người nữ tu khi tham gia sứ vụ cao cả này, luôn biết phó thác, để trở nên khí cụ nhỏ bé trong tay Chúa, gieo hạt giống hy vọng và tình thương nơi mỗi em bé, nơi mỗi gia đình, và để Tin Mừng Lòng Thương Xót Chúa được lan tỏa đến tận cùng trái đất. Amen”.

Tháng 9 năm 2025

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)


[1] Nhiều sách, tài liệu đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt

[2] https://www.nimh.nih.gov/, truy cập ngày 25/9/2025

[3] https://autism.org/, truy cập ngày 25/9/2025

[4] https://www.nimh.nih.gov/health/topics/autism-spectrum-disorders-asd-truy cập ngày 25/9/2025 Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia (NIMH), Rối loạn phổ tự kỷ -

[6] PGS.TS. Vũ Thị Khánh Linh và CN. Huỳnh Thị Minh Tâm, “Ứng dụng aac trong trị liệu cho trẻ có khó khăn ngôn ngữ tại Thành phố Hồ Chí Minh”, https://hoitamlygiaoduc.org/wp-content/uploads/2022/03/Bai_V%C5%A9-Kh%C3%A1nh-Linh.pdf, truy cập ngày 25/9/2025

[7] https://trungtamharmony.edu.vn/, truy cập ngày 25/9/2025

[8] https://www.nimh.nih.gov/health/topics/autism-spectrum-disorders-asd- truy cập ngày 25/9/2025 Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia (NIMH), Rối loạn phổ tự kỷ -

[9] Lý thuyết về sự cắt tỉa của Synap thần kinh, Tài liệu học tập nội bộ

[10] ThS. Nguyễn Văn Chí, “Giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỷ”, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Trung Ương – Nha Trang

[11] Tài liệu đã dẫn

[12] Tài liệu đã dẫn

[13] Tài liệu đã dẫn

[14] Tài liệu đã dẫn

[15] Tài liệu đã dẫn

[16] Tài liệu đã dẫn