GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO TẠI CHÂU Á:
HỘI THÁNH TẠI GIA CỦA NGƯỜI NGHÈO
THI HÀNH SỨ VỤ THƯƠNG XÓT
Mục lục
PHẦN
I. BỐI CẢNH MỤC VỤ VỀ GIA ĐÌNH
B.
Những thách đố mục vụ lớn cho gia đình
PHẦN
II. SUY TƯ TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
A.
Gia đình Công giáo ad intra (nội tại)
B.
Gia đình Công giáo ad extra (hướng đến người khác)
PHẦN
III. NHỮNG MỆNH LỆNH MỤC VỤ CHO GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO
A.
Đáp trả thách đố về cực đoan và bạo lực tôn giáo
B.
Đáp trả thách đố của sự nghèo khổ, di dân và di cư
C.
Đáp trả thách đố về công nhân di dân và người tị nạn
D.
Đáp trả những thách đố về xung đột và chia rẽ chính trị, văn hóa
E.
Đáp trả thách đố của chủ nghĩa thực dân về ý thức hệ
F.
Đáp trả thách đố về biến đổi khí hậu và trái đất nóng lên
G.
Vai trò của Chính quyền, Hội Thánh, Xã hội dân sự và các Tổ chức phi chính phủ
PHẦN
IV. NHỮNG ĐỀ NGHỊ GỬI ĐẾN CÁC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VÀ CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG
A.
Gia đình là tâm điểm của các chương trình mục vụ
B.
Thiết lập Mục vụ gia đình hướng đến nền văn hóa sự sống toàn diện
E.
Đào tạo các tác viên mục vụ gia đình
KẾT
LUẬN: LINH ĐẠO HIỆP THÔNG CHO GIA ĐÌNH
A. Ở
chiều sâu của hiện hữu – Sự hiệp thông của tình yêu
B. Cầu
nguyện – Xây dựng sự hiệp thông với Thiên Chúa trong gia đình
C.
Linh đạo Thánh Thể về hiệp thông
F. Tận
hiến cho Thánh gia Nazarét
NHẬP ĐỀ
Kính gửi Hội Thánh tại châu Á
1. Quy tụ trong Đại hội lần XI của Liên
Hội Đồng Giám Mục Á Châu (LHĐGMAC) tại Colombo, Sri Lanka, chúng tôi, các giám
mục Á châu, công bố Niềm vui của Tin Mừng Lòng thương xót cho Gia đình Á châu.[1]
Năm Thánh ngoại thường Lòng
thương xót đã chính thức khép lại, nhưng Thiên Chúa từ bi và thương xót tiếp tục
tuôn đổ phúc lành của Ngài trên chúng ta.
2. Chúng tôi chia sẻ với anh chị em những suy tư về gia đình Á
châu. Chúng tôi muốn bắt đầu bằng lời kinh của Đức Giáo hoàng Phanxicô khi ngài
kết thúc Tông huấn Niềm vui của tình yêu
(Amoris laetitia) năm 2016:
Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha
Thánh Giuse,
nơi các ngài chúng con chiêm ngắm
vẻ rạng ngời của tình yêu đích thực;
chúng con tin tưởng phó thác nơi
các ngài.
Lạy Thánh gia Nazarét,
xin cũng làm cho các gia đình
chúng con
trở thành nhà của hiệp thông và cầu
nguyện,
trở thành trường học đích thực của
Tin Mừng,
và những Hội Thánh tại gia nhỏ
bé.
Lạy Thánh gia Nazarét,
xin cho các gia đình chúng con
đừng bao giờ để xảy ra bạo lực,
khép kín và chia rẽ;
xin cho tất cả những ai bị tổn
thương hay bị xúc phạm
mau tìm được sự an ủi và chữa
lành.
Lạy Thánh gia Nazarét,
xin làm cho mọi người chúng con
ý thức về tính thánh thiêng, sự bất
khả xâm phạm,
và vẻ đẹp của gia đình trong
chương trình của Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha
Thánh Giuse,
xin đoái nghe và nhận lời chúng
con cầu khẩn. Amen.
Một lời kinh thật đẹp. Lời kinh của
gia đình trong mọi hoàn cảnh. Lời kinh này nhắc nhở chúng ta về kế hoạch của
Thiên Chúa đối với gia đình: đền thánh cầu nguyện, cung thánh sự sống trong hiệp
thông. Lời kinh còn nhắc đến tính bất khả xâm phạm cũng như tính thánh thiêng
và vẻ đẹp của hôn nhân. Đây là những quà tặng của lòng Thiên Chúa thương xót và
thúc đẩy chúng ta đi tới trong sự canh tân gia đình Công giáo tại châu Á.
Tầm nhìn của LHĐGMAC về gia đình – Những nét lớn
3. Canh tân không thể không có định hướng. Thánh Thần của Chúa
Giêsu đã linh hứng cho Hội Thánh tại châu Á phác họa một tầm nhìn về gia đình
Công giáo. Gia đình không là gì khác hơn “cứ điểm của Phúc-Âm-hóa hướng đến nền
văn hóa sự sống toàn diện” (Đại hội VIII tại Daejon, 2004). Gia đình sống “mầu
nhiệm Thánh Thể tại châu Á” bằng yêu thương, chia sẻ và phục vụ, nhất là với
người nghèo và người cần giúp đỡ (Đại hội IX tại Manila, 2009). Chúa Thánh Thần
kêu gọi Gia đình Á châu thi hành sứ vụ “Tân Phúc-Âm-hóa toàn diện” (Đại hội X tại
Xuân Lộc, 2012).
Các Thượng Hội Đồng Giám Mục gần
đây về Thánh Thể (2005) và Lời Chúa (2008), về Gia đình (2014, 2015), Đại hội
Thánh Thể quốc tế (Cebu, Philippines, 2016) và những giáo huấn của Đức Giáo
hoàng Phanxicô (vd. Niềm vui Tin Mừng, 2013; Dung mạo lòng thương xót, 2015;
Laudato si, 2015) làm cho tầm nhìn của châu Á về gia đình được phong phú hơn.
Việc canh tân gia đình Công giáo
tại châu Á hướng đến tầm nhìn này. Chúng tôi ước mong bước đi trên nẻo đường
canh tân qua suy tư về chủ đề: Gia đình Công giáo tại châu Á: Hội Thánh tại gia
của người nghèo thi hành sứ vụ thương xót.
Tầm nhìn của LHĐGMAC về Hội Thánh của người nghèo
4. Hội Thánh của người nghèo là một tầm nhìn về Hội Thánh trong đó mọi thành viên, dù nghèo hay cực kỳ giàu có về của cải trần thế, đều sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, thể hiện qua sự siêu thoát đối với của cải vật chất. Họ nhìn nhận rằng tất cả mọi sự đều là quà tặng của Thiên Chúa.
Hội Thánh của người nghèo là Hội
Thánh ở đó trước nhan Thiên Chúa chúng ta thú nhận sự nghèo khó của mình về
tinh thần, nghèo khó vì tội lỗi, cũng như sự lệ thuộc hoàn toàn của chúng ta
vào Thiên Chúa. Đó là Hội Thánh chọn lựa người nghèo, liên đới với họ và cố gắng
bảo vệ quyền sống, phẩm giá của họ. Chúa của Hội Thánh là Đức Giêsu Nazarét, Đấng
đã trở nên nghèo khó để chúng ta được nên giàu có nhờ ân sủng của Người.
Trên hành trình hướng đến tầm
nhìn này, chúng ta nhớ lại các thư của Thánh Gioan gửi cho bảy Hội Thánh tại
châu Á trong sách Khải Huyền. Các thư đó nói đến những thách đố cho Hội Thánh
cũng như lời hứa hi vọng. Phân định và hoán cải là những đòi hỏi cần thiết để
hi vọng thành hiện thực. Chúng ta nghe điệp khúc trong các thư trên: “Ai có
tai, hãy nghe điều Thánh Thần nói với các Hội Thánh” (Kh 2,7.11.17.29;
3,8.13.22). Chúng ta cũng vậy, hãy lắng nghe và phân định.
Những vấn đề được đặt ra cho hành trình hướng đến tầm nhìn
5. Gia đình Công giáo đang ở ngã ba đường. Chúng ta đối diện với
hàng loạt vấn đề. Bị vây hãm trong nền văn hóa hoàn toàn thế tục, nặng tính cá
nhân và vật chất, vốn là tâm điểm của thời hậu hiện đại, liệu gia đình Á châu
có rơi vào lối sống “vô cảm toàn cầu” không? Hay gia đình Á châu sẽ bảo tồn được
giá trị nhân văn và Nước Trời vốn là đặc điểm của tinh thần Á châu – một cảm thức
năng động và sâu sắc về cộng đồng cũng như về từ bi và thương xót?
Chúng tôi nêu những câu hỏi này
khi chúng ta đối mặt với một thế giới đầy những mâu thuẫn. Được đánh động vì những
hình ảnh về nỗi đau của nhân loại trong những thảm họa thiên nhiên, lòng thương
cảm của thế giới tuôn trào qua những đợt cứu trợ khẩn cấp. Thế nhưng tiếng khóc
thầm lặng của hàng triệu con người trong cái nghèo khủng khiếp thì hầu như chẳng
ai biết đến, và cũng thế khi nói đến những tổn thất trong cuộc chiến không cân
sức của toàn cầu hóa kinh tế. Khi hằng triệu nạn nhân chạy trốn khỏi những cuộc
chiến chính trị và ý thức hệ thì thế giới quan tâm, nhưng khi hẳn trăm Kitô hữu
bị thảm sát và hàng ngàn gia đình phải trốn chạy vì sự sống, nhà cửa, nhà thờ của
họ bị thiêu hủy, thì chẳng nghe thấy phản ứng nào.
PHẦN I. BỐI CẢNH MỤC VỤ VỀ GIA ĐÌNH
A. Gia đình – Tính Á châu
6. Nét riêng của các gia đình Công giáo tại châu Á là sự kiện họ chỉ
là thiểu số nhỏ nhoi trên đại lục đông đúc và có những truyền thống tôn giáo lớn.
Một đặc điểm khác là tại hầu hết các quốc gia, số hôn nhân khác đạo rất nhiều.
Tuy nhiên các gia đình Công giáo chia sẻ những giá trị và đặc tính chung với
các nền văn hóa, sắc tộc và tôn giáo khác.
Trong các gia đình ở châu Á,
chúng tôi thấy mối liên hệ gia đình gần gũi giữa các thế hệ. Điều hiển nhiên là
các gia đình hạt nhân ở châu Á không chỉ gồm cha mẹ và con cái nhưng còn mở rộng
đến cô dì chú bác, các cháu trai cháu gái, ông bà nội, ông bà ngoại. Chúng tôi
cũng thấy sự tôn kính và quý trọng trong các gia đình đối với người cao tuổi.
