Sau khi đã cố gắng trình bày một cách hết sức tỷ mỉ, và thận trọng về những vấn đề luân lý liên quan đến lãnh vực phá thai, tỷ dụ như:
- Khởi điểm sự sống con người;
- Khi nào thì được phép tước đoạt mạng sống con người?
- Phá thai trực tiếp và phá thai gián tiếp;
- Vật ngữ thuyết luân lý;
- Thẩm quyền?
Giờ đây, tôi muốn đề cập đến một tình huống sau cùng. Hỏi rằng phá thai có thể được coi là một chọn lựa hợp luân lý hay không, khi phát hiện ra rằng thai nhi khuyết tật? Những lý do để đề nghị hủy bỏ các bào thai đang bị hành khổ bởi các chứng bệnh khác nhau, liên quan đến những khiếm khuyết về thần kinh và thể lý thì có thể có rất nhiều và rất đa dạng. Đôi khi, lý do được đưa ra rất đơn giản chỉ vì những đứa trẻ được biết trước bị bệnh bẩm sinh, kém chất lượng và gây thất vọng. Đôi khi, những kẻ làm cha làm mẹ lộ rõ nỗi sợ hãi thật sự. Họ cảm thấy không đủ khả năng chịu đựng nhìn con của mình đau đớn và bị ám ảnh bởi một tương lai bi đát. Trong một vài trường hợp, các bậc cha mẹ nói rõ rằng là: họ không muốn những đứa con mà họ đã sinh ra trước, phải chịu đựng đau khổ vì trong gia đình có một kẻ tật nguyền được sinh ra. Đang khi đó, trong một số trường hợp khác, các gia đình cho biết họ không có đủ khả năng tài chính để đưa những đứa con khuyết tật vào các bệnh viện tư để chữa trị hoặc cũng không thể cầm lòng, đứng nhìn con họ sinh ra phải bị nhốt trong các trại tâm thần. Lẽ đó, họ phải tìm cách đương đầu với hung tin là đứa con, họ sắp sinh ra sẽ bị tật nguyền nghiêm trọng bằng cách này hay cách khác. Khi ấy, nhiều người cảm thấy như bị thất vọng, và trong sự buồn rầu chán nản và tuyệt vọng ấy, họ nghĩ đến việc chọn lựa giải pháp phá thai như là một lối thoát cho ho. Giải pháp mà theo sự phán quyết chủ quan của họ là khả thể và thích hợp nhất, nhưng điều này cũng gây không ít bối rối và nghi vấn.
Dù tôi có cố mường tượng ra cái tâm trạng thất vọng và tình trạng bi đát của họ, là điều mà họ phải trải nghiệm, tôi vẫn không nghĩ phá thai là một chọn lựa có giá trị luân lý đối với họ. Nhưng có ngoại lệ cho quan điểm này không? Trong trường hợp đã được xác định rõ ràng rằng: bào thai mà người phụ nữ đang cưu mang bị khuyết tật nghiêm trọng, thiếu cả những cơ quan thể lý quan trọng để có thể thực sự là người, thì sự can thiệp nhằm kết thúc việc mang thai có thể không bị coi là một hành động phá thai xấu xa về luân lý. Tình huống đó có thể có trong trường hợp thai nhi là một quái thai không não (bẩm sinh không có vòm sọ với sự thiếu hoàn toàn hai bán cầu đại não).[1] Khi xảy ra điều đó, Cha Bernard Häring[2] đề nghị coi việc can thiệp chấm dứt cuộc sống thai nhi là một sự ứng đáp hợp luân lý, bởi vì điều chúng ta quan tâm không phải là sự sống sinh học mà là đời sống của con người. Cha Häring cho rằng tình huống đó cũng tương tự như khi chúng ta phải đương đầu với tình trạng một người não đã chết. Nói cách khác, khi mà một người (sống bên ngoài tử cung) phải chịu cái chết bất khả phục hồi của não, và không còn hy vọng gì về việc sống các tương quan liên vị hoặc hiệp thông nhân vị, thì cuộc sống của con người đó có thể coi như đã chấm dứt và các thiết bị giúp duy trì sự sống có thể được rút bỏ. Tương tự như thế, nói như Cha Häring, khi đã khẳng định được rằng: không còn hy vọng não của thai nhi xuất hiện hoặc phát triển, thì thai có thể được xem như đã hoàn toàn không có sự sống của một nhân vị, và hành động tách thai nhi khỏi cơ quan đang cung cấp sự sống cho nó có thể được coi là hợp luân lý.[3]
Tất nhiên, đôi khi xảy ra sự kiện là các bào thai dị dạng nghiêm trọng, chính nó tự đào thải. Cũng có thể xảy ra hiện tượng chẩn đoán sai lầm điều kiện và tình trạng của bào thai, và thậm chí khi sự chẩn đoán là chính xác đi nữa, thì vẫn không thể biết được căn bệnh sẽ tác động như thế nào trên cuộc sống của hài nhi được sinh ra. Tuy nhiên, việc tiên đoán và biết trước được những điều đó, có thể là nguồn an ủi vỗ về cho những người phải đối diện với nhiều những nghịch cảnh trên. Những người này thường cần được sự giúp đỡ để họ có thể xử lý một cách cẩn thận và có trách nhiệm.
