Dẫn Nhập

1. KHÁI NIỆM PHÂN ĐỊNH

2. PHÂN ĐỊNH TRONG CỰU ƯỚC

2.1 Phân Định Trong Tương Quan Giao Ước

2.2 Phân Định Trong Truyền Thống Ngôn Sứ

2.3 Phân Định Trong Truyền Thống Khôn Ngoan

3. PHÂN ĐỊNH TRONG TÂN ƯỚC

3.1 Phân Định Theo Dấu Chỉ Nước Thiên Chúa

3.2 Phân Định Theo Giáo Huấn Đức Giê-su

3.3 Phân Định Trong Chúa Thánh Thần

4. THEO ĐƯỜNG PHÂN ĐỊNH CỦA ĐỨC GIÊ-SU

4.1 Đức Giê-su – Đường Phân Định

4.2 Sống Theo Đường Phân Định

4.3 Loan báo Tin Mừng Đường Phân Định

Kết Luận

 

Dẫn Nhập

Trong lịch sử Giáo Hội, hạn từ 'phân định' chủ yếu được khai triển trong môi trường linh đạo, đặc biệt là phân định các thần khí. Theo nghĩa rộng, phân định được hiểu là tiến trình thiêng liêng bao gồm nhiều yếu tố, chẳng hạn như nhận ra các dấu chỉ, chú ý đến những biến đổi, chuyển động hay thúc đẩy nội tâm, phân biệt các thần khí, hướng lòng về Thiên Chúa để có thể chọn lựa và quyết định cách đúng đắn. Phân định giúp con người lắng nghe thực tại dưới ánh sáng lời của Thiên Chúa để thực thi thánh ý Người. Với sự đồng hành và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, người phân định là người luôn ý thức về sự yếu hèn, thiếu sót cũng như những giới hạn bản thân và biết cậy trông vào ơn Thiên Chúa để ngày càng lớn lên về mọi phương diện, nhất là trong đời sống đức tin.

Theo mặc khải Ki-tô Giáo, tự do là ân ban của Thiên Chúa cho con người ngay từ khi được Thiên Chúa sáng tạo, nhờ đó con người có khả năng phân định và thực thi thánh ý Người. Tuy nhiên, vì tội lỗi, khả năng này đã bị tổn thương, khiến con người không thể tự mình phân định cách đúng đắn. Do đó, Thiên Chúa đã mặc khải chương trình tình yêu của Người để giúp con người biết phân định và sống ơn gọi của mình cách xứng hợp hơn. Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ cách viên mãn nơi Biến Cố Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại. Trong sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần, hành trình trần thế của Đức Giê-su cũng là hành trình phân định liên lỉ, nghĩa là Người luôn hướng về Chúa Cha, vâng phục và trung tín thực thi thánh ý Chúa Cha.

Chủ đề bài viết 'Đức Giê-su Ki-tô – Đường Phân Định' được khai triển theo các mục như sau: (1) Khái Niệm Phân Định, (2) Phân Định Trong Cựu Ước, (3) Phân Định Trong Tân Ước, (4) Theo Đường Phân Định Của Đức Giê-su. Việc khai triển chủ đề dưới các mục này giúp chúng ta nhận diện rõ hơn tầm quan trọng của phân định trong đời sống đức tin Ki-tô Giáo. Đồng thời, việc khai triển này giúp chúng ta ý thức sâu sắc hơn về sự cần thiết phải dõi theo Đường của Đức Giê-su để phân định, nhờ đó có thể thực thi thánh ý Thiên Chúa cách trung tín và trưởng thành hơn mỗi ngày.

 

1. KHÁI NIỆM PHÂN ĐỊNH

Dưới nhiều hình thức khác nhau, phân định là chủ đề xuất hiện xuyên suốt Kinh Thánh. Trong tiếng Do-thái, động từ בִּין/ bîn có nghĩa là hiểu, nhận ra vàphân biệt cách thấu suốt. Động từ này còn mang nhiều sắc thái ý nghĩa, chẳng hạn như khả năng phân biệt giữa con người, sự vật, hiện tượng; nhận thức ý nghĩa sâu xa hay giá trị nội tại nơi những gì mình nhìn thấy hay nắm bắt và giải mã hàm ý của hình ảnh, biểu tượng cũng như giải thích cách thích hợp và đúng đắn điều mình tìm hiểu. Xét về phương diện thần học, động từ này diễn tả khả năng hiểu biết nội tâm phát xuất từ Thiên Chúa, giúp con người đón nhận, giải thích mặc khải và sống theoLề Luật của Người. Danh từ xuất phát từ động từ này là בִּינָה/ binah, diễn tả sự hiểu biết nội tâm, đồng thời bao hàm chiều kích phân định mang tính khôn ngoan. Hơn nữa, trong viễn tượng Kinh Thánh, phân định không chỉ là hành vi của lý trí nhưng còn diễn ra nơi 'trái tim' (לֵב/ lēb), tức nội tâm của con người, nơi con người lắng nghe, suy xét và quyết định trước mặt Thiên Chúa. Ngoài hạn từ trên còn một số thuật ngữ Kinh Thánh có liên hệ gần với khái niệm 'phân định', chẳng hạn như: שָׁמַע/ šāmaʿ (lắng nghe trong thái độ vâng phục), דַּעַת/ daʿat (tri thức mang tính tương quan, kinh nghiệm sống), חָכְמָה/ ḥokmāh (sự khôn ngoan thực hành), תְּבוּנָה/ tevûnāh (sự hiểu biết có tính phân tích, suy xét), שָׁפַט/ šāphaṭ (phán xét, phân xử công minh), רָאָה/ rāʾāh (nhìn thấy để nhận ra, để hiểu). Các khái niệm trên cho thấy 'phân định' trong Kinh Thánh là tiến trình toàn diện, bao gồm lắng nghe, hiểu biết, suy xét và đưa ra quyết định từ 'trái tim biết lắng nghe' trong tương quan sống động với Thiên Chúa.

Động từ tương đương với בִּין/ bîn trong tiếng Hy-lạp là διακρίνω/ diakrínō. Động từ này thường được dịch là phân định, phân biệt, phân chia, phân xử, xét đoán, nhận định, hàm ý một hành vi tách biệt để nhận ra sự khác biệt và đi đến quyết định đúng đắn. Danh từ của động từ này là διάκρισις/ diákrisis (discernment, sự phân định), nhấn mạnh đến sự phân biệt và tiến trình phân định trong thực tế. Nếu בִּין/ bîn trong truyền thống Do-thái nhấn mạnh đến sự hiểu biết nội tâm phát xuất từ 'trái tim' (לֵב/ lēb) thì διακρίνω/ diakrínō trong Tân Ước làm nổi bật tiến trình phân tích, phân biệt và lượng định trong hành động cụ thể của đời sống đức tin. Một số thuật ngữ Hy-lạp có nghĩa gần với từ διακρίνω/ diakrínō (discern/ phân định) là: δοκιμάζω/ dokimazō (test, kiểm chứng, thử luyện để nhận ra giá trị đích thực),ἀνακρίνω/ anakrinō (examine, khảo sát kỹ),κρίνω/ krinō (judge, xét đoán),συγκρίνω/ synkrinō (compare, đối chiếu),ἐπιγινώσκω/ epiginōskō (recognize, nhận thức cách đầy đủ và sâu sắc hơn) và φρονέω/ phroneō (think, suy xét, định hướng tâm trí theo một lối sống). Như vậy, thuật ngữ 'phân định' trong tiếng Do-thái và Hy-lạp theo nghĩa Kinh Thánh cũng như các hạn từ liên quan cho thấy rằng phân định bao gồm nhiều chiều kích khác nhau: Từ nhận thức đến thực hành, từ lắng nghe đến đón nhận, từ xem xét đến đánh giá, từ bên trong đến bên ngoài, từ kiểm chứng đến xét xử, từ khả năng nội tâm đến thử luyện trong thực tế và từ mệnh lệnh đến trung tín.

