TÁC GIẢ TUỒNG THƯƠNG KHÓ

TUỒNG THƯƠNG KHÓ - SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC MỚI?

TUỒNG THƯƠNG KHÓ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI

PHẦN THỨ NHỨT

PHẦN THỨ HAI

NGÔN NGỮ TUỒNG THƯƠNG KHÓ

105 NĂM TUỒNG THƯƠNG KHÓ

CỦA ĐỨC CHA GIOAN BAOTIXITA NGUYỄN BÁ TÒNG

NHƯ MỘT CỘT MỐC

Cách nay đúng 105 năm, ngày 13 tháng Tư 1913, nhằm Chúa nhật IV Phục Sinh, vở kịch Tuồng Thương Khó của Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng công diễn lần đầu tại Chủng viện Sài Gòn (lúc đó gọi là Nhà Trường La Tinh). Ba ngày sau, thứ Tư 16 tháng Tư, diễn buổi thứ hai, và là buổi chính, mừng 50 năm (Ngũ Tuần) thành lập Nhà Trường La Tinh Sài Gòn (Chủng viện Sài Gòn).

Trong bản ghi Chương trình Lễ Ngũ Tuần Nhà Trường La Tinh Sài Gòn[1], đợt công diễn đầu tiên gồm năm buổi.

Nguyên văn tờ Chương trình:

Tuồng Thương khó sẽ dẫn[2] 5 lần như sau này

Hai lần đầu

1) Chúa Nhựt 13 Avril[3], 4 giờ chiều:

   - Mời riêng các nhà dòng nhà phước, xin kẻ khác đừng vô.

2) Thứ Tư 16 Avril, Chánh lễ

   - 7 giờ tối:

   - Thỉnh riêng chư quý hữu đã thi ân phụ giúp (Souscripteurs), xin kẻ khác đừng vô.

Ba lần sau

Dẫn cho chư vì giáo hữu các nơi đặng xem, song phải mua thiệp[4] thì mới đặng vào.

   - Chúa Nhựt 20 Avril, 4 giờ chiều

   - Thứ Ba 22 Avril, 7 giờ tối

   - Chúa Nhựt 27 Avril, 4 giờ chiều.

Bài viết sau đây nhằm trình bày một số nét về tác giả và bối cảnh ra đời Tuồng Thương Khó, đồng thời nêu cảm nhận về đặc điểm thể loại và ngôn ngữ của tác phẩm này.

TÁC GIẢ TUỒNG THƯƠNG KHÓ

Tác giả kịch bản Tuồng Thương Khó là linh mục GB Nguyễn Bá Tòng. Năm 1933, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Phó Đại diện Hạt Tông tòa Phát Diệm, và trở thành người Việt Nam đầu tiên đựơc tấn phong giám mục.

Đức cha Nguyễn Bá Tòng sinh ngày 1-08-1868, tại Gò Công. Năm 1883, ngài theo học tại Chủng viện Sài Gòn và chịu chức linh mục năm 1896. Sau khi chịu chức, ngài được Đức cha Jean Dépierre (Để), Đại diện Tông tòa Tây Đàng Trong (tức Sài Gòn sau này) bổ nhiệm làm Quản lý Văn phòng Đại diện Tông tòa. Hai mươi mốt năm sau, 1917, ngài được cử coi sóc họ Bà Rịa. Năm 1926, Đức cha Isidore Dumortier (Đượm) bổ nhiệm ngài làm cha sở họ Tân Định, kiêm giám đốc Nhà in Imprimerie de la Mission tại Tân Định. Năm 1933, Đức giáo hoàng Piô XI bổ nhiệm ngài làm giám mục, hiệu tòa Sozopolis in Haemimonto, Phó Đại diện Hạt Tông tòa Phát Diệm. Ngày 20-10-1935, ngài trở thành Đại diện Tông tòa, kế nhiệm Đức cha Alexandre Marcou. Ngày 8-06-1945, ngài về hưu. Bốn năm sau, ngày 11-07-1949, ngài qua đời, thọ 81 tuổi.

Theo các tác giả quyển Trần Lục[5], Đức cha Nguyễn Bá Tòng “nổi tiếng về sự thông thái và tài hùng biện” (tr. 511).