Các gia đình châu Á rất thương con và mong muốn có con, vì con cái là quà tặng
và phúc lành của Thượng Đế.
Chúng tôi cũng thấy rõ nền văn
hóa chăm sóc cho các thành viên trong gia đình bị chậm phát triển về thể lý hoặc
tâm thần, tính hiếu khách của các gia đình Á châu dù nghèo khổ, sự nâng đỡ nhau
trong những lúc hoạn nạn. Trong các gia đình Công giáo, cha mẹ và con cái thường
đi lễ chung và cầu nguyện chung với nhau.
7. Ở nền tảng, những đặc tính phong phú trên đây của gia đình phát
xuất từ cảm thức sâu xa của người Á châu về tính thánh thiêng của hôn nhân và đời
sống gia đình, một cảm thức thật sâu được truyền từ đời này sang đời kia. Thật
vậy, cảm thức thánh thiêng này là giá trị thấm đẫm trong các nền văn hóa Á
châu, giúp người Á châu trân trọng và bảo vệ sự sống từ khi thụ thai đến khi chết
cũng như giữ gìn sự ổn định của hôn nhân.
Dù vậy, tình trạng thiểu số của
các gia đình Công giáo tại châu Á ảnh hưởng lên những đáp ứng mục vụ của họ trước
những thách đố phải đối diện. Vì thế, hợp tác với các gia đình thuộc các tôn
giáo khác là điều cần thiết.
B. Những thách đố mục vụ lớn cho gia đình
Gia đình Á châu đang phải đối diện
những thách đố rất lớn, có thể kể như sau:
Bách hại – Tự do tôn giáo bị đe dọa
8. Sự đa dạng về chủng tộc, sắc tộc và văn hóa tại châu Á – từ
Trung Á qua Nam và Đông Á đến Đông Nam Á – là nguồn hãnh diện và niềm vui lớn. Đó
là bức tranh phong phú sắc màu mà Thiên Chúa Tạo Hóa đã ban tặng cho châu Á.
Thế nhưng không phải lúc nào sự
hài hòa và bình an cũng thắng thế. Những va chạm dữ dội về văn hóa và sắc tộc,
thường là do những cực đoan tôn giáo và chính trị, đã đe dọa vẻ đẹp của châu Á.
Trong một vài nơi ở Đông Á và Đông Nam Á, các gia đình Kitô hữu phải trốn chạy
để tìm sự bình an, chủ yếu là do những cực đoan và tẩy chay về tôn giáo: nhiều
gia đình bị thảm sát, nhà thờ bị triệt hạ. Các Kitô hữu sống trong âu lo, sợ
hãi, bất an, dưới lưỡi gươm đe dọa là những lề luật chống Kitô giáo, không chấp
nhận tình trạng đa tôn giáo. Có nhiều trường hợp thiếu nữ Kitô hữu bị bắt cóc,
bị ép cải đạo và kết hôn. Và thật đáng buồn, chúng tôi nhìn thấy mức độ gia
tăng của sự bất khoan dung về tôn giáo trong nhiều quốc gia Á châu.
Nghèo khổ, di dân và di cư
9. Đang khi có những khác biệt về kinh tế theo khu vực – chẳng hạn
mức độ phát triển kinh tế tại Đông Á cũng như Singapore và Malaysia – thì tình
trạng nghèo khổ là hoàn cảnh sống của hằng triệu gia đình tại Nam Á và Đông Nam
Á. Những tội ác về buôn người, kỹ nghệ tình dục (trẻ em và người lớn), nhiều
người tham gia vào chuyện khiêu dâm trẻ em, chủ yếu là do tình trạng nghèo khổ.
Không thể coi nhẹ những hậu quả
tiêu cực của toàn cầu hóa kinh tế trên các gia đình nghèo, vốn không thể cạnh
tranh lành mạnh với những người giàu có và quyền thế trong chế độ thị trường tự
do. Vì không thể chạm tới những nguồn lợi của phát triển kinh tế vốn chảy vào
túi của giai tầng trên trong xã hội châu Á, các gia đình nghèo đành phải đi tìm
tương lai tốt đẹp bằng cách chạy đến những trung tâm thành thị hoặc làm công
nhân di dân trong những nước phát triển hơn như Singapore và Malaysia, nhất là ở
Trung Đông và châu Âu.
Những cuộc di dân như thế (trong
nước và ra nước ngoài) đều để lại những hậu quả trên các gia đình. Mối dây hôn
phối và liên hệ gia đình bị đổ vỡ do sự vắng mặt kéo dài. Trẻ em lớn lên không
được hướng dẫn bởi cả cha và mẹ. Tình yêu không chỉ đơn thuần là những món tiền
gửi về từ nơi xa để trợ giúp. Hơn nữa, nhiều công dân di dân phải chịu ngược
đãi, hiện tượng được gọi là “nô lệ mới”. Sự di chuyển nơi ở thường dẫn đến kết
quả là gia đình đổ vỡ và trẻ em phát triển không lành mạnh.
10. Đôi khi mong ước cuộc sống tốt đẹp hơn lại làm nảy sinh khao
khát lối sống cao hơn với những tiện nghi xa xỉ, từ đó dẫn đến chủ trương thực
dụng, muốn gia đình chỉ có một con. Hơn nữa, mong muốn thăng tiến vật chất của
cả hai vợ chồng khi theo đuổi những nghề nghiệp cao hơn làm cho mối dây hôn phối
suy yếu, và càng tin tưởng rằng chỉ có một con là lý tưởng nhất. Quà tặng sự sống
Thiên Chúa ban bị lạc mất trong những tham vọng kinh tế và nghề nghiệp.
Những xung đột và chia rẽ về chính trị, hệ ý thức, văn hóa
11. Không thể không nói đến hoàn cảnh các gia đình chịu ảnh hưởng của
các cuộc xung đột vũ trang như chiến tranh, phản kháng chính trị, khủng bố và
những xung đột về văn hóa, sắc tộc, tôn giáo. Những xung đột và bạo lực trên dẫn
đến hậu quả là hàng ngàn gia đình phải di tản tạm thời hoặc vĩnh viễn, trong nước
hoặc ra nước ngoài, để tìm những nơi, vùng miền hoặc đất nước an toàn hơn.
Trong nhiều nước Á châu, chúng ta
thấy đang gia tăng số người phải di tản vì lý do chính trị, kinh tế, văn hóa,
khí hậu và tôn giáo; một hiện tượng cả thế giới quan tâm. Hiện tượng này càng
làm trầm trọng hơn những định kiến vốn là nguồn cội của chia rẽ và xung đột.
Những nạn nhân bị ảnh hưởng nặng
nề nhất trong các cuộc xung đột và chiến tranh chính là trẻ thơ, kinh hoàng vì
những cuộc di tản và tiếng gầm thét của võ khí. Các em lớn lên trong “tuổi thơ
dữ dội”, sự phát triển và giáo dục các em bị đứt đoạn nghiêm trọng. Nhiều em
còn bị cưỡng ép làm “chiến binh thiếu niên”.
Chủ nghĩa thực dân về ý thức hệ và những giá trị văn hóa
12. Trong sự bùng nổ của toàn cầu hóa kinh tế, tinh thần thế tục,
duy vật và tương đối của thời hậu hiện đại cũng đang len lỏi vào tâm thức Á
châu. Nó đi ngược lại những giá trị truyền thống đáng trân quý của châu Á về
gia đình. Sự thống trị của nó thực sự là một hình thái của chủ nghĩa thực dân về
ý thức hệ, qua đó những giá trị của hệ ý thức thế tục đang áp đặt trên chúng ta
cách tinh tế, thay thế những giá trị cao quý của châu Á bằng một thứ não trạng
thuộc địa.
Chủ nghĩa thực dân này dẫn đến thứ
“văn hóa tạm bợ” (x. Amoris laetitia,
số 39). Những hình thái mới trong quan hệ tình yêu và về gia đình, vốn xa lạ với
nền đạo đức Á châu, chẳng hạn hôn nhân đồng tính, cũng đang phát triển. Hệ ý thức
mới về văn hóa làm giảm giá hôn nhân và sự cam kết trọn đời. Thay vào đó, nó cổ
võ việc sống chung, tình yêu tạm thời và cam kết theo giai đoạn. Những tổ chức
chính trị quốc tế, khi viện trợ cho các nước đang phát triển, lại ủng hộ hệ ý
thức này khi đưa ra những điều kiện đòi cổ võ phá thai và ngừa thai với lý do sức
khỏe sinh sản. Cuộc cách mạng tình dục và nỗi lo về dân số là những yếu tố mang
tính nhân quả (Ibid., số 42).
Hơn nữa, trên mạng internet, rất
nhiều nguy hiểm liên quan đến tính dục đang rình chực vì tràn lan những hình ảnh
khiêu dâm và thương mại hóa thân xác (Ibid., số 41).
Đàng khác là thách đố từ bên
trong các nền văn hóa, ví dụ sự kỳ thị hoặc khai thác phụ nữ trong một vài xã hội
Á châu có tính gia trưởng cực đoan. Mỗi năm hàng ngàn phôi thai nữ bị phá bỏ và
tục tảo hôn cho thấy mức độ người nữ bị coi thường cũng như thái độ rất kém đối
với hôn nhân.
Chúng tôi cũng ghi nhận những biểu hiện của tình trạng thực dân về hệ ý thức ngay ở địa phương khi chúng ta chỉ dựa vào xuất xứ của một sản phẩm để đánh giá tốt hay xấu.
Các giám mục từ các nước Đông Á,
chẳng hạn Nhật Bản, cũng cho thấy mức sinh sản đang suy giảm trầm trọng, dân số
già đi và sự cô đơn của người già trong bối cảnh liên hệ gia đình suy yếu.
Chúng tôi cũng ghi nhận sự gia
tăng các cặp đôi đã ly dị rồi kết hôn, không quan tâm gì đến con cái. Những gia
đình có cha mẹ đơn thân đang gia tăng. Họ vất vả đấu tranh để sinh tồn và giáo
dục con cái, nhưng nỗi khao khát sự hiện diện của người cha hoặc mẹ vắng mặt vẫn
đang là nguồn gây bất ổn cho trẻ thơ.
Trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu
13. Những thảm họa thiên nhiên và khí hậu thay đổi phát xuất từ việc
trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu, đang gây những hậu quả nghiêm trọng trên
các gia đình Á châu.