Phân định gắn liền với hiểu biết (understanding). Đặc tính của hiểu biết là nhận thức và nắm bắt chân lý, trong khi đó, đặc tính của phân định quy hướng về việc chọn lựa vàthực hành; phạm vi của hiểu biết có tính bao quát, trong khi phạm vi của phân định có tính quy hướng và cụ thể hơn; hiểu biết trả lời cho câu hỏi 'điều này là gì?', còn phân định trả lời cho câu hỏi 'tôi phải làm gì?'. Hiểu biết giúp con người nhận ra sự thật, tiếp cận ánh sáng, còn phân định giúp con người hướng về sự thật và bước đi trong ánh sáng. Nói cách khác, hiểu biết giúp con người nhận ra sự thật, nhận ra ánh sáng, còn phân định giúp con người chọn lựa và hành động phù hợp với chân lý đã nhận ra. Không hiểu biết thực tại thì không thể phân định; không phân định thì sự hiểu biết về thực tại không đạt tới ý nghĩa hiện sinh và luân lýđối với đời sống con người. Khi con người không hiểu biết thấu đáo các thực tại và tương quan giữa chúng thì khó có thể phân định cách chính xác. Vì thế, hiểu biết có tính nền tảng và đi trước về phương diện nhận thức đối với phân định. Chúng ta có thể xác quyết rằng, trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, phân định đi đôi với hiểu biết, nghĩa là phân định và hiểu biết bổ sung cho nhau, soi sáng cho nhau, nhờ đó con người có thể lượng định, đánh giá và quyết định phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong hoàn cảnh cụ thể.

Hai động từ 'phân định' và 'phân biệt' (distinguish) có liên hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, phân biệt nhằm nhận ra sự khác nhau giữa hai hoặc nhiều thực tại. Thông thường, việc phân biệt chỉ liên quan đến các đặc điểm bề ngoài hay các đặc điểm có thể quan sát nơi thực tại hoặc có thể phân biệt về mặt nhận thức, mô tả. Khi nói 'phân biệt' không nhất thiết phải xác định giá trị của thực tại, chẳng hạn như phân biệt hoa màu vàng và hoa màu xanh, phân biệt đúng hay sai về phương diện pháp lý, phân loại các thực tại trong một hệ thống hoặc phân biệt về cú pháp ngôn ngữ. Trong khi đó, phân định không dừng lại ở việc nhận ra sự khác biệt nhưng hướng tới những chọn lựa luân lý hay thiêng liêng, chẳng hạn như phân định điều tốt và điều xấu, điều tạm thời và điều vĩnh cửu, điều giới hạn và điều vô biên. Phân định giúp con người xem xét thực tại để hành động cách ngay chính, đồng thời nhận ra các giá trị chân, thiện, mỹ được biểu lộ nơi thực tại. Theo Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô: "Phân định không nhằm khám phá xem chúng ta có thể rút ra thêm điều gì từ cuộc sống này, nhưng là nhận ra làm thế nào chúng ta có thể chu toàn tốt hơn sứ mạng đã được trao phó cho mình trong Bí Tích Rửa Tội. Điều đó đòi hỏi sự sẵn sàng hy sinh, thậm chí hy sinh tất cả" (Gaudete et Exsultate 174).

Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, phân định được hiểu như là ân sủng nhưng không của Thiên Chúa ban cho những ai trung tín với Người. Phân định vượt trên khả năng của lý trí và lý luận lô-gích, nhưng không loại trừ, trái lại kiện toàn và nâng cao lý trí con người. Phân định không chỉ dừng lại ở sự phân biệt điều này với điều kia nhưng là nhận ra sự thật qua những dấu chỉ cụ thểcủa thực tại dưới ánh sáng mặc khải. Phân định giúp con người phát triển đời sống nội tâm và biết hành động phù hợp với thánh ý Thiên Chúa giữa những thử thách và phức tạp của đời sống. Phân định cho phép con người nhận diện thánh ý Thiên Chúa, hiểu, đón nhận và đáp lại thánh ý Người trong tương quan với bản thân, với tha nhân và với muôn vật muôn loài. Hơn nữa, phân định cho phép con người vươn tới những mục tiêu vượt quá khả năng tự nhiên nhờ ân sủng và sự cộng tác tự do của con người với Thiên Chúa.

Phân định có thể được hiểu như là yếu tố cốt lõi của khôn ngoan thực hành (prudentia). Do đó, phân định đóng vai trò hướng dẫn, điều hòa và liên kết các nhân đức, giúp con người nhận ra và thực thi thánh ý Thiên Chúa cách xứng hợp. Phân định cho phép con người nhìn nhận đúng đắn hơn về bản chất, hiện tượng cũng như chức năng của thực tại. Nhờ đó, con người có thể đưa ra những chọn lựa và quyết định đúng đắn hướng tới điều thiện hảo cho bản thân, cho tha nhân và cho toàn thể thế giới thụ tạo. Không phân định đồng nghĩa với việc con người lần bước trong tăm tối vì các chiều kích nội tâm của con người cũng như thế giới bên ngoài luôn đòi hỏi những gì vượt quá khả năng đơn thuần của lý trí tự nhiên nơi mỗi người hay mọi người. Phân định giúp con người trở nên khiêm tốn, biết lưu ý nhiều đến bối cảnh và biết nhìn xa hơn những kinh nghiệm bản thân đã tích luỹ.

Các hình thức phân định rất đa dạng và liên quan đến vô số chiều kích của con người, chẳng hạn như: Phân định thực hành (practical discernment), phân định hiện sinh (existential discernment), phân định cá nhân (personal discernment), phân định cộng đoàn (communal discernment), phân định Giáo Hội (ecclesial discernment), phân định luân lý (moral discernment), phân định lương tâm (conscience-based discernment), phân định ơn gọi (vocational discernment), phân định thiêng liêng (spiritual discernment), phân định đặc sủng (charismatic discernment), phân định ngôn sứ (prophetic discernment), phân định giao ước (covenantal discernment), phân định mục vụ (pastoral discernment), phân định dấu chỉ thời đại (discernment of the signs of the times). Các hình thức phân định này có thể được quy về ba bình diện chính: Bình diện cá nhân, cộng đoàn và Giáo Hội, đồng thời trải dài từ chiều kích nhân bản đến chiều kích thiêng liêng siêu nhiên, từ thực hành luân lý đến định hướng ơn gọi và sứ vụ của con người trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

Người không có đức tin vẫn thực hành phân định, họ lắng nghe, suy xét, đánh giá, cân nhắc hậu quả, chọn lựa điều tốt và quyết định theo chọn lựa đó. Họ dựa vào lương tâm, lý trí, ý chí, kinh nghiệm cũng như các giá trị truyền thống, văn hóa và đạo đức để phân định và chọn lựa những điều phù hợp, đúng đắn, mang lại lợi ích cho bản thân cũng như cộng đồng. Hình thức này được gọi là phân định nhân bản (human discernment), nghĩa là con người sử dụng các quan năng tự nhiên, chẳng hạn như khả năng phán đoán, luật luân lý tự nhiên và lý luận thực hành để phân biệt và chọn lựa điều thiện, dựa trên kinh nghiệm cá nhân và cộng đồng. Phân định Kitô Giáo đòi hỏi vượt xa hơn cấp độ này vì được soi sáng bởi đức tin và được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần.

Để có thể phân định, con người không chỉ sử dụng lý trí, ý chí và ký ức mà còn toàn thể các quan năng cảm nhận của con người, bao gồm các giác quan nội tại (sensus interiores) cũng như các giác quan ngoại tại (sensus exteriores). Như vậy, mọi năng lực giúp con người nhận biết và hiểu đúng thực tại đều tham dự vào tiến trình phân định. Con người thường phản ứng với thực tại theo bản năng cách tự phát và vô thức. Do đó, để có thể phản ứng cách chủ động và có ý thức, con người cần phải quan tâm hơn đến việc phân định. Chẳng hạn, khi gặp người làm hại mình thì mình cảm thấy bất an và không muốn tiếp xúc với họ. Tuy nhiên, nhờ phân định, con người có thể vượt thắng phản ứng tự nhiên, để đón nhận họ và giúp họ biến đổi. Hơn nữa, trong cuộc sống, nhiều lúc chúng ta đối diện với những thực tại khó có thể phân biệt 'màu sắc' của chúng, nghĩa là các thực tại mà chúng ta tiếp xúc không chỉ có hai màu mà là nhiều màu lẫn lộn. Để có thể phân định, con người cần phải dành nhiều thời gian, sức lực cho việc cầu nguyện, biết cậy nhờ ơn Thiên Chúa nâng đỡ và soi sáng.