Minh chứng cho tài hùng biện, các tác giả đưa ra bài diễn văn bằng tiếng Pháp của Đức cha Nguyễn Bá Tòng về linh mục Trần Lục, tại một số buổi nói chuyện ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng. Bài này được tuần báo L'Avenir du Tonkin[6] đăng lại trong số báo ra ngày 29-09-1938. Trong đó, đáng kể nhất là đoạn ngài nói về nhà thờ Phát Diệm, công trình kiến trúc của cha Trần Lục, và qua đó tán dương sự đóng góp lẫy lừng của cha chính xứ nhà thờ Phát Diệm thời danh này:

“Ta hãy tưởng tượng đến nguyên một cái công phu chở những khúc gỗ nặng tới 10 tấn, tức là một vạn cân một khúc, qua hơn 200 cây số; những tảng đá, có nhiều tảng đến 7 thước khối, cạy ở trên núi đem về Phát Diệm trên con đường xa 30 cây số; những phiến đá hoa nặng 6, 7 tấn, không có máy trục mà cũng kích lên cao được tới 5, 10 và 12 thước.

Các ngài hãy đến ngắm nghía cái công trình của những người thợ kiên nhẫn ở khắp các nơi trong xứ Bắc kỳ, đã đến Phát Diệm mà đục chạm, mà đánh bóng, cùng tô điểm những cái cột khổng lồ kia, những tấm đá hoa đủ các màu kia. Các ngài hãy đến Phát Diệm mà xem người ta đã dùng cách gì mà làm được cho đất phù sa nên chắc nịch, nhờ đóng xuống đấy một rừng tre sâu tới 30 thước. Các ngài hãy vào trong nhà thờ chính tòa Phát Diệm mà ngắm 52 cái cột bằng gỗ lim, chu vi mỗi cái 2 thước 4 tấc, thân cao 12 thước; các ngài hãy ngắm cả ‘cái bàn thờ chính đục nổi chạm bóng mà sơn son thếp vàng chói lọi có lẽ khắp hoàn cầu, không có những nhà thờ nào rực rỡ như những nhà thờ ở Phát Diệm, trùng trùng điệp điệp những bức cuốn, càng vào trong càng lộng lẫy'”.[7]

Đọc đoạn trích dẫn trên, hẳn sẽ tán thành nhận định của báo L'Avenir du Tonkin trong lời đề dẫn: “Văn của ngài bao giờ cũng đơn sơ mà diễm lệ”.

Vị giám mục “thông thái và hùng biện” ấy, năm 1912, đang đảm nhiệm chức trách Quản lý Văn phòng Đại diện Tông tòa Tây Đàng Trong, đã viết kịch bản Tuồng Thương Khó, và sau đó, 1913, đã cho công diễn lần đầu tại Chủng viện Sài Gòn.

Kịch bản được soạn bằng tiếng Việt, và được in tại Imprimerie de la Mission, Tân Định.

TUỒNG THƯƠNG KHÓ - SỰ RA ĐỜI CỦA MỘT THỂ LOẠI VĂN HỌC MỚI?

Nơi trang bìa, tác giả Nguyễn Bá Tòng viết: “Đã dọn theo sách Suy gẫm Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu và theo Tuồng Thương Khó đã làm tại Oberammergau và tại thành Nancy”.

Như vậy, gợi hứng cho tác giả viết kịch bản này, là những bản văn đã có từ trước. Sách Suy gẫm Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu thuộc loại kinh đọc, giúp suy tư và cầu nguyện. Tuồng Thương Khó của Đức (làng Oberammergau) và Pháp (thành phố Nancy) thuộc loại suy tư và cầu nguyện qua hình thức kịch nghệ và âm nhạc.

Từ gợi hứng trên, cha Nguyễn Bá Tòng gặp đúng dịp thúc đẩy để hiện thực hóa ấp ủ áng tạo của mình: lễ mừng 50 năm xây dựng Chủng viện Sài Gòn (lúc đó gọi là Trường La Tinh Sài Gòn) 1863- 1913. Bấy giờ, dịp mừng 50 năm gọi là lễ Ngũ Tuần. Đồng thời cũng dánh dấu sự kiện “Làm phép Lăng Cha Bề trên Vị[8]

Tác giả Thiết Bích viết trên tờ Nam Kỳ Địa Phận[9], tập 220, năm 1913, tr.184:

“Lễ Ngũ Tuần là lễ vui mừng, con mắt chẳng những sẽ đặng thấy dọn dẹp trần thiết đẹp đẽ; lễ nhạc trọng thể, đèn đuốc bông hoa lớp lang thứ tự, ca hát dịu dàng êm ái; các cha tựu hiệp đông đắn chầu lễ cám ơn. Mà nhứt là đặng xem Tuồng Thương Khó”.

