DẪN NHẬP

I. TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI CHLB ĐỨC

1. Những điểm chính trong tiến trình phát triển

2. Mục vụ

II. CÁC THẾ HỆ DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM

1. Thế hệ di dân I

2. Thế hệ di dân II

3. Thế hệ di dân III

III. VẤN ĐỀ KẾT NỐI VÀ SUY TƯ VỀ MÔ HÌNH MỤC VỤ

1. Những ngăn trở trong việc kết nối

2. Mục vụ hướng tâm

IV. HƯỚNG ĐẾN MỘT SỨ VỤ TRONG NỐI KẾT VÀ YÊU THƯƠNG

1. Thúc đẩy quá trình “tự chữa lành”

2. Tích cực hơn trong việc đảm nhận những công việc chính của giáo xứ địa phương

3. Nâng cao việc kết nối các nhóm di dân

KẾT LUẬN


DẪN NHẬP

Trong phần dẫn nhập của Huấn thị Erga Migrantes Caritas ChristiTình yêu Đức Kitô dành cho di dân, Giáo hội nhấn mạnh đến những yếu tố phức tạp và đan xen mà làn sóng di cư mang lại cho các quốc gia: “Di dân là một vấn đề toàn cầu mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt… Nó tác động đến đời sống xã hội, kinh tế, chính trị và tôn giáo… với nhiều nguyên nhân di cư khác nhau như tài chính, văn hóa, khoa học và kỹ thuật”.[1] Hiện nay, di dân đã trở thành một hiện tượng xã hội mang tính toàn cầu, không chỉ giới hạn trong phạm vi từng quốc gia mà còn ở tầm quốc tế. Làn sóng này tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong giao lưu văn hóa, từ cấp độ địa phương đến quốc gia và quốc tế. Ở nhiều nơi đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực, sự hiện diện của người di dân còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và bổ sung đáng kể cho lực lượng lao động tại các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới. Tuy vậy, bên cạnh những lợi ích rõ rệt, di dân cũng mang đến không ít thách thức, như sự va chạm về văn hóa, lối sống, ý thức hệ, hay những vấn đề liên quan đến kinh tế xã hội. Lĩnh vực tôn giáo cũng không nằm ngoài những biến động ấy và đã trở thành chủ đề được nhiều nghiên cứu đề cập đến.

Là một trong những quốc gia phát triển thuộc Liên minh châu Âu, Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) từ lâu đã là điểm đến của nhiều làn sóng di dân. Chủ đề này không chỉ thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, trong các cuộc thảo luận chính trị, mà còn hiện diện trong những câu chuyện thường ngày của người dân. Theo thống kê cuối năm 2023, tại trung tâm đăng ký dành cho người nước ngoài, có 13.895.865 lượt đăng ký mới, tăng 4% so với năm 2022. Trong số này, 3.117.975 trường hợp xin hỗ trợ bảo vệ quốc tế vì lý do chiến tranh, bất ổn chính trị hoặc các nhu cầu cấp thiết khác từ chính phủ Đức.

Hiện có khoảng 188.000 người gốc Việt đang sinh sống, học tập và làm việc tại Đức, tạo nên cộng đồng người Việt lớn thứ hai ở châu Âu (sau Pháp) và đứng thứ chín trên toàn thế giới. Năm 2019, hơn một nửa số người có nguồn gốc Việt Nam tại Đức nằm trong độ tuổi 25–60 (55%), gần 1/5 là trẻ em dưới 14 tuổi (19%). Hơn một phần ba đã gắn bó với nước Đức ít nhất 30 năm, với thời gian cư trú trung bình là 23 năm. Riêng trong năm 2020, có 103.619 người mang quốc tịch Việt Nam sinh sống tại Đức. Từ năm 2013, số lượng công dân Việt Nam đăng ký cư trú tại Đức tăng đều đặn, tuy nhiên đà tăng này đã chững lại vào năm 2020 do tác động của đại dịch Covid-19.[2]

Giấy phép cư trú của người Việt Nam tại Đức có nhiều dạng khác nhau:

(a) Cư trú không giới hạn là 19.051 người (18,4%).

(b) Có giấy phép định cư do gia đình sống chung với người Đức là 10.887 người (10,5%).

(c) Có giấy phép định cư dựa trên học tập là 7.510 người (7,3%).

(d) Công dân Việt Nam đăng ký lưu trú tại Đức nhưng không có quyền cư trú 7%.

(e) Đã nộp đơn xin giấy phép cư trú nhưng vẫn chưa được chấp nhận hơn 5%.

Người Việt Nam tại Đức sinh sống rải rác ở nhiều thành phố và khu vực trên khắp cả nước, tập trung đông tại các trung tâm lớn như Berlin, München, Hamburg, Frankfurt/Main, Köln, Hanover, Leipzig và Dresden. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một bộ phận anh chị em di dân Việt Nam không được phản ánh trong các số liệu thống kê chính thức do chưa có giấy phép cư trú hợp pháp tại Đức.

Cộng đồng người Việt ở Đức không tồn tại tách biệt, mà duy trì sự kết nối với cộng đồng người Việt tại Cộng hòa Séc và Ba Lan thông qua các hoạt động di cư nội khối châu Âu. Nguyên nhân chính của mối liên kết này bắt nguồn từ chính sách hồi hương của Đức trong những năm 1990, khi nhiều người Việt đã chuyển sang sinh sống tại Cộng hòa Séc và Ba Lan, tạo nên mạng lưới giao lưu và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cộng đồng người Việt tại khu vực.

I. TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐOÀN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI CHLB ĐỨC

1. Những điểm chính trong tiến trình phát triển[3]

Tiến trình hình thành của cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức bao gồm 3 giai đoạn chính:

1.1. Giai đoạn từ 1960 đến 1975

Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Tây Đức bắt đầu hình thành từ những năm 1960 với các nhóm người Việt nhỏ lẻ. Khi đó, thành phần chủ yếu là nhân viên của sứ quán Việt Nam Cộng Hòa và một số nhóm du học sinh. Trong giai đoạn 1960 – 1967, ước tính có khoảng trên dưới 1.000 người Việt sinh sống tại đây. Tháng 10 năm 1970, Hội Sinh viên Công giáo (HSVCG) đầu tiên được thành lập tại Trại hè Thượng Sơn (Hochland, Bad Tölz, München) với 30 trại sinh tham dự. Tờ báo Nhịp Cầu được chọn làm tiếng nói chính thức của Hội, sau này được đổi tên thành Hôm Nay. Sau biến cố lịch sử năm 1975, làn sóng di dân người Việt đến Tây Đức gia tăng, kéo theo số lượng người Công giáo cũng tăng lên, lên đến khoảng 300 người vào thời điểm đó.[4]

1.2. Giai đoạn từ 1975 đến 1990

Trong thời kỳ này, chính phủ Đức đã tham gia tích cực vào việc đón nhận người di cư Việt Nam sau năm 1975, đặc biệt qua chương trình Cap Anamur II của nhóm Bác sĩ Không Biên Giới do Tiến sĩ Rupert Neudeck khởi xướng, cùng các chương trình đoàn tụ gia đình. Nhờ đó, số người Việt tại Đức tăng nhanh, với khoảng 11.300 người được chấp nhận định cư. Chính tại các trại lưu trú tạm, các cộng đoàn Công giáo bắt đầu hình thành, gắn kết và phát triển cho đến ngày hôm nay. Trong làn sóng di dân giai đoạn này, người Công giáo chiếm tỷ lệ cao, cả trong số người di dân ra nước ngoài nói chung lẫn đến Đức nói riêng.[5]

1.3. Giai đoạn 1990 đến nay

Đến cuối năm 2024, ước tính có khoảng 18.000 người Công giáo Việt Nam sinh sống rải rác tại các tiểu bang của CHLB Đức, trong đó khoảng 95% là những người đã di cư trước khi bức tường Berlin sụp đổ. Phần lớn tập trung tại các thành phố lớn thuộc các giáo phận ở khu vực Tây Đức cũ, trong khi số tín hữu Công giáo tại khu vực Đông Đức cũ hầu như rất ít.[6]

Qua ghi nhận từ các kỳ Đại hội Công giáo (ĐHCG), số người tham dự có xu hướng tăng đều hằng năm. Dù không có số liệu thống kê chính thức, nhưng dựa vào lượng tham dự viên, có thể ước đoán số người Công giáo Việt Nam tại Đức ngày càng gia tăng. Chẳng hạn, kỳ ĐHCG lần thứ 15 tổ chức tại Herne năm 1990 thu hút khoảng 1.000 người, thì chỉ một năm sau, tại kỳ ĐHCG ở Aschaffenburg (1991), con số này đã tăng lên khoảng 3.000 người, và tiếp tục duy trì đà tăng qua các năm.[7]

2. Mục vụ

Trên toàn lãnh thổ CHLB Đức, công tác mục vụ của người Công giáo Việt Nam được chia thành 11 vùng, mỗi vùng bao gồm nhiều cộng đoàn và có thể thuộc hai hoặc nhiều giáo phận khác nhau. Các linh mục quản nhiệm tại mỗi vùng được các giám mục giáo phận bổ nhiệm riêng. Để tạo thuận lợi trong việc hỗ trợ và phối hợp, các linh mục quản nhiệm bầu ra một Trưởng Hội đồng Tuyên Úy, đóng vai trò liên lạc giữa các vùng và điều phối các công việc chung.[8]

Điểm chung của các vùng mục vụ là luôn đặt ưu tiên hàng đầu cho việc sống đức tin, giữ gìn bản sắc văn hóa và hội nhập vào đời sống Giáo hội địa phương. Hội Công giáo Việt Nam (HCGVN), tiền thân của Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức (LĐCGVN), đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối anh chị em Công giáo trên khắp nước Đức. Với phương châm “Giúp đỡ đồng bào trong đời sống tâm linh và sớm hội nhập vào xã hội mới”, Hội đã góp phần lớn vào việc duy trì và phát triển đời sống đức tin theo truyền thống Công giáo Việt Nam, đồng thời bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc. Điều đáng quý là, nhờ sự hỗ trợ của Hội đồng Giám mục Đức, từ năm 1977 Hội đã có một vị linh hướng chính thức, giúp công tác mục vụ được tổ chức chặt chẽ và hiệu quả hơn.

Có thể thấy, trong giai đoạn từ 1976 đến 1987, HCGVN đặc biệt chú trọng đến việc gìn giữ đức tin qua các hoạt động như tổ chức Thánh lễ Giáng Sinh, Phục Sinh; gửi tặng các ấn phẩm tôn giáo như sách Tân Ước, đĩa nhạc thánh ca; tổ chức Đại hội Công giáo quy tụ đông đảo người tham dự. Song song với đó, Hội cũng quan tâm đến đời sống xã hội của anh chị em giáo dân, hỗ trợ họ trong sinh hoạt thường ngày. HCGVN còn tích cực tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội qua tờ báo song ngữ Sự Thật, nhằm truyền tải tiếng nói của Hội, kết nối với các hội đoàn và khơi gợi ý thức cộng đồng. Từ năm 1987, LĐCGVN được thành lập với bản nội quy được thông qua tại Đại hội Công giáo Việt Nam lần thứ 12, đánh dấu một bước tiến mới trong đời sống sinh hoạt của người Công giáo Việt Nam tại Đức.

Cũng như HCGVN, LĐCGVN tiếp nối các sứ vụ mục vụ ở hầu hết các vùng có linh mục quản nhiệm. Thứ nhất, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc luôn được ưu tiên hàng đầu. Hằng năm, các hoạt động văn hóa như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu hay các nghi thức trong lễ cưới truyền thống đều được tổ chức và lưu giữ cẩn trọng. Thứ hai, đời sống đức tin được phát triển song song với đời sống văn hóa. Đối với tín hữu Công giáo Việt Nam, một lễ hội văn hóa thường bắt đầu bằng Thánh lễ, sau đó là phần văn nghệ và bày bán ẩm thực với mục đích gây quỹ giúp đỡ người khó khăn.

