Người giáo dân thi hành sứ vụ tông đồ trong thế giới hôm nay theo Tông huấn Christifideles Laici

19/12/2020


NGƯỜI GIÁO DÂN THI HÀNH SỨ VỤ TÔNG ĐỒ TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY THEO TÔNG HUẤN CHRISTIFIDELES LAICI

Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên
Thư ký UB.LBTM

WHĐ (19.12.2020)Tông Huấn của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, “Christifideles laici” (“Các Kitô hữu giáo dân”) được công bố ngày 30-12-1988, sau Thượng Hội Đồng Giám Mục (THĐGM) lần thứ 7 (1 - 30 tháng 10, 1987) với chủ đề “Ơn gọi và Sứ mạng của người giáo dân trong Hội Thánh và trong Thế Giới hai mươi năm sau Công Đồng Vaticanô II.” Chủ đề của THĐGM cho thấy rõ nội dung của THĐGM là khai triển đường hướng của Vaticanô II về Vai trò và Sứ mạng của người giáo dân trong Hội Thánh. Tông Huấn Christifideles laici của ĐGH Gioan Phaolô II đúc kết các thành quả của THĐGM này và có thể được gọi là một “Hiến Chương Tông Đồ của Người Giáo Dân.”

Bản văn Tông Huấn gồm một đoạn mở đầu (các số 1-7) và 5 chương:

I. Phẩm giá của người giáo dân trong Hội Thánh-Mầu Nhiệm (số 8-17)

II. Sự tham dự của giáo dân vào đời sống của Hội Thánh-Hiệp Thông (số 18-31)

III. Tinh thần đồng trách nhiệm của giáo dân trong Hội Thánh- Sứ vụ (số 32-44)

IV. Những người quản lý tốt ân sủng muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa (số 45-46)

V. Việc huấn luyện người giáo dân (số 57-64)

Tông Huấn kết thúc bằng một lời cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria.

Christifideles laici khai triển dựa trên các hình ảnh Kinh Thánh về vườn nho (Mt 20,1) và về cây nho và cành nho (Ga 15,5). Theo Đức Gioan Phaolô II, có thể nói tầm quan trọng của THĐGM 1987 hệ tại sự nhìn nhận của THĐGM rằng mọi người được nghe tiếng Chúa kêu gọi vào làm vườn nho của Người (số 64). [1]

Vườn nho biểu thị toàn thể thế giới cần được biến đổi (số 1).[2] Câu Kinh Thánh, “Thầy là cây nho, anh em là cành nho,” “khiến chúng ta nghĩ về việc sinh hoa kết quả và sự sống... Sinh hoa kết quả là một đòi hỏi cơ bản của đời sống trong Đức Kitô và trong Hội Thánh” (số 32).[3] 

Ý muốn của Đức Thánh Cha là khuyến khích các khả năng và trách nhiệm của người giáo dân trong sự hiệp thông và sứ mạng của Hội Thánh (số 2).[4] Do đó điều cơ bản là phải nhìn các khả năng và trách nhiệm này trong “bối cảnh sự hiệp thông của Hội Thánh” (số 18).[5] trong đó mỗi người giáo dân “có phần đóng góp hoàn toàn độc đáo của mình cho toàn thân thể” (số 20).[6]

Phẩm giá và sứ mạng của người tín hữu giáo dân đặt nền trên “sự mới mẻ triệt để của đời sống Kitô hữu phát sinh từ Phép Rửa” (số 10).[7] Đức Thánh Cha chấp nhận lời kêu gọi của THĐGM mô tả người giáo dân bằng các thuật ngữ có tính khẳng định (thay vì phủ định, như kiểu mô tả rằng các giáo dân “không phải là” linh mục hay tu sĩ thánh hiến), vì thế ngài nhấn mạnh rằng chỉ có thể mô tả một cách cơ bản về người giáo dân bằng cách nhìn nhận sự phong phú của mầu nhiệm Phép Rửa (số 9).[8] Ơn gọi nên thánh là phổ quát và đặt nền trên Phép Rửa; trên thực tế, “ơn gọi nên thánh” là một yếu tố cơ bản của đời sống mới trong Phép Rửa (số 17)[9].

Ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân là loan báo Tin Mừng (số 33)[10] và đóng một vai trò chủ động, có trách nhiệm trong việc tái Phúc Âm hóa thế giới.[11]

Chủ đề Kinh Thánh về việc sinh hoa kết quả được Đức Thánh Cha nhấn mạnh một lần nữa khi thảo luận về mục tiêu của việc đào luyện người giáo dân, đó là không ngừng khám phá ra ơn gọi của mỗi cá nhân và “ngày càng muốn sống ơn gọi ấy hơn” (số 58).[12] Đức Thánh Cha nhấn mạnh việc đào luyện toàn diện và liên tục (số 57).[13]

Nét đặc trưng của bậc giáo dân là ở “tính chất trần thế” của bậc này (số 55).[14] Ơn gọi người giáo dân “liên quan cách riêng tới tình huống của họ trong thế giới” (số 15).[15] Cần tránh hai cám dỗ: (1) quá quan tâm tới các “việc phục vụ và việc đạo” khiến người giáo dân không “tích cực tham gia các trách nhiệm của họ” trong thế giới; (2) “bào chữa cho sự tách biệt không thể biện minh giữa đức tin và đời sống” (số 2).[16] Việc đào luyện giáo dân phải được tích hợp, chứ không được trình bày đời sống “thiêng liêng” và đời sống “trần thế” như thể hai đời sống song song không liên quan gì với nhau (số 59).[17] Đức Thánh Cha nói thêm rằng đức tin mà không tác động tới văn hóa của một người là một đức tin “không được suy nghĩ thấu đáo, không được sống một cách trung thành” (số 59).[18]

Khi đề cập đến vai trò người phụ nữ trong Hội Thánh, Đức Thánh Cha trích lại một khuyến nghị của THĐGM rằng:

- Hội Thánh cần “nhìn nhận mọi tài năng của những người nam và người nữ cho đời sống và sứ mạng của Hội Thánh, và sử dụng các tài năng ấy” (số 49).[19] với những dịch vụ và trách vụ trong Giáo Hội, đến nỗi đôi khi sao lãng trên thực tế các trách nhiệm chuyên môn của mình thuộc các lãnh vực nghề nghiệp, xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị; cám dỗ ngược lại là bào chữa cho sự tách biệt không thể biện minh giữa đức tin và đời sống, giữa việc đón nhận Tin Mừng và hoạt động cụ thể trong các lãnh vực trần thế khác nhau.”

Nhiều quy định của Bộ Giáo Luật 1983 về sự tham gia của phụ nữ trong đời sống và sứ mạng của Hội Thánh cần phải được phổ biến rộng rãi hơn và “được thể hiện kịp thời và quyết tâm hơn” (số 51).[20]

Bước đầu tiên để cổ vũ sự tham gia đầy đủ trong Hội Thánh và xã hội là công khai nhìn nhận phẩm giá cá nhân của họ (số 49).[21]

Các mục tử của Hội Thánh cần “nhìn nhận và khuyến khích” các thừa tác vụ, chức vụ, và vai trò của giáo dân “được đặt nền trên Phép Rửa, Thêm Sức và Hôn Phối.” Đức Thánh Cha lưu ý rằng trong THĐGM, “có một lời phê bình được nêu lên” về việc sử dụng thuật ngữ “thừa tác vụ” một cách quá bừa bãi khiến người ta lẫn lộn hay san bằng chức tư tế cộng đồng với chức tư tế thừa tác (số 23).[22] Các thừa tác vụ, chức vụ và vai trò của giáo dân trong Hội Thánh cần phải được “thi hành phù hợp với ơn gọi giáo dân chuyên biệt của họ” (ibid.). Tiếp theo là phần trình bày về các đoàn sủng và các ơn của Chúa Thánh Thần (số 24).[23]