Trong đời sống thường ngày, con người có xu hướng nhìn nhận các thực tại theo lối nhị nguyên, chẳng hạn như đúng sai, tốt xấu, trắng đen, ủng hộ hoặc chống đối. Tuy nhiên, các thực tại trong thế giới thụ tạo phong phú và đa dạng hơn nhiều. Trong thế giới có bao nhiêu thực tại thì có bấy nhiêu sắc thái; trong gia đình nhân loại có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu tâm tính; trong Giáo Hội có bao nhiêu tín hữu thì có bấy nhiêu mức độ sống đức tin. Vì thế, phân định không nhằm giúp con người hiểu biết tường tận bản chất của mọi thực tại hay mọi tương quan của chúng mà là giúp con người hiểu biết sâu hơn về các thực tại cũng như các tương quan giữa chúng để trong hoàn cảnh đời sống cụ thể, con người có thể nhận ra và đáp lại cách thích hợp lời mời gọi của Thiên Chúa.

Để trả lời cho câu hỏi 'tại sao con người cần phải phân định?', chúng ta có thể nhận định rằng trong gia đình nhân loại, con người luôn phải đối diện với sự lẫn lộn giữa điều mơ hồ và điều rõ ràng, giữa sự thật và giả dối, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa sự sống và sự chết. Nói theo cách thông thường, con người luôn sống trong thế giới vàng thau lẫn lộn và bao quanh bởi nhiều loại thần khí tốt và tà khí, chẳng hạn như các thần khí đến từ Thiên Chúa, các chuyển động phát sinh từ nội tâm con người, các thần khí tốt lành và các tà khí xấu xa. Tự thân, con người khó nhận ra đâu là thần khí tốt và đâu là tà khí cách đúng đắn. Vì thế, con người cần đến khả năng phân định để nhận ra điều gì là đúng, điều gì là sai, điều gì là tốt, điều gì cần phải đón nhận và điều gì cần phải tránh. Phân định giúp con người nhận ra ý nghĩa các biến cố, nhận ra những dấu chỉ hướng dẫn mình trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Nếu chỉ dựa vào khả năng tự nhiên, con người khó chọn lựa điều tốt đẹp. Do đó, con người cần đến ân sủng của Thiên Chúa để được hướng dẫn, thanh luyện và kiện toàn.

Trong truyền thống linh đạo khổ chế, người ta còn liệt kê một số loại tà khí lệch lạc hoặc nguy hại, chẳng hạn như tà khí kiêu ngạo (spirit of pride), tà khí dục vọng (spirit of lust), tà khí chán nản (spirit of despondency), tà khí sợ hãi (spirit of fear), tà khí giả hình (spirit of hypocrisy), tà khí ghen tị (spirit of envy) và tà khí chia rẽ (spirit of division). Một số tác giả Kinh Thánh, chẳng hạn như thánh Gio-an Tông Đồ và thánh Phao-lô cũng đề cập các cặp thần khí đối lập, chẳng hạn như Thần Khí sự thật (the Spirit of truth) và tà khí lầm lạc (the spirit of error); Thần Khí nghĩa tử (the Spirit of adoption) và tà khí nô lệ (the spirit of slavery); Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa (the Spirit who is from God) và tà khí theo kiểu thế gian (the spirit of the world).

Khi đề cập đến phân định trong linh đạo Ki-tô Giáo, người ta thường nhắc đến thánh I-nha-xi-ô Lôi-ô-la (1491–1556), sáng lập Dòng Tên (the Society of Jesus). Ngài đặc biệt quan tâm việc phân định các thần khí (διακρίσεις πνευμάτων/ discretio spirituum/ discernment of spirits), nhất là trong tác phẩm Linh Thao (Spiritual Exercises, 1548) do ngài biên soạn. Trong Huấn Quyền Giáo Hội (Magisterium), Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô đặc biệt nhấn mạnh chủ đề phân định, nhất là phân định mang chiều kích Giáo Hội. Theo đó, các Ki-tô hữu cùng nhau phân định để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa trong việc diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội giữa lòng thế giới. Chủ đề phân định xuất hiện khá nhiều trong các Tông Huấn và Thông Điệp của ngài, chẳng hạn như Tông Huấn Evangelii Gaudium (2013), Tông Huấn Amoris Laetitia (2016), Tông Huấn Gaudete et Exsultate (2018), Tông Huấn Christus Vivit (2019), Thông Điệp Lumen Fidei (2013), Thông Điệp Laudato Si' (2015), Thông Điệp Fratelli Tutti (2020), Thông Điệp Dilexit Nos (2024). Các tài liệu này đề cập đến phân định trong tương quan với việc loan báo Tin Mừng, mục vụ gia đình, nên thánh giữa lòng thế giới, ánh sáng đức tin, giới trẻ, đời sống xã hội, đời sống nội tâm và ơn gọi, qua đó cho thấy tầm quan trọng của phân định trong đời sống Ki-tô hữu.

Là con người, ai cũng được mời gọi 'làm lành lánh dữ'. Việc phân định không chỉ liên quan đến việc chọn lựa giữa điều tốt và điều xấu mà còn liên quan đến: Giữa hai điều tốt thì chọn điều tốt hơn; giữa hai điều xấu thì chọn điều ít xấu hơn. Đặc biệt, có những hoàn cảnh mà con người khó có thể phân biệt rõ ràng mức độ đúng sai, lành dữ, tốt xấu thì việc phân định lại càng trở nên cần thiết hơn. Trong những trường hợp như thế, con người cần phải cậy dựa vào ân sủng Thiên Chúa và nhiều khi cần đến sự trợ giúp của những người khác để có thể thực hành phân định phù hợp hơn. Điều này có nghĩa là con người không chỉ dựa vào lý trí thuần túy, cho dù ngay thẳng xét về mặt tự nhiên, mà còn dựa vào sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa thì mới có thể phân định phù hợp với thánh ý Người. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết: "Phân định không chỉ cần thiết trong những thời điểm đặc biệt, khi chúng ta phải giải quyết những vấn đề nghiêm trọng và đưa ra các quyết định hệ trọng. Phân định còn là một phương thế chiến đấu thiêng liêng, giúp chúng ta bước theo Chúa cách trung thành hơn" (Gaudete et Exsultate 169).

Phân định Ki-tô Giáo quan tâm đặc biệt đến bốn tương quan nền tảng: (1) Tương quan trong đời sống nội tâm của bản thân, (2) tương quan với tha nhân, (3) tương quan với muôn vật muôn loài và (4) tương quan với Thiên Chúa. Vì thế, khi nói 'yêu Chúa, yêu người', chúng ta cần nhìn sâu rộng hơn đến các tương quan phong phú trong đó. Phân định dưới nhãn quan Ki-tô Giáo đòi hỏi con người không ngừng hướng về Thiên Chúa, mở rộng tâm trí và luôn dành chỗ cho những mầu nhiệm vượt quá khả năng cảm nhận, hiểu biết và hệ thống hóa của con người. Phân định đòi hỏi con người luôn cộng tác với Thiên Chúa, hiệp thông với Người và tìm hiểu trong ánh sáng và quyền năng vô biên của Người. Nói cách khác, phân định đúng nghĩa luôn là việc sống trong ý thức lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa, nhờ đó con người cầu xin lòng thương xót của Người để có thể đón nhận, sống và thực thi thánh ý Người.

Phân định Ki-tô Giáo vừa dựa vào những khả năng tự nhiên của con người do Thiên Chúa sáng tạo, vừa tùy thuộc vào ân sủng của Người. Tiến trình phân định diễn ra dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, nhờ đó con người quy chiếu về mặc khải của Thiên Chúa, nhất là Lời Người để lắng nghe, tìm hiểu, quyết định và thực thi những chọn lựa phù hợp với thánh ý Người. Theo Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô: "Chắc chắn, phân định thiêng liêng không loại trừ những hiểu biết hiện sinh, tâm lý, xã hội học hay luân lý được rút ra từ các ngành khoa học nhân văn. Đồng thời, phân định còn vượt lên trên tất cả những điều ấy. Ngay cả những quy chuẩn vững chắc của Hội Thánh cũng không đủ. Chúng ta luôn phải nhớ rằng phân định là một ân sủng" (Gaudete et Exsultate 170). Chính Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô đặt câu hỏi và trả lời: "Làm sao chúng ta biết được điều gì đến từ Thánh Thần hay phát xuất từ tinh thần thế gian hoặc thần dữ? Cách duy nhất là nhờ phân định, điều đòi hỏi một điều gì đó vượt trên trí thông minh hay lẽ thường. Đó là một ân ban mà chúng ta phải tha thiết cầu xin" (Gaudete et Exsultate 166). Như vậy, để phân định, con người cần khiêm tốn, ý thức những giới hạn của mình và cậy dựa vào Thiên Chúa vì phân định vừa vượt quá khả năng tự nhiên của con người, vừa là ân sủng do Người ban tặng.

