|
2. Anrê Phú Yên – Người Giáo lý viên đi trước 3. “Môn đệ thừa sai” và người Giáo lý viên 4. Anh chị em quý giá hơn anh chị em tưởng |
Bài chia sẻ theo chủ đề năm Mục vụ 2025–2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai “- Anh em là ánh sáng thế gian” [1]
1. Mở đầu
Anh chị em giáo lý viên thân mến,
Hôm nay, từ những giáo xứ vùng Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên, anh chị em đã về đây, ngồi bên nhau dưới một mái nhà. Và chúng ta về đây không phải để mừng một vị thánh xa lạ nào ở tận phương trời Âu, Mỹ. Người chúng ta mừng hôm nay là người đồng hương, là người anh cả trong chính cái sứ mạng và vai trò thầm lặng của anh chị em: một người thầy giảng, tức là người giáo lý viên thế hệ đầu tiên của Hội Thánh trên đất Việt. Và hơn thế nữa, ngài là người con của chính giáo phận chúng ta, sinh ra nơi giáo xứ Mằng Lăng, Phú Yên.[2]
Anh chị em thử hình dung. Cách đây gần bốn trăm năm (1644), vào một buổi chiều tà, trên một gò đất hoang ở Gò Xử, Thanh Chiêm, Điện Bàn, Quảng Nam, một chàng trai mười chín tuổi quê Mằng Lăng bị đẩy quỳ xuống, hai tay bị trói. Người ta đâm ngài, chém ngài. Và trên môi ngài, cho đến khi tắt thở, chỉ còn lại một tiếng duy nhất: “Giêsu”.
Cho đến hôm nay, trên khắp quê hương Việt Nam này, hàng ngàn giáo lý viên vẫn đang cúi xuống bên các em thơ, để đưa chính cái Tên ấy vào lòng các em. Tiếng “Giêsu” ở Gò Xử năm 1644, và tiếng “Giêsu” trong các lớp giáo lý hàng tuần, là cùng một Tên. Sợi dây nối hai đầu ấy chính là điều chúng ta mừng hôm nay. Và tôi xin phép được nói với anh chị em một điều rất đơn sơ trong ít phút này: người giáo lý viên là môn đệ thừa sai cách trọn vẹn nhất. Như Anrê Phú Yên, anh chị em đón lấy Ánh Sáng là Đức Kitô, rồi trao lại chính Ánh Sáng ấy cho các em. Nhận ánh sáng, rồi trao ánh sáng. Chỉ có thế thôi.
2. Anrê Phú Yên – Người Giáo lý viên đi trước
Để hiểu chúng ta là ai, hãy nhìn vào ngài.
Anrê Phú Yên sinh khoảng năm 1625, con út trong một gia đình nghèo ven sông Cái (sông Kỳ Lộ).[3] Cha mất sớm. Người mẹ, bà Gioanna, ở vậy nuôi con, một tay tần tảo, và một tay gieo đức tin vào lòng đứa con nhỏ. Năm 1641, khi cha Đắc Lộ, tức cha Alexandre de Rhodes, đến vùng Mằng Lăng truyền giáo, chính người mẹ ấy đã dẫn con đến xin cha rửa tội. Cậu bé lãnh nhận tên thánh Anrê. Rồi cũng chính người mẹ ấy xin cha Đắc Lộ nhận con vào Hội Thầy Giảng, một tổ chức mà cha vừa khôn ngoan lập nên, gọi là “Nhà Đức Chúa Trời”. Khi ấy Anrê Phú Yên mới mười bảy tuổi.[4]
Anh chị em hãy nhớ cho kỹ điều này: thầy giảng thời ấy chính là giáo lý viên. Họ dạy giáo lý, họ giúp các linh mục, họ đi khắp làng trên xóm dưới loan báo Tin Mừng. Và để làm việc đó, họ khấn một lời hứa công khai, hứa trọn đời phụng sự Hội Thánh. Nghĩa là, khi anh chị em nhận lời dạy giáo lý, anh chị em đang bước vào một dòng dõi bắt đầu từ chàng trai Mằng Lăng ấy. Anrê Phú Yên là người anh cả trong sứ mạng cao cả của anh chị em.