Như vậy, sự kiện Chủng viện Sài Gòn kỷ niệm 50 năm khánh thành cơ sở, không những là sự kiện trọng đại của toàn địa phận (lúc đó là Hạt Tông tòa Tây Đàng Trong - Vicariatus apostolicus Cocincinae Occidentalis), mà còn gợi cảm xúc cho người học trò cũ của ngôi trường này - linh mục Nguyễn Bá Tòng.

Và ngài đã nhân dịp này, viết Tuồng Thương Khó, như một nỗ lực sáng tạo nhằm bày tỏ sự đồng điệu với tuồng Passio bên trời Tây.

Tác giả Thiết Bích, cũng trong bài đã nêu, viết:

“Đã mấy trăm năm Đạo thánh đến cõi Nam Việt, mà chưa nghe đặng đâu dẫn tuồng trọng này. Năm nay nhờ lễ Ngũ Tuần Trường La Tinh Sài Gòn, chúng tôi hết thảy sẽ đặng xem tỏ tường.

Tuồng này là tuồng thượng hạng nhứt phẩm trong đạo, vì đây chẳng phải là nhắc lại tích đấng hiền nhơn, hay là dẫn truyện đấng thánh; song nhắc ngay về sự Mầu Nhiệm Chúa Ngôi Hai, tận tình thương yêu loài người hết dạ, ra đời 33 năm, mặc lấy xác hồn loài người thế, chịu trăm ngàn sự khốn khó, sau hết còn một sự sống quý báu vô giá, thì cũng đành liều mà chết tất tưởi[10] trên Thánh Giá nhuốc nha, y lịnh Đức Chúa Cha đòi phạt tạ mà tha tội cho loài người, cùng đặng hưởng phước dường như người vô tội”.

Đưa nhận định “Đã mấy trăm năm Đạo thánh đến cõi Nam Việt, mà chưa nghe đặng đâu dẫn tuồng trọng này”, tác giả Thiết Bích muốn làm nổi bật vị trí đi đầu của Đức cha Nguyễn Bá Tòng trong việc “nghệ thuật hóa” Tin Mừng về cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu.

Tất nhiên, ở ngoài Bắc, linh mục Trần Lục được coi là người đã dựng tích Thương khó trong hình thức diễn xuất (gọi là cảnh “bắt quân dữ”) và diễn ngâm (ca vãn). Nhà văn Võ Long Tê cho biết:

“Đưa những huyền nhiệm đạo Chúa vào kịch nghệ là một truyền thống văn nghệ Tây phương từ thời Trung cổ. Riêng về sự thương khó của Chúa, trong số nhiều giai tác đáng kể một công trình kịch nghệ bình dân thành công vĩ đại là tuồng Thương khó, cứ mười năm thì diễn một lần tại Oberammergau, miền Bavière nước Đức.

Ở nước ta, Linh mục Trần Lục là người đầu tiên dựng tích Thương khó Chúa trong hình thức nghệ thuật kịch trường và như là một nghi lễ á phụng vụ (sacramental) dịp Tuần lễ Thánh. Lẽ dĩ nhiên văn bản căn cứ vào sách Phúc Âm và kinh nguyện của Giáo hội, nhưng linh mục cũng tuỳ nghi thêm vào một số ca vãn do chính linh mục sáng tác. Diễn trường chính là nhà thờ Mân Côi, quen gọi là nhà thờ Lớn mà linh mục đã hoàn thành trong năm 1891, sau khi chuẩn bị chu đáo từ nhiều năm trước. Như chúng ta biết, thánh đường này dựng lên giữa một sân rộng lát gạch và đá, hai bên tả hữu có bốn ngôi nhà thờ nhỏ hơn; đàng đầu có các hang đá Sinh nhật, vườn Giệt, Lộ Đức, Táng xác; mạn cuối có Phương Đình đá hùng vĩ.

Linh mục Trần Công Hoán, thuộc địa phận Phát Diệm, có hồi ức sau đây về tuồng Thương khó của Linh mục Trần Lục: “Cha Sáu (tức Cha Trần Lục)... tổ chức tuồng Thương khó quen gọi là Bắt Quân Dữ... Sau nhiều năm cha qua đời, tổ chức quân dữ vẫn hoạt động và được bổn đạo cũng như lương dân hoan nghênh lắm; song mấy năm gần đây, người ta lạm dụng, cho nên Bề trên lấy làm tiếc phải giải tán.