Chưa bao giờ châu Á lại thường
xuyên có những cơn bão, lũ lụt, lở đất, hạn hán nghiêm trọng, El Nino và La
Nina kéo dài như bây giờ. Những tai họa này tiêu hủy mùa màng và đe dọa cuộc sống
người dân. Hàng ngàn gia đình phải di cư để tìm nơi chốn tốt hơn cho chính mình
và con cái. Hàng ngàn gia đình Á châu rơi vào tình trạng nghèo khổ và thiếu thốn
hơn. Họ trở thành “nạn nhân của biến đổi khí hậu”.
Những căng thẳng trong gia đình
14. Các gia đình Á châu cũng kinh nghiệm những căng thẳng từ trong
nhà, đe dọa quan hệ giữa vợ chồng với nhau cũng như giữa các thành viên trong
gia đình. Môi trường yêu thương thường bị đổ vỡ do bạo hành gia đình, đôi khi
phải nhờ chính quyền can thiệp. Khi cha mẹ bạo hành với nhau không chỉ bằng lời
nói mà còn bằng hành động, thì con cái sống trong âu lo, sợ hãi.
Sự thiếu thốn nhà ở đối với các
gia đình nghèo, nhất là người nghèo ở thành thị, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
Thiếu riêng tư trong đời sống cũng là cơn cám dỗ dẫn đến những tội phạm về tình
dục trong gia đình. Điều rõ ràng nữa, tuy tinh tế, là khuynh hướng đồng tính của
một thành viên trong gia đình đôi khi tạo ra sự khó chịu. Trong một vài nước, hệ
thống của hồi môn trở thành nguyên cớ gây căng thẳng ngay từ những ngày đầu của
hôn nhân. Cư xử độc ác với người làm thuê cũng không phải là họa hiếm.
Sự suy yếu đức tin tôn giáo và những giá trị thiêng liêng trong gia
đình
15. Nền văn hóa thế tục toàn cầu đang gây ảnh hưởng tiêu cực trên
những giá trị đáng quý của gia đình Á châu. Nó làm suy yếu đức tin tôn giáo,
như đã diễn ra trong các nước phát triển ở Bắc bán cầu.
Trong một vài quốc gia, ước mong
những tiêu chuẩn sống cao hơn đã dẫn đến hệ quả là thiếu tôn kính người cao tuổi
và người khuyết tật, vì coi họ như gánh nặng của gia đình. Chủ nghĩa tiêu thụ
thay thế những giá trị Phúc Âm về sự đơn sơ và sử dụng tạo thành với tinh thần
trách nhiệm. Nói theo ngôn ngữ của Đức Giáo hoàng Phanxicô, chúng ta đang chứng
kiến sự trỗi dậy của nền văn hóa “vứt bỏ”.
Chúng tôi nhìn nhận những đóng
góp tích cực của cuộc cách mạng kỹ thuật số đối với gia đình và đời sống xã hội.
Thế nhưng cuộc cách mạng này có nhiều mặt. Cùng với ánh sáng là bóng tối. Vì
chúng tôi nhận thấy trong thời đại kỹ thuật số này, mối dây gia đình đang suy yếu
đi: các thành viên trong gia đình quy tụ lại, nhưng mỗi người lại bận rộn với
điện thoại di động, nhắn tin cho bạn bè. Trong quá khứ, gia đình quây quần và
cùng xem truyền hình. Bây giờ, điện thoại di động và iPads thay thế TV. Cảm thức
gia đình quây quần đoàn tụ dần biến mất.
Ngoài ra, chủ nghĩa cá nhân, một
thuộc tính nền tảng của tinh thần hậu hiện đại, đang đẩy người trẻ xa gia đình.
Cảm thức về gia đình như không gian thiêng thánh của tình yêu và sự gần gũi
đang dần biến mất. Khi những mối liên kết và sự nâng đỡ của gia đình suy yếu,
người trẻ ngày nay thường đi tìm tình yêu và gần gũi ở bạn bè, dẫn đến những
chuyện mang thai ở tuổi teen.
16. Chúng tôi cũng thấy các gia đình không có được sự giáo dục đức
tin cho cân xứng. Họ cũng không được đào tạo trong việc thông truyền đức tin
cho người khác hoặc thực hành đức tin trong những dấn thân xã hội. Giáo dục đức
tin cho người lớn bị thiếu, làm cho nhiều gia đình Công giáo dễ bị lôi kéo theo
những giáo phái đang mọc lên như nấm.
Do tính đa nguyên tôn giáo và văn
hóa tại châu Á, có rất nhiều cuộc hôn nhân khác đạo, thông thường phía Công
giáo phải chịu thiệt.
Tuy nhiên sự yếu kém về đức tin
và thiếu giáo dục đức tin của các gia đình không hoàn toàn tùy thuộc những yếu
tố bên ngoài. Chúng tôi phải khiêm tốn thú nhận rằng, trong tư cách những người
lãnh đạo và mục tử, chúng tôi đã không thi hành nhiệm vụ Phúc-Âm-hóa cho đủ, dẫn
đến tình trạng chia tách giữa đức tin và cuộc sống. Những giáo huấn về luân lý
không được tuân giữ. Chúng tôi cần xem xét lại các phương pháp, cách tiếp cận
và ngôn ngữ Phúc-Âm-hóa trong ánh sáng những thất bại này.
Mẫu gương và thách đố của những gia đình tốt lành
17. Chúng tôi không thể chỉ nói đến những thách đố hiểu như những vấn
đề mà các gia đình Công giáo tại châu Á phải đối đầu. Khắp nơi trên châu Á còn
có những gia đình thuộc nguồn gốc khác nhau về văn hóa, xã hội và kinh tế, những
gia đình thuộc những truyền thống tôn giáo khác nhau, những gia đình liên tôn
và những gia đình trong hoàn cảnh khó khăn…Dù sống trong những môi trường khác
nhau, nhiều gia đình như thế là mẫu mực của đời sống gia đình theo kế hoạch của
Thiên Chúa. Họ là các bậc cha mẹ đang nỗ lực không chỉ để phục vụ các thành
viên trong gia đình mình mà còn phục vụ những người khác, nhất là người nghèo,
với sự trợ giúp của ơn Chúa, trên hành trình tiến về Nước Trời. Họ hỗ trợ những
gia đình khác và các gia đình khác gặp được sự nâng đỡ của họ. Thách đố là ở chỗ
làm thế nào để duy trì và nâng đỡ những gia đình trên.
Những câu hỏi tóm kết
18. Trước những thách đố mục vụ lớn lao trên, chúng tôi nêu lên những
câu hỏi hết sức quan trọng: Làm thế nào gia đình Á châu có thể đáp ứng cách hiệu
quả những thách đố phải đối diện? Làm thế nào gia đình Á châu có thể phản ánh
hình ảnh Hội Thánh như là sự hiệp thông của các cộng đoàn? Và còn câu hỏi sâu
hơn: Làm thế nào gia đình Á châu có thể là Hội Thánh tại gia của người nghèo,
loan báo cách khả tín từ bên trong lòng từ bi và thương xót của Thiên Chúa?
PHẦN II. SUY TƯ TRONG ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
Từ viễn tượng đức tin, chúng tôi
cần suy nghĩ về lý tưởng mà gia đình Công giáo tại châu Á nên là (trở thành), để
đáp ứng cách khả tín và hiệu quả những thách đố mục vụ tại châu Á.
Định đề nền tảng: Hiệp thông của tình yêu, nền tảng của tình yêu hôn
nhân và gia đình
19. Trong chương bốn của Tông huấn Amoris laetitia, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc chúng ta nhớ rằng
“hôn nhân là hình ảnh tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta” (số 121). Điều đó
có nghĩa là tình yêu trong hôn nhân phản ánh chính tình yêu của Thiên Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa nằm ở tâm điểm của đời sống hôn nhân và gia đình. Đây là tầm
nhìn đức tin căn bản của chúng ta.
Ở nền tảng, tình yêu Thiên Chúa
là sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần trong tình yêu và sự
duy nhất tuyệt hảo. Tình yêu hôn nhân và gia đình cũng phải là sự hiệp thông
như thế.
Trong sự hiệp thông hôn nhân, người nam và người nữ nên một. Tương tự như thế, Tertulianô đã ghi nhận cách sâu sắc: “Tuyệt vời biết bao mối dây giữa hai tín hữu cùng chung niềm hi vọng, cùng chung khao khát, cùng giữ đạo, cùng phục vụ. Họ vừa là anh em vừa là bạn hữu; không có gì tách biệt họ trong tinh thần cũng như thể xác; thật vậy, họ thực sự là hai đã nên một trong thân xác và nơi đâu thân xác là một thì tinh thần cũng là một” (Ad uxorem, II, VIII, 6-8).
Sự hiệp thông như thế giữa vợ chồng
trong hôn nhân là nền tảng cho sự bình đẳng giữa vợ chồng. Thánh Ambrôsiô nói với
các người chồng: “Anh em không phải là chủ của vợ nhưng là chồng của họ; các cô
ấy được ban cho anh em không phải để làm nữ tỳ nhưng là làm vợ của anh em… Hãy
đáp lại sự chăm sóc của vợ và hãy biết ơn vì tình yêu của vợ” (Exameron, V, 7, 19).
Trong mối hiệp thông, các thành
viên trong gia đình hiệp nhất với nhau, trước hết là về liên hệ máu huyết,
nhưng sâu xa hơn là tình yêu hỗ tương và sự phục vụ lẫn nhau – một món quà vô
giá Thiên Chúa ban cho gia đình.
A. Gia đình Công giáo ad intra (nội tại)
Gia đình Thánh Thể
20. Thực tại đức tin về sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, nhất
là với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, là điểm nhấn trung tâm của Thượng Hội
Đồng Giám Mục về Thánh Thể (2005), của Đại hội LHĐGMAC tại Manila về Sống Thánh
Thể tại châu Á (2009), và Đại hội Thánh Thế quốc tế mới đây tại Cebu (2016). Đại
hội Thánh Thể khơi dậy ý thức đang nhạt nhòa về sự hiện diện yêu thương và gần
gũi của Chúa Giêsu Thánh Thể trong đời sống chúng ta, trong niềm vui và đau khổ,
cũng như trong mọi hoàn cảnh của đời sống.
Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu
– Khổ nạn, Chết, Phục sinh – lôi kéo mọi sự và mọi người đến với Người như là
biến cố của Ơn cứu độ và hòa giải (x. Ga 12,32; Col 1,20). Được tưởng niệm cách
bí tích trong Thánh Lễ, mầu nhiệm Vượt Qua lôi kéo mọi thành viên trong gia
đình đến với Chúa Giêsu và với nhau. Thánh Thể hiện diện ở ngay bước khởi đầu của
sự hiệp thông hôn nhân và gia đình.