Ở đây, điều tôi muốn nêu lên không phải là những nguyên do được dùng để biện minh cho việc phá thai hay sự bất chấp những phán quyết liên quan đến giá trị vốn có của những tuyên bố về nguyên nhân được đưa ra để bào chữa cho việc phá thai. Sức thuyết phục - tùy mức độ - của những lý do biện minh ấy, tự chúng, sẽ là sáng tỏ nhờ những lý lẽ bên ngoài, khi việc phá thai là giải pháp cuối cùng và duy nhất của người phụ nữ. Như thế, nếu chúng ta thực sự nghiêm túc xác tin rằng: Mạng sống con người không thể bị sát hại hay tước đoạt, trừ phi là phải lựa chọn giữa việc cứu sống và việc phục vụ sự sống, hoặc khi thực sự là sự xấu ít hơn, khi ấy, dù chúng ta có đặt vấn đề hay không về việc phá thai để bảo vệ sức khoẻ hoặc mạng sống người mẹ, hoặc phá thai vì bào thai không thể phát triển, hay phá thai khi đối diện với những căng thẳng nghiêm trọng về kinh tế, thì điều khẩn thiết quan trọng cần được chú ý vẫn là: trong tư cách là một cộng đồng xã hội, chúng ta phải làm sao nâng đỡ các chị em phụ nữ và đưa ra những phương pháp thiết thực, tốt đẹp, hầu giúp cho các phụ nữ có thể thay đổi sự chọn lựa. Chúng ta cần bảo đảm rằng: các phụ nữ không cần phải cậy nhờ vào các cuộc phá thai mà họ thực sự không muốn. Rất nhiều những thiếu nữ, chưa lập gia đình, nhưng đã mang thai và nhiều gia đình đã chọn giải pháp phá thai, vì nghĩ rằng đó là giải pháp cuối cùng và duy nhất trong những cơn túng quẩn. Đang khi trong thực tế, có lẽ chưa phải là như vậy, hoặc ít ra, không cần phải hành động như vậy.
Về thực trạng phá thai tại đất nước Việt Nam chúng ta, thì tại hội nghị Sản phụ khoa Việt-Pháp-Châu Á Thái Bình Dương năm 2010, các bác sĩ bệnh viện Từ Dũ cho biết: “Việt Nam là 1 trong 10 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất (20%), đặc biệt là ở trẻ vị thành niên”.[4] Vào năm 2012, mỗi năm số ca nạo phá thai tại Việt Nam là hơn 300.000 ca, trong đó học sinh, sinh viên chiếm từ 45-55%, đặc biệt độ tuổi xảy ra phá thai nhiều nhất là 15-19 tuổi.Và đến năm 2021, thì tỷ lệ nạo phá thai ở Việt Nam ngày càng trẻ hóa và chỉ có tăng chứ không giảm. Theo số liệu của Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, trung bình mỗi năm cả nước có gần 300.000 ca nạo hút thai, chủ yếu ở độ tuổi 15-19, trong đó 60-70% là học sinh, sinh viên. Tỷ lệ các ca phá thai của phụ nữ chưa kết hôn dao động từ 20-30%.[5]
Trước sự kiện đó, chúng ta là những nhà lãnh đạo tinh thần cũng như những ai có trách nhiệm về việc giảng dạy luân lý Kitô giáo. Cần mạnh dạn lên tiếng khuyến cáo và phản đối cách tích cực việc phá thai, vì phá thai là tước đoạt mạng sống của thai nhi, điều ấy - xét về phương diện luân lý - không thể biện minh được, khi không có lý do chính đáng và nghiêm trọng đủ. Việc phá thai một cách tự tiên, và vì những lý do lợi ích cá nhân, có tích cách vị kỷ, hẳn nhiên, điều ấy đi nghịch lại với luân thường đạo lý con người, vì đã không tôn trọng sự sống của thai nhi, là một quyền bất khả xâm phạm, như Huấn thị Donum vitae hằng nhắc nhở [6] và Thông điệp Evangelium vitae, số 60 đã khẳng định:
“Con người phải được đối xử như một nhân vị ngay từ giây phút đầu tiên của sự sống; và vì vậy cũng từ lúc đó nhân quyền của nó phải được thừa nhận, trước hết là quyền sống bất khả xâm phạm của một con người vô tội.”