 

2. PHÂN ĐỊNH TRONG CỰU ƯỚC

2.1 Phân Định Trong Tương Quan Giao Ước

Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng con người có phẩm giá cao quý vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (imago Dei) và tự do của con người là đặc tính căn bản gắn liền với phẩm giá ấy, nhờ đó con người có khả năng phân định và chọn lựa. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, phẩm giá hữu thể (ontological dignity) của con người luôn tồn tại và không thể bị tước đoạt hay mất đi bởi bất cứ lý do gì. Trong khi đó, phẩm giá luân lý (moral dignity) của con người có thể bị lu mờ, biến dạng hoặc mất mát khi con người bất tuân huấn lệnh của Thiên Chúa. Quả thật, vì A-đam và E-và không vâng phục Thiên Chúa mà tội lỗi xâm nhập vào trần gian và vì tội lỗi, con người phải chết. Tuy nhiên, Thiên Chúa hằng yêu thương con người và đã mặc khải cho con người lời hứa cứu độ đầu tiên (protoevangelium, St 3,15). Chương trình này được thể hiện qua các giao ước với dân Ít-ra-en và đạt đến cao điểm nơi hành trình trần thế của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa trong thân phận con người.

Thuật ngữ 'giao ước' (בְּרִית/ berît) không xuất hiện trong những chương đầu của sách Sáng Thế nhưng cấu trúc và nội dung của giao ước giữa Thiên Chúa và con người được trình bày cách tiềm ẩn sau khi Thiên Chúa tạo dựng A-đam (אָדָם/ ’ādām/ con người). Thiên Chúa phán với con người: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết" (St 2,16-17). Chúng ta có thể tóm lược các khía cạnh chính yếu của giao ước như sau: Ân huệ của Thiên Chúa cho con người là được ăn mọi trái cây, ngoại trừ 'cây biết điều thiện điều ác', nếu vi phạm thì hậu quả là con người chắc chắn phải chết. Nói cách khác, tương quan giữa Thiên Chúa và A-đam ngay từ thuở ban đầu là tương quan giao ước nguyên thủy hàm chứa ân huệ và trách nhiệm. Điều này có nghĩa là nếu con người biết phân định và tuân phục Thiên Chúa thì con người được hạnh phúc; bằng không, con người phải chịu hậu quả là cái chết. Thiên Chúa còn thiết lập giao ước phổ quát (universal covenant) với Nô-ê vì liên quan đến toàn thể gia đình nhân loại cũng như muôn vật muôn loài (St 9,8–11). Sau đó, trong tiến trình mặc khải tiệm tiến, Thiên Chúa khởi xướng và thiết lập giao ước bộ tộc (tribal covenant) với đại diện là Áp-ra-ham, thiên về tuyển chọn cá nhân và lời hứa (St 12,1–3; St 15,1–21; St 17,1–14); giao ước dân tộc (national covenant) với đại diện là Mô-sê, thiên về lề luật (Xh 19,1–8; Xh 24,3–8); và giao ước vương quốc (royal covenant) với Đa-vít, thiên về tính bền vững và hướng tới Đấng Mê-si-a (2 Sm 7,8–16).

Phân định giữa sự sống và sự chết là một trong những hình thức phân định gắn liền với giao ước giữa Thiên Chúa và dân Ít-ra-en. Con người được mời gọi phân định và đưa ra quyết định về việc trung thành hay bất trung với giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với họ. Thật vậy, trung thành hay bất trung là vấn đề hệ trọng bởi vì liên quan trực tiếp đến sự sống và sự chết: Trung thành thì được sống, bất trung thì phải chết. Mô-sê nói với dân Ít-ra-en: "Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): Tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống" (Đnl 30,19) hay: "Nếu anh em vi phạm giao ước mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, đã truyền cho anh em phải giữ... anh em sẽ mau chóng biến khỏi đất tốt lành Người đã ban cho anh em" (Gs 23,16). Đối với dân Ít-ra-en thời Mô-sê, thời các thẩm phán và các vua, sự tồn vong của cộng đồng giữ vai trò trung tâm. Tuy nhiên, các cá nhân luôn được mời gọi phân định và chịu trách nhiệm về các chọn lựa của bản thân để đạt tới sự sống viên mãn trong sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Để trung thành và gắn bó với Thiên Chúa, dân Ít-ra-en cần phải phân định để nhận ra và xa lánh các hình thức thờ ngẫu tượng, chẳng hạn như các tượng ảnh do con người làm nên (bò vàng, thần thánh của các dân Ca-na-an, các thần ngoại bang khác) hay thờ các thiên thể như mặt trời, mặt trăng và các tinh tú. Ngoài ra, còn có những ngẫu tượng tinh vi hơn như danh vọng, quyền lực hay của cải. Nhiều lúc dân Ít-ra-en cảm thấy dường như Đức Chúa thinh lặng hoặc không quan tâm đến họ, trong khi các ngẫu tượng thì luôn sẵn sàng cho họ tiếp xúc, khấn vái, cầu khẩn. Chính vì thế, các bản văn Kinh Thánh nhiều lần nhắc nhở rằng dân Chúa phải tỉnh thức và biết phân định để không bị lôi cuốn bởi những thực tại hữu hình trước mắt. Các ngẫu tượng thường mang lại cảm giác gần gũi, dễ nắm bắt và có thể bị điều khiển theo ý muốn của con người, trong khi tương quan với Thiên Chúa đòi hỏi đức tin, sự kiên nhẫn và lòng trung tín. Vì vậy, phân định trở thành hành vi thiêng liêng giúp họ nhận ra ai là Thiên Chúa, Đấng duy nhất đáng thờ phượng và đâu là những thực tại có nguy cơ thay thế vị trí của Thiên Chúa trong đời sống mình. Chính Mô-sê đã cảnh cáo dân Ít-ra-en: "Nếu chẳng may anh (em) quên lãng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp xuống lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh (em): Chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong" (Đnl 8,19).

Sự phân định của Mô-sê không chỉ lệ thuộc vào truyền thống của Ít-ra-en mà cònđược làm phong phú bởi kinh nghiệm và sự đóng góp từ môi trường bên ngoài, kể cả truyền thống dân ngoại. Chẳng hạn, khi dẫn dắt dân Ít-ra-en trong sa mạc, nhạc phụ của Mô-sê là Gít-rô đã giúp Mô-sê phân định để có thể thực thi chương trình của Thiên Chúa cách tốt đẹp hơn. Bấy giờ, Mô-sê thường một mình xét xử dân. Ông Gít-rô nói với Mô-sê: "Anh hãy đứng ra thay mặt dân trước nhan Thiên Chúa: Chính anh sẽ trình các việc lên Thiên Chúa, sẽ dạy cho họ các thánh chỉ, các lề luật, và cho họ biết đường lối phải đi và cách phải xử sự. Rồi anh hãy xem trong toàn dân những ai là người có tài, biết kính sợ Thiên Chúa, đáng tin cậy, không ham của bất chính, thì đặt họ làm người chỉ huy: Điều khiển một ngàn hay một trăm, năm mươi hay mười người. Họ sẽ thường trực xử kiện cho dân; mọi việc lớn thì họ trình lên anh, còn mọi việc nhỏ thì chính họ xử lấy: Hãy làm như vậy để nhẹ gánh cho anh. Họ phải gánh việc đỡ anh" (Xh 18,19-22). Thánh ý Thiên Chúa thật nhiệm mầu bởi vì Gít-rô thuộc 'dân ngoại' nhưng lại giúp Mô-sê phân định để có thể dẫn dắt dân Ít-ra-en trên hành trình về với Đất Hứa.