Bắt quân dữ tức là diễn lại một cách linh động truyện đã xảy ra cho Chúa Giêsu trong tuần lễ Thánh. Ngoài những lễ nghi chính thức mọi nơi khác thường ngắm và đọc sách ôn lại các hoạt động quân dữ; nhưng ở Phát Diệm thì diễn lại bằng các vai sống động. Đàn bà, trẻ con, người ngu dốt, nghe sách vở dễ quên, có khi ngủ gật nữa; song khi một lần đã tới Phát Diệm xem diễn tuồng thương khó do một đội quân dữ này đóng vai, thì liền hiểu và nhớ lâu.

Theo sự hiểu biết thư tịch học hiện nay thì văn bản tuồng này chưa từng được ấn loát, hy vọng rằng nhiều gia đình yêu cổ thư còn giữ được bản sao chép và những bậc cao niên trưởng lão sẽ công bố hồi ức như Linh mục Trần Công Hoán để những kẻ hậu sinh thấy rõ chân diện mục vở tuồng của Linh mục Trần Lục, nói được là công trình đặc sắc của kịch nghệ Công giáo ở nước ta”.[11]

Như vậy, trong khi chờ đợi điều mong mỏi của tác giả Võ Long Tê về tuồng Bắt Quân Dữ thành hiện thực: “Hy vọng rằng nhiều gia đình yêu cổ thư còn giữ được bản sao chép và những bậc cao niên trưởng lão sẽ công bố hồi ức”, thì việc giới thiệu rộng rãi, qua văn bản in và công diễn (thậm chí bán vé vào coi như xem hát) Tuồng Thương Khó của Đức cha Nguyễn Bá Tòng, là công trình nghệ thuật hóa sự tích Phúc âm vậy đã xuất hiện rất sớm trong công chúng thẩm mỹ miền Tây Đàng Trong vậy.

Hơn nữa, tính đến thời điểm 1913, khi Tuồng Thương Khó của Đức cha Nguyễn Bá Tòng được xuất bản và công diễn, nền kịch nghệ sân khấu Việt Nam vẫn còn phôi thai. Mãi đến 1918, năm năm sau Tuồng Thương Khó, cải lương mới bắt đầu ra đời và phát triển. Bảy năm sau, ngày 25-04-1920, Nhà hát Hà Nội mới công diễn vở kịch tiếng Việt đầu tiên. Đó là vở Người bệnh tưởng do Nguyễn Văn Vĩnh dịch tác phẩm Le Malade imaginaire (1673) của Molière, nhà văn Pháp (1622-1673). Còn kịch do người Việt sáng tác bằng chữ quốc ngữ, tháng 9 năm 1921, vở kịch bản Chén thuốc độc của Vũ Đình Long được đăng trong tạp chí Hữu Thanh, và đến 22 tháng 11 năm 1921, được công diễn lần đầu tiên trên sân khấu Nhà hát Hà Nội. Sự kiện này đánh dấu sự ra đời của kịch nói - một loại hình nghệ thuật mới ở Việt Nam.

Vì thế, với lần diễn đầu tiên vào chiều ngày 13-04-1913 tại Chủng viện Sài Gòn, phải chăng Tuồng Thương Khó của Đức cha GB Nguyễn Bá Tòng đã là tác phẩm kịch đầu tiên xuất hiện trên sân khấu Việt Nam?

TUỒNG THƯƠNG KHÓ – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI

Chọn tên Tuồng Thương Khó, phải chăng tác giả Nguyễn Bá Tòng đã ý thức về đặc điểm thể loại của tác phẩm. Đó là một vở tuồng. Tuồng, vì nội dung phỏng theo tích xưa. Tích của Tuồng Thương Khó là sự kiện cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu. Đồng thời, tuồng được diễn là nhằm truyền đạt bài học cho nhân sinh. Bài học ấy, theo tác giả Thiết Bích (đăng trong Nam Kỳ Địa Phận, tập 220, năm 1913, tr. 184) là:

“Trong Tuồng Thương Khó này, ta sẽ thấy đủ các ngôi, các chỗ, từ vườn Giếtsêmani cho đến núi Calavariô, Đ.C.G.[12], Đức Mẹ, các thánh Tông đồ, Madalenna[13] cùng nhiều người khác đã thông phần áo não cùng Đ.C.G. ta cũng thấy lòng bội bạc gian tà, tính vô nhơn độc ác, lòng xuyên hoa nhát nhúa[14] Giudà, quân Giudêu và Philatô. Sau hết ta sẽ thấy lòng nhịn nhục từ ái vô song của Đ.C.G., đến đỗi đang nằm trên Thánh giá, tay chơn đang chịu đóng đinh, mà con ngửa mặt lên trờ mà nguyện: xin Đức Chúa Cha tha tội cho kẻ nghịch mình”.

