TRÍCH DẪN
Người đã chiến thắng để chúng ta cũng có thể chiến thắng như Người. Thật vậy, anh em thân mến, không có việc phi thường nào mà không phải trải qua thử thách và cám dỗ; không có đức tin nào mà không được thử luyện; không có cuộc giao đấu nào mà không có đối thủ; cũng chẳng có chiến thắng nào mà không phải chiến đấu. Cuộc đời chúng ta luôn ở giữa những cạm bẫy và những cuộc chiến. Nếu không muốn bị lừa gạt, chúng ta phải tỉnh thức; nếu muốn chiến thắng, chúng ta phải chiến đấu (Bài giảng của Thánh Lêô Cả)
SUY NIỆM
Khi Đức Hồng y Ratzinger được bầu làm Giáo hoàng và lấy tông hiệu Bênêđictô XVI, những lời đầu tiên ngài nói từ ban công Đền thờ Thánh Phêrô đã nhắc đến vị tiền nhiệm của mình là Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người mà ngài gọi là “vị Giáo hoàng vĩ đại”. Kể từ đó, nhiều người đã gọi Đức Gioan Phaolô II là “Gioan Phaolô Cả”. Trước đó, chỉ có ba vị giáo hoàng được tôn xưng rộng rãi là “Cả”: Thánh Grêgôriô Cả (590–604), Thánh Nicôla Cả (858–867) và vị giáo hoàng mà hôm nay chúng ta mừng kính, Thánh Lêô Cả (440–461), vị giáo hoàng đầu tiên được tôn xưng bằng danh hiệu ấy.
Thánh Lêô sinh tại vùng Toscana, thuộc Đế quốc Tây La Mã, vào thời kỳ đế quốc đang suy tàn vì liên tục bị các dân man di đe dọa xâm lược, cùng với những tranh chấp trong bộ máy cai trị và tình hình kinh tế khó khăn. Ngài xem mình là người Rôma vì đã sống những năm đầu đời tại thành phố này. Khi còn trẻ, ngài được truyền chức phó tế tại Rôma dưới triều Đức Giáo hoàng Cêlestinô và đã phục vụ ngài cũng như vị kế nhiệm là Đức Giáo hoàng Xystô III trong cương vị ấy từ năm 430 đến năm 439. Các phó tế tại Rôma đảm nhận nhiều công việc quan trọng trong đời sống Giáo hội, như tổ chức các hoạt động bác ái, các cử hành phụng vụ và các sứ vụ ngoại giao; đảm trách công việc quản trị và thường làm cố vấn cho Đức Giáo hoàng. Phó tế Lêô sớm được mọi người tại Rôma hết sức kính trọng vì ngài có kiến thức thần học uyên bác, sự khôn ngoan mục vụ, đức thận trọng và lòng can đảm hiếm ai sánh bằng.
Năm 439, một cuộc tranh chấp bùng nổ ở miền Bắc Đế quốc La Mã giữa một quan tổng trấn Rôma tên là Albinus và một vị tướng Rôma có thế lực tên là Aetius. Nhận thấy cần phải giải quyết cuộc tranh chấp để tránh xung đột nội bộ, thậm chí chiến tranh, Hoàng đế Tây La Mã đã đề nghị Đức Giáo hoàng cử Phó tế Lêô đi làm trung gian hòa giải. Trong khi ngài đang thi hành sứ vụ ngoại giao này, Đức Giáo hoàng Xystô III qua đời và hàng giáo sĩ Rôma đã nhanh chóng chọn Phó tế Lêô làm vị giáo hoàng mới. Khi nhận được tin, ngài trở về Rôma, được tấn phong giám mục ngày 29 tháng 9 năm 440 và tiếp nhận quyền kế vị Thánh Phêrô.
Ngay sau khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Lêô đã bắt tay vào công việc mà không chút chậm trễ. Trọng tâm sứ vụ của ngài là gìn giữ sự hiệp nhất trong đức tin chân chính, dưới sự hướng dẫn của vị Đại diện Đức Kitô. Vào thời ấy, giáo huấn về quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng chưa được minh định rõ ràng như ngày nay. Không phải ai cũng nhìn nhận Đức Giáo hoàng là mục tử và thầy dạy đức tin của toàn thể Giáo hội, với thẩm quyền phổ quát.