Ngoài ra, Tông Huấn cũng bàn đến các mối quan tâm khác bao gồm các vấn đề về người già, các hiệp hội và các phong trào, văn hoá, gia đình, vai trò của nam giới, giáo xứ, đời sống công cộng và chính trị, các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ, linh đạo, lao động và giới trẻ.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 104 (Tháng 1 & 2 năm 2018)



[1]  Số 64: “Để kết luận văn kiện hậu-thượng-hội-đồng này, một lần nữa, tôi nhắc lại lời kêu mời của “chủ vườn nho” như Tin Mừng đã nói: Cả các anh nữa, hãy đi làm vườn nho cho tôi ! Có thể nói rằng ý nghĩa mà Thượng-hội-đồng hiểu về ơn gọi và sứ vụ của giáo dân nằm ngay trong lời kêu mời này của Đấng Cứu Thế gửi tới mọi người, đặc biệt các giáo dân, nam cũng như nữ...”.

[2]  Số 1: “... Dụ ngôn của Tin Mừng mở ra trước mắt chúng ta vườn nho mênh mông của Chúa, và một đám đông con người, cả nam lẫn nữ, được Chúa mời gọi và sai đi làm tại vườn nho. Vườn nho, chính là thế giới (x. Mt 13, 38), phải được biến đổi theo chương trình của Thiên Chúa, hướng tới ngày hoàn thành chung cuộc của Nước Thiên Chúa.  

[3]  Số 32: “Chúng ta lấy lại hình ảnh cây nho và cành nho trong Kinh Thánh. Một cách trực tiếp và tự nhiên, hình ảnh này giúp ta nhận định về khả năng sinh sản và về sự sống. Được tháp nhập vào cây nho, nhận sức sống từ cây nho, các cành nho được kêu gọi trổ sinh hoa trái: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15, 5). Đơm hoa kết trái là một đòi hỏi cốt yếu trong đời sống Kitô hữu cũng như trong đời sống Giáo Hội. Ai không sinh hoa trái là không ở trong sự hiệp thông: “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người (Cha tôi) chặt đi” (Ga 15, 2).  

[4] Số 2: “... Tông Huấn này nhằm mục đích khơi dậy và nuôi dưỡng một ý thức rõ nét hơn về ân huệ và trách nhiệm của tất cả và của từng giáo dân, trong sự hiệp thông và trong sứ vụ của Giáo Hội.”

[5] Số 18: “Chúng ta hãy nghe lại câu nói của Đức Giêsu: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho…Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15, 1-4). 

[6] Số 20: “Nói chính xác hơn, sự hiệp thông Giáo Hội là một sự hiệp thông “hữu cơ”, tương tự như sự hiệp thông của một thân thể sống và hoạt động: thực vậy, sự hiệp thông này có đặc tính là cùng một lúc có sự khác biệt và sự bổ túc giữa các ơn gọi và các hoàn cảnh sống, các tác vụ, các đặc sủng và trách nhiệm. Nhờ sự khác biệt và bổ túc này, mỗi giáo dân có tương quan với toàn thân thể và, đóng góp phần riêng của mình vào thân thể đó.”

[7] Số 10: “... toàn bộ đời sống của giáo dân có mục đích đưa họ tới chỗ nhận biết sự mới mẻ căn bản Kitô-giáo phát sinh từ bí tích Thánh Tẩy, bí tích của lòng tin, để họ có thể thực hiện những nghĩa vụ theo đúng ơn gọi đã được Thiên Chúa ấn định. Để phác họa “dung mạo” của người giáo dân, chúng ta hãy xem xét một cách trực tiếp và rõ ràng hơn những khía cạnh căn bản sau đây, trong số nhiều khía cạnh khác: Bí tích Thánh Tẩy tác sinh chúng ta vào cuộc sống con cái Thiên Chúa; kết hiệp chúng ta với Đức Kitô và với Thân Thể của Ngài là Giáo Hội; xức dầu cho chúng ta trong Thánh Thần qua việc biến chúng ta thành những đền thờ thiêng liêng.