Đại hội Công giáo Việt Nam là điểm nhấn quan trọng, kết nối đức tin của người Công giáo Việt Nam trên khắp nước Đức. Đại hội được tổ chức hằng năm vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Năm 2024, Đại hội lần thứ 45 diễn ra với chủ đề “Lắng nghe và Hiệp hành”, nhằm thắt chặt tình huynh đệ, bỏ qua khác biệt và nhìn nhận nhau là anh em cùng một Cha trên trời. Phát biểu tại đại hội, Tiến sĩ Lukas Schreiber, phụ trách mục vụ ngoại kiều của Hội đồng Giám mục Đức đã khen ngợi và đề cao vai trò của người Công giáo Việt Nam, coi đây là một thành phần đa dạng và cần thiết, đóng góp tích cực cho sự phát triển của Giáo hội Công giáo tại Đức.

II. CÁC THẾ HỆ DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM[9]

Dựa vào độ tuổi, thời gian di cư và mục đích đến Đức, cũng như sự khác biệt về ý thức hệ, có thể tạm chia thành 3 thế hệ di dân Công giáo chính. Thế hệ di dân I phần lớn là anh chị em “thuyền nhân” và những anh chị em được bảo lãnh qua sau đó. Thế hệ di dân II là thế hệ di dân được sinh ra tại Đức, thế hệ có nhiều đặc điểm về tính cách, suy nghĩ như người Đức nhưng lại cũng chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Việt Nam; do vậy có thể nhìn thấy rõ nhóm di dân này thường có những khủng hoảng về mặt nhân dạng “Identität-Krise” và phần đông có chiều sâu đức tin yếu. Thế hệ di dân III là thế hệ những anh chị em qua sau này bao gồm sinh viên du học, kết hôn, làm việc, trong đó có nhiều anh chị em đến Đức thông qua con đường không giấy tờ.

1. Thế hệ di dân I

Nhóm di dân thế hệ thứ nhất hiện đang đảm nhận nhiều vai trò quan trọng trong các cộng đoàn và Liên đoàn Công giáo. Độ tuổi trung bình của nhóm này vào khoảng 55 đến 60 tuổi, chiếm khoảng 70 đến 80% số người tham gia sinh hoạt đức tin của cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Đức. Phần lớn đã có đời sống ổn định, sở hữu quốc tịch Đức và có những đóng góp đáng kể cho việc xây dựng, duy trì và phát triển cộng đồng trong nhiều năm qua. Dù số lượng thành viên giảm dần do sự ra đi của những người cao tuổi, nhưng trong vòng 10 năm tới, đây vẫn sẽ là lực lượng nòng cốt của cộng đồng.

Với thế hệ di dân sau chiến tranh, đời sống đức tin thường gắn kết chặt chẽ với các hoạt động cộng đồng và xã hội. Tuy nhiên, trong nội bộ thế hệ này cũng tồn tại những cách nhìn khác nhau về mối tương quan giữa thực hành đức tin và tham gia vào đời sống xã hội, từ đó đôi khi nảy sinh những khác biệt trong cách thể hiện và sống đức tin.

Những trải nghiệm khó khăn trong quá khứ, cùng với dấu ấn của chiến tranh, đòi hỏi một định hướng mục vụ chú trọng đến việc chữa lành tâm hồn, thông qua tình yêu thương, sự nhẫn nại và cảm thông. Khi được nâng đỡ để giao hòa với chính mình và với anh chị em chung quanh, cả trong và ngoài cộng đoàn, họ sẽ tìm thấy sự bình an. Chính nhờ đó, cộng đoàn cũng trở thành một mái nhà thiêng liêng, nơi họ có thể cùng nhau sống và chia sẻ đức tin một cách trọn vẹn.

2. Thế hệ di dân II

Thế hệ này bao gồm những bạn trẻ gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Đức, cùng một số ít sinh ra ở Việt Nam nhưng sang Đức từ khi còn rất nhỏ. Nếu tính từ độ tuổi bắt đầu đi học, nhóm này có độ tuổi dao động từ khoảng 7 đến 30 tuổi. Họ được xem là một nhóm di dân vì mang trong mình nét giao thoa giữa hai nền văn hóa Đức và Việt, đồng thời thường sinh hoạt trong các cộng đồng Công giáo Việt Nam thay vì chỉ gắn bó với giáo xứ Đức, nên có thể coi là di dân một cách gián tiếp.

Theo thống kê của các giáo phận, thế hệ này được ghi nhận là giáo dân người Đức chứ không phải Việt Nam, và chiếm khoảng 10 đến 15% trong tổng số thành viên các cộng đoàn Công giáo Việt Nam. Bên cạnh việc tham gia sinh hoạt tại cộng đoàn, hội đoàn chính kết nối các bạn trẻ thuộc thế hệ này là nhóm “Thanh niên Công giáo tại Đức”. Nhóm có những sinh hoạt thường niên như gặp gỡ, chia sẻ đời sống đức tin, tham dự các kỳ cầu nguyện Taizé… Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn chưa tạo được một dấu ấn đặc biệt đủ để làm bừng lên sức sống đức tin nơi thế hệ này.

Nhiều bạn trẻ thuộc Thế hệ II vẫn đang loay hoay tìm cho mình chỗ đứng phù hợp, cả trong cộng đoàn Công giáo Việt Nam lẫn trong các giáo xứ Đức. Khi sợi dây gắn kết đức tin với ông bà, cha mẹ thuộc Thế hệ I bị lỏng lẻo hoặc đứt đoạn, đời sống đức tin của họ dễ bị lung lay, thậm chí phai nhạt.

Đặc điểm nổi bật của Thế hệ II là sự pha trộn giữa hai nền văn hóa Đức và Việt trong sinh hoạt và tư duy, nhưng khuynh hướng nghiêng về văn hóa Đức là rõ rệt hơn. Lối sống và suy nghĩ của họ khác biệt đáng kể so với cả thế hệ đi trước lẫn thế hệ đi sau. Nhiều giá trị truyền thống và quan điểm của Thế hệ I cũng không còn được Thế hệ II tiếp nhận một cách trọn vẹn. Khoảng cách giữa Thế hệ II và Thế hệ III là vấn đề đáng lưu ý, bắt nguồn từ sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và tư duy. Kết nối hai thế hệ này là một thách thức, dù cả hai đều thuộc lớp trẻ. Ngoài ra, Thế hệ II thường ít tương tác với các thế hệ khác trong các sinh hoạt tôn giáo, tạo nên một khoảng cách nhất định trong cộng đồng.