Một trong những cách Đức Lêô giảng dạy về quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng chính là thực thi quyền ấy. Khi biết có những lạc thuyết xuất hiện, ngài đã áp dụng các biện pháp kỷ luật. Phát hiện một số giáo sĩ tại Aquileia vẫn theo lạc thuyết của Pelagiô, ngài chỉ thị cho vị giám mục sở tại không được đón nhận họ trở lại hiệp thông nếu họ chưa hoàn toàn và công khai từ bỏ những sai lầm của mình. Tại Rôma, khi phát hiện một nhóm theo lạc thuyết Manikê, ngài đã tìm gặp các thành viên, công khai tranh luận với họ, cho đốt sách của họ với sự hỗ trợ của chính quyền dân sự và làm mọi điều có thể để loại trừ ảnh hưởng của nhóm này khỏi Giáo hội. Khi biết lạc thuyết Priscillianô đang lan rộng tại Tây Ban Nha, ngài đã viết một bức thư dài gửi các giám mục tại đây, chỉ rõ những sai lầm của lạc thuyết ấy và hướng dẫn các ngài cách thức loại trừ nó tận gốc. Qua tất cả những việc đó, Đức Lêô dần khẳng định vai trò đặc thù của Đức Giáo hoàng, chứ không chỉ là một người cha thiêng liêng giữa nhiều người khác. Ngài ý thức mình là vị Đại diện Đức Kitô và hành động với tư cách ấy, qua đó góp phần củng cố giáo huấn về quyền tối thượng của Đức Giáo hoàng.
Trong những thế kỷ đầu của Giáo hội, nhiều vấn đề và lạc thuyết đã xuất hiện và được các giám mục địa phương, các công đồng và công nghị giải quyết. Vào thế kỷ IV và V, sau khi Kitô giáo được hợp pháp hóa và nhận được sự hỗ trợ của Đế quốc La Mã, bốn công đồng chung đã được triệu tập nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến toàn thể Giáo hội, làm sáng tỏ giáo huấn chung về các vấn đề Kitô học, đồng thời lên án những quan điểm lạc giáo. Công đồng Nicêa là công đồng chung đầu tiên, được tổ chức năm 325. Ba công đồng tiếp theo là Constantinôpôli (381), Êphêsô (431) và Canxêđônia (451). Tại mỗi công đồng, Đức Giáo hoàng đều có vai trò trong việc chấp thuận các quyết định, trực tiếp hoặc thông qua các đặc sứ của mình. Trường hợp của Đức Lêô tại Công đồng Canxêđônia cũng như vậy.
Công đồng Canxêđônia được Hoàng đế La Mã triệu tập nhằm đối phó với lạc thuyết Nhất tính, vốn chủ trương rằng Đức Kitô chỉ có một bản tính duy nhất, hoặc là bản tính thần linh, hoặc là một bản tính hình thành do sự hòa trộn giữa thần tính và nhân tính. Đức Lêô đã thực thi thẩm quyền của mình trong Giáo hội khi không chấp thuận cho công đồng tiến hành nếu các đặc sứ của ngài không chủ tọa. Hoàng đế đã đồng ý. Nói về công đồng này, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định: “Công đồng này, được tổ chức vào năm 451 với sự tham dự của 350 giám mục, là cuộc hội họp quan trọng nhất từng được tổ chức trong lịch sử Giáo hội.” Ngài giải thích thêm rằng Công đồng Canxêđônia là đỉnh cao và sự hoàn tất của ba công đồng chung trước đó, giúp Giáo hội đạt đến sự hiểu biết mang tính xác định về bản tính của Đức Kitô, về Thiên Chúa Ba Ngôi và về Mẹ Thiên Chúa.