Rồi biến cố xảy đến. Cuối tháng Bảy năm 1644, quan trấn mang theo lệnh cấm đạo. Quân lính được sai đến nhà cha Đắc Lộ để bắt một thầy giảng đàn anh tên là Inhaxiô. Nhưng thầy Inhaxiô đi vắng, đang đi làm việc tông đồ. Ở nhà, chỉ còn một mình Anrê Phú Yên trẻ.
Và đây là điều làm tôi cảm động nhất. Người thanh niên ấy đã tính rất nhanh trong lòng. Anh nghĩ: mình chỉ là em út, mình mất đi thì nhóm thầy giảng vẫn còn; nhưng nếu thầy Inhaxiô, người anh cả bản lĩnh, mà mất đi thì cả nhóm sẽ lung lay. Thế là anh bước ra, tự nhận hết trách nhiệm về mình. Anh để cho quân lính bắt trói, như để đánh lạc hướng, để người anh của mình được an toàn. Ngay từ giây phút đầu tiên ấy, cuộc tử đạo của ngài đã là một hành vi yêu thương. Anh chết thay cho một người anh em.
Trên đường bị giải đi, ngài không hề sợ hãi. Ngài vui vẻ, và vừa đi vừa khuyên chính những người lính đang áp giải mình hãy tin yêu Chúa Giêsu. Ra trước quan, quan tìm mọi cách ép ngài bỏ đạo. Ngài trả lời dõng dạc rằng mình là Kitô hữu, và sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không chối Chúa. Rồi ngài thốt lên một câu mà bốn trăm năm sau vẫn còn làm chúng ta run lên: “Ước chi tôi có được ngàn mạng sống để hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa hầu đền đáp ơn Người.”[5]
Ngàn mạng sống. Anh chị em nghe rõ chưa? Một người mười chín tuổi, mà không tính toán cho Chúa một nửa. Anh muốn dâng tất cả, và nếu có thể, dâng gấp ngàn lần.
Đêm cuối cùng, ngài bị giam chung với một thầy giảng già cũng tên Anrê; hai người thức trắng đêm để khích lệ nhau vững tin. Và trong những giờ chờ chết ấy, ngài cứ lặp đi lặp lại với những người đến thăm: “Chúng ta hãy lấy tình yêu đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống.”[6] Anh chị em hãy giữ lấy câu này. Bởi vì đó chính là định nghĩa của người giáo lý viên: đã nhận được Tình Yêu thì đáp lại bằng tình yêu; đã nhận được Sự Sống thì trao lại sự sống.
Chiều ngày 26 tháng Bảy năm 1644, một toán ba mươi người lính áp giải ngài ra Gò Xử.[7] Cha Đắc Lộ đi bên cạnh. Đông đảo tín hữu và cả những người ngoài Công giáo đi theo, ai cũng xúc động. Đến nơi, ngài quỳ xuống, và còn kịp nhắn với mọi người: “Hãy kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của tôi, và hãy hiệp lời cầu nguyện cho tôi được trung kiên đến cùng.” Rồi ba nhát giáo đâm vào, hai nhát gươm chém xuống. Và miệng ngài, cho đến hơi thở cuối, vẫn không ngừng kêu: “Giêsu”. Ngài mới mười chín tuổi.
Anrê Phú Yên là Người Chứng Thứ Nhất của cả Giáo hội Việt Nam, là hạt lúa đầu tiên gieo vào lòng đất Việt này. Chúa Giêsu đã nói: nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó trơ trọi một mình; nhưng nếu chết đi, nó sinh nhiều bông hạt (x. Ga 12,24).[8] Các giáo phụ nói một câu bất hủ: máu các vị tử đạo là hạt giống sinh nên người tín hữu.[9] Và anh chị em ạ, tất cả chúng ta ngồi đây hôm nay, phần nào đó, đều đã mọc lên từ hạt máu ấy.