Điều khẳng định này của Giáo hội Công giáo hoàn toàn phù hợp với những quyền thiết yếu của cá nhân được Liên hiệp quốc thừa nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (điều 3), đó chính là: “Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.”[7]
KẾT LUẬN
Trước những hoàn cảnh đau thương và phức tạp liên quan đến việc mang thai, đặc biệt khi thai nhi được chẩn đoán mắc các dị tật nghiêm trọng hoặc khi gia đình phải đối diện với những khó khăn về tâm lý, xã hội và kinh tế, Giáo hội Công giáo luôn mời gọi các tín hữu tiếp cận vấn đề bằng sự thật, lòng trắc ẩn và tình yêu đối với sự sống. Giáo hội hiểu và cảm thông sâu sắc với những đau khổ mà các bậc cha mẹ phải gánh chịu trong những hoàn cảnh như thế. Tuy nhiên, sự cảm thông ấy không thể trở thành lý do để biện minh cho việc trực tiếp tước đoạt mạng sống của một thai nhi vô tội.
Dựa trên Kinh thánh, luật tự nhiên và truyền thống luân lý Kitô giáo, Giáo hội khẳng định rằng phẩm giá của con người không tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, khả năng phát triển thể chất hay trí tuệ, cũng không tùy thuộc vào việc người ấy có được mong muốn hay không. Mỗi con người, từ giây phút khởi đầu của sự sống, đều mang hình ảnh Thiên Chúa và có quyền sống bất khả xâm phạm. Vì thế, việc chẩn đoán thai nhi bị khuyết tật, dù nghiêm trọng đến đâu, tự nó không tạo nên một nền tảng luân lý đủ để biện minh cho việc phá thai trực tiếp.
Đồng thời, Giáo hội cũng phân biệt rõ giữa phá thai trực tiếp với những can thiệp y khoa chính đáng nhằm cứu sống người mẹ, trong đó cái chết của thai nhi không phải là mục đích cũng không phải là phương tiện được chọn lựa, nhưng chỉ là hậu quả ngoài ý muốn của một hành động điều trị cần thiết. Sự phân biệt này bảo vệ đồng thời cả sự thật luân lý và lòng nhân đạo trong việc chăm sóc bệnh nhân.
Do đó, câu trả lời luân lý và mục vụ thích hợp nhất trước vấn nạn phá thai không chỉ là lên án hành vi phá thai, nhưng còn là xây dựng một nền văn hóa sự sống, trong đó người mẹ mang thai, người cha, gia đình và đặc biệt những trẻ em khuyết tật nhận được sự nâng đỡ thực sự từ Giáo hội và xã hội. Một cộng đồng Kitô hữu chân chính không để người phụ nữ phải đơn độc đối diện với nỗi sợ hãi, tuyệt vọng và những áp lực khiến họ nghĩ rằng phá thai là giải pháp duy nhất.
Sau cùng, trong ánh sáng Tin mừng sự sống (Evangelium Vitae), Giáo hội Công giáo tiếp tục khẳng định rằng mọi sự sống con người, dù yếu đuối, bệnh tật hay ngắn ngủi đến đâu, đều là một hồng ân quý giá của Thiên Chúa. Chính vì thế, nhiệm vụ của người Kitô hữu không phải là quyết định ai xứng đáng được sống, nhưng là yêu thương, bảo vệ và phục vụ sự sống con người trong mọi giai đoạn và mọi hoàn cảnh của nó, từ lúc thụ thai cho đến khi chết tự nhiên./.