Khi vua Sa-un tỏ ra bất tuân đối với lệnh truyền của Thiên Chúa, Người đã sai Sa-mu-en đến nhà Gie-sê tại Bê-lem để xức dầu cho một trong các con trai ông làm vua Ít-ra-en, thay thế Sa-un. Việc chọn lựa Đa-vít làm vua Ít-ra-en là tiến trình phân định thiêng liêng sâu xa. Như bao người khác, ban đầu, Sa-mu-en cũng chỉ chú ý đến dáng vẻ bên ngoài và những người có vẻ trưởng thành hoặc dày dạn kinh nghiệm nhưng Đức Chúa phán với ông: "Đức Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: Người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng" (1 Sm 16,7). Bảy người con trai của Gie-sê lần lượt đi qua trước mặt Sa-mu-en và không ai được chọn. Cuối cùng, Sa-mu-en hỏi Gie-sê xem còn người con nào khác nữa không, ông trả lời rằng vẫn còn người con út đang ở ngoài đồng chăn chiên. Sau đó, Đa-vít được gọi về và Sa-mu-en nhận được lệnh truyền của Đức Chúa là hãy xức dầu cho Đa-vít và "Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi" (1 Sm 16,13).

Vua Đa-vít là mẫu gương phân định đáng để mọi người suy niệm và noi theo. Vua được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn và trao ban sứ vụ dẫn dắt Ít-ra-en. Tuy nhiên, Đa-vít đã phạm tội rất nặng. Nhờ sự đồng hành và lời cảnh tỉnh của ngôn sứ Na-than, Đa-vít nhận ra tội lỗi của mình và thành tâm ăn năn thống hối: "Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài" (Tv 51,3-6). Đức Chúa đã tha thứ cho Đa-vít và hành trình còn lại của đời vua là sống trong tâm tình tạ ơn, cầu nguyện và hy vọng vào lòng từ bi hải hà của Thiên Chúa. Đa-vít được gọi là vua thánh không phải vì vua không phạm tội mà vì vua thành tâm thống hối và ăn năn. Cuộc đời của vua cho chúng ta thấy rằng: Con người trở nên thánh thiện khi biết hướng về Thiên Chúa để phân định, ăn năn thống hối và trở lại với Người.

Đa-vít thưa cùng Đức Chúa: "Ngài thấy cho: Lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai" (Tv 51,7). Như vậy, Đa-vít không chỉ phân định và sám hối trên bình diện cá nhân mà còn, nhờ mặc khải của Thiên Chúa, vua ý thức về nguồn gốc của tội lỗi nơi toàn thể nhân loại. Theo đó, tội lỗi không phải là điều gì đến với con người từ bên ngoài nhưng có nguồn gốc sâu xa trong chính nội tâm con người. Đây là cách diễn tả về nguồn gốc tội lỗi nơi con người giữa thế giới thụ tạo, tội lỗi mang tính phổ quát, lan rộng nơi mọi người, trong mọi thời và khắp mọi nơi. 'Đã mang tội khi mẹ mới hoài thai' là điều đáng để mọi người quan tâm, nhất là những người chủ trương 'nhân chi sơ tính bản thiện', nghĩa là con người sinh ra vốn tốt lành còn tội lỗi là do môi trường xã hội gây nên. Quan điểm này cần được soi chiếu dưới ánh sáng mặc khải Kinh Thánh vì mặc khải cho thấy mọi người trong gia đình nhân loại đều chịu ảnh hưởng của Tội Nguyên Tổ, nghĩa là bản tính con người vốn được Thiên Chúa sáng tạo tốt lành nhưng bị tổn thương vì tội lỗi.

Trình thuật sách Các Vua quyển thứ nhất cho chúng ta biết rằng, trong giấc mộng ban đêm tại Ghíp-ôn, Sa-lô-môn thưa cùng Đức Chúa: "Xin ban cho tôi tớ Chúa đây, một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt [לְהָבִין/ lehāvîn, dạng Hiphil infinitive construct của động từ בִּין/ bîn (hiểu biết, phân định)] phải trái; chẳng vậy, nào ai có đủ sức cai trị dân Chúa, một dân quan trọng như thế?" (1 V 3,9). Đức Chúa hứa ban cho vua điều vua xin và vua đã phân định khi xin Người cho vua 'một tâm hồn biết lắng nghe' để có thể thực thi việc cai trị và dẫn dắt dân Ít-ra-en. Đức Chúa hài lòng với thái độ của vua bởi vì vua không xin được sống lâu, của cải dư đầy hay xin cho kẻ thù phải chết nhưng xin ơn phân định để có thể nhận ra cách rõ ràng những thực tại liên quan đến sứ vụ dẫn dắt và xét xử dân Ít-ra-en (1 V 3,4-10). Đức Chúa còn cho vua biết: "Ta làm theo như lời ngươi: Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi trước ngươi, chẳng một ai sánh bằng, và sau ngươi, cũng chẳng có ai bì kịp. Cả điều ngươi không xin, Ta cũng sẽ ban cho ngươi: Giàu có, vinh quang, đến nỗi suốt đời ngươi không có ai trong các vua được như ngươi" (1 V 3,12-13). Tuy nhiên, cuộc đời của Sa-lô-môn lại rẽ sang hướng khác: Vua đã bất trung với Thiên Chúa, chiều theo các bà vợ ngoại bang; hậu quả là vương quốc bị xáo trộn, chia rẽ sau khi vua qua đời (1 V 11,9-13).

Câu hỏi đặt ra là 'phân định trong tương quan giao ước nhằm mục đích gì?' Câu trả lời là nhằm duy trì sự trung tín của con người đối với Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, Thiên Chúa là Đấng trung tín và giao ước của Người bền vững đến muôn đời. Sự trung tín của Thiên Chúa đòi hỏi con người đáp lại trong tâm tình yêu mến, hy vọng và biết ơn: "Anh (em) phải biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), thật là Thiên Chúa, là Thiên Chúa trung thành: Cho đến muôn ngàn thế hệ, Người vẫn giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Người và giữ các mệnh lệnh của Người" (Đnl 7,9). Sự trung tín của Thiên Chúa và sự bất tín của con người trong tương quan giao ước là hai chủ đề xuyên suốt dòng chảy lịch sử dân Ít-ra-en. Hai chủ đề tương phản này tiếp tục được thể hiện cách mạnh mẽ trong truyền thống các ngôn sứ và truyền thống khôn ngoan cũng như vang mãi trong các giai đoạn lịch sử sau đó.

 

2.2 Phân Định Trong Truyền Thống Ngôn Sứ

Các ngôn sứ luôn nhắc nhở dân Ít-ra-en về việc phân định và thực thi giao ước, đồng thời giúp họ đặt niềm hy vọng vào giao ước bền vững mà Đức Chúa sẽ thiết lập với họ trong tương lai. Lời của Đức Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: "Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít" (Is 55,3); trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a: "Này sẽ đến những ngày... Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới... Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta" (Gr 31,31-33). Trong giao ước mới, Lề Luật của Đức Chúa không còn khắc ghi vào bia đá mà là khắc ghi vào tâm hồn. Để có thể trung tín với giao ước của Thiên Chúa, dân Ít-ra-en phải có trái tim mới: "Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt" (Ed 36,26).

Cách đặc biệt, các tư tế và những người lãnh đạo Ít-ra-en phải luôn là những người biết phân định ngay chính và trung tín. Trong thị kiến của Ê-dê-ki-en về đền thờ, Đức Chúa là Thiên Chúa phán về tư tế như sau: "Nó sẽ chỉ cho dân Ta biết phân biệt điều thánh thiêng với điều phàm tục, và sẽ dạy cho họ biết phân biệt điều ô uế với điều thanh sạch" (Ed 44,23). Đức Chúa là Thiên Chúa phán với những người lãnh đạo hay cầm quyền Ít-ra-en: "Hỡi các ông hoàng Ít-ra-en! Hãy đẩy xa bạo lực và tàn phá, hãy thi hành chính trực công minh và cất đi khỏi dân Ta những hành vi quấy nhiễu của các ngươi – sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng" (Ed 45,9). Như vậy, các tư tế và những người lãnh đạo Ít-ra-en cần phải biết phân định để chăm sóc dân chúng cách công minh, đồng thời giúp mọi người phân định để sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong bối cảnh cụ thể.