Đức Lêô đã gửi theo các đặc sứ đến Công đồng Canxêđônia một bức thư dài mà trước đó ngài đã gửi cho Đức Tổng Giám mục Constantinôpôli. Trong thư, ngài trình bày giáo huấn rằng Đức Kitô có hai bản tính phân biệt, hiệp nhất trong một Ngôi vị duy nhất, chứ không chỉ có một bản tính. Bức thư nổi tiếng này, được gọi là “Thư Tín lý của Đức Lêô” (Tome of Leo), có đoạn viết:
Như vậy, trong khi các đặc tính của mỗi bản tính và bản thể vẫn được bảo toàn nguyên vẹn và cùng kết hợp trong một Ngôi vị duy nhất, thì sự uy nghi đã nhận lấy thân phận khiêm hạ; sức mạnh đã nhận lấy sự yếu đuối; sự vĩnh cửu đã nhận lấy thân phận phải chết. Để trả món nợ gắn liền với thân phận chúng ta, bản tính không thể chịu đau khổ đã kết hợp với bản tính có thể chịu đau khổ. Nhờ đó, phù hợp với việc chữa lành những khốn khổ của chúng ta, cùng một Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, là con người Đức Giêsu Kitô, có thể chịu chết theo bản tính này, nhưng không thể chết theo bản tính kia. Như thế, Thiên Chúa thật đã được sinh ra trong bản tính trọn vẹn và hoàn hảo của một con người thật; Người trọn vẹn trong những gì thuộc về mình và trọn vẹn trong những gì thuộc về chúng ta.
Khi bức thư được đọc trước toàn thể các giám mục tham dự công đồng, các ngài đã đồng thanh tung hô: “Phêrô đã lên tiếng qua Lêô!” Sau đó, dựa trên bức thư của Đức Lêô, một sắc lệnh đã được soạn thảo, trình bày giáo huấn đức tin chính thống và tuyên bố quan điểm Nhất tính là lạc thuyết.
Năm 451, các dân man di từ phương Bắc tiến vào miền Bắc nước Ý với ý định chinh phục Đế quốc Tây La Mã. Trước khi quân xâm lược tiến đến Rôma, Đức Lêô đã đích thân ra gặp họ để thương lượng hòa bình. Tương truyền rằng, khi ngài gặp thủ lĩnh của họ là Attila, vua người Hung, hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô đã hiện ra phía sau Đức Giáo hoàng, tay cầm gươm với dáng vẻ đầy uy nghiêm và đe dọa. Cảnh tượng ấy khiến Attila kinh hãi đến nỗi ông cùng quân đội phải rút lui vì lo sợ cho tính mạng của mình.
Trong những năm cuối đời tại Rôma, Đức Lêô dành thời gian cho việc rao giảng và giảng dạy. Ngài để lại khoảng 100 bài giảng và 150 bức thư, trong đó trình bày nhiều giáo huấn rõ ràng về Đức Kitô và Giáo hội, với cách diễn đạt vừa mang tính mục vụ vừa có sức thuyết phục. Những bức thư và bài giảng này đã có ảnh hưởng sâu rộng đối với tư tưởng Công giáo trong các thời kỳ tiếp theo. Đức Lêô cũng cổ võ đời sống đạo đức cá nhân, việc ăn chay và bố thí. Ngài làm cho đời sống phụng vụ thêm sinh động, chăm sóc người đau yếu, xây dựng các thánh đường và rao giảng Tin mừng cho đoàn dân được trao phó cho ngài.
Hôm nay, khi mừng kính Thánh Lêô Cả, chúng ta hãy suy ngẫm về ảnh hưởng lớn lao mà một con người đã để lại trong đời sống Giáo hội. Dù ngày nay ngài không được nhiều người biết đến, các tín hữu vẫn tiếp tục thừa hưởng những thành quả từ sứ vụ của ngài, nhờ đường hướng ngài đã dẫn dắt Giáo hội trong triều đại giáo hoàng của mình, cũng như ảnh hưởng của các trước tác của ngài đối với tiến trình hình thành và phát triển giáo lý Kitô giáo. Chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì cuộc đời của ngài, đồng thời cầu nguyện cho Đức Giáo hoàng đương nhiệm và các vị giáo hoàng kế nhiệm, để các ngài biết noi gương Thánh Lêô Cả trong việc thi hành sứ vụ của mình.
CẦU NGUYỆN
Lạy Thánh Lêô Cả, ngài đã thi hành sứ vụ giáo hoàng với lòng khiêm nhường và nghị lực, với sự khôn ngoan và tài ngoại giao mục vụ, để dẫn dắt Giáo hội vượt qua một giai đoạn đầy khó khăn. Xin chuyển cầu cho con, để con biết noi gương ngài, luôn kiên vững trong đức tin và làm hết sức mình để dẫn đưa tha nhân đến với Thiên Chúa.
Lạy Thánh Lêô Cả, xin cầu cho con. Amen.
Lm. Giuse Phạm Hoài Vũ chuyển ngữ từ mycatholic.life