Chắc chắn hiệp thông Thánh Thể
trước hết là sự hiệp thông yêu thương của chúng ta với Thiên Chúa Ba Ngôi. Các
văn bản Kinh Thánh theo Gioan (x. Ga 15,10; 1Ga 2,24; 3,24) về tình yêu và sự ở
lại trong Chúa Giêsu, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần (x. Ga 14,16-17), nói về việc
Thiên Chúa ở lại trong tâm hồn người yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ lệnh truyền
của Ngài.
Thật vậy, điều chắc chắn là Thiên
Chúa Ba Ngôi hiện diện nơi mọi thành viên đã được rửa tội trong gia đình. Được
thanh tẩy trong nước và trong quyền năng của Thánh Thần, các thành viên gia
đình là con cái của Chúa Cha, và anh chị em của Chúa Giêsu. Họ được ban cho sự
sống mới và được biến đổi nên tạo thành mới nhờ Thánh Thần, và được thừa hưởng
Nước Thiên Chúa.
Trong gia đình Công giáo, Thiên
Chúa tuôn đổ cách bí tích tình yêu và sự sống của Ngài, làm cho gia đình thành
“cung thánh của tình yêu và sự sống”, hình ảnh của lòng từ bi và thương xót nơi
Thiên Chúa.
Sự hiện diện của Thiên Chúa thúc
đẩy gia đình sống ý nghĩa Thánh Thể như Chúa Giêsu đã sống: Người hi sinh chính
sự sống của Người cho “nhiều người” và ban chính Mình Máu Người cho chúng ta
trong bí tích Thánh Thể. Bằng sự hi sinh hoàn toàn này, Người tỏ cho chúng ta
biết thế nào là yêu thương, chia sẻ và phục vụ tha nhân, nhất là người nghèo và
người cần giúp đỡ. Cũng thế, gia đình phải có tinh thần hi sinh khi cố gắng làm
việc hằng ngày cho cuộc sống tốt đẹp hơn và cố gắng giúp đỡ tha nhân.
Bài học về chia sẻ và phục vụ là
điều Thánh Phaolô muốn dạy cho dân Côrintô (x. AL 118-127). Ngài thấy họ chia rẽ
nhau (1Co 11,18). Ngài thấy những lạm dụng khi cử hành Thánh Thể, do tham lam
và lãng quên người đói kém (1Co 11,21). Dân Côrintô đã quên mất ý nghĩa của việc
bẻ bánh và uống chén. Những việc này là những dấu chỉ của sự hiệp thông với
Chúa, cũng là dấu chỉ của sự hợp nhất giữa các gia đình. Cử hành Thánh Thể là
phụng vụ thờ phượng, cầu nguyện, và sứ vụ.
Vì lý do này, gia đình thường
xuyên được nuôi dưỡng nhờ cử hành Thánh Thể và sống động nhờ Lời Chúa, cũng phải
trở thành ngôi trường cầu nguyện và thờ phượng. Chính từ đời sống cầu nguyện và
thờ phượng mà Thánh Thần sai các gia đình đi thi hành sứ vụ từ bi và thương xót
trong thế giới.
Gia đình đức tin, Hội Thánh tại gia của người nghèo
21. Chúng tôi nhớ lại thách đố của Chúa Giêsu đối với các gia đình.
Khi Người nghe biết là mẹ và anh em của Người đang tìm Người, Người hỏi: “Ai là
mẹ tôi? Ai là anh em tôi?”. Người chỉ vào các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi và
anh em tôi. Vì bất cứ ai thi hành ý muốn của Cha tôi thì người ấy là mẹ, chị
em, anh em của tôi” (Mt 12,46-48).
Chúa Giêsu có ý nói đến gia đình
mới của Người, gia đình không theo máu huyết nhưng là gia đình đức tin. Mẫu
gương của các môn đệ đầu tiên đã minh họa cho thấy các ông đã từ bỏ gia đình
mình thế nào để bước vào gia đình-môn đệ của Chúa Giêsu. Cuối cùng, chính khi
gia đình “theo máu huyết” mở ra với Đức Kitô và với tha nhân thì họ trở thành
“những Hội Thánh tại gia”.
Trong Tông huấn Niềm vui Phúc Âm, Đức Giáo hoàng
Phanxicô nhắc nhở chúng ta về khởi điểm của Hội Thánh. Ở cội nguồn, căn tính của
Hội Thánh là “Hội Thánh của người nghèo”. Đó là Hội Thánh mà ở đó người giàu
cũng như người nghèo đều sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm và liên đới với
người nghèo. Chính Đức Giáo hoàng Phanxicô có tầm nhìn này: “Tôi muốn một Hội
Thánh nghèo và cho người nghèo”.
Chúa Giêsu muốn cộng đoàn các môn
đệ của Người đi theo lối sống của Người, lối sống khó nghèo, đơn sơ và khiêm tốn.
“Phúc cho người nghèo vì Nước Trời
là của họ” (Lc 6,20). Mối phúc đầu tiên trong Bát phúc đòi hỏi các môn đệ sống
sự nghèo khó của Phúc Âm và nhìn nhận sự sống và sở hữu là ơn Thiên Chúa ban
tuyệt đối nhưng không. Điều đó đòi hỏi tất cả cộng đoàn tín hữu, cũng như mọi
gia đình, một đời sống đơn sơ và chia sẻ (xem cộng đoàn tín hữu ở Giêrusalem,
Cv 2,42-46; 32-35).
Chúa Giêsu tự đồng hóa với người
nghèo và người cần giúp đỡ, những người bé mọn nhất trong anh chị em của Người
(x. Lc 6,20; Mt 5,3). Bằng nhiều cách, trong lời nói, qua thái độ và hành động,
Người bày tỏ tình thương ưu tiên cho người nghèo. Người liên đới với họ, bước
đi với họ, trân trọng họ, gọi họ đến gần bên. Người nhìn nhận người giàu nhưng
có “tinh thần nghèo khó”. Người tố cáo sự tham lam và vô cảm trước nỗi đau của
người nghèo (x. Lc 16,19-31; 12,13-21).
Sự nghèo khó trong cuộc sống và
cái chết của Chúa, những giá trị về nghèo khó, sự đơn sơ và quy phục Thiên Chúa
mà Người dạy, mối quan hệ mang tính tiên tri của Chúa với người giàu cũng như
người nghèo – đây là những giá trị Chúa muốn Hội Thánh và mỗi gia đình đức tin
phải có và phải sống – đơn giản là trở thành “Hội Thánh của người nghèo”. Do
đó, gia đình Công giáo phải là Hội Thánh tại gia của người nghèo.
Thánh gia – Chúa Giêsu, Mẹ Maria,
Thánh Giuse – là gia đình nghèo. Mẹ Maria và Thánh Giuse chỉ có thể dâng lễ vật
của người nghèo, một đôi chim gáy (Lc 2,24), khi các ngài dâng Chúa Giêsu trong
Đền thánh. Các ngài phải tị nạn bên Ai Cập (Mt 2,13-15). Thánh Giuse chỉ là bác
thợ mộc (Mt 13,54-55). Thánh gia Nazarét là mẫu mực cho Hội Thánh tại gia của
người nghèo.
Gia đình – “môn đệ được sai đi”
22. Công đồng Vatican II (Lumen
Gentium 1964, Ad Gentes 1965) và
giáo huấn của các vị Giáo hoàng (Evangelii
Nuntiandi 1975, Christifideles Laici
1988, Redemptoris Missio 1990) liên tục
dạy rằng toàn thể Hội Thánh phải mang tính thừa sai. Gần đây hơn và mạnh mẽ hơn
nữa, trong Tông huấn Niềm vui Phúc Âm
(số 20-14), Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh căn tính của Hội Thánh là cộng
đoàn “được sai đi”, là sứ giả của Chúa Giêsu và Phúc Âm, nhất là cho những vùng
ngoại biên của nhân loại, tức là người nghèo và người cần giúp đỡ, dưới nhiều
khuôn mặt.
Thật sống động và mạnh mẽ biết chừng
nào tầm nhìn về Hội Thánh như “môn đệ được sai đi”! “Tôi thích một Hội Thánh bị
bầm dập, tổn thương và nhuốm bẩn vì bước ra đường, hơn là một Hội Thánh không
lành mạnh vì giam mình và gắn chặt với an ninh riêng của mình” (Niềm vui Phúc Âm, số 49).
Nếu toàn thể Hội Thánh là như thế,
thì gia đình là Hội Thánh tại gia cũng phải như thế. Gia đình Công giáo, tự căn
tính, là “môn đệ được sai đi”. Sứ vụ là giấy khai sinh của gia đình Công giáo.
Đại hội LHĐGMAC tại Daejon đã phát biểu thật chính xác qua châm ngôn “Gia đình
là cứ điểm của Phúc-Âm-hóa”. Gia đình phải được thấm nhuần Phúc Âm, đồng thời
được sai đi để Phúc-Âm-hóa, để kể chuyện về Chúa Giêsu. Kể chuyện Chúa Giêsu
không phải với sự đắc thắng tôn giáo nhưng với lòng khiêm tốn, không phải cách
buồn thảm nhưng với niềm vui, không bằng những lời lẽ ồn ào nhưng bằng việc
làm. Thế mới đúng với tư cách môn đệ thừa sai.
Gia đình là cái nôi của ơn gọi
23. Dù ơn gọi linh mục và tu sĩ đôi khi phát xuất từ những gia đình
bị đổ vỡ, nhưng đừng quên rằng thông thường chính trong môi trường gia đình sống
đạo mà ơn gọi được gieo vãi và vun trồng.
B. Gia đình Công giáo ad extra (hướng đến người
khác)
Chúa Giêsu thi hành sứ vụ: từ bi và thương xót
24. Xét như môn đệ thừa sai, gia đình Công giáo bước theo Chúa
Giêsu. Sứ vụ của Người là sứ vụ từ bi và thương xót, khi Người rảo khắp các
làng mạc ở Palestina, “làm các việc lành”. Chúa Giêsu tự mô tả Người là “người
phục vụ” (Lc 22,27).