[8] Số 9: “...Việc tháp nhập vào Đức Kitô nhờ đức tin và nhờ các bí tích khai tâm Kitô-giáo là gốc rễ đầu tiên tạo nên địa vị mới của người Kitô-hữu trong mầu nhiệm Giáo Hội, làm thành “dung mạo” sâu sắc nhất của họ, làm nền tảng cho tất cả mọi ơn gọi và tính năng động của đời sống kitô-hữu giáo dân: trong Đức Giêsu-Kitô tử nạn và phục sinh, người được thánh tẩy trở nên một “thụ tạo mới” (Gl 6, 15 ; 2 Cr 5, 17), một thụ tạo được thanh tẩy khỏi tội lỗi và được sống nhờ ân sủng.

“Như vậy, chỉ nhờ việc khai thác kho tàng phong phú huyền nhiệm do Thiên Chúa ban cho người kitô-hữu trong bí tích thánh tẩy mà người ta có thể phác họa được “dung mạo” người giáo dân.”

[9] Số 17: “...các Nghị Phụ Thượng-hội-đồng đã tuyên bố: “Sự thống nhất đời sống của giáo dân là cực kỳ quan trọng. Thực vậy, họ phải tự thánh hóa bản thân trong cuộc sống thường ngày, cuộc sống nghề nghiệp và xã hội. Để có thể đáp ứng ơn gọi của mình, giáo dân phải coi cuộc sống hằng ngày của mình như một cơ hội kết hiệp với Thiên Chúa và chu toàn thánh ý Người, đồng thời coi đó là cơ hội phục vụ người khác, bằng cách đưa họ về hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô.”

[10] Số 33: “Chính vì là thánh phần của Giáo Hội, nên giáo dân có ơn gọi và sứ mạng loan báo Tin Mừng: họ có tư năng và dấn thân vào hoạt động này nhờ các bí tích khai tâm Kitô-giáo và các ân huệ Chúa Thánh Thần.

“Nhờ loan báo Tin Mừng, Giáo Hội tự kiến thiết và hình thành như một cộng đồng đức tin, chính xác hơn, như cộng đồng của một đức tin được tuyên xưng qua việc gắn bó với Lời Chúa, được cử hành trong các bí tích, và được sống trong đức ái là linh hồn của đời sống luân lý Kitô-giáo. Thực vậy, “Tin Mừng” nhằm thức tỉnh nơi tâm hồn và đời sống con người sự hoán cải và gắn bó cá nhân với Đức Giêsu-Kitô, Đấng Cứu Độ và là Chúa; Tin Mừng chuẩn bị cho người ta đón nhận bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể, và được củng cố trong quyết tâm và thực hiện đời sống mới theo Thần Khí.

“Chắc chắn rằng mệnh lệnh của Đức Giêsu “Hãy đi rao giảng Tin Mừng” vẫn luôn mang giá trị trường tồn và buộc phải thi hành cấp bách. Tuy nhiên, tình hình hiện nay không những trên thế giới mà cả trong nhiều lãnh vực của Giáo Hội đang tuyệt đối đòi hỏi lời của Đức Kitô phải được tuân theo một cách mau lẹ và quảng đại hơn. Mỗi người môn đệ được gọi đích danh, không ai có thể từ chối lời đáp trả của riêng mình: “Khốn thân tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1 Cr 9, 16).”