3. Thế hệ di dân III

Thế hệ di dân III bao gồm các bạn trẻ sang Đức theo diện du học nghề, du học đại học, cùng một số bạn đến theo con đường không chính thức. Phần lớn khi đặt chân đến Đức, họ ở độ tuổi từ 16 đến 25. Số lượng thế hệ này ngày càng gia tăng, chiếm khoảng 10% đến 15% trong cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Đức. Nhiều bạn trẻ thuộc thế hệ này không đăng ký tham gia sinh hoạt chính thức với tư cách thành viên của các cộng đoàn, nhưng lại rất năng động trong các hội đoàn hoặc nhóm nhỏ. Họ thường xuyên tham dự Thánh lễ tại các cộng đoàn, dù không ghi danh chính thức, và vẫn giữ mối liên hệ gắn bó về đời sống đức tin. Đa số các bạn thuộc Thế hệ III đến từ các giáo phận miền Trung Việt Nam như Vinh, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị… Một số ít, không đáng kể, xuất thân từ các giáo phận miền Nam hoặc miền Bắc.

3.1. Các đặc điểm của Thế hệ di dân III

Thế hệ III của người Việt tại Đức mang những đặc trưng riêng so với hai thế hệ trước. Phần lớn các bạn trẻ Công giáo trong nhóm này xuất thân từ các vùng nông thôn tại Việt Nam, sinh ra và lớn lên trong thời bình, chịu ảnh hưởng của cả nền văn hóa truyền thống quê hương và môi trường xã hội hiện đại. Họ thường năng động, nhanh nhạy và có kiến thức, trình độ chuyên môn nhất định. Đặc biệt, những bạn thuộc diện du học nghề hoặc đại học thường thể hiện sự quyết đoán, khả năng thích nghi cao và học hỏi nhanh. Nhiều bạn cũng được hưởng lợi từ xu thế toàn cầu hóa, trang bị cho mình kỹ năng tốt về công nghệ thông tin và ngoại ngữ.

Thế hệ III có thể được chia thành ba nhóm chính: du học đại học hoặc trên đại học, du học nghề, và nhóm không có giấy tờ cư trú hợp pháp.[10] Do khác biệt về tuổi tác và hoàn cảnh sống, họ ít có cơ hội tiếp xúc hoặc gắn bó với Thế hệ I. Khoảng cách với Thế hệ II cũng khá rõ, chủ yếu do rào cản ngôn ngữ, sự khác biệt về lối sống và văn hóa. Tuy nhiên, Thế hệ III lại duy trì mối liên hệ rất chặt chẽ với gia đình ở Việt Nam. Việc thường xuyên gửi tiền hỗ trợ quê nhà là một phần quan trọng trong đời sống của họ. Họ ít quan tâm đến những vấn đề xã hội rộng lớn, mà ưu tiên cho nhu cầu phát triển bản thân, tìm kiếm cơ hội mới và nỗ lực vươn lên trong môi trường sống mới.

3.2. Các vấn đề của Thế hệ di dân III

Thế hệ di dân III người Việt tại Đức đang đối diện với nhiều thách thức. Động lực di dân của nhiều bạn trẻ thường gắn với mong muốn “hy sinh đời bố, củng cố đời con” hoặc vì mục tiêu kinh tế. Tuy nhiên, không ít người chưa có sự chuẩn bị đầy đủ trước khi sang Đức, thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để hòa nhập với môi trường sống mới. Đặc biệt, những bạn trẻ di dân không có giấy tờ cư trú hợp pháp thường gặp khó khăn hơn trong việc tìm việc làm ổn định và tham gia vào đời sống xã hội. Việc xa gia đình khi còn trẻ, cộng với áp lực mưu sinh và thiếu định hướng rõ ràng, khiến một số bạn dễ bị cuốn vào lối sống tiêu cực, chạy theo vật chất hoặc sa sút trong đời sống đức tin.

Dẫu vậy, bên cạnh những khó khăn này, vẫn có nhiều bạn trẻ Thế hệ III giữ được chiều sâu đời sống thiêng liêng. Họ tiếp tục thực hành những giá trị đức tin đã được nuôi dưỡng tại quê hương và thể hiện chúng một cách sống động trong môi trường mới. Sự phát triển của phương tiện truyền thông đã giúp họ thành lập và duy trì nhiều hội nhóm gắn kết chặt chẽ, tạo nên mạng lưới hỗ trợ hiệu quả cho các bạn trẻ Công giáo mới đến Đức. Tiêu biểu có thể kể đến Nhóm “Những người con Thánh cả Antôn” hay “Giới trẻ Công giáo Việt Nam Carlo Acutis tại Đức”, với sứ mạng đồng hành, giúp các bạn tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các bí tích và tìm được chỗ đứng trong đời sống cộng đoàn.

III. VẤN ĐỀ KẾT NỐI VÀ SUY TƯ VỀ MÔ HÌNH MỤC VỤ

1. Những ngăn trở trong việc kết nối

Nút thắt đầu tiên cần được tháo gỡ chính là sự nhìn nhận và đón nhận cách rõ ràng Thế hệ di dân III trong đời sống cộng đoàn. Cần khuyến khích thái độ cảm thông, kiên nhẫn và chia sẻ các giá trị chung của đức tin Công giáo. Đặc biệt, những anh chị em chưa có giấy tờ cư trú hợp pháp cần được đón nhận với tinh thần bao dung, bởi nguyên tắc căn bản của Kitô giáo là tình yêu và sự hiệp thông. Đức tin không cho phép chúng ta quay lưng lại với bất kỳ ai. Trong Sứ điệp Ngày Thế giới Di dân năm 1996, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh đến “phẩm giá con người”, một nguyên tắc nền tảng mời gọi mọi tín hữu mở lòng tiếp nhận. Hội đồng Giám mục Đức cũng nhiều lần nhắc đến điều này khi bàn về những thách đố mục vụ liên quan đến anh chị em di dân không có giấy tờ cư trú.[11] Vì thế, việc đồng hành và hỗ trợ những anh chị em này là điều cần thiết và cấp bách để họ cảm nhận được nơi cộng đoàn Công giáo sự ấm áp và tình yêu thương đích thực.

Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ Thế hệ III không có giấy tờ cư trú thường ngần ngại khi kết nối với Thế hệ I vì cảm giác chưa được đón nhận trọn vẹn. Sự khác biệt về tuổi tác, lối sống và trải nghiệm xuất thân đã tạo nên những khoảng cách giữa hai thế hệ.[12] Việc so sánh rằng Thế hệ III chưa từng trải qua những thử thách gian nan của lớp người đi trước đôi khi càng làm tăng thêm khoảng cách ấy. Trong cả Thế hệ I và III đều có những anh chị em mang trong mình vết thương tâm lý do biến cố di cư, và tất cả đều cần đến sự chữa lành bằng tình yêu, sự kiên nhẫn và đồng hành trong đức tin.

Trong khi đó, Thế hệ II lại có rất ít sự kết nối chặt chẽ với cả linh mục quản nhiệm, Thế hệ I và Thế hệ III. Sự thiếu gắn kết này khiến một số bạn trẻ dễ rơi vào tình trạng mất phương hướng trong đời sống đức tin và cảm thấy lạc lõng ngay trong chính cộng đoàn của mình. Tuy các bạn vẫn năng động tham gia các sinh hoạt như giúp lễ, làm huynh trưởng hay dâng hoa, nhưng đó mới chỉ là bề nổi. Điều cần thiết hơn là phải có những chương trình cụ thể để nâng đỡ đời sống đức tin và khuyến khích việc trau dồi tiếng Việt, giúp họ gắn kết chặt chẽ hơn với cộng đoàn. Đồng thời, chính các bạn trẻ cũng cần chủ động mở lòng, tìm cách kết nối và học hỏi từ những thế hệ khác. Nếu thiếu đi sự gắn kết này, không loại trừ khả năng trong tương lai có thể hình thành một cộng đoàn nói tiếng Đức ngay trong chính cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức.

2. Mục vụ hướng tâm

Hiện nay, Thế hệ di dân I đang dần mất đi và việc bổ sung thành viên vào các cộng đoàn Công giáo chính là điểm mấu chốt để cộng đoàn tiếp tục phát triển. Sự tồn tại của cộng đoàn Công giáo Việt Nam cũng giúp ích rất lớn trong việc hỗ trợ đời sống đức tin cho Thế hệ di dân II. Do vậy, việc đón nhận Thế hệ di dân III vào trong các cộng đoàn là một xu thế tất yếu để giúp cộng đoàn tồn tại và sống động trở lại nhờ sức trẻ.

Mô hình Mục vụ hướng tâm, nghĩa là lấy tâm điểm là Thế hệ II làm trung tâm nhằm gầy dựng cho thế hệ này một chiều sâu đức tin và hỗ trợ để họ cảm thấy chỗ đứng của mình trong cộng đoàn. Nếu xét theo chiều kích đức tin thì nhóm Thế hệ II là thế hệ di dân dễ bị tổn thương về mặt đức tin nhất vì cảm giác thuộc về, cũng như những kinh nghiệm về đức tin của nhóm này hầu như không tìm thấy trong giáo xứ Đức lẫn giáo xứ Việt Nam.

Việc củng cố đời sống đức tin cho Thế hệ II, cũng như giúp họ trả lời câu hỏi nền tảng “Tôi là ai?”, đòi hỏi sự nâng đỡ từ nhiều phía và chính bản thân họ cũng cần nỗ lực. Một trong những yếu tố quan trọng là việc trau dồi tiếng Việt để có thể tham gia trọn vẹn vào sinh hoạt cộng đoàn. Khi được nhìn nhận, tôn trọng những giá trị và đóng góp riêng, họ sẽ tìm được chỗ đứng xứng hợp trong cộng đoàn Công giáo Việt Nam. Điều này cần đến sự cố gắng từ chính Thế hệ II, nhưng cũng rất cần sự hỗ trợ và đồng hành của các thế hệ di dân khác cùng sự kết nối từ linh mục quản nhiệm.

Để mô hình Mục vụ hướng tâm thực sự thành công, vị linh hướng, Thế hệ I và Thế hệ III, ba đỉnh của một tam giác, cần hiệp thông và nâng đỡ nhau trong đức tin. Cả Thế hệ I và Thế hệ III đều có nền tảng đức tin vững chắc được nuôi dưỡng từ quê hương Việt Nam, điều này chính là điểm tựa quý giá. Yếu tố đầu tiên để đạt đến sự cân bằng là hai thế hệ này biết đón nhận, cảm thông và cùng chung tay xây dựng sự hiệp thông, nhờ đó tất cả có thể cùng nhau tiến về “tâm”.

Hình tam giác với đường không liền mạch thể hiện cho số lượng giáo dân của giáo xứ Đức. Giáo xứ Đức có số lượng giáo dân lớn hơn giáo xứ Việt Nam. Hình tam giác không đứt quãng thể hiện cho số lượng giáo dân còn sống động trong đời sống đức tin. Về mặt này thì giáo xứ Đức lại không bằng giáo xứ Việt Nam. Thế hệ II được đặt trong tâm của hình tam giác tại giáo xứ Việt Nam vì chính các bạn trẻ này được kết nối đức tin và kết nối với cộng đoàn qua ông bà cha mẹ ở Thế hệ I. Tuy nhiên, thế hệ này lại đứng một mình vì không có sự kết nối với ai thực sự trong cộng đoàn, giống như một thế giới riêng và rất khó để hiểu và giúp họ trong đời sống đạo. Chính thế hệ này cũng không tìm được chỗ của mình trong giáo xứ Đức vì đời sống đức tin nơi đó cũng đi xuống và cũng thiếu tính kết nối. Ngay chính bản thân Thế hệ I mặc dù cũng có tham gia vào đời sống của giáo xứ Đức nhưng lại không thực sự gắn kết với giáo xứ Đức.