Quả thật, vở Tuồng Thương Khó của Đức cha Nguyễn Bá Tòng, chính là tác phẩm thuộc thể loại tuồng, với hai đặc điểm đã nêu: dựa trên tích xưa và nhằm mục tiêu giáo huấn.

Tuy nhiên, Tuồng Thương Khó lại không kết cấu theo đặc điểm hợp-tan-hợp của tuồng, mà theo diễn tiến truyện tích Phúc âm: Khổ nạn-Phục sinh, gồm hai Phần và mười sáu Thứ.

Đọc Mục lục, có thể thấy cách tác giả kết cấu câu chuyện, nhằm làm nổi bật diễn tiến đưa đến biến cố Phục sinh, mục đích giáo huấn tối hậu của tác phẩm.

Nguyên văn Mục lục Tuồng Thương Khó, do tác giả ghi ở đầu kịch bản, như sau.

PHẦN THỨ NHỨT

Từ khi Đ.C.G. vào thành Giêrusalem, cho đến khi Giudà nộp Người

THỨ Thứ Nhứt:                 1. Đ.C.G. vào thành Giêrusalem

                                           2. Đ.C.G. đuổi kẻ buôn bán trong đền thờ

THỨ Thứ Hai:                    Công đồng hội nghị tại nhà Caipha

THỨ Thứ Ba:                     Đ.C.G. từ giã Đức Mẹ

THỨ Thứ Tư:                    - Đ.C.G. đi thành Giêrusalem

                                          - Giudà cùng kẻ buôn bán

THỨ Thứ Năm:                 Đ.C.G. lập Phép Thánh Thể

THỨ Thứ Sáu:                  Đ.C.G. vào vườn Giệtsêmani

PHẦN THỨ HAI

Từ khi Giudà nộp Đ.C.G. cho đến khi Người sống lại

THỨ Thứ Bảy:                    Đ.C.G. chịu (1) dẫn đến nhà Annát

THỨ Thứ Tám:                  - Đ.C.G. chịu dẫn đến nhà Caipha

                                           - Ông thánh Vêrô[15] chối Đ.C.G.

                                           - Ông thánh Vêrô ăn năn tội

THỨ Thứ Chín:                   Giudà ngã lòng trông cậy

THỨ Thứ Mười:                  Đ.C.G. chịu Philatô tra xét

THỨ Thứ Mười Một:           Đức Mẹ sầu bi

THỨ Thứ Mười Hai:            Đ.C.G. chịu đánh đòn cùng chịu đội mũ gai

THỨ Thứ Mười Ba:             Đ.C.G. bị án tử

THỨ Thứ Mười Bốn:           Đ.C.G. vác Thánh giá lên núi Calavariô

THỨ Thứ Mười Lăm:          - Đ.C.G. chịu đóng đinh trên cây Thánh giá

                                            - Hạ xác

THỨ Thứ Mười Sáu:           Đ.C.G. sống lại

Đến đây, một câu hỏi đặt ra: với tích truyện Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu mọi người đều đã biết, nghĩa là không có yếu tố bất ngờ, vậy Tuồng Thương Khó còn sức hấp dẫn không? Nếu không, câu chuyện sẽ lôi cuốn khán giả/độc giả nhờ yếu tố nào?

Câu trả lời chỉ có thể từ phía khán giả/độc giả.

Bài “Tuồng Thương Khó tại Trường La Tinh Sài Gòn” của Giude Mặc Bắc đăng trên báo Nam Kỳ Địa Phận (tập 220, năm 1913, tr. 392-397 có thể coi là những gợi ý cho một lý giải khá thuyết phục.

Mở đầu bài báo, tác giả Giude Mặc Bắc cho biết mình lặn lội từ xa về Sài Gòn thưởng thức Tuồng Thương Khó, và có mặt tại cả 5 buổi diễn dịp mừng 50 năm khánh thành Chủng viện Sài Gòn. Buổi diễn (lúc đó viết: buổi dẫn) nào cũng đầy kín khán giả:

“Thật tôi lấy làm rất đỗi có phước, vì đã đặng xem Tuồng Thương Khó, là tuồng dẫn tích Chúa cùng Đức Mẹ đã chịu thương khó vì tội chúng tôi! Tôi bởi phương xa mà đến Sài Gòn, nên phải đi tàu, đi xe lửa. Khi xuống tàu lên xe, đều thấy đông nức không chỗ ngồi; hỏi lại thì rõ là những bổn đạo các nơi tuôn đến mà xem Tuồng Thương Khó. Bổn đạo các họ[16] gặp nhau chuyện trò mừng rỡ; nhiều họ có cha sở làm đầu đem đi; ai ai đều náo nức ngóng trông cho mau tới nơi mà xem cuộc lễ Ngũ Tuần và Tuồng Thương Khó, vì nhựt trình[17] đã rao trước và tiếng thiên hạ đã đồn rực mấy tháng nay.