Đại Năm Thánh 2000, Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong ngài lên bậc Chân phước.[10] Và Hội Thánh Việt Nam đã chọn ngài làm Quan thầy của giáo lý viên và của người trẻ. Xin anh chị em đừng bao giờ quên một điều đáng tự hào: vị tử đạo tiên khởi của cả nước Việt Nam là người con của Qui Nhơn, sinh tại Mằng Lăng, ngay trên mảnh đất mà những mùa Tin Mừng đầu tiên đã được gieo. Người giáo lý viên ở giáo phận này có một gia phả cao quý. Anh chị em đang đứng trên mảnh đất của những người gieo hạt đầu tiên.
3. “Môn đệ thừa sai” và người Giáo lý viên
Bây giờ, xin cho tôi nối câu chuyện ấy với chủ đề mà cả Giáo hội Việt Nam đang sống trong năm nay: “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai.”
Hội Thánh nhắc chúng ta một điều nền tảng: nhờ Bí tích Rửa tội, mọi người Kitô hữu đã trở thành môn đệ thừa sai. Đây không phải là đặc quyền của một số ít, của các cha, các tu sĩ nam nữ. Đây là căn cước của mọi người đã lãnh nhận Phép Rửa (x. Tông huấn Evangelii Gaudium, số 120).[11] Đức Giêsu đã truyền rất rõ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).[12]
Và anh chị em để ý: “môn đệ” và “thừa sai” không phải là hai ơn gọi tách rời. Chúng là một. “Môn đệ” là người ngồi bên chân Chúa để được Chúa dạy, để gắn bó với Chúa. “Thừa sai” là người được Chúa sai đi. Người ta không thể sai đi điều mình chưa từng sống. Không ai cho được điều mình không có.
Chủ đề năm nay còn cho chúng ta một hình ảnh rất đẹp. Đức Giêsu nói: “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14), và “ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha anh em” (Mt 5,16).[13]
Thư Chung của HĐGM Việt Nam năm 2025 dùng một hình ảnh mà tôi rất thích: hình ảnh mầu nhiệm mặt trăng. “Mặt trăng không có ánh sáng tự thân nhưng nó tiếp nhận ánh sáng mặt trời và phản chiếu lại.
Cũng thế, trong lòng Hội Thánh, tự thân mỗi chúng ta không có ánh sáng, nếu có ánh sáng là nhờ đón nhận và kết hợp với Chúa Kitô là ‘Ánh sáng thế gian’ (Ga 8,12; 9,5).”[14] Anh chị em nhìn lên mặt trăng đêm rằm, nó sáng đẹp lắm. Nhưng mặt trăng không có một chút ánh sáng nào của riêng nó cả. Tất cả thứ ánh sáng dịu dàng ấy chỉ là ánh mặt trời được phản chiếu lại. Người giáo lý viên cũng thế. Chúng ta không chiếu sáng bằng mình. Chúng ta chỉ phản chiếu Đức Kitô. Và anh chị em có nhớ không, lời cuối cùng của Anrê Phú Yên không phải là tên của ngài, mà là “Giêsu”. Ngài đã sống trọn mầu nhiệm mặt trăng ấy: đến giây phút chót, ngài chỉ còn phản chiếu một mình Chúa.
Vậy tại sao tôi dám nói người giáo lý viên là môn đệ thừa sai cách trọn vẹn nhất? Xin thưa hai lý do.
Thứ nhất, đích của việc dạy giáo lý không phải là nhồi vào đầu các em một mớ kiến thức. Đức Gioan Phaolô II dạy rằng mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là đưa người ta đến chỗ hiệp thông thân mật với Đức Giêsu Kitô (x. Tông huấn Catechesi Tradendae, số 5).[15] Nghĩa là ta phải chuyển từ chỗ “dạy giáo lý trong sách vở” sang chỗ giúp các em gặp được một Đấng đang sống. Dạy giáo lý là làm mai mối cho một cuộc gặp gỡ.