Các ngôn sứ chỉ cho dân Ít-ra-en biết cách phân định tội lỗi và hoán cải bởi vì tội lỗi họ chồng chất và tràn lan khắp nơi. Ngôn sứ I-sai-a đề cập đến tội lỗi của dân Ít-ra-en, nhất là dân Giu-đa và những người định cư ở Giê-ru-sa-lem ngay từ những câu mở đầu: "Khốn thay dân tộc phạm tội, dân chồng chất lỗi lầm, giống nòi gian ác, lũ con hư hỏng! Chúng đã bỏ Đức Chúa, đã khinh Đức Thánh của Ít-ra-en, mà quay lưng đi" (Is 1,4). Lời của Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a: "Tội ác của họ thì muôn vàn, hành vi phản bội thì vô kể" (Gr 5,6). Tương tự như vậy, Người phán trong sách ngôn sứ A-mốt: "Bởi Ta biết: Tội ác các ngươi nhiều vô kể, tội lỗi các ngươi nặng tầy trời: Nào áp bức người công chính, lại đòi quà hối lộ, nào ức hiếp kẻ nghèo hèn tại cửa công" (Am 5,12). Khi mỗi người, mỗi cộng đoàn và toàn thể dân tộc nhận thức mình tội lỗi thì cũng là lúc mọi người nhận ra mình cần hướng về Thiên Chúa để xin ơn tha thứ và không ngừng hoán cải.

Dân Ít-ra-en là dân lòng chai dạ đá, cứng đầu cứng cổ. Do đó, các ngôn sứ không ngừng mời gọi họ phân định để hoán cải, trở về với Đức Chúa là Đấng luôn tha thứ. Lời của Đức Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: "Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông. Nếu các ngươi chịu nghe lời Ta, các ngươi sẽ được hưởng dùng hoa mầu trong xứ" (Is 1,18-19); Người phán với dân Ít-ra-en trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a: "Trở về đi, hỡi lũ con phản bội, Ta sẽ chữa lành tội phản bội của các ngươi!" (Gr 3,22). Dân Ít-ra-en hãy trở về với đường lối của Đức Chúa, hãy trở về với cả tấm lòng chứ không chỉ dừng lại ở bề ngoài: "Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương" (Ge 2,13) hoặc: "Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống. Hãy trở lại, hãy từ bỏ đường lối xấu xa của các ngươi mà trở lại" (Ed 33,11). Các cá nhân cũng như các cộng đoàn cần nhận thức mình đã sai đường lạc lối và hậu quả là tội chồng tội. Vì thế, họ được mời gọi biết phân định, chọn lựa đường lành và trở về với lòng thương xót của Thiên Chúa để được sống.

Giữa cảnh lưu đày, Thiên Chúa ban ơn phân định cho dân Người, ngay cả những người trẻ. Sách ngôn sứ Đa-ni-en cho chúng ta biết về bốn người trẻ Ít-ra-en là Đa-ni-en, Kha-na-ni-a, Mi-sa-ên và A-da-ri-a, được triệu vào hoàng cung để phục vụ vua Na-bu-cô-đô-nô-xo: "Bốn cậu bé này đều được Chúa ban ơn hiểu rộng biết nhiều về tất cả chữ nghĩa và lẽ khôn ngoan. Riêng Đa-ni-en còn được hiểu biết [הֵבִין/ hēvîn, phân định, phân biệt] mọi thị kiến và điềm báo mộng" (Đn 1,17). Chính Thiên Chúa ban sức mạnh và khôn ngoan, đồng thời mặc khải những điều thẳm sâu, bí ẩn cho những ai trung tín với Người (Đn 2,20–23). Chẳng hạn, những hiểu biết của Đa-ni-en vượt xa khả năng tự nhiên của cậu. Nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa, cậu có thể nhận ra những dấu chỉ bí nhiệm, đọc và giải thích chúng một cách chính xác. Lòng khiêm nhường, tinh thần lắng nghe Thiên Chúa và đời sống cầu nguyện liên lỉ đã giúp Đa-ni-en ý thức sự cần thiết phải cộng tác với Thiên Chúa trong việc thanh luyện tâm hồn, sống đời công chính và thực hành phân định phù hợp với thánh ý Người.

Nhân danh Đức Chúa, các ngôn sứ giúp dân Ít-ra-en biết phân định để nhận ra ai là ngôn sứ thật và ai là ngôn sứ giả: "Đức Chúa các đạo binh phán như sau: Đừng nghe lời các ngôn sứ tuyên sấm, chúng phỉnh phờ các ngươi; điều chúng nói chỉ là thị kiến do tưởng tượng, chứ không phải do miệng Đức Chúa phán ra" (Gr 23,16); "Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho hạng ngôn sứ ngu si, chỉ theo thần khí riêng và chẳng thấy gì" (Ed 13,3); "Các thủ lãnh của nó xét xử dựa theo quà cáp, các tư tế dạy bảo vì tiền, các ngôn sứ bói toán vì bạc" (Mk 3,11). Như vậy, ngôn sứ thật là người được Thiên Chúa sai đến, nói những lời của Thiên Chúa, loan báo bình an đích thực và kêu gọi dân Ít-ra-en hoán cải để trung thành với Thiên Chúa. Trong khi đó, ngôn sứ giả là người nói theo ý mình, tìm kiếm lợi ích riêng và đem lại thứ bình an giả tạo khiến dân đi lệch khỏi thánh ý Thiên Chúa.

Các ngôn sứ giúp dân Ít-ra-en phân định giữa lòng thương xót và các lễ vật tiến dâng lên Người. Quả thật, dân chúng đề cao những lễ vật hay những gì có thể cân, đong, đo, đếm và nghĩ rằng Đức Chúa muốn như vậy. Các ngôn sứ giúp họ nhận ra điều Thiên Chúa mong muốn là tình yêu họ dành cho Thiên Chúa và tỏ lòng thương xót theo thánh ý Thiên Chúa đối với anh chị em, chẳng hạn, Thiên Chúa phán: "Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm!" (Is 1,11); "Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các ngươi nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu" (Hs 6,6); "Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu... những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận, chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài" (Am 5,22). Nhân danh Đức Chúa, các ngôn sứ giúp dân Ít-ra-en phân định để nhận ra đâu là tôn giáo đích thực và đâu là tôn giáo hình thức; đâu là tôn giáo thấm vào tâm hồn và đâu là tôn giáo chỉ dừng lại ở bề ngoài; đâu là tôn giáo nâng con người lên với Thiên Chúa và đâu là tôn giáo làm cho con người suy thoái; đâu là phụng tự đẹp lòng Thiên Chúa và đâu là nghi lễ mà Thiên Chúa khước từ. Khi thực hành như thế, các ngôn sứ giúp dân sống đời công chính và bác ái đích thực.

 

2.3 Phân Định Trong Truyền Thống Khôn Ngoan

Như đã đề cập ở trên, phân định trong Kinh Thánh không chỉ là khả năng lý trí mà còn là ân sủng gắn liền với việc tham dự vào đức khôn ngoan. Khôn ngoan là nền tảng bao quát còn phân định là việc xử lý tình huống cụ thể; khôn ngoan là viễn tượng, phân định là chọn lựa; khôn ngoan là nguyên lý, phân định là sự áp dụng. Theo một nghĩa nào đó, phân định chính là phán đoán mang tính thực tiễn. Chúng ta cũng có thể nhận thức rằng phân định là khôn ngoan được thể hiện trong hành động cụ thể. Các sách Khôn Ngoan đề cập đến nhiều chủ đề liên hệ trực tiếp với tiến trình phân định, chẳng hạn như công chính, đau khổ, sự thành công, quy tắc đạo đức, sự phù vân trong cõi nhân sinh, ý nghĩa cuộc đời, nguyên lý nhân quả và số phận con người sau cái chết.

Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan. Câu đầu tiên trong sách Huấn Ca là: "Tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Đức Chúa, và khôn ngoan vẫn ở với Người đến muôn đời" (Hc 1,1). Cũng theo tác giả sách Huấn Ca: "Khôn ngoan đã được tác thành trước vạn vật, sự hiểu biết anh minh đã có tự muôn đời" (Hc 1,4). Tác giả sách Châm Ngôn viết: "Chính Đức Chúa ban tặng khôn ngoan; tri thức và hiểu biết là nhờ Người mà có" (Cn 2,6). Ông Gióp nói: "Nơi Thiên Chúa có cả khôn ngoan lẫn sức mạnh, mưu lược cũng như tài thông hiểu đều thuộc về Người" (G 12,13). Khôn ngoan của Thiên Chúa vượt trên nhận thức tự nhiên của con người và giúp con người biết phân định để có thể tiếp cận và thực thi những điều mà tự sức con người không thể thực hiện như lời của ông Gióp: "Người phàm không lượng giá được khôn ngoan, vì khôn ngoan không ở trong đất dành cho kẻ sống. Vực thẳm nói: Tôi không chứa khôn ngoan! Đại dương bảo: Khôn ngoan không ở nơi tôi bao giờ!" (G 28,13-14). Cũng theo ông: "Đường nẻo của khôn ngoan một mình Thiên Chúa tỏ, chính Người biết nơi ở của khôn ngoan" (G 28,23). Khôn ngoan luôn tác động đến muôn vật muôn loài. Nhờ khôn ngoan, con người mới có thể phân định và nhờ phân định, con người mới có thể trở nên khôn ngoan hơn.