Lòng tôi ao ước một điều là xem Tuồng Thương Khó hơn mọi sự khác; nên dẫn Tuồng Thương Khó năm lần, thì tôi xem đủ năm lần tự đầu chí cuối không sót; mà lần nào tôi cũng thấy thiên hạ ngồi chật nức[18]; bực nhứt, bực nhì, bực ba[19] cũng chật hết, nên có nhiều người phải đứng. Số người ta xem tuồng mỗi lần có dư bốn ngàn người; trừ ra ngày thứ ba 22 Avril thì kém hơn một chút, vì trúng ngày thường người ta mắc[20] đi làm”.

Trong bài báo này, Giude Mặc Bắc nêu những yếu tố thu hút khán giả của vở tuồng:

- thiết kế sân khấu: “công cuộc trần thiết rất trọng tốt xinh không cùng”;

- âm nhạc: “Lúc đó tôi thấy mọi người đều khóc, mấy người ngoại đứng bên tôi cũng khóc, tôi cũng không cầm mình đặng! Dầu mấy người Langsa[21] không hiểu tiếng An Nam[22] cũng khóc, vì trước đó có học trò La tinh[23] hát một bài La tinh rất thấm tháp[24], cho nên hết thảy đều động lòng”;

- diễn xuất: “Ai cũng khen quan trấn thủ Philatô cung giọng oai nghiêm, ăn nói rành rẽ, rất xứng chức quan”, và; “Đến lúc Đ.C.G. vác Thánh giá, thật tôi chịu không đặng, vì thấy đoàn quân dữ như muôn sói vây phủ bấu xé cho chiên”.

Và tất nhiên, yếu tố quyết định nhất vẫn là kịch bản, trong đó đáng nói nhất là ngôn ngữ kịch.

NGÔN NGỮ TUỒNG THƯƠNG KHÓ

Xây dựng kịch bản, tác giả không thể không chú ý đến ngôn ngữ nhân vật.

Bởi, trong kịch bản, ngôn ngữ chính là hành động và tính cách của nhân vật. Còn trên sân khấu, diễn viên dùng điệu bộ và nói năng để thể hiện tính cách nhân vật và xúc tiến hành động kịch.

Xây dựng kịch bản Tuồng Thương Khó, Đức cha Nguyễn Bá Tòng đã dụng công khắc họa tính cách nhân vật và diễn tiến hành động kịch qua ngôn ngữ.

Thử đọc hai cảnh trong hai Thứ: thứ năm và thứ mười lăm.

THỨ Thứ Năm

Đ.C.G. lập phép Thánh Thể

Đ.C.G.: 
Thầy hết lòng ước ao ăn lễ Phanxica[25] này cùng đệ tử trước khi Thầy chịu nạn; vì chưng từ rầy Thầy chẳng còn ăn lễ này cùng các con, cho đến khi ta ăn lễ ấy cùng nhau trên nước Đ.C.T.[26] - Lạy Đức Chúa Cha, Con đội ơn Cha, (Đ.C.G. uống, đoạn trao chén cho môn đệ).
   

Các con hãy lấy chén này, chia nhau mà uống; vì từ đây Thầy chẳng còn uống giống rượu nho này cùng các con, cho đến ngày ta sẽ uống rượu mới cùng nhau trên nước Đ.C.T.

Vêrô:

Lạy Thầy, vậy Thầy ăn lễ Phanxica với chúng tôi lần này là lần sau hết hay sao?