[11] Số 64: “Trước thềm thiên niên kỷ thứ ba, toàn thể Giáo Hội, các chủ chăn cũng như tín hữu, phải cảm thấy mạnh mẽ hơn trách nhiệm của mình là tuân phục lệnh truyền của Chúa Kitô: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16, 15), và có một hứng khởi truyền giáo mới. Giáo Hội được trao phó một công trình có tầm mức lớn lao, có nhiều đòi hỏi và rất huy hoàng rực rỡ: công trình của cuộc phúc-âm-hóa mới mà thế giới ngày nay đang hết sức cần đến. Giáo dân phải cảm thấy mình có dự phần trong công trình này, được kêu gọi để loan báo và sống Tin Mừng, bằng cách phục vụ con người và xã hội trong tất cả những gì là giá trị và đòi hỏi nơi cả hai.”

[12] Số 58: “Việc huấn luyện giáo dân có một mục tiêu cơ bản là giúp họ khám phá ngày một rõ ràng hơn ơn gọi cá nhân của họ và giúp họ sẵn sàng ngày một nhiều hơn để sống ơn gọi đó trong việc chu toàn sứ vụ riêng của họ.”

“Thế mà, để có thể khám phá ra ý định cụ thể của Chúa về đời sống chúng ta, cần phải có các điều kiện: mau mắn và ngoan ngoãn lắng nghe Lời Chúa, trung thành và kiên tâm cầu nguyện, tiếp xúc với vị hướng dẫn thiêng liêng khôn ngoan và từ ái, nhìn ra, trong niềm tin, những ân điển và những tài năng mình đã nhận được, đồng thời cũng nhìn ra những hoàn cảnh xã hội và lịch sử khác nhau mà mình đang sống.”

[13] Số 57: “Chính trong cuộc đối thoại này giữa Thiên Chúa kêu gọi và con người được gọi trong ý thức trách nhiệm của mình, mà người ta thấy có thể và thậm chí cần thiết phải có một sự huấn luyện toàn vẹn và thường xuyên cho người giáo dân. Các Nghị Phụ Thượng-hội-đồng đã có lý khi dành một phần lớn công việc của mình cho điều đó. Đặc biệt, sau khi diễn tả việc huấn luyện người giáo dân như “một tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Kitô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”, các ngài xác quyết rõ ràng : “Việc huấn luyện giáo dân phải nằm trong số những ưu tiên của giáo phận và phải có chỗ đứng trong chương trình hoạt động mục vụ, sao cho mọi cố gắng của cộng đồng (các linh mục, giáo dân, tu sĩ) đều quy hướng về mục đích này.” 

[14] Số 55: “Như thế, bậc sống của giáo dân có một nét riêng biệt là tính cách trần thế. Bậc sống này thực hiện một dịch vụ thuộc Giáo Hội, qua việc chứng thực và nhắc lại, theo cách của mình, cho các linh mục và tu sĩ nam nữ, ý nghĩa của các thực tại trần thế và tạm thời trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.”

[15] Số 15: “Chắc chắn rằng mọi chi thể của Giáo Hội đều tham dự vào chiều kích trần thế này, nhưng theo những cách thức khác nhau. Đặc biệt, sự tham dự của người giáo dân có một thể thức thực hiện và chức năng, một thể thức mà, theo Công Đồng, là “riêng biệt và đặc thù” của họ: thể thức này được gọi là “tính cách trần thế. “Một cách cụ thể, Công Đồng nói về cảnh sống trần thế của giáo dân bằng cách trình bày cảnh sống ấy, trước tiên, như là môi trường trong đó họ được Thiên Chúa mời gọi: ‘Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ.' Ở đây, ‘nơi' được trình bày bằng những hạn từ có tính cách năng động: giáo dân sống giữa trần gian, nghĩa là dấn thân vào tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội, tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ.” Đó là những con người có một đời sống bình thường trong trần gian, học hỏi, làm việc, thiết lập những tương quan bạn bè, xã hội, nghề nghiệp, văn hóa. Công Đồng không chỉ coi hoàn cảnh của họ như một khung cảnh bên ngoài, một môi trường chung quanh, trái lại như một thực tại nhằm tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn của mình nơi Đức Giêsu-Kitô.