Thứ hai, Hội Thánh luôn quý trọng anh chị em. Công đồng Vaticanô II đã ca ngợi đoàn ngũ đông đảo các giáo lý viên mà công cuộc truyền giáo mang ơn rất nhiều (x. Sắc lệnh Ad Gentes, số 17).[16] Và Đức Thánh Cha Phanxicô đã chính thức thiết lập tác vụ Giáo lý viên như một thừa tác vụ đích thực và bền vững trong Hội Thánh (Tự sắc Antiquum Ministerium, 2021).[17] Nghĩa là công việc của anh chị em không phải là “làm tạm cho vui”, mà là một ơn gọi được Hội Thánh nhìn nhận và trân trọng.
Riêng ở Việt Nam, điều này còn thấm thía hơn. Trong những thế kỷ cấm cách, khi các cha bị bắt, bị trục xuất, khi nhiều vùng rộng lớn vắng bóng linh mục hàng chục năm trời, ai đã giữ cho ngọn lửa đức tin không tắt? Chính là các thầy giảng, các giáo lý viên, các ông trùm bà quản, những người cha người mẹ quỳ đọc kinh với con trong đêm. Một phần rất lớn lịch sử Giáo hội Việt Nam đã được viết bằng bàn tay âm thầm của họ. Và Anrê Phú Yên là khuôn mặt tiêu biểu cho tất cả.
4. Anh chị em quý giá hơn anh chị em tưởng
Đến đây, tôi xin dừng lại, để nói với anh chị em một lời cảm ơn thật lòng.
Tôi biết công việc của anh chị em thầm lặng đến thế nào. Có người phải thu xếp biết bao công việc gia đình, có người phải sắp công việc giáo viên ở trường học, có anh vừa buông tay lưới, có chị vừa rời đồng ruộng, có người vừa tan ca ở công xưởng, có người vừa dọn xong gánh hàng ngoài chợ… Vậy mà tối đến, anh chị em lại soạn bài giáo lý dưới ngọn đèn, rồi Chúa nhật lại bỏ giờ nghỉ ngơi để đứng lớp với một đám trẻ hiếu động không ngồi yên được năm phút. Không lương bổng. Không chức tước. Chỉ có tình yêu, và một mình Chúa nhìn thấy.
Anh chị em có biết mình quan trọng đến mức nào không? Với rất nhiều em nhỏ, anh chị em là khuôn mặt đầu tiên của Hội Thánh mà các em gặp trong đời, và anh chị em gieo hạt đức tin đúng vào cái tuổi nó bén rễ sâu nhất. Điều mà một em bé sẽ nhớ về Chúa suốt cả cuộc đời, rất có thể chính là điều em đã học nơi anh chị em, trong một buổi giáo lý anh chị em tưởng là bình thường. Không hề tầm thường đâu các anh chị! Và đừng bao giờ dạy giáo lý cách tầm thường nhé!
Và như thế, đào tạo đức tin cho các em là gầy dựng Giáo hội của ngày mai. Xin một câu để anh chị em mang về: Giáo hội của mười năm, của hai mươi năm nữa đang ngồi trong lớp giáo lý của anh chị em hôm nay. Anh chị em không làm việc cho hôm nay, mà cho cả một thế hệ chưa sinh ra.
Cho nên, xin anh chị em đừng bao giờ nghĩ mình chỉ là “người phụ việc nghiệp dư”. Không! Anh chị em là người mang một thừa tác vụ đích thực của Hội Thánh, là cộng tác viên của Đức Giám mục và của các linh mục trong chính tác vụ Lời Chúa. Nhân danh Hội Thánh, nhân danh Giáo phận, và nhân danh cả những em nhỏ chưa biết nói lời cảm ơn, tôi xin cúi đầu cảm ơn anh chị em.
5. Hãy cầm lấy ngọn đuốc, đừng “nửa mùa”
Nhưng thưa anh chị em, tri ân thôi thì chưa đủ. Tôi còn muốn nài xin anh chị em một điều: xin hãy nhen lại ngọn lửa.
Thánh Phaolô viết cho môn đệ Timôthê một lời rất mạnh. Trong nguyên ngữ Hy Lạp, ngài dùng chữ anazōpyrein, nghĩa là hãy thổi cho than hồng bùng cháy trở lại: “Hãy khơi lại đặc sủng của Thiên Chúa nơi anh” (2 Tm 1,6).[18] Anrê Phú Yên mười chín tuổi đã ước ao ngàn mạng sống. Còn chúng ta hôm nay, chúng ta ước ao dâng cho Chúa điều gì?