Với lòng từ bi, Người dạy dỗ đám
đông đang đói khát Lời Chúa (Mc 9,36). Người tha thứ cho các tội nhân (Lc 7,48;
Mt 9,6; Mc 2,9), chữa lành các bệnh nhân (Ga 4,43-54; Mc 1,21-28), ban bánh cho
người đói, kể cả hứa ban cho họ lương thực không hư nát, của ăn và của uống đem
lại sự sống đời đời, là chính Mình và Máu Người (x. Ga 6,54). Người đề cao lòng
từ bi hơn việc giữ ngày sabát (x. Mc 2,27). Người bày tỏ lòng thương cảm với những
người bị xã hội coi là ô uế, những khách ngoại kiều, góa bụa, mồ côi. Người đón
nhận những người bị xã hội ruồng bỏ như các bệnh nhân phong (x. Mt 8,104), người
mù lòa, kẻ què quặt (Mt 15,30), người thu thuế như Giakêu (Lc 9,1-10). Lòng từ
bi và thương xót của Người vượt trên những ranh giới về chủng tộc, giới tính, sắc
tộc, giai cấp xã hội và kinh tế. Bất cứ ai nghèo khó và cần được cứu giúp đều
là những kẻ bé mọn trong số anh em của Người. Họ được Chúa Giêsu đón tiếp và
Người đồng bàn với họ (x. Mc 2,13-17; Mt 9,11).
Gia đình thi hành sứ vụ của Chúa Giêsu
25. Bước theo Chúa Giêsu và là môn đệ trung tín của Chúa, gia đình
Công giáo cũng được Thánh Thần sai đi thi hành sứ vụ. Đó là sứ vụ từ bi và
thương xót, kể và chia sẻ với người khác những giá trị mà Chúa Giêsu đã sống,
những giá trị Phúc Âm và Nước Trời Người rao giảng.
Năm Thánh ngoại thường Lòng
thương xót đã khép lại với lễ Chúa Kitô Vua, nhưng ân sủng vô cùng phong phú của
lòng Chúa thương xót vẫn tiếp tục tuôn đổ trên chúng ta như mưa rào trên đất
khô cằn. Gia đình Công giáo là nơi đón nhận tình yêu của Chúa, là “misera et misericordia” (nỗi khốn cùng
và lòng thương xót), khi mà misera –
người phụ nữ tội lỗi còn lại một mình với misericordia,
lòng thương xót. Đồng thời gia đình Công giáo phải trở nên hình ảnh của tình
yêu Chúa cho những người đang đau khổ, misera
et misericordia.
Nói theo ngôn ngữ của Thánh Gioan
Phaolô II trong Tông huấn Hội Thánh tại
châu Á (số 23), chính bằng chứng tá thầm lặng của đời sống Kitô hữu chân
chính, làm môn đệ đích thực của Chúa, mà gia đình Công giáo kể chuyện về Chúa
Giêsu, về lòng từ bi và thương xót của Chúa cách hùng hồn nhất.
PHẦN III. NHỮNG MỆNH LỆNH MỤC VỤ CHO GIA ĐÌNH CÔNG
GIÁO
26. Mệnh lệnh mục vụ tổng quát là phân định, đồng hành và thi hành.
Khi phân định những thách đố mà
gia đình Công giáo Á châu phải đối diện và suy tư trong đức tin về gia đình
Công giáo ad intra và ad extra, chúng ta thấy hệ luận rõ ràng là: Gia đình Công
giáo phải đáp lại những thách đố mục vụ bằng lòng từ bi và thương xót, với niềm
vui Phúc Âm.
Tuy nhiên chúng ta phải cẩn trọng:
ở châu Á, gia đình Công giáo chỉ là thiểu số nhỏ nhoi và tình trạng đó tác động
trên đáp ứng của chúng ta trước những thách đố mục vụ. Tầm ảnh hưởng của các
gia đình Công giáo trong một xã hội mà đa số là Hồi giáo hoặc Ấn giáo hoặc Phật
giáo không thể nào mạnh mẽ như trong các xã hội có đa phần là người Công giáo
như Philippines hoặc Timor Leste. Để đối diện với những thách đố cách hiệu quả,
cần phải cộng tác với các gia đình thuộc các tôn giáo khác.
A. Đáp trả thách đố về cực đoan và bạo lực tôn giáo
27. Nhìn vào tình trạng cực đoan bạo lực tại một số vùng ở châu Á,
hoàn cảnh của các gia đình Công giáo rõ ràng là rất nguy hiểm. Những cuộc thảm
sát, đốt nhà cửa, đốt nhà thờ, đều do một nhóm thiểu số thực hiện.
Thiên Chúa luôn hiện diện, kiên vững trong hi vọng, trung thành với việc
đối thoại
Thế nhưng Phúc Âm luôn là Tin Mừng
hi vọng sáng ngời. Thiên Chúa luôn hiện diện nơi mọi ngõ ngách của trần gian,
trong mọi nền văn hóa và chủng tộc, bộ tộc và dân tộc. Nhưng Thiên Chúa hiện diện
cách đặc biệt ở nơi khao khát tự do và hòa bình, khao khát sự hiểu biết và tôn
trọng, Ngài hiện diện ở nơi cảm nhận khổ đau và vô vọng.
Đức khôn ngoan thúc giục các gia
đình tìm sự an toàn và nơi lánh nạn. Đức can đảm kêu gọi các gia đình đừng sợ
hãi nhưng hãy tín thác vào Chúa. Chịu tổn thương là một phần của đời môn đệ -
là chiên giữa đàn sói. Trong những hoàn cảnh đó, Thánh Thần Chúa ban sức mạnh để
các gia đình Công giáo chống lại sự sợ hãi, bất an và vô vọng. Chính trong tăm
tối mà hi vọng nhóm lên. Thiên Chúa của chúng ta không phải là Đấng bỏ rơi Dân
của Ngài; Ngài ở với ta ngay cả khi ta cho rằng Ngài xa cách và không nghe thấy
tiếng khóc của khổ đau.
Vì thế, kể cả khi việc theo đuổi
nhiệm vụ đối thoại liên tôn trở nên ngày càng khó khăn, gia đình Công giáo sống
trong môi trường thù nghịch cần phải kiên trì với cuộc đối thoại bằng cuộc sống.
Sự hiệp thông, tình liên đới hướng đến công ích, tình bằng hữu, sự đón tiếp tha
nhân, tôn trọng và hiểu biết người khác, tất cả là những thái độ Phúc Âm đòi hỏi,
kể cả khi xem ra không được đáp lại.
Các Kitô hữu và các thành viên của
các tôn giáo khác đều có những thành kiến với nhau. Tuy nhiên, ngoại trừ một
thiểu số rất nhỏ, họ không phải là những người chủ trương cực đoan và bạo động.
Ở nền tảng, tất cả đều hướng đến hòa bình và hòa hợp trong bối cảnh xã hội đa
tôn giáo. Do đó chúng ta phải nhận ra tầm quan trọng của việc đối thoại bằng cuộc
sống.
Liên đới với các nạn nhân
28. Đồng thời các gia đình Công giáo cần phải liên đới cách tích cực
với mọi nạn nhân của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Liên đới gọi mời sự bênh vực,
nâng đỡ vật chất và tinh thần. Có thể cộng tác với các nhóm tôn giáo khác để
thiết lập những trung tâm dành cho người tị nạn.
B. Đáp trả thách đố của sự nghèo khổ, di dân và di
cư
Chia sẻ, bảo vệ quyền của người nghèo
29. Sự nghèo đói của rất nhiều các gia đình tại châu Á là tiếng gọi
của Thánh Thần để gia đình thực sự là Hội Thánh tại gia của người nghèo. Gia
đình phải biết vươn tới những gia đình khác đang cần giúp đỡ. Tình yêu không phải
là tình yêu khi chỉ khép kín với bản thân.
Từ sự nghèo khó của chính mình và
được thúc đẩy không những bởi đặc tính sẻ chia của người châu Á nhưng còn bởi
tinh thần Kitô giáo chọn lựa người nghèo, các gia đình Công giáo chia sẻ bằng
những thứ nhỏ bé mình có, trong vui tươi và quảng đại. Và, noblesse oblige, người
giàu lại càng phải chia sẻ từ sự phong phú Thiên Chúa ban chứ không chỉ từ những
của dư thừa. Trong Hội Thánh của người nghèo, mọi người đều được kêu gọi bảo vệ
quyền của người nghèo. Giáo huấn xã hội kêu gọi phải tạo công ăn việc làm, tạo
điều kiện làm việc xứng đáng và đồng lương đủ nuôi sống gia đình.
Cổ võ công bằng xã hội, loại trừ tham nhũng và chênh lệch kinh tế
30. Trong hoàn cảnh nghèo khổ tại châu Á, nhiệm vụ khẩn thiết nhất
đối với toàn thể Hội Thánh, nhất là những người giàu và có thế lực, là phải cổ
võ công bằng xã hội, loại trừ tham nhũng và sự chênh lệch kinh tế là những điều
làm cho tình trạng nghèo khổ tồi tệ hơn. Tuy nhiên mỗi gia đình có thể góp phần
vào việc loại trừ tham nhũng bằng cách dạy con khinh chê trộm cắp và đừng gieo
mầm tham nhũng trong gia đình.
Những chênh lệch lớn về kinh tế
thường là do cấu trúc xã hội. Cần có những nỗ lực chung của tất cả các công dân
thuộc các nhóm xã hội, chính trị, tôn giáo khác nhau. Mạng lưới hợp tác giữa
các gia đình, xã hội dân sự, các nhóm chính trị, các nhóm kinh doanh, các tổ chức
tôn giáo, có thể đem lại hiệu quả trong việc loại trừ tham nhũng khỏi những cấu
trúc xã hội Á châu.
C. Đáp trả thách đố về công nhân di dân và người tị
nạn
Gây ý thức
31. Các gia đình Á châu cần ý thức hơn về những vấn đề mà hàng ngàn
người tị nạn (vì lý do kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa và khí hậu) đang
phải đối diện. Cũng cần ý thức hơn về hằng triệu công nhân di dân và gia đình họ
để lại đằng sau. Cần phải giúp các gia đình và công chúng ý thức hơn để họ bớt
đi sự vô cảm, nhất là khi các phương tiện truyền thông tường thuật những tội ác
ghê tởm do hoặc chống lại người tị nạn và công nhân di dân.
Hợp tác giữa nơi đi và nơi đến
32. Trong những quốc gia gốc của người tị nạn và di dân, qua trung
gian của các tổ chức khác nhau, các cụm gia đình của người tị nạn và công nhân
di dân có thể được tổ chức ở mức độ địa phương, để nâng đỡ nhau trong hoàn cảnh
xa cách người thân, cô đơn, con cái lớn lên mà vắng bóng cha mẹ hoặc anh chị em
lâu ngày. Xã hội dân sự, các nhóm tôn giáo, các tổ chức chính quyền có thể giúp
đỡ những tổ chức này nhằm nâng đỡ các gia đình.
