Ngày 21 tháng Mười Hai

Thánh PHÊRÔ CANISIÔ, linh mục tiến sĩ Hội Thánh

(1521–1597)

Thánh Phêrô Kanijs (Canisiô) sinh tại Nimègue miền Geldria nước Hòa Lan năm 1521, nhưng ngài đã sống hầu như suốt cuộc đời tại Ðức. Năm 1543, ngài vào dòng Tên tại Cologne, và nổi tiếng là một học giả uyên thâm trong nhiều lĩnh vực. Ngài đã từng giữ chức vụ giáo sư, giảng thuyết, dạy giáo lý, sứ giả của Ðức Thánh Cha, Bề Trên nhà dòng, Giám tỉnh tại Ðức và Áo, thiết lập các chủng viện và học viện. Ngoài ra, ngài còn là một nhà văn, đã viết nhiều tác phẩm giá trị và được phổ biến khắp nơi, chúng ta phải kể đến cuốn “Tổng luận về giáo lý Công Giáo” (1555) và nhất là cuốn “Giáo lý” (1556). Các hoạt động của ngài chỉ nhằm một mục đích là phục vụ Giáo Hội, chống lại học thuyết của Luther đang bành trướng tại Ðức. Vào thế kỷ thứ XVI, một phần lớn nước Ðức còn lại trung thành với Giáo Hội, đó là công lao của thánh Phêrô Canisiô. Ngài đã trải qua những năm sau cùng tại Fribourg (Thụy Sĩ) với những chức vụ khiêm nhường trong lĩnh vực hoạt động tông đồ và bác ái.

Ngài qua đời tại đây ngày 21-12-1597, hưởng thọ 76 tuổi.

Ðức Giáo Hoàng Piô XI đã phong ngài lên bậc Hiển Thánh và đồng thời ban cho tước hiệu tiến sĩ Hội Thánh năm 1925.

Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN THI, linh mục

và Thánh Anrê TRẦN AN DŨNG (LẠC), linh mục

(+1839)

- Thánh Phêrô Trương Văn Thi (chú ruột của Thánh Phêrô Trương Văn Ðường) sinh năm 1763 tại Kẻ Sở (Hà Nam) trong một gia đình công giáo nghèo nhưng đạo hạnh. Năm 11 tuổi, ngài dâng mình trong nhà Ðức Chúa Trời. Ðến năm 1796, ngài được nhận làm thầy giảng. Vì đời sống gương mẫu và có khả năng, nên ngài được gọi về học thần học để lãnh nhận các chức thánh, và thụ phong linh mục ngày 22-3-1806. Sau đó làm cha sở ở Sông Chẩy, năm 1832 coi xứ Kẻ Sông. Ngài cùng bị bắt với cha Anrê Dũng (Lạc) và được phúc tử đạo, hưởng thọ 76 tuổi.

- Thánh Anrê Trần An Dũng (Lạc), nguyên quán thuộc tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình nghèo và ngoại giáo. Khi ngài còn nhỏ, gia đình đã bỏ quê ra Hà Nội kiếm kế sinh nhai. Tại đây, ngài được một thầy giảng đem về Vĩnh Trị dạy các lẽ đạo, rồi chịu phép Rửa Tội. Sau khi theo học chữ Hán và La Tinh, ngài nhận nhiệm vụ thầy giảng và sau ít năm truyền giáo, được lãnh chức linh mục ngày 15-3-1823. Sau đó, ngài làm cha sở Kẻ Ðầm, và bị bắt tống ngục vào năm 1835. Nhưng rồi lại được thả về nhờ một người tân tòng bỏ tiền chuộc, và từ đó, ngài đổi tên là Anrê Lạc.

Ngày 10-11-1839, cha Anrê Lạc tới họ Kẻ Sông xưng tội với cha Phêrô Thi, không ngờ gặp lúc lính triều đình đi lục soát bắt các linh mục. Thế là hai cha và một số bổn đạo bị bắt. Lính đòi mười hai quan tiền để thả hai cha, nhưng vì giáo dân nghèo không lo đủ, nên chúng chỉ tha một mình cha Anrê Lạc vì chưa biết là linh mục. Tuy nhiên, trên đường lẩn trốn, vì bị hạch hỏi nên ngài đã tỏ mình là linh mục. Do đó, ngài bị bắt lại, và cùng với cha Phêrô Thi, bị điệu đi Hà Nội. Tại đây, tuy không bị đánh đập gì, nhưng vì dụ dỗ không được, quan liền sai lính khiêng hai cha quá khóa, và nhờ lanh lẹ, cha Anrê Lạc đã ôm hôn Thánh Giá. Trong tù, các ngài luôn hiên ngang bênh vực đạo thánh và giữ vững đức tin, và hân hoan đón nhận án tử hình được vua Minh Mạng châu phê.

Ngày 21-12-1839, sau khi rước Mình Thánh Chúa, hai ngài bị áp giải đi xử trảm tại pháp trường Cầu Giấy (Hà Nội).

Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong hai ngài lên hàng Chân Phước ngày 27-5-1900 và Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-6-1988.