Chủ đề khôn ngoan được quan tâm khá sớm trong Cựu Ước, nhất là với Sa-lô-môn và một số phần trong các sách khác. Truyền thống khôn ngoan được khai triển mạnh mẽ sau thời lưu đày Ba-by-lon (thế kỷ VI TCN) trong bối cảnh Ít-ra-en đối diện với những nghịch cảnh hiện sinh và thần học. Câu hỏi đặt ra là: Làm sao để con người trở nên khôn ngoan? Câu trả lời là phải kính sợ Đức Chúa. Lời của thầy khôn ngoan nói với con: "Này con, nếu lời thầy, con luôn nhận lấy, và huấn lệnh thầy, con hằng ấp ủ... nếu con tìm khôn ngoan như tìm bạc và lùng kiếm như thể kho tàng, thì lúc đó con sẽ hiểu thế nào là kính sợ Đức Chúa, và sẽ khám phá ra hiểu biết Thiên Chúa có nghĩa là gì" (Cn 2,1-5); "Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan; biết Đấng Chí Thánh mới là hiểu biết thật" (Cn 9,10). Tương tự như tác giả sách Châm Ngôn, theo sách Gióp: "Kính sợ Chúa Thượng, đó là khôn ngoan, tránh xa điều ác, đó là trí hiểu" (G 28,28). Theo tác giả sách Huấn Ca: "Gốc rễ của khôn ngoan là kính sợ Đức Chúa, cành lá của khôn ngoan là cuộc đời trường thọ" (Hc 1,20). Kính sợ Đức Chúa không có nghĩa là sợ hãi tiêu cực nhưng là thái độ tôn kính, vâng phục và gắn bó với Người bởi Người là Đấng toàn năng, toàn tri và toàn thiện. Kính sợ Đức Chúa không chỉ giúp con người nên khôn ngoan mà còn xa lánh tội lỗi, được hưởng sự sống dồi dào và hiệp thông với Người mãi mãi. Đặc biệt, kính sợ Đức Chúa giúp con người nhận ra những yếu đuối và giới hạn của mình, đồng thời thành tâm cầu xin Người nâng đỡ hầu có thể phân định thực tại phù hợp với thánh ý Người.

Khôn ngoan của Thiên Chúa giúp con người biết lối mình đi, điều mình nghĩ và chân mình bước như lời tác giả sách Châm Ngôn: "Cái khôn của kẻ sáng suốt là biết rõ [הָבִין/ hāvîn phân định, phân biệt] đường mình đi, cái dại của kẻ ngu si là đi lường gạt" (Cn 14,8). Tác giả Thánh Vịnh 49 viết: "Dù sống trong danh vọng, con người cũng không hiểu biết gì; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết" (Tv 49,21). Theo tác giả sách Huấn Ca: "Ai phụng sự khôn ngoan thì cũng phụng thờ Đấng Thánh và ai yêu mến khôn ngoan thì được Đức Chúa mến yêu" (Hc 4,14). Quả thật, trong môi trường bị tội lỗi chi phối, khôn ngoan tự nhiên của con người bị méo mó, biến dạng và trở nên bất toàn. Tự sức mình, con người khó có thể phân định cách đúng đắn. Vì thế, con người cần ý thức về thân phận giới hạn của mình, luôn quy hướng về Thiên Chúa và cầu xin Người nâng đỡ.

Tác giả sách Huấn Ca nói với con mình cũng như với những người muốn tiếp cận khôn ngoan: "Mọi chuyện xảy đến cho con, con hãy chấp nhận, và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn. Vì vàng phải được tôi luyện trong lửa, còn những người sáng giá thì phải được thử trong lò ô nhục" (Hc 2,4-5). Tác giả sách Khôn Ngoan mời gọi mọi người phân định và đối diện với những gian nan thử thách trong tinh thần cậy trông và phó thác vào Thiên Chúa vì ai sống đời công chính thì được Người xót thương: "Người đã tinh luyện họ như người ta luyện vàng trong lò lửa, và đón nhận họ như của lễ toàn thiêu" (Kn 3,6). Như vậy, người phân định cần ý thức và xác tín rằng ai chịu đau khổ, thử thách hay bất cứ nghịch cảnh nào cũng đừng sờn lòng nản chí vì Đức Chúa là Thiên Chúa luôn đồng hành với con người. Quả thật, tất cả sẽ qua đi, người công chính sẽ được Thiên Chúa ban thưởng dồi dào vượt quá những gì họ phải chịu đựng.

Nhờ hướng về Thiên Chúa, nguồn mạch khôn ngoan, con người mới có thể học được cách phân định và áp dụng phân định vào cuộc sống. Phân định trong bầu khí khôn ngoan giúp con người giảm thiểu những rủi ro không cần thiết, đồng thời tránh xa những hệ quả vô bổ phát sinh, trái với thánh ý Thiên Chúa. Như đã đề cập ở trên, để có thể phân định và sống đời luân lý lành mạnh, con người cần phải kính sợ Thiên Chúa trong mọi nơi mọi lúc và lắng nghe lời của Người trong mọi hoàn cảnh. Con người cần cộng tác với Thiên Chúa để nhận ra đâu là những giá trị đích thực giúp con người ngày càng tiến tới trong sự kết hiệp với Người và đâu là những cạm bẫy khiến con người sa ngã giữa những cơn sóng của thế gian, ma quỷ, xác thịt trong hành trình đức tin (Cn 3,5–6; Kn 9,17).

Sự trung tín của ông Gióp, nhất là khi phải đối diện với trăm bề đau khổ đã làm cho ông biết cộng tác với Thiên Chúa trong việc phân định. Nguyên lý nhân quả, chẳng hạn như 'ở hiền gặp lành' xem ra không phù hợp với hoàn cảnh của ông trong những giai đoạn nhất định. Khi các bạn cho rằng những đau khổ và mất mát là do tội lỗi ông đã phạm, ông đã không chấp nhận lập luận đơn giản ấy và khẳng định mình là người công chính (G 27,3-6). Bốn nhân vật điển hình trong sách Gióp là Ê-li-phát, Bin-đát, Xô-pha và Ê-li-hu. Trong đó, Ê-li-phát thiên về kinh nghiệm cá nhân, Bin-đát thiên về truyền thống, Xô-pha thiên về giáo điều, Ê-li-hu thiên về suy tư thần học. Chẳng hạn, Ê-li-hu nói: "Thiên Chúa dùng cái nghèo để giải thoát người nghèo, dùng khổ đau mà mở mắt họ" (G 36,15). Đây là những nhân vật đại diện cho những quan điểm và lập luận khác nhau về đau khổ và hậu quả của nó. Nhờ cộng tác với Đức Chúa trong việc phân định, Gióp chấp nhận đau khổ, mất mát cũng như chấp nhận cả hồng ân lẫn những gì xem ra bất hạnh: "Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: Xin chúc tụng danh Đức Chúa!" (G 1,21). Gióp không bao giờ vơi niềm hy vọng vào sự sống tốt đẹp trong tương lai: "Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất. Sau khi da tôi đây bị tiêu hủy, thì với tấm thân, tôi sẽ được nhìn ngắm Thiên Chúa" (G 19,25-26).

Nhiều trình thuật trong các sách khôn ngoan cho chúng ta biết khôn ngoan không chỉ là thuộc tính giữa bao thuộc tính khác của Thiên Chúa mà còn được nhân cách hóa (personification), chẳng hạn như: "Đức Chúa dùng khôn ngoan đặt nền cho trái đất, dùng hiểu biết thiết lập các tầng trời. Nhờ tri thức của Người, vực sâu được khai mở và mây trời đổ mưa" (Cn 3,19-20) hoặc: "Ta đã được tấn phong từ đời đời, từ nguyên thuỷ, trước khi có mặt đất. Khi chưa có các vực thẳm, khi chưa có mạch nước tràn đầy, ta đã được sinh ra. Trước khi núi non được đặt nền vững chắc, trước khi có gò nổng, ta đã được sinh ra, khi Đức Chúa chưa làm ra mặt đất với khoảng không, và những hạt bụi đầu tiên tạo nên vũ trụ" (Cn 8,23-26). Khôn ngoan được nhân cách hóa trong các sách này được thể hiện cách trọn vẹn trong Tân Ước nơi Đức Giê-su Ki-tô, Khôn Ngoan của Thiên Chúa nhập thể, Đấng hướng dẫn con người phân định theo lời của Thiên Chúa và thi hành thánh ý Người cách trọn vẹn.