“Như vậy, ‘trần gian' trở thành môi trường và phương tiện cho ơn gọi Kitô-giáo của giáo dân, bởi vì chính nó được dành để tôn vinh Thiên Chúa Cha trong Đức Kitô.”

[16] Số 2: “Đồng thời, Thượng-hội-đồng cũng không quên ghi nhận rằng con đường thời hậu-công-đồng của giáo dân không phải là không có khó khăn và nguy hiểm. Cụ thể, phải nhắc đến hai cám dỗ mà không phải lúc nào cũng tránh được: cám dỗ quá miệt mài.

[17]  Số 59: “Đối với người giáo dân, việc khám phá và thực hiện ơn gọi và sứ mạng cá nhân đòi họ phải được huấn luyện để có một cuộc sống thống nhất, là nét ghi dấu nơi chính hữu thể của họ, với tư cách là những chi thể của Giáo Hội và là công dân của xã hội nhân loại.

“Trong cuộc sống của họ, không thể có hai đời sống song song: một bên là đời sống gọi là “thiêng liêng” với những giá trị và những đòi hỏi riêng; và bên kia là đời sống “trần thế”, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội và sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được ghép vào cây nho là Đức Kitô sẽ trổ sinh hoa trái trong mọi lãnh vực của hoạt động và của cuộc sống. Thực vậy, mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng muốn những lãnh vực đó là “môi trường lịch sử” để đức ái của Đức Giêsu-Kitô được mặc khải và thực thi, nhằm vinh quang Chúa Cha và phục vụ các anh em. Mọi hoạt động, mọi tình huống, mọi dấn thân cụ thể – chẳng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, sự yêu thương và tận tụy trong gia đình cũng như việc giáo dục con cái, dịch vụ xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa – tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để “không ngừng thực thi đức tin, đức cậy và đức mến.” 

[18] Số 59: “Công Đồng Vatican II đã kêu gọi mọi người giáo dân hướng tới sự thống nhất đời sống này khi Công Đồng mạnh mẽ tố giác tính cách trầm trọng  của sự phân cách giữa đức tin và đời sống, giữa Tin Mừng và Văn Hóa...

“Đó là lý do vì sao tôi đã khẳng định rằng một đức tin mà không trở thành văn hóa là một đức tin không được đón nhận trọn vẹn, không được suy nghĩ thấu đáo, và không được sống một cách trung thành.” 

[19] Số 49: “Nhắc lại mệnh lệnh của Công Đồng Vatican II là mệnh lệnh phản ánh sứ điệp Tin Mừng cũng như lịch sử Giáo Hội, các Nghị Phụ Thượng-hội-đồng đã đưa ra một khuyến dụ rõ ràng, trong số nhiều khuyến dụ khác, như sau: “Qua đời sống và sứ mạng của mình, Giáo Hội phải nhìn nhận tất cả những ân huệ của nữ giới cũng như của nam giới và đưa vào lãnh vực thực hành”. Lại nữa: Thượng-hội-đồng này tuyên bố rằng Giáo Hội đòi phải công nhận và sử dụng tất cả những ân huệ, những kinh nghiệm và khả năng của nam giới cũng như nữ giới, để sứ vụ của Giáo Hội đạt được hữu hiệu hơn.” 

[20] Số 51: “Hơn nữa, Giáo Luật cũng chứa đựng nhiều quy định về sự tham gia của phụ nữ vào đời sống và sứ vụ của Giáo Hội: đó là những quy định cần được quảng bá rộng rãi hơn, được thực hiện thích đáng và rõ nét hơn, mà vẫn tôn trọng những dị biệt về cảm thức văn hóa và các nhu cầu mục vụ.