Trong các nước người di dân và tị
nạn đến, cũng cần tổ chức những cụm gia đình như thế. Sự đón tiếp dành cho người
tị nạn và công nhân di dân, mối quan tâm tích cực trước những nhu cầu kinh tế
và luật pháp của họ, cũng như sự nâng đỡ tinh thần dành cho họ, tất cả sẽ chống
lại sự lạm dụng và bóc lột, những hợp đồng không được thực hiện, và những điều
kiện làm việc phi nhân.
Ngoài ra, điều đúng đắn phải ghi
nhận là người tị nạn và các công nhân di dân Công giáo cũng như gia đình họ đã
đem đến sự năng động cho những đất nước họ đến. Các giám mục Nhật Bản khẳng định
rằng tương lai Hội Thánh tại Nhật Bản nằm trong tay các công nhân di dân Công
giáo.
D. Đáp trả những thách đố về xung đột và chia rẽ
chính trị, văn hóa
33. Sự đa dạng của các nền văn hóa và các nhóm sắc tộc trong nhiều
quốc gia cũng mang trong nó những định kiến và tiên kiến. Những điều này len lỏi
vào lãnh vực chính trị, nơi nảy sinh những chia rẽ sắc tộc và văn hóa, hoặc
trong tương quan đa số và thiểu số. Người dân bản địa thường phải chịu thiệt
thòi nhất. Khi xảy ra xung đột vũ trang, hằng trăm hay hàng ngàn gia đình phải
trốn chạy.
Các gia đình thuộc những tôn giáo
và văn hóa khác nhau cần phải đến với nhau và hoạt động cho hòa bình, hòa hợp.
Có những nhóm liên tôn trong những vùng đất xung đột ở miền Nam Mindanao
(Philippines), gọi là “Những bà mẹ của hòa bình” hoặc “Những đứa con của hòa
bình”. Họ là những người kiến tạo hòa bình, là “con cái Thiên Chúa” như Chúa
Giêsu gọi trong Bát Phúc (x. Mt 5,8).
Giảm thiểu những tiên kiến và định kiến
34. Chính trong gia đình mà những định kiến và tiên kiến được giảm
thiểu, nếu không nói là nhổ bỏ. Cha mẹ là người đầu tiên dạy giáo lý cho con. Họ
nên đặt trước mặt con cái tấm gương của Chúa Giêsu trong Phúc Âm. Họ cần kể cho
con cái nghe những câu chuyện Chúa Giêsu đón tiếp và ôm lấy tất cả những ai bị
xã hội kỳ thị hoặc loại trừ như cô con gái của người phụ nữ xứ Syrôphênicê (x.
Mc 7,25-30; Mt 15,21-28), con gái ông Jairô (x. Mc 5,21-43; Mt 9,18-26), người
bại liệt bên bờ hồ Betsaiđa (x. Ga 5,1-15).
Những đơn vị lo đào tạo đức tin ở
Hội Thánh địa phương phải cung cấp sự hỗ trợ có tính hệ thống cho những nỗ lực
của các gia đình Công giáo. Nhưng việc đào tạo để biết sống không-kỳ thị sẽ
không chỉ giới hạn trong các gia đình Công giáo. Các gia đình phát xuất từ những
cuộc hôn nhân liên tôn cũng nên quan tâm việc đào tạo trên. Cần có sự nâng đỡ từ
các nhóm tôn giáo của họ, từ xã hội dân sự và chính quyền.
Cổ võ và duy trì cuộc đối thoại bằng đời sống giữa các gia đình
5. Chủ nghĩa ghetto, chủ trương cô lập hoặc chạy trốn khỏi bối cảnh
xã hội đa tôn giáo và đa văn hóa không phải là giải pháp. Khởi đầu của những
tương quan hòa bình và hòa hợp giữa các gia đình trong bối cảnh xã hội nói trên
là cuộc đối thoại của đời sống hằng ngày, giữa hàng xóm láng giềng, nơi chợ búa
và nơi làm việc, trong văn phòng và trường học, ngoài đường phố. Nơi nào có cuộc
đối thoại như thế, nơi đó những xung đột văn hóa và chính trị càng ít xảy ra.
E. Đáp trả thách đố của chủ nghĩa thực dân về ý thức
hệ
36. Chủ nghĩa thực dân về ý thức hệ là sự thống trị từng bước của
những giá trị xa lạ có tính hệ ý thức, không có cội rễ đạo đức và tôn giáo,
liên quan đến nguồn gốc và vận mệnh tối hậu của sự sống con người, về chuyện
sinh và tử, về những hình thái giới tính trong quan hệ nhân sinh và gia đình.
Đây là những giá trị của hệ ý thức thế tục, xa lạ với tinh thần Á châu cũng như
với giáo huấn luân lý và đức tin đang hướng dẫn các gia đình Công giáo. Giáo huấn
luân lý dạy chúng ta tôn trọng những người có khuynh hướng giới tính khác, và
cung cấp việc chăm sóc mục vụ cho họ như phong trào COURAGE làm.
Cách riêng, chúng ta cần cổ võ việc
làm cha mẹ có trách nhiệm và kế hoạch hóa gia đình theo phương pháp tự nhiên.
Đây không chỉ là để chống lại những tổ chức quốc tế và những chính phủ cổ võ việc
phá thai và ngừa thai nhân tạo, với lý do sức khỏe sinh sản. Điều quan trọng
hơn là ở chỗ chúng ta tin rằng việc làm cha mẹ có trách nhiệm và kế hoạch hóa
gia đình theo phương pháp tự nhiên chứng tỏ sự trung thành của chúng ta với
thánh ý và chương trình của Thiên Chúa đối với gia đình. Đây là những dấu chỉ
phản chứng đối với những giá trị thuần thế tục.
Gia đình cần được Phúc-Âm-hóa về các phương tiện truyền thông
37. Trước hết, cần phải giúp các gia đình, nhất là các bậc cha mẹ,
ý thức về những tác động tiêu cực của các phương tiện truyền thông qua việc
thông truyền và gieo rắc những giá trị duy vật và thế tục. Các phương tiện truyền
thông hiện đại có thể gạt sang một bên những buổi trò chuyện và mối dây liên kết
gia đình, cũng như phát triển thứ văn hóa vứt bỏ. Rất thường khi, các phương tiện
truyền thông là công cụ của phim ảnh khiêu dâm và những cám dỗ tính dục. Cùng
nhau, gia đình có thể nhận diện cái tốt và cái xấu của những phương tiện truyền
thông.
Phúc-Âm-hóa các phương tiện truyền thông
38. Cũng vậy, các gia đình có thể cùng nhau phân định xem bằng cách
nào, qua các phương tiện truyền thông, họ có thể loan truyền sự hiểu biết về
Thiên Chúa, về đức tin, về thế giới của người nghèo; làm thế nào để sử dụng các
phương tiện truyền thông cho phù hợp với những giá trị Phúc Âm về sự giản dị,
chia sẻ, liên đới với người nghèo, bảo vệ quyền và phẩm giá của họ.
Các gia đình có thể cùng nhau gây
sức ép trên những thế lực đang kiểm soát các phương tiện truyền thông, trên
chính phủ và những người làm truyền thông, để các phương tiện này có thể thực sự
là những kênh chuyển tải giá trị Nước trời, chân lý, sự toàn vẹn, hòa bình, hòa
hợp và phát triển.
Trong thực tế, các phương tiện
truyền thông có thể là những phương tiện để giữ cho mối dây gia đình được chắc
chắn và vững bền, vì nó giúp cho các người tị nạn và công nhân di dân liên lạc
được với người thân và bạn hữu của họ.
Trên đây là một vài cách thế để
các gia đình có thể Phúc-Âm-hóa truyền thông.
F. Đáp trả thách đố về biến đổi khí hậu và trái đất
nóng lên
39. Lời đáp trả của các gia đình trước thách đố về môi sinh không bắt
nguồn từ bất cứ lý do khoa học nào nhưng từ missio
Dei (bài sai của Thiên Chúa). Thiên Chúa muốn các gia đình chăm sóc và giữ
gìn sự toàn vẹn của tạo thành. Đây là sứ điệp của Laudato si về sự chăm sóc và phục vụ ngôi nhà chung của chúng ta.
Chúng tôi nhận thấy các quốc gia
và các tổ chức quốc tế đang cố gắng đạt được thỏa thuận về giảm thiểu khí thải
nhà kính (GHGs) vốn là nguyên nhân gây ra tình trạng nóng lên toàn cầu và thay
đổi khí hậu. Các nhà khoa học cho thấy con người chịu trách nhiệm chính trong
việc tạo ra khí thải nhà kính. Do đó các cá nhân và các gia đình đóng vai trò
đáng kể trong việc tác động trên biến đổi khí hậu.
Ý thức về vấn đề biến đổi khí hậu
40. Với sự trợ giúp của chính quyền và các cơ sở Giáo hội, của xã hội
dân sự, nhất là các tổ chức phi chính phủ (NGOs), cần tiến hành việc giáo dục
các gia đình về vấn đề này: nguyên nhân, hậu quả của tình trạng nóng lên toàn cầu
và biến đổi khí hậu. Nhờ đó, các gia đình sẽ quan tâm hơn đến tác động của những
sinh hoạt hằng ngày trên môi trường thiên nhiên cũng như việc chăm sóc trái đất.
Những phương thế đơn giản để giảm thiểu việc thay đổi khí hậu
41. Các gia đình không hoàn toàn bất lực trước sự phức tạp về khoa
học của tình trạng biến đổi khí hậu. Thực ra, chính từ các gia đình mà chúng ta
khởi sự việc làm sạch thiên nhiên khỏi sự ô nhiễm gây nguy hại cho hệ sinh
thái.
Các gia đình có thể làm những việc
thường ngày để làm bớt đi tình trạng nóng lên toàn cầu bằng cách giảm thiểu khí
thải nhà kính ngay trong nhà mình: tiết kiệm nước, dùng loại đèn sáng hơn và bớt
tiêu thụ năng lượng, rút điện khỏi ổ cắm khi không dùng, dùng nước lạnh để giặt
giũ, dùng loại xe ít hao năng lượng, bớt dùng thịt bò, không đốt lá và rác thải,
sử dụng các đồ dùng tái chế, đầu tư tài chính vào những quỹ đầu tư có trách nhiệm
về đạo đức, xã hội và môi trường.
Tóm lại, một lối sống đơn giản và
đúng mực là tiếng gọi của Thánh Thần mà mỗi gia đình có thể đáp lời. Chắc chắn,
các chương trình mục vụ của chúng ta có thể giúp các gia đình suy nghĩ và hành
động cách đúng đắn.