Đ.C.G.:

 

Phải, lần này là lần sau hết. Song bởi các con đã chịu gian nan bắt bớ cùng Thầy, thì các con sẽ đặng ngồi trị cùng Thầy trên nước Đức Chúa Cha. Các con sẽ ăn uống một bàn cùng Thầy, và sẽ ngự tòa mà phân xử mười hai dòng dân Isarae. Nhưng vậy đệ tử hãy chiêm nghiệm điều này: là vua chúa thế gian thì dùng quờn, mà trừng trị thế gian. Song đệ tử đừng làm thể ấy, mà lại ai lớn hơn trong các con, thì phải làm nhỏ, còn kẻ có quờn (quyền) thì phải ở như người tôi tớ. Đệ tử hãy xét: kẻ ngồi ăn với người dọn ăn, ai trọng hơn? Chẳng phải là kẻ ngồi ăn trọng hơn sao? Mà bấy lâu Thầy ở cùng đệ tử khác nào kẻ dọn, cùng như tôi tớ. (Đ.C.G. cởi áo ngoài, lấy khăn nịt lưng và đổ nước vào trong chậu). Hỡi đệ tử yêu dấu, hãy ngồi.

Tông Đồ:

(nói cùng nhau) Không biết Thầy tính làm gì đây ?

Đ.C.G.:

Vêrô, hãy cởi giày.

Vêrô:

Lạy Chúa, Chúa toan rửa chơn tôi sao?

Đ.C.G.:

Việc Thầy làm, bây giờ đệ tử chưa hiểu ý, mà đến sau sẽ rõ.

Vêrô:

Không, không khi nào tôi dám chịu.

Đ.C.G.:

Nếu Vêrô chẳng để Thầy rửa, thì chẳng còn nghĩa cùng Thầy.

Vêrô:

Nếu vậy, thì chẳng những là rửa chơn, mà lại xin Thầy rửa tay và đầu nữa.

Đoạn trích dẫn này cho thấy lời thoại của các nhân vật đã gợi cho độc giả kịch bản và khán giả sân khấu tính cách của hai nhân vật: Chúa Giêsu và tông đồ Phêrô. Chúa Giêsu khoan hòa, điềm đạm mà dứt khoát. Phêrô thì bộc trực, thẳng thắn nhưng trước sau vẫn phải phục tòng, vâng lệnh tôn sư.

Nổi bật hơn cả, là cảm xúc trữ tình toát lên qua ngôn ngữ biện luận vừa đạt lý lại rất thấu tình của nhân vật Giêsu: “Bấy lâu Thầy ở cùng đệ tử khác nào kẻ dọn, cùng như tôi tớ. Hỡi đệ tử yêu dấu, hãy ngồi”.

Xin dẫn một đoạn khác:

THỨ Thứ Mười Lăm
Hồi Thứ III
Hạ xác

Madalenna:  Kẻ nghịch đã đi hết rồi, bây giờ chúng tôi mới an lòng, vì đây là của trọng vô giá. Ôi ôi! biết Đức Mẹ đau lòng xót dạ là dường nào!

Đức Mẹ:       Ớ các con. Hãy coi chúng nó đã làm cho Người hư nát cho đến nỗi nào!

Matta:           Đó là việc cứu chuộc loài người. Đức Mẹ đã cực lực[27] vì chúng con, lưỡi nào kể đặng.

Gioang[28]:  Xin Đức Mẹ ngồi đây. Chúng con lo việc phong phần

(Giude Arimathia, Nicôđêmô và Gioang lo việc hạ xác. Đoạn Giude ôm xác Đức Chúa Giêsu để trong lòng Đức Mẹ). Xin Đức Mẹ hãy chịu lấy xác con Đức Mẹ.

Đức Mẹ:       Ôi ôi! Nó trả con tôi lại cho tôi như vầy!

Gioang:        Lạy Đức Mẹ, nhờ đó chúng con mới đặng vào nước thiên đàng.

Madalenna:  Nhờ đó, chúng con mới rõ lòng Người yêu dấu chúng con quá hậu.

Nicôđêmô:    Xin Đức Mẹ để chúng con ướp thuốc thơm, rồi liệm xác Người trong bức khăn nầy.

Madalenna:   (đổ thuốc thơm dưới chơn Đ.C.G.). Lạy Thầy tôi đổ thuốc thơm nơi chơn Thầy. Phen nầy là phen sau hết.

Giude Arimathia: Bây giờ ta hãy đem xác vào vườn, mà táng trong huyệt đá.

Đức Mẹ:       Ớ Giêsu, Con ôi! Này là việc sau hết Mẹ làm cho Con là đem con đi phần mộ. Xin Con đừng để Mẹ xa Con lâu ngày, một cho Mẹ hiệp vầy cùng Con cho kíp.

Đây là đoạn kịch với những lời thoại được hư cấu, nghĩa là không có trong Phúc âm, sử sách.