Lm. Trần Mạnh Hùng, STD.
Giáo sư thần học luân lý tại Đại học Công giáo Notre Dame Úc Châu
The University of Notre Dame Australia.
Tác giả giữ bản quyền©2026
Các bài viết khác liên quan đến vấn đề phá thai đã phổ biến tại trang web của Hội đồng Giám mục Việt Nam:
PHẦN 1 - TÍNH THÁNH THIÊNG CỦA SỰ SỐNG
PHẦN 2 - PHẨM GIÁ CON NGƯỜI: NỀN TẢNG LUÂN LÝ CHO XÃ HỘI
PHẦN 4 - PHÁ THAI TRỰC TIẾP VÀ PHÁ THAI GIÁN TIẾP
PHẦN 5 - VẬT NGỮ THUYẾT LUÂN LÝ
[1] Tiếng Anh gọi là anencephalic.
[2] Cha Bernhard Häring (thường được viết là Bernard Häring) là một trong những nhà thần học luân lý Công giáo có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX.
Một vài chi tiết cá nhân ngắn gọn về ngài:
Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1912 tại Böttingen, miền nam nước Germany (Đức), trong một gia đình đông con với 12 người con; ngài là người con thứ 11.
Gia nhập Dòng Chúa Cứu Thế (Redemptorists) năm 1934 và được thụ phong linh mục năm 1939.
Trong Đệ nhị Thế chiến (World War II), ngài bị động viên vào quân đội Đức và phục vụ như một nhân viên quân y tại Pháp, Ba Lan và Nga. Những kinh nghiệm đau thương của chiến tranh đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng luân lý và mục vụ của ngài.
Sau chiến tranh, ngài trở thành giáo sư thần học luân lý tại Học viện Alphonsian Academy ở Rôma và đào tạo nhiều thế hệ linh mục, tu sĩ và học giả Công giáo trên khắp thế giới.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là The Law of Christ (Luật của Đức Kitô, 1954), một công trình góp phần đổi mới thần học luân lý từ cách tiếp cận quá nặng tính luật lệ sang nhấn mạnh việc theo Đức Kitô, lương tâm và trách nhiệm cá nhân.
Ngài là chuyên viên thần học luân lý tại Công đồng Vaticanô II (Second Vatican Council) và có ảnh hưởng đáng kể trong việc canh tân thần học luân lý Công giáo sau Công đồng.
Ngài qua đời ngày 03 tháng 7 năm 1998 tại Đức, hưởng thọ 85 tuổi.
Điểm nổi bật nhất nơi cha Bernard Häring là nỗ lực trình bày luân lý Kitô giáo không chỉ như việc “tuân giữ luật”, nhưng như một lời đáp trả đầy yêu thương và tự do đối với Thiên Chúa trong Đức Kitô. Chính vì thế, ngài thường được xem là một trong những người tiên phong của nền thần học luân lý Công giáo hiện đại.
[3] Bernard Häring, C.Ss.R., Medical Ethics. (Notre Dame: Fides Publishers, 1973), pp. 110-111.
[4]Ngọc Thanh, Việt Nam: Một trong mười nước có tỉ lệ phá thai cao nhất, đăng ngày 19/5/2010, tại http://benhvienphusantrunguong.org.vn/news/tin-tuc-su-kien/y-hoc-trong-nuoc/viet-nam-mot-trong-muoi-nuoc-co-ti-le-pha-thai-cao-nhat.html (truy cập ngày 03/6/2026).
[5] Nguyễn Đình Anh, Phá thai tăng cao vì người trẻ sống thoáng?, đăng ngày 26/4/2021, tại https://vnexpress.net/pha-thai-tang-cao-vi-nguoi-tre-song-thoang-4268459.html
[6] . “The human being must be respected - as a person - from the very first instant of his existence … that human life must be absolutely respected and protected from the moment of conception.” Xem Bộ Giáo lý Đức tin, Quà Tặng Sự Sống (Donum vitae), ban hành ngày 22.02.1987.
[7]. Xem Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948) tại https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx(truy cập ngày 03/6/2026)