Thư Chung HĐGMVN năm 2025 có một lời cảnh tỉnh mà tôi xin lặp lại: đừng sống đạo “nửa mùa”.[19] Anh chị em ạ, thế giới này và các em nhỏ không cần một giáo lý viên hâm hẩm, nửa nóng nửa lạnh. Trẻ con tinh lắm. Chúng phân biệt được rất nhanh giữa một người chỉ đọc thuộc lòng một cuốn sách, và một người đang thật sự cháy lửa vì Đức Kitô.
Vậy nhen lại ngọn lửa cách nào? Tôi xin gợi ý mấy điều.
Trước hết, hãy làm môn đệ trước đã. Hãy say mê và yêu mến Chúa. Hãy cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa mỗi ngày, siêng năng lãnh nhận Thánh Thể và ơn Hòa Giải, luôn học hỏi, khám phá kho tàng giáo lý và đưa giáo lý vào cuộc sống. Xin nhớ lại hình ảnh mặt trăng: nó phải quay mặt về phía mặt trời thì mới có gì mà chiếu. Một giáo lý viên không cầu nguyện thì cũng như mặt trăng quay lưng với mặt trời, chỉ còn là một khối băng lạnh và tăm tối.
Thứ đến, hãy đi từ chỗ “dạy” đến chỗ “làm chứng”. Đừng chỉ truyền đạt thông tin, hãy giúp mỗi em gặp được Đức Kitô đang sống, và cảm nhận rằng mình được Chúa gọi đích danh: “Ta đã gọi tên con, con là của Ta” (Is 43,1).[20] Và hãy đào tạo các em thành những môn đệ thừa sai nhỏ tuổi, nghĩa là không chỉ dạy các em biết đức tin, mà còn dạy các em biết chia sẻ đức tin ấy cho bạn bè.
Và xin đừng quên các em ở vùng biên: các em yếu thế là những trẻ em bị hạn chế về khả năng tự bảo vệ, thiếu thốn điều kiện sống hoặc chịu nhiều thiệt thòi; các em di dân theo cha mẹ đi làm ăn xa, các em đồng bào dân tộc thiểu số trên vùng cao, các em nghèo nơi hẽm cụt và các làng quê hẻo lánh. Hãy mang ánh sáng đến chính nơi bóng tối dày nhất.
Và bây giờ, tôi xin nói riêng một điều cho thời đại của chúng ta. Chính Thư Chung HĐGMVN năm nay mời gọi mọi tín hữu biết sử dụng các phương tiện truyền thông và hiện diện trong môi trường kỹ thuật số.[21] Anh chị em ạ, các em của chúng ta hôm nay lớn lên với điện thoại trong tay, sống trong thế giới của màn hình, của mạng xã hội, và bây giờ là của trí tuệ nhân tạo. Chúng ta không được phép đứng ngoài. Người giáo lý viên hôm nay hãy học cách dùng những công cụ ấy: dùng tài liệu số để học hỏi, dùng phần mềm và cả trí tuệ nhân tạo để soạn giáo án cho nhanh và cho hay, tìm hình ảnh, làm bài trình chiếu, kể chuyện sống động hơn cho các em. Đây là những khả năng tốt, là hoa trái của trí khôn Chúa ban, và Hội Thánh khuyến khích ta sử dụng cách khôn ngoan.