Hư cấu, nhưng vẫn dựa trên hiện thực và toát lên sự thật. Hiện thực của một cuộc vĩnh biệt người vô vàn đáng kính, đáng trọng. Sự thật của những tâm hồn đang lâm vào tấn thảm kịch khôn cùng: mẹ táng xác con, môn đệ chôn cất thầy, người ngưỡng mộ phải tự tay dọn huyệt chôn người mình trọng kính, khâm phục.

Nhưng các nhân vật vẫn nhìn ra trong thảm kịch vẫn ẩn chứa một khởi đầu cho một sự chuyển biến đầy hy vọng, vững tin: “Nhờ đó chúng con mới đặng vào nước thiên đàng” (lời Gioan), và: “Nhờ đó, chúng con mới rõ lòng Người yêu dấu chúng con quá hậu” (lời Mađalêna).

Quả thật, ngôn ngữ trong Tuồng Thương Khó, dù dựa trên sử sách hay hư cấu, thảy đều sống động, chân thực và gợi cảm, khắc họa rõ nét tính cách nhân vật, đảm nhận xuất sắc vai trò thúc đẩy diễn biến câu chuyện.

Như vậy, phải chăng Tuồng Thương Khó xứng đáng được nhìn nhận là tác phẩm văn học mở đường cho sự phát triển sau này của thể loại kịch quốc ngữ hiện đại?

* * *

Đọc lại Tuồng Thương Khó của hơn trăm năm trước, không chỉ như một nỗi bồi hồi hoài cổ “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo - Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (Thăng Long thành hoài cổ, Bà Huyện Thanh Quan), mà còn là dịp suy ngẫm sức sáng tạo và sự đóng góp qua sáng tạo nghệ thuật của những thế hệ tiền nhân.

Vâng, với Tuồng Thương Khó, Đức cha Nguyễn Bá Tòng đã cắm một cột mốc trên con đường hội nhập của Kitô giáo vào xã hội và văn hóa Việt Nam.

Và phải chăng, cũng ghi dấu ấn trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam vậy. 

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 106 (Tháng 5 & 6 năm 2018)

--------------------------------------

[1] Dẫn theo tư liệu photocopy “Tuồng Thương Khó - Linh mục GB Nguyễn Bá Tòng”của Ông Lêô Nguyễn Văn Quý, nguyên nhân viên Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn. Các trích dẫn trong bài đều từ tư liệu này. Các trích dẫn khác đều có chú thích riêng.

[2] dẫn: diễn.

[3] Avril: (tiếng Pháp) Tháng Tư.

[4] thiệp: vé.

[5] Trần Lục, Nguyễn Gia Đệ, Lê Hữu Mục, Bằng Phong, Phạm Xuân Thu, Trần Trung Lương - Làng Văn xuất bản, 1996, Canada.

[6] Báo Pháp ngữ, đặt trụ sở ở Hà Nội, tại địa điểm tòa soạn báo Hà Nội Mới ngày nay.

[7] Trần Lục, tr. 514

[8] tức Linh mục Théodore Wibaux (1820-1877), thuộc Hội Thừa sai Paris, giám đốc tiên khởi và là vị xây dựng cơ sở Chủng viện Sài Gòn. Phần mộ ngài hiện vẫn được giữ gìn, chăm sóc phía sau Nhà nguyện Chủng viện. Ngôi mộ này, thời xưa gọi là Lăng, được xây dựng xong năm 1913, và được làm phép vào hôm công diễn Tuồng Thương Khó, lúc 5 giờ chiều ngày 16 tháng Tư 1913.

[9] Tờ tuần báo Công giáo bằng chữ quốc ngữ, trụ sở tại Sài Gòn, số đầu tiên ra ngày 26-11-1908, số cuối cùng ngày 1-3-1945, gần 37 năm tồn tại.

[10] tất tưởi: tức tưởi

[11] Trần Lục, tr. 208-209

[12] tức Đức Chúa Giêsu

[13] tức Mađalêna

[14] lòng dạ phản trắc đáng ghê tởm.

[15] Phêrô

[16] họ đạo, giáo xứ

[17] báo

[18] chật ních

[19] các ghế ngồi theo hạng vé (Mục quảng cáo trên báo Nam Kỳ Địa Phận, năm 1913, tập 220, tr. 314, viết: “Thiệp phát cùng thiệp mua sẽ có ba hạng tùy 3 hạng chỗ ngồi”.

[20] bận

[21] người Pháp

[22] tiếng Việt

[23] chủng sinh

[24] thấm thía

[25] phiên âm Pascha (tiếng La tinh): lễ Vượt qua

[26] viết tắt của Đức Chúa Trời

[27] hết lòng hết sức

[28] Gioan