Trong mô hình của giáo xứ Việt Nam thì vị linh hướng là một góc trong tam giác của sự tương quan. Ở đây linh mục không ở vị trí trung tâm nhưng là một cột trụ giúp giữ cho các thế hệ di dân trong các mối quan hệ đạt được sự cân bằng và có một mục tiêu là cùng thăng tiến trong đời sống đức tin. Do vậy, muốn có sự hòa hợp thì các nhóm giáo dân và cha quản nhiệm phải cùng một lúc tiến về tâm thì mới có thể gặp nhau ở điểm trung tâm, chính là Thế hệ II để cùng hỗ trợ và giúp đỡ đức tin cho nhóm này.

Mô hình này được gọi là mục vụ hướng tâm, với Thế hệ II là trung tâm. Sự cân bằng và hiệu quả của mô hình chỉ đạt được khi tất cả các thế hệ và linh mục cùng biết nâng đỡ, yêu thương nhau, cùng hướng về một điểm chung trong hành động và đời sống đức tin. Nhờ đó, cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức mới có thể đứng vững và phát triển, bất chấp những biến động của thời đại.

IV. HƯỚNG ĐẾN MỘT SỨ VỤ TRONG NỐI KẾT VÀ YÊU THƯƠNG

1. Thúc đẩy quá trình “tự chữa lành”

Nhiều ông bà, anh chị em thuộc Thế hệ di dân I đã phải trải qua những mất mát sau chiến tranh, khi gia đình ly tán, trở thành di dân. Những ký ức ấy khó có thể diễn tả bằng lời và vẫn còn in đậm trong tâm hồn của nhiều người. Chính vì vậy, việc khởi động những chương trình chăm sóc mục vụ đặc biệt là cần thiết, để giúp thế hệ này tìm lại sự bình an nội tâm, biến đau thương thành động lực sống đức tin và lan tỏa hoa trái của yêu thương. Sứ vụ của Tin mừng cốt yếu là sứ vụ tình yêu; nếu tâm hồn tín hữu chưa được chữa lành tận gốc những vết thương của quá khứ, thì khó có thể diễn tả một cách trọn vẹn tinh thần bao dung và lòng trắc ẩn như Đức Kitô mời gọi.

Tha thứ không đồng nghĩa với việc bỏ qua hay coi nhẹ những điều sai trái; nhưng chính tình yêu mới là chìa khóa để biến đổi và cảm hóa. Hiểu và sống giá trị của tình yêu cùng với sự tha thứ là con đường giúp hàn gắn những tâm hồn còn mang thương tích của lịch sử. Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông huấn Amoris LaetitiaNiềm vui của tình yêu đã diễn tả rất rõ nét sức mạnh này: “Tình yêu tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Bằng cách đó, người ta khẳng định mạnh mẽ đến sự năng động đi ngược dòng văn hóa của tình yêu, vốn có sức đương đầu với bất cứ gì có thể đe dọa nó”.[13]

2. Tích cực hơn trong việc đảm nhận những công việc chính của giáo xứ địa phương

Nhiều anh chị em đã tham gia vào các sinh hoạt chung với giáo xứ Đức như rước kiệu dịp lễ Mình Máu Thánh Chúa, Giáng Sinh, Phục Sinh, Chúa Thánh Thần Hiện Xuống hay Quan thầy giáo xứ. Tuy nhiên, số lượng vẫn còn khá khiêm tốn, chủ yếu là thành viên ban chấp hành các cộng đoàn Công giáo Việt Nam.

Sự tham gia này cần được khuyến khích và mở rộng đến nhiều thành viên khác trong cộng đoàn, để trở thành một nhịp cầu sinh động hóa đời sống đức tin, gắn kết cộng đoàn bản địa với cộng đoàn Công giáo Việt Nam. Đặc biệt, khi được mời gọi, mỗi người nên sẵn sàng đảm nhận các công việc trong giáo xứ Đức, kể cả những trách nhiệm lớn hơn như tham gia vào ban hành giáo, thể hiện tinh thần can đảm và hy sinh phục vụ.

Hiện nay, nhiều Thánh lễ có cử hành bí tích Hôn phối và Rửa tội hay Thánh lễ An táng được cử hành song ngữ Đức – Việt để đáp ứng sự hiện diện của cả giáo dân bản địa và Việt Nam. Việc cử hành bằng hai ngôn ngữ không chỉ giúp mọi người dễ dàng tham dự, mà còn diễn tả sự giao thoa văn hóa đức tin và tình hiệp nhất trong cùng một cộng đoàn.

3. Nâng cao việc kết nối các nhóm di dân

Đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam tại Đức tác động như thế nào đến các cộng đoàn bản địa và những nhóm Công giáo đến từ các quốc gia khác vẫn là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn. Đây là một hướng mở, nhằm hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng qua lại giữa đời sống tôn giáo của giáo dân Việt Nam và xã hội, cũng như những giá trị tích cực mà họ đóng góp cho Giáo hội Đức. Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về khía cạnh này.

Song song đó, cộng đoàn Công giáo Việt Nam cũng cần tăng cường giao lưu và học hỏi từ các nhóm di dân khác. Việc kết nối và chia sẻ kinh nghiệm mục vụ không chỉ giúp mở rộng tầm nhìn mà còn thúc đẩy cộng đoàn Việt Nam phát triển hài hòa, có chiều sâu và gắn bó hơn với đời sống Giáo hội tại Đức. Để đạt được điều này, rất cần có những chương trình mục vụ rõ ràng, có kế hoạch dài hạn.

Thực tế cho thấy đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam tại Đức rất sôi động, với nhiều hoạt động phong phú được tổ chức và cập nhật thường xuyên tại các cộng đoàn. Tuy nhiên, phần lớn những sinh hoạt ấy vẫn mang tính khép kín trong nội bộ, chưa thể hiện rõ được sự hiện diện và đóng góp của người Việt trong các sinh hoạt chung của giáo xứ bản địa hay trong những chương trình cấp giáo phận.