Nhưng, và đây là chỗ tôi xin anh chị em nghe cho kỹ, những thứ ấy phải mãi mãi chỉ là công cụ. Đầu năm ngoái, Tòa Thánh đã ban một văn kiện quan trọng về trí tuệ nhân tạo, gọi theo hai chữ đầu Latinh là Antiqua et Nova, “điều xưa và điều mới”. Văn kiện dạy rằng trí tuệ nhân tạo phải được con người hướng dẫn, chứ không phải ngược lại;[22] và rằng không một cỗ máy nào có được cái mà văn kiện gọi là “sự khôn ngoan của con tim”.[23]
Xin cho tôi nói cách bình dân thế này. Cái điện thoại có thể giúp anh chị em soạn một bài giáo lý. Nhưng chỉ có một con người mới có thể trở thành một bài giáo lý. Khi một em nhỏ ngước mắt lên nhìn anh chị em và hỏi: “Thầy ơi, Cô ơi, Chúa có thật không?”, thì thưa anh chị em, không một ứng dụng nào, không một trí tuệ nhân tạo nào trên đời trả lời được câu hỏi ấy. Chỉ có một chứng nhân trả lời được, một người mà cuộc đời đã thật sự gặp Chúa. Máy móc có thể nói ngàn lời về Chúa, nhưng máy móc sẽ không bao giờ thốt lên được một tiếng “Giêsu” như Anrê Phú Yên đã thốt lên trong hơi thở cuối. Bởi vì đó không phải là dữ liệu. Đó là tình yêu. Vậy anh chị em hãy dùng công cụ bằng cả hai tay, nhưng hãy luôn giữ trái tim mình quay về phía Mặt Trời.
Thưa anh chị em, Giáo hội Việt Nam đang tiến dần về cột mốc năm trăm năm hạt giống Tin Mừng được gieo trên quê hương này (1533).[24] Anrê Phú Yên là hạt lúa đầu tiên; anh chị em là bàn tay đang tiếp tục gieo, là những người gieo hạt của “thế kỷ thứ năm” (thế kỷ Công giáo Việt Nam).
Và xin anh chị em mang về nhà lời cuối cùng này. Hầu chắc không ai trong anh chị em sẽ được phúc tử đạo đổ máu như Anrê Phú Yên. Nhưng anh chị em được mời gọi một điều, theo cách của nó, còn khó hơn: chết đi mỗi ngày một chút. Chết cho sự nhàn hạ của mình, cho những giờ riêng tư, cho nỗi nản lòng khi công khó chẳng ai hay biết. Chết đi để yêu thương cả những em mau quên tên mình, để vẫn đứng lớp cả khi lớp thưa vắng và hoa trái chẳng thấy đâu. Anrê Phú Yên tử đạo một lần. Người giáo lý viên tử đạo mỗi ngày, cách âm thầm. Và chính cuộc tử đạo của lòng trung tín đó, thưa anh chị em, chính là ngàn mạng sống mà anh chị em dâng cho Chúa.
6. Kết – Trao phó cho người anh cả Anrê Phú Yên
Anh chị em Giáo lý viên rất thân mến, chúng ta đã đi một vòng, và bây giờ xin trở về nơi đã bắt đầu: tiếng “Giêsu” trên môi người thanh niên Mằng Lăng.
Ước gì “Giêsu” cũng là lời đầu và lời cuối của mỗi giáo lý viên chúng ta: lời đầu khi bước vào lớp học, lời cuối khi rời cõi đời này. Ước gì giữa muôn vàn lời chúng ta dạy các em, thì Đấng chúng ta thật sự trao cho các em, vẫn luôn là một Ngôi Vị, chứ không phải một mớ chữ nghĩa.
Xin anh chị em hãy trở về giáo xứ của mình như những môn đệ thừa sai, như ánh sáng thế gian, cầm lấy ngọn đuốc từ Mằng Lăng mà đi tiếp con đường của người anh cả.
Và giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau thân thưa với ngài:
Lạy Á thánh Anrê Phú Yên, người anh cả của chúng con, khi mới mười chín tuổi, ngài đã lấy tình yêu đáp lại Tình Yêu, lấy mạng sống đáp đền Sự Sống, và tắt hơi với Tên Giêsu trên môi.
Xin cho chúng con, những giáo lý viên của Giáo phận Qui Nhơn hôm nay, biết đón lấy Ánh Sáng là Đức Kitô, và trung tín trao lại Ánh Sáng ấy cho các em, đừng bao giờ sống đạo nửa mùa, nhưng biết cháy lửa đến cùng.
Xin cho hạt giống ngài đã gieo bằng máu được trổ sinh mùa gặt nơi bàn tay chúng con. Amen.
Lạy Á thánh Anrê Phú Yên, cầu cho chúng con.
__________