“Chẳng hạn, người ta phải nghĩ đến sự tham gia của phụ nữ vào Hội Đồng mục vụ của giáo phận và các giáo xứ, cũng như vào những Công Nghị giáo phận và các Công Đồng địa phương. Chính theo nghĩa đó, các Nghị Phụ Thượng-hội- đồng đã viết: ‘Ước mong các phụ nữ cũng được tham gia vào đời sống Giáo Hội, không có một sự kỳ thị nào, ngay cả trong việc tư vấn và soạn thảo các quyết nghị’. Hơn nữa, ‘Phụ nữ đã có một vị trí quan trọng trong việc truyền đạt đức tin và chu toàn những dịch vụ đủ loại trong đời sống Giáo Hội, họ phải được góp phần soạn thảo các văn kiện mục vụ và những sáng kiến truyền giáo; họ phải được công nhận như những người cộng tác vào sứ vụ của Giáo Hội  trong gia đình, nghề nghiệp và xã hội’”. 

[21] 21 Số 49: “Dựa vào giáo huấn của Đức Gioan XXIII, người đã nhìn thấy việc phụ nữ ý thức về phẩm giá riêng của họ và gia nhập vào đời sống công cộng như một dấu chỉ thời đại, các Nghị Phụ Thượng-hội-đồng, đứng trước tình trạng phân biệt đối xử và gạt ra ngoài lề bằng nhiều hình thức rất khác nhau mà phụ nữ phải chịu chỉ vì họ là phụ nữ, đã nhiều lần mạnh mẽ xác quyết phải bảo vệ và thăng tiến nhân phẩm của nữ giới cũng như sự bình đẳng của họ đối với nam giới.”

[22] Số 23: “Tuy thế, cũng trong Thượng-hội-đồng vừa qua, bên cạnh những nhận định tích cực, cũng không thiếu những phê phán. Các phê phán này đề cập đến việc sử dụng không phân biệt từ ngữ ‘thừa tác vụ’, sự lẫn lộn và đôi khi san bằng giữa chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác, việc áp dụng không đúng đắn một số quy tắc và luật lệ của Giáo Hội, giải thích tùy tiện theo quan niệm ‘thay thế’, khuynh hướng ‘giáo sĩ hóa’ giáo dân và nguy cơ tạo nên trong thực tế một cơ cấu phục vụ trong Giáo Hội song song với cơ cấu đặt nền tảng trên bí tích Truyền Chức Thánh.

“Hẳn nhiên, để tránh những nguy cơ ấy, các Nghị Phụ đã nhấn mạnh nhu cầu phải minh định, bằng thuật ngữ chính xác hơn, sự duy nhất về sứ vụ của Giáo Hội, mà mọi người đã chịu Phép Thánh Tẩy đều được tham dự, và sự khác biệt chính yếu về tác vụ của các chủ chăn, đặt nền tảng trên bí tích Truyền Chức Thánh, so với các tác vụ, chức vụ và nhiệm vụ khác trong Giáo Hội, đặt nền tảng trên bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức.” 

[23] Số 24: “Khi trao phó cho Giáo Hội - Hiệp Thông những tác vụ khác nhau, Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội thêm phong phú nhờ những ân huệ và những thôi thúc đặc biệt khác nữa, được gọi là các đoàn sủng. Các đoàn sủng có thể mặc những hình thức rất khác nhau, hoặc như một cách cho thấy Thánh Thần là Đấng tự do tuyệt đối trong việc ban phát các đoàn sủng, hoặc như một cách đáp lại muôn vàn đòi hỏi trong lịch sử Giáo Hội. Bản mô tả và xếp loại các ân huệ này trong Tân Ước là một dấu chỉ về tính đa dạng của đặc sủng: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri ; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ” (1 Cr 12, 7-10 ; x. 1 Cr 12, 4-6. 28-31; Rm 12, 6-8 ; 1 Pr 4, 10-11). Bài viết dựa theo D. Gibson, tại: encyclopedia.com . Các trích dẫn Tông Huấn lấy từ bản dịch tiếng Việt Christifideles laici tại: simonhoadalat.com 

LỊCH PHỤNG VỤ