KẾT LUẬN

Bài viết này đưa ra một cái nhìn bao quát về tiến trình hình thành, phát triển và hòa nhập của cộng đồng Công giáo Việt Nam tại Đức. Dù đã có nhiều đóng góp tích cực cho Giáo hội địa phương bằng đời sống đức tin sống động, các cộng đoàn Công giáo Việt Nam vẫn cần chủ động hơn trong việc tham gia xây dựng và đồng hành cùng Giáo hội Đức, thay vì chỉ dừng lại ở một số hoạt động trong năm hay việc cử hành Thánh lễ.

Việc phân chia các thế hệ di dân nhằm mục đích giúp người đọc thấy rõ sự khác biệt về thời gian, bối cảnh xã hội và những tác động của lịch sử, qua đó cũng bộc lộ những khó khăn trong công tác mục vụ, nhất là trong việc quy tụ và hiệp nhất các thế hệ di dân cũng như các hội nhóm khác nhau, để tất cả cùng quy về một mối nơi Đức Kitô.

Nhìn tổng thể, sự tham gia vào đời sống giáo xứ Đức của người Công giáo Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Hầu hết sinh hoạt tập trung trong cộng đoàn riêng, chỉ một số ít thực sự dấn thân vào việc điều hành hoặc phục vụ tại cấp giáo xứ và giáo phận. Vậy nguyên nhân từ đâu? Có thể là những nguyên nhân sau đây:

(1) Ảnh hưởng từ đời sống thế tục hóa, khiến vai trò của tôn giáo trong xã hội Đức bị giảm sút.

(2) Rào cản ngôn ngữ, văn hóa và kiến thức hạn chế, khiến nhiều người khó tham gia sâu vào công việc quản trị của giáo xứ Đức.

(3) Tâm lý muốn gìn giữ bản sắc văn hóa, tiếng nói và sinh hoạt đạo theo truyền thống Việt Nam, đôi khi cũng trở thành rào cản cho sự hội nhập vào giáo xứ Đức.

(4) Ý thức truyền giáo chưa thực sự mạnh mẽ nơi nhiều tín hữu.

Tuy vậy, trong bối cảnh đời sống đức tin tại Đức và châu Âu ngày càng bị thế tục hóa, sự hiện diện của những cộng đoàn di dân có đời sống đức tin sống động lại trở thành một tiềm năng quý giá để góp phần phục hồi và nâng đỡ đời sống thiêng liêng tại đây. Muốn thực hiện được điều này, cần có sự chủ động hơn nữa từ cả giáo dân lẫn các linh mục Việt Nam trong việc gắn kết với các giáo xứ Đức.

Xét theo tiềm năng, trong vòng 10 năm tới, Thế hệ I vẫn giữ vai trò quan trọng nhờ kinh nghiệm, sự ổn định về kinh tế và lòng nhiệt thành. Các vị mục tử cần giúp thế hệ này tự tin hơn khi đảm nhận những trách nhiệm cụ thể trong giáo xứ Đức như tham gia ban hành giáo, điều hành hội đoàn, đồng thời khơi dậy ý thức truyền giáo mạnh mẽ nơi họ. Trong khoảng 20 năm tới, Thế hệ III, những người trẻ năng động, am hiểu truyền thông và có chiều sâu đức tin sẽ là lực lượng chủ lực để góp phần cho đời sống Giáo hội tại Đức. Nếu thế hệ này được kết nối và đồng hành cùng Thế hệ II, những người Việt sinh ra tại Đức, thì việc chung tay sống và lan tỏa đức tin sẽ trở nên khả thi và đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, để Thế hệ II không bị lung lay trước làn sóng tục hóa, việc đồng hành và nâng đỡ từ hôm nay là điều cần thiết.

Để thực hiện sứ mạng truyền giáo cách hiệu quả, cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức cần chú trọng vào một số yếu tố nền tảng sau:

(1) Giáo dân tự tin hơn trong việc tham gia điều hành và quản lý giáo xứ Đức.

(2) Các linh mục Việt Nam tích cực gắn bó hơn với hoạt động chung của giáo xứ và giáo phận.

(3) Khuyến khích giao lưu văn hóa dưới ánh sáng đức tin, như cử hành Thánh lễ song ngữ kèm theo những yếu tố văn hóa truyền thống như thắp hương.

(4) Đẩy mạnh việc học ngôn ngữ để anh chị em di dân dễ dàng hòa nhập và cởi mở hơn trong tiếp đón các giáo dân Đức.

(5) Xác định rõ căn tính truyền giáo, ý thức rằng mỗi Kitô hữu đều được sai đi để loan báo Tin Mừng.

(6) Tổ chức các khóa học và chuyên đề về truyền giáo, nhằm khơi gợi tinh thần dấn thân nơi giáo dân Việt Nam.

Hiện nay, vẫn còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng Công giáo Việt Nam và các thế hệ di dân tại Đức, nên nguồn dữ liệu khách quan chưa thật phong phú. Tuy nhiên, hy vọng rằng bài viết này có thể gợi mở thêm nhiều hướng suy tư mới, để công tác mục vụ di dân Việt Nam tại Đức ngày càng đi vào chiều sâu và thực tiễn. Đặc biệt, điều cần nhấn mạnh là khơi dậy và nuôi dưỡng tinh thần truyền giáo nơi các Kitô hữu Việt Nam trên đất khách, để chính họ trở thành những chứng nhân sống động góp phần làm phong phú và phát triển Giáo hội địa phương.

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 150 (tháng 11 & 12 năm 2025)



[1] Sekretariat der Deutschen Bischofskonferenz (Hrsg), Instruktion Erga Migrantes Caritas Christi (Die Liebe Christi zu den Migranten) (Bonn: Verlautbarungen des Apostolischen Stuhls, 2004), 9.

[3] Vgl. Dr. Đậu Việt Hùng, Kỷ yếu Liên đoàn Công giáo Việt Nam tại Đức – Kỷ Niệm 40 năm thành lập (1976 – 2016) (Stuttgart, 2015), 3- 12.

[4] Ibid., 11.

[5] Ibid.,12.

[6] Ibid., 109.