Các gia đình thuộc các tôn giáo
khác nhau có thể cùng nhau nêu lên những quan tâm về môi trường, gây sức ép
trên những người làm chính sách để có các luật và chỉ thị thân thiện với môi
trường. Bằng việc chăm sóc trái đất ngày nay, các gia đình có thể đem lại sự
công bằng cho thế hệ tương lai.
G. Vai trò của Chính quyền, Hội Thánh, Xã hội dân sự
và các Tổ chức phi chính phủ
42. Để các gia đình tại châu Á đáp trả những thách đố mục vụ cách
hiệu quả, họ cần được công luận hỗ trợ.
Gây ý thức
Chính quyền và các cơ sở giáo hội,
xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ cần hợp tác với các bậc cha mẹ trong
việc giáo dục gia đình họ và giúp họ ý thức những thách đố họ phải đối diện.
Các tổ chức phải giúp các gia đình hiểu biết bản chất của những thách đố này và
những tác động của nó. Cần có sự hợp tác mạnh mẽ để đánh tan não trạng gia trưởng,
kỳ thị và khai thác phụ nữ như tôi tớ phục vụ đàn ông.
Các tổ chức phải hỗ trợ trong việc
tổ chức các cụm gia đình và cung cấp cho họ những nguồn liệu cần thiết để chu
toàn nhiệm vụ, nhờ đó các gia đình có đủ năng lực để đáp trả những thách đố.
Vai trò riêng biệt của Hội Thánh – Giáo dục và hướng dẫn về đức tin,
luân lý
43. Nhiệm vụ nền tảng của Hội Thánh là phải giáo dục và hướng dẫn
các gia đình về giáo lý và luân lý để hỗ trợ họ trong việc đáp trả những thách
đố. Việc giáo dục này có thể thực hiện cách hiệu quả nhất trong các Cộng đoàn
giáo hội cơ bản (BECs), ở đó các gia đình có thể đưa ra những hành động chung
liên quan đến những thách đố mục vụ họ đối diện.
PHẦN IV. NHỮNG ĐỀ NGHỊ GỬI ĐẾN CÁC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
VÀ CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG
44. Tại Đại hội Daejon về Gia đình, đã có những đề nghị được đưa ra
nhằm thi hành mục vụ gia đình hướng đến nền văn hóa sự sống toàn diện (x. Đại hội
VIII của LHĐGMAC, Tuyên bố kết thúc).
Nền mục vụ gia đình này vừa bao hàm vừa vượt lên trên khuôn khổ mục vụ gia đình
truyền thống vốn chỉ tập trung vào vấn đề “bảo vệ sự sống, pro-life”.
Vấn đề được đặt ra là sau một thập
niên kể từ Đại hội Daejon, mục vụ gia đình đã tiến xa được bao nhiêu trong việc
cổ võ “sự sống toàn diện”? Nhìn vào những thách đố mục vụ chúng ta đã phân định
cũng như sự cần thiết phải hỗ trợ các gia đình trong việc đáp trả những thách đố
phải đối diện, chúng ta cần phải mở rộng những đề nghị của đại hội Daejon.
A. Gia đình là tâm điểm của các chương trình mục vụ
45. Nếu chúng ta tin rằng Gia đình là tâm điểm của Phúc-Âm-hóa thì
các chương trình mục vụ của Hội Thánh địa phương phải hướng đến sự phát triển
những gia đình biết kính sợ Chúa, cắm rễ trong những giá trị Phúc Âm và Nước Trời
vốn là những giá trị rất cần thiết ngày nay.
B. Thiết lập Mục vụ gia đình hướng đến nền văn hóa sự
sống toàn diện
46. Các Hội Đồng Giám Mục và các Hội Thánh địa phương nên thành lập:
1. Một nền mục vụ gia đình đào tạo
và củng cố các gia đình thi hành sứ vụ;
2. Một nền mục vụ gia đình và
chăm sóc:
- các cha mẹ đơn
thân, các gia đình liên tôn và liên văn hóa;
- các gia đình
trong hoàn cảnh khó khăn – đổ vỡ, tái hôn, gia đình có người nghiện ngập;
- gia đình có
người thiểu năng về thể lý hoặc tâm lý;
- gia đình của
các di dân và tị nạn;
- gia đình của
dân bản địa;
- tư vấn cho giới
trẻ, cho cha mẹ;
- chương trình
chăm sóc trẻ em.
3. Một nền mục vụ gia đình thúc đẩy
sự biến đổi xã hội
- Thúc đẩy việc
đào tạo toàn diện;
- Thúc đẩy hiểu
biết xã hội trong gia đình;
- Hợp tác với
các gia đình thuộc các tôn giáo khác để quan tâm đến những vấn đề hòa bình và
công bằng xã hội;
- Kêu gọi các
chính phủ tôn trọng tự do tôn giáo khi việc giúp phát triển kinh tế lại kèm
theo những điều kiện đi ngược lại giáo huấn đức tin và luân lý;
- Chấm dứt sự đe
dọa của bạo lực tôn giáo;
- Phản đối việc
sử dụng trẻ vị thành niên trong các cuộc chiến tranh;
- Đào tạo các
gia đình thành những gia đình của đối thoại và hòa bình;
- Chấm dứt việc
buôn bán phụ nữ và trẻ em, cũng như du lịch tình dục;
- Thực hiện những
đề nghị của LHĐGMAC về biến đổi khí hậu.
C. Đào tạo lương tâm
47. Trong mục vụ gia đình, phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo
lương tâm. Vợ chồng phải cùng nhau đưa ra những quyết định quan trọng liên quan
đến hôn nhân, con cái, và tương lai của mình. Điều cần thiết nhất là phải đào tạo
một lương tâm ngay thẳng và hiểu biết khi ngày nay, tự do cá nhân – hoàn toàn độc
lập với thánh ý Thiên Chúa – đang trở thành mẫu số chung toàn cầu. Do đó việc
hướng dẫn đức tin và luân lý cho các bậc cha mẹ là đòi hỏi bó buộc. Chính các bậc
cha mẹ phải hướng dẫn như thế đối với con cái họ.
D. Mục vụ giới trẻ
48. Trong việc đào tạo những gia đình biết kính sợ Chúa, việc chăm
sóc mục vụ cho người trẻ có tầm quan trọng đặc biệt. Các bạn trẻ ngày nay là
“những người của thiên niên kỷ” với những giá trị, cách suy nghĩ, mối quan tâm
và những kỹ năng hoàn toàn khác với giới trẻ 30 năm trước. Họ là những người trẻ
của thời đại kỹ thuật số và thế tục. Mục vụ giới trẻ phải quan tâm đến việc kiếm
tìm ý nghĩa đời sống, những khắc khoải của người trẻ, sự tha hóa về mặt tâm lý,
ước mong thoát khỏi cha mẹ, nỗi khao khát bên trong mong thực hiện những hoài
bão.
E. Đào tạo các tác viên mục vụ gia đình
49. Các Hội đồng giám mục và các Hội Thánh địa phương phải thiết kế
chương trình đào tạo, giúp các linh mục, phó tế, nam nữ tu sĩ, cộng sự viên
giáo dân có được những thái độ và kỹ năng vốn rất cần thiết cho mục vụ gia
đình, chẳng hạn phân định và đồng hành.
Đối với việc đào tạo trong chủng
viện, Đại hội cũng đề nghị các ứng viên lên chức linh mục phải được học hỏi về
chăm sóc mục vụ và đồng hành với các gia đình (nhiều hình thái khác nhau), qua
trình bày mục vụ và suy tư thần học về bí tích Hôn phối.
Tương tự như thế, Đại hội đề nghị
các thừa sai nước ngoài cần phải hội nhập văn hóa để có thể cung cấp sự đồng
hành mục vụ hiệu quả hơn cho các gia đình Á châu với sự đa dạng về văn hóa và lối
sống của họ.
Điều quan trọng đặc biệt nữa tại
châu Á là sự khuyến khích và nâng đỡ của các Hội đồng giám mục đối với những
phong trào giáo dân chuyên trách về hôn nhân, chẳng hạn Marriage Encounter
Movement, Catholic Family Movement, Retrouvaille, Couples for Christ, Focolare
Movement. Những phong trào này thúc đẩy linh đạo trong hôn nhân và gia đình, và
là những cộng tác viên tuyệt vời trong mục vụ gia đình.
F. Những nỗ lực hợp tác
50. Hơn thế nữa, chúng tôi đề nghị các Hội đồng giám mục cũng như
các giáo phận liên kết với nhau trong việc đào tạo và phát triển mục vụ gia đình
theo hướng toàn diện. Có thể trao đổi thông tin, chia sẻ tư liệu, kể cả đến với
nhau trong những khóa huấn luyện, đào tạo những lãnh đạo giáo dân nhằm canh tân
các gia đình.
Một ví dụ cụ thể về nỗ lực hợp
tác này là khóa “Chăm sóc các gia đình tại châu Á” (Shepherding Families in
Asia) được tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan từ 16-20/5/2016, do Văn phòng FABC về
Giáo sĩ cộng tác với Văn phòng về Giáo dân.
KẾT LUẬN: LINH ĐẠO HIỆP THÔNG CHO GIA ĐÌNH
A. Ở chiều sâu của hiện hữu – Sự hiệp thông của tình
yêu
Hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi
51. Lời đáp trả của gia đình trước những thách đố tại châu Á phát
xuất từ chính tâm điểm của gia đình. Bởi lẽ chính ở tâm điểm đó mà chúng ta gặp
được tình yêu chan chứa niềm vui của Thiên Chúa từ bi và thương xót. Thiên Chúa
Ba Ngôi yêu thương gia đình và gia đình yêu mến Thiên Chúa Ba Ngôi – đây phải
là nguồn suối ban sự sống, từ đó tuôn chảy lời đáp trả của gia đình, bằng thái
độ hoặc việc làm.
Hiệp thông trong gia đình, chăm sóc lẫn nhau
52. Các đôi vợ chồng hãy ý thức rằng nền tảng của mối hiệp thông giữa
họ với nhau là mối dây thiêng liêng của giao ước hôn nhân, qua đó họ cam kết với
nhau trước mặt Chúa và cộng đoàn, nên một với nhau mãi mãi trong cuộc sống hôn
nhân đơn nhất. Được đặt nền trên sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa, đây chính
là tâm điểm của linh đạo hiệp thông.