[7] Ibid., 119-266.

[8]Vgl. https://ldcg.de/index.php/lia-n-oa-n-ca-ng-gia-o/thongtin/so-lu-c-thanh-l-p-lien-doan-cong-giao-vi-t-nam-t-i-d-c (Truy cập ngày 15/06/2024) và có cập nhật thông tin mới nhất về các vùng có linh mục quản nhiệm mới năm 2024. Các vùng mục vụ từ miền Bắc xuống miền Nam nước Đức: Vùng 1: Lm Antôn Đỗ Ngọc Hà là linh mục chánh xứ giáo xứ Thánh Gia Berlin với 1400 giáo dân Việt Nam thuộc Tổng giáo phận Berlin (thành phố Brandenburg, Postdam, Frankfurt an der Oder). Hiện nay ngài còn đảm nhiệm chức vụ Ðại diện Liên tu sĩ Việt Nam tại Ðức và cũng là linh mục Đại diện Hội đồng Quản nhiệm bên cạnh Liên Đoàn CGVN tại Đức; Vùng 2: Lm. Lê Phan, SJ (Stephan Taeubner) là người Đức thông thạo tiếng Việt, phụ trách mục vụ cho người Việt di dân tại Dresden; Vùng 3: Lm. Paul Phạm Văn Tuấn phụ trách mục vụ cho 1300 giáo dân Việt Nam Tổng giáo phận Hamburg (thành phố Hamburg, Kiel, Lübeck, Schwerin...) và Giáo phận Hildesheim (thành phố Hannover, Göttingen, Braunschweig, Cuxhaven...); Vùng 4: Lm. Phêrô Nguyễn Quân, SVD phụ trách mục vụ cho 1400 giáo dân Việt Nam thuộc hai Giáo phận Münster và Osnabrück (thành phố Münster, Osnabrück, Oldenburg, Bremen, Aurich, Norden….); Vùng 5: Lm. Giuse Hồ Anh Tuấn SVD phụ trách mục vụ cho 2.600 giáo dân Việt Nam thuộc Tổng giáo phận Köln (nhiều người Công giáo nhất nước Ðức -khoảng trên 2 triệu- với các thành phố Düsseldorf, Köln, Bonn...) và kể từ tháng 3 năm 2005 bao gồm Giáo phận Aachen (thành phố Aachen, Mönchengladbach, Krefeld và Viersen) gồm khoảng 1100 giáo dân VN; Vùng 6: Lm. Dominik Trần Mạnh Nam phụ trách mục vụ cho 1800 giáo dân Việt Nam trong các Giáo phận Limburg (thành phố Frankfurt am Main, Wiesbaden), Giáo phận Mainz, Giáo phận Speyer (thành phố Speyer, Ludwigshafen...) và Tổng giáo phận Freiburg (thành phố Karlsruhe, Mannheim. . ); Vùng 7: Lm. Đa Minh Trần Trọng Biên phụ trách mục vụ cho 1300 giáo dân Việt Nam thuộc Tổng Giáo Phận Paderborn (thành phố Herne, Dortmund, Hamm...) và Giáo Phận Essen (thành phố Essen, Lüdenscheid...); Vùng 8: Linh Mục Gioan Baoxita Nguyễn Ngọc Thế, SJ phụ trách mục vụ cho 1200 Giáo Dân Việt Nam thuộc Tổng giáo phận Bamberg (thành phố Nürnberg, Rothenburg, Bayreuth...), Giáo phận Eichstätt, Giáo phận Regensburg (thành phố Landshut, Straubing...) và Giáo phận Würzburg; Vùng 9: Lm. Giuse Huỳnh Công Hạnh, SVD là linh mục chánh xứ giáo xứ Các Thánh Tử Đạo VN với 1800 giáo dân Việt Nam thuộc Giáo phận Rottenburg-Stuttgart (thành phố Göppingen, Tübingen, Ulm, Heilbronn...); Vùng 10: Lm. Thomas Lê Thanh Liêm phụ trách mục vụ cho Giáo xứ Nữ Vương Hoà Bình và một Trung tâm Công giáo Việt Nam tại München, gồm 1200 giáo dân Việt Nam thuộc Tổng giáo phận München-Freising (thành phố München, Dachau, Freising...), Giáo phận Ausburg (thành phố Memmingen, Dillingen.) và Giáo phận Passau; Vùng 11: Hiện nay có khoảng 1.000 giáo dân Việt Nam thuộc Giáo phận Trier (thành phố Koblenz, Bad Kreuznach...). Kể từ năm 2017 Giáo phận Trier không có linh mục lo mục vụ cho giáo dân Việt Nam.

[9] Đây là cách phân chia theo quan sát và ý kiến riêng của người viết bài này sau 10 năm làm việc với các nhóm di dân Việt Nam, cũng như các quan sát thấy được từng đặc điểm của những nhóm di dân này.

[10] Nhận định về tính bất hợp pháp của di dân Công giáo cũng được Hội đồng Giám mục Đức đề cập chi tiết trong bài viết liên quan đến những anh chị em này. Đây là một thách đố về nhân quyền và mục vụ của Giáo hội Công giáo tại Đức (x. Die deutschen Bischöfe – Kommission für Migrationsfragen, Leben in der Illegalität in Deutschland – eine humanitäre und pastorale Herausforderung (Die deutschen Bischöfe – Kommission für Migrationsfragen 25), Bonn 2001.)

[11] Die deutschen Bischöfe – Kommission für Migrationsfragen, Leben in der Illegalität in Deutschland, 6,9.

[12] Theo quan sát thì nhóm III thường bị xem là lớn lên tại Việt Nam, do vậy thường khó có thể hòa nhập với các nhóm, hội hoặc cộng đoàn Công giáo đã qua Đức trước nhiều năm. Bên cạnh đó các nhóm di dân có đức tin Công giáo chủ yếu là người trẻ nên khả năng kết nối với thế hệ trước cũng gặp nhiều khó khăn.

[13] Đức Thánh cha Phanxicô, Tông huấn Amoris Laetitia – Niềm vui của tình yêu (bản dịch tiếng Việt) (Vatican, 2016), số 111.