Các đôi vợ chồng cụ thể hóa chiều
sâu của linh đạo này bằng quyết định mỗi ngày trung thành với nhau trong tình
yêu. Họ chăm sóc nhau, phục vụ nhau ngay giữa những thách đố hằng ngày. Và những
thách đố này vừa nhiều vừa đa dạng, trong hoàn cảnh của châu Á với tính đa
nguyên tôn giáo và văn hóa, nhất là trong những cuộc hôn nhân khác đạo vốn rất
nhiều ở châu Á. Như thế họ lớn lên trong ân sủng trước nhan Thiên Chúa trong sự
hiệp thông yêu thương và phục vụ, tuổi tác chất chồng qua những thử thách trong
tình yêu và sự chăm sóc lẫn nhau (x. Amoris
laetitia, số 19). Ở nơi sâu thẳm, ơn gọi hôn nhân là ơn gọi nên thánh, hiệp
thông với Thiên Chúa.
Sự hiệp thông giữa cha mẹ và con
cái được diễn tả hằng ngày trong tình yêu, sự chăm sóc và phục vụ nhau. Sự hiệp
thông đó được lớn lên qua việc “chăn dắt” lẫn nhau (shepherding, chia sẻ chức
năng mục tử của Chúa Giêsu). Cha mẹ chăn dắt con cái đến chỗ hiệp thông sâu xa
hơn với mọi người trong gia đình, và với Thiên Chúa. Sự tư vấn của cha mẹ giúp
giáo dục con cái hướng đến một tình yêu trung tín, nhưng điều quan trọng nhất
không phải là những mệnh lệnh cho bằng chính gương mẫu sống động của tình yêu
trung tín.
Tình yêu hôn nhân và gia đình là
tình yêu quảng đại, kiên nhẫn và tha thứ. Các đôi vợ chồng và con cái họ cần phải
tha thứ cho nhau vì tình yêu của họ là tình yêu không bao giờ hoàn hảo, không
bao giờ thoát khỏi sự mỏng dòn và yếu đuối của phận người. Chính qua tình yêu hỗ
tương, kiên nhẫn, tế nhị và tha thứ hằng ngày, qua sự chăm sóc và phục vụ đầy
yêu thương, mà sự “tự do nội tâm” đối với Chúa và với nhau được kiến tạo. Tự do
nội tâm đó trở thành trở nên đồng bản chất với sự hiệp thông (x. Amoris laetitia, số 320).
B. Cầu nguyện – Xây dựng sự hiệp thông với Thiên
Chúa trong gia đình
53. Cầu nguyện là điều kiện không thể không có (sine qua non) để
gia đình xây dựng sự hiệp thông với Thiên Chúa. Những việc đạo đức bình dân như
lần hạt Mân Côi, cầu nguyện trước và sau bữa ăn, tuần cửu nhật, nhất là sự tôn
sùng Thánh Gia và việc chầu Thánh Thể.
Quan trọng hơn, lòng đạo của gia
đình phải hướng đến Lời Chúa. Một trong những cách thực hành đáng quý của các Cộng
đoàn giáo hội cơ bản là đọc và cầu nguyện với Kinh Thánh. Chúng tôi xin các Hội
đồng giám mục hãy phát động việc cung cấp Kinh Thánh cho mỗi gia đình.
Cầu nguyện còn giúp gia đình gắn
kết với nhau, củng cố giao ước hôn nhân, dần dần biến đổi gia đình thành ngôi
trường cầu nguyện và thờ phượng.
Mục vụ gia đình cần có những nỗ lực
đặc biệt để khuyến khích các ông chồng trở thành người hướng dẫn cầu nguyện. Tại
nhiều quốc gia, có thể thấy rõ là đàn ông ít tham gia cầu nguyện.
Cầu nguyện không chỉ là những việc
đạo đức bên ngoài. Người trẻ phải được dạy về “cầu nguyện chiêm niệm” cách đơn
giản như phương pháp Taizé và việc làm giờ thánh.
54. Gia đình có thể chọn một vị thánh làm bổn mạng và kêu cầu danh
ngài trong giờ cầu nguyện, làm tuần chín ngày để chuẩn bị mừng lễ thánh bổn mạng
hằng năm.
Các bậc cha mẹ cần phải vun đắp đức
tin cho con cái bằng cách kể chuyện các vị đã nên thánh qua những bổn phận thường
ngày trong đời sống gia đình, chẳng hạn Thánh Louis Martin và Zélie Guérin (cha
mẹ Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu), hoặc các đôi vợ chồng như Luigi Beltrame
Quattrocchi và Maria Corsini (được tuyên phong chân phước).
Đặc biệt, các bậc vợ chồng nên kể
đi kể lại những chứng tá của các vị tử đạo là giáo dân (những người cha và mẹ
trong gia đình, giáo lý viên, người trẻ) tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn
Độ, Việt Nam, Cambodia, Thái Lan, Myanmar, gần đây là Lào. Các ngài là kho báu
đức tin, các anh hùng đã biến gia đình thành Hội Thánh tại gia. Cũng không thể
quên hàng ngàn vị tử đạo chưa được tuyên thánh tại nhiều miền đất khác nhau của
châu Á, đã bị giết vì tin vào Đức Kitô.
55. Mặc dù nhiều người thuộc các tôn giáo khác cũng tham gia những
việc đạo đức bình dân, nhưng sự tham gia đó không phải là chuyện đương nhiên
trong các hôn nhân khác đạo. Vì thế trước và sau khi kết hôn, cần có sự đối thoại
chân thành về nhu cầu thực hành đức tin của người bạn đời, vì ích chung của gia
đình. Đây là việc thực hiện tự do tôn giáo và khoan dung tôn giáo là điều cần
thiết cho cuộc hôn nhân hạnh phúc.
C. Linh đạo Thánh Thể về hiệp thông
56. Ở đỉnh cao của việc thờ phượng và cầu nguyện trong gia đình là
Thánh Thể. Đây là bí tích tuyệt hảo của sự hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là sự
tưởng niệm cách bí tích cuộc Khổ nạn, Chết, và Phục sinh của Chúa – biến cố cứu
độ tối hậu của hòa giải và hiệp thông với Thiên Chúa, với người lân cận và với
toàn thể tạo thành.
Sự tham gia của gia đình, có cha
mẹ dẫn dắt, vào cử hành Thánh Thể, gắn kết gia đình với việc thờ phượng và cầu
nguyện cao cả, là hành động tự hiến hoàn toàn của Chúa Giêsu trên Thánh giá. Với
lòng đạo đức và sùng mộ, gia đình phải đồng cảm với hành động Thánh Thể, thân
mình Chúa Giêsu được bẻ ra cho gia đình, máu Người đổ ra cho gia đình.
Trong bí tích Thánh Thể, sự hiệp
thông của gia đình với Thiên Chúa Ba Ngôi, với tha nhân, với xã hội và với
thiên nhiên nên hoàn toàn, nhất là khi gia đình thường xuyên rước Chúa. Niềm
vui của tình yêu, amoris laetitia, là
nền tảng tối cần thiết cho linh đạo hiệp thông của gia đình.
D. Từ hiệp thông đến sứ vụ
57. Nền linh đạo Thánh Thể khắc họa rõ nét điều mà linh đạo hiệp
thông đòi hỏi: vươn ra bên ngoài trong yêu thương và phục vụ.
Tình yêu Thiên Chúa thúc bách gia
đình noi gương Chúa Giêsu Thánh Thể, sống và chia sẻ ý nghĩa của Thánh Thể, để
“chăn dắt trong lòng thương xót” từng thành viên trong gia đình và vươn tới sự
hiệp thông với những gia đình khác để đáp trả những thách đố tại châu Á.
Một gia đình được gọi là “thiêng
liêng, thuộc linh” là gia đình sống trong Thánh Thần và được thêm sức để thi
hành sứ vụ thương xót. Chính vì thế mà gia đình Công giáo kể chuyện về Chúa
Giêsu từ bi thương xót cho các gia đình khác và cho xã hội Á châu.
Một gia đình hiệp thông với Thiên
Chúa Ba Ngôi, với nhau trong gia đình, với người khác và với tạo thành, gia
đình đó phong phú sự sống nhờ linh đạo hiệp thông.
E. Biết ơn các gia đình
59. Trong Đại hội lần XI của LHĐGMAC, chúng tôi vui mừng khi biết
có nhiều gia đình Công giáo tại châu Á đang sống đức tin giữa môi trường đa tôn
giáo. Chúng tôi tạ ơn Chúa cho họ và cảm ơn họ vì sự kiên trì và chứng tá của họ
trong yêu thương, hi vọng và niềm vui.
Chúng tôi bày tỏ sự ủng hộ đối với
các gia đình đang gặp những vấn đề khó khăn trong và ngoài gia đình họ. Chúng
tôi cầu nguyện với họ và cho họ, để họ tiếp tục cảm nhận được phúc lành của
Thiên Chúa thương xót, và chứa chan hi vọng, không ngừng được truyền cảm hứng từ
mẫu gương của Thánh Gia thất Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse.
F. Tận hiến cho Thánh gia Nazarét
60. Ước gì chúng ta luôn nhận ra rằng Mẹ Maria, Mẹ của Lòng thương
xót, Nữ vương các gia đình, và Ngôi sao dẫn đường cho công cuộc Phúc-Âm-hóa,
luôn đồng hành với các gia đình Công giáo tại châu Á trong hành trình
Phúc-Âm-hóa.
Tại Đại hội LHĐGMAC ở Manila, chúng tôi đã dâng châu Á cho Đức Mẹ. Hôm nay ở Colombo chúng tôi dâng các gia đình Công giáo tại châu Á cho Thánh gia Nazarét. Nhờ sự hướng dẫn của cha mẹ Người là Mẹ Maria và Thánh Giuse, Hài nhi Giêsu đã học vâng phục, những nhân đức trong đời sống đạo đức, những cách cầu nguyện theo truyền thống Do Thái, và lớn lên trong sự khôn ngoan và hiểu biết. Thánh gia Nazarét chính là gia đình Á châu lý tưởng cho mọi thời đại.
Nguyện xin Chúa Giêsu, Mẹ Maria
và Thánh Giuse luôn đồng hành với Gia đình Công giáo tại châu Á để bằng lời nói
và việc làm, chúng ta trở thành Hội Thánh tại gia của người nghèo thi hành sứ vụ
thương xót.
Chuẩn y ngày 3 tháng 12 năm 2016, Lễ Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các
xứ truyền giáo, Tông đồ của châu Á
Bản dịch của Văn phòng
HĐGMVN
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 98 (Tháng
1 & 2 năm 2017)
WHĐ (30.03.2021)
[1] Chúng tôi đau buồn ghi nhận sự vắng mặt của các đại diện của Hội
Thánh tại Trung Quốc. Chúng tôi bày tỏ sự liên đới với Hội Thánh đang chịu đau
khổ.