 

3. PHÂN ĐỊNH TRONG TÂN ƯỚC

3.1 Phân Định Theo Dấu Chỉ Nước Thiên Chúa

Lời rao giảng đầu tiên của Gio-an Tẩy Giả trong hoang địa Giu-đa là: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" (Mt 3,2). Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho chúng ta biết Đức Giê-su đến sông Gio-đan, gặp Gio-an Tẩy Giả để xin ông làm phép rửa. Sau khi chịu cám dỗ trong hoang địa, Người về miền Ga-li-lê, chọn các môn đệ, giảng dạy và chữa bệnh. Khi khai triển Bài Giảng Tám Mối Phúc, Đức Giê-su nói rằng Người đến để kiện toàn Lề Luật (Mt 5,17). Chính Người đã thực thi điều đó và mời gọi mọi người cùng phân định. Chẳng hạn, Đức Giê-su đã chữa người bị bại tay trong ngày Sa-bát. Đối với dân Do-thái, ngày Sa-bát không được làm như thế. Tuy nhiên, câu hỏi của Đức Giê-su đã đánh động họ: "Ai trong các ông có một con chiên độc nhất bị sa hố ngày sa-bát, lại không nắm lấy nó và kéo lên sao? Mà người thì quý hơn chiên biết mấy! Vì thế, ngày sa-bát được phép làm điều lành" (Mt 12,11-12). Đức Giê-su muốn mọi người biết phân định các việc Người làm để nhận ra chương trình Thiên Chúa mà Người đang thực hiện giữa gia đình nhân loại.

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho chúng ta biết rằng khi Đức Giê-su trừ một tên quỷ câm thì có một số người Do-thái cho rằng Người dựa vào quyền lực quỷ vương Bê-en-dê-bun để thực hiện điều đó. Lẽ ra họ phải ngạc nhiên, phân định và đặt câu hỏi, chẳng hạn như: Có bao giờ mình chứng kiến người nào đó trừ được quỷ chưa? Tại sao Đức Giê-su lại có thể làm được như vậy? Việc Người làm nhằm thăng tiến hay hạ thấp phẩm giá con người? Quả thật, Đức Giê-su trừ quỷ là một trong những dấu chỉ thể hiện quyền năng và tình yêu của Người. Việc đó minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa mà đến và sự hiện diện của Người chính là sự hiện diện của Nước Trời hay Nước Thiên Chúa (ἡ βασιλεία τῶν οὐρανῶν/ ἡ βασιλεία τοῦ θεοῦ). Sự hiện diện của Nước Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại chính là Tin Mừng và là dấu chỉ lớn lao của ơn cứu độ.

Tình bạn trong gia đình nhân loại thật cao quý và 'chọn bạn mà chơi' là thành ngữ phổ biến của các dân tộc trên thế giới. Người ta thường nói: Hãy cho tôi biết bạn thân với ai, tôi sẽ cho bạn hay bạn là người thế nào. Thông thường, ai cũng chọn cho mình những người bạn ngay lành, thánh thiện để có được niềm vui và bình an trong các tương quan với họ, đồng thời để khẳng định bản thân trước những người chung quanh. Tuy nhiên, Đức Giê-su không chọn bạn theo cách thức của con người bởi vì Người thường chọn những người đơn sơ, yếu đuối, tội lỗi, sống bên lề xã hội. Thánh Lu-ca trình thuật: "Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng" (Lc 15,1-2). Thay vì nhìn nhận cách thức mới mẻ khởi xuất từ lời nói cũng như việc làm của Đức Giê-su để phân định cách phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, dân Do-thái lại xem đó là sự bất thường hay trái ngược với truyền thống của họ về tình yêu, tình bạn cũng như các tương quan khác. Điều đó cho thấy sự giới hạn trong khả năng phân định của họ.

Thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi những người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc muốn thử Đức Giê-su thì xin Người cho thấy dấu lạ từ trời. Đức Giê-su đáp: "Chiều đến, các ông nói: Ráng vàng thì nắng, rồi sớm mai, các ông nói: Ráng trắng thì mưa. Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điềm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi. Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na" (Mt 16,2-4). Đáng lẽ, những người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc cũng như bao người khác cần phải biết đọc dấu chỉ để phân định và nhận diện chương trình đích thực của Thiên Chúa trong thế giới tự nhiên và trong xã hội loài người, nhất là những việc Đức Giê-su làm. Tuy nhiên, họ lại không phân định để nhận diện những gì họ đang chứng kiến hầu có thể tiếp cận và gắn bó với Đức Giê-su cũng như chương trình của Người đối với họ cũng như đối với mọi người.

Khác với các Tin Mừng Nhất Lãm, trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an chỉ đề cập hạn từ 'Nước Thiên Chúa' (βασιλεία τοῦ θεοῦ) hai lần (Ga 3,3.5). Thay vì dùng từ 'phép lạ', thánh Gio-an thường dùng từ 'dấu lạ' hay 'dấu chỉ'. Thánh nhân đã trình thuật bảy dấu chỉ (σημεῖα/ sēmeia, signs) để minh chứng rằng sự hiện diện của Người là sự hiện diện của Nước Thiên Chúa: Người biến nước thành rượu (Ga 2,1–11); chữa con trai của một sĩ quan cận vệ của nhà vua (Ga 4,46–54); chữa người bại liệt tại hồ Bết-da-tha (Ga 5,1–15); hóa bánh ra nhiều (Ga 6,1–14); đi trên mặt nước (Ga 6,16–21); chữa người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1–41) và làm cho La-da-rô hồi sinh dù đã nằm trong mộ bốn ngày (Ga 11,1–44). Qua việc giảng dạy và thực hiện các dấu chỉ, Đức Giê-su mời gọi mọi người ở lại trong Người, ở lại trong ánh sáng và luôn hướng về sự sống vĩnh cửu, nghĩa là sự sống trong Nước Thiên Chúa. Các dấu lạ hay dấu chỉ của Đức Giê-su trở thành tiêu chuẩn nền tảng cho việc phân định để nhận ra tình yêu và quyền năng Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại.

Trong hành trình trần thế: Đức Giê-su dùng những dấu chỉ hạ giới hướng con người tới các thực tại thiên giới; những dấu chỉ thụ tạo hướng con người tới các thực tại thần linh; những dấu chỉ bên ngoài hướng con người tới các thực tại nội tâm; những dấu chỉ cụ thể hướng con người tới các thực tại nhiệm mầu; những dấu chỉ nhỏ bé hướng con người tới các thực tại cao cả; những dấu chỉ trung gian hướng con người tới các thực tại tối hậu; những dấu chỉ hữu hình hướng con người tới các thực tại vô hình; những dấu chỉ giới hạn hướng con người tới các thực tại vô hạn; những dấu chỉ trong thời gian hướng con người tới các thực tại vĩnh cửu; những dấu chỉ được cử hành hướng con người tới các thực tại thông ban ân sủng; những dấu chỉ bí tích hướng con người tới ơn cứu độ. Tóm lại, các dấu chỉ Đức Giê-su thực hiện đều nhằm giúp con người từng bước đi vào tiến trình phân định thiêng liêng.

Biến Cố Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại đem lại niềm vui cho nhiều người, chẳng hạn như những người chăn chiên, các đạo sĩ, Ma-ri-a Mác-đa-la và các môn đệ. Các dấu chỉ Người thực hiện mang lại cho con người bình an, hy vọng, đồng thời giúp họ hướng về Thiên Chúa là Đấng Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối. Qua đó, Đức Giê-su giúp con người nhận thức rằng niềm vui Ki-tô Giáo không phải là niềm vui loại trừ khó khăn, thử thách nhưng là niềm vui giúp con người đối diện và vượt qua nghịch cảnh. Điều này có nghĩa là ngay cả trong nghịch cảnh, con người vẫn cảm nhận được niềm vui đích thực phát xuất từ sự hiệp thông liên lỉ của tâm hồn với Thiên Chúa. Đây là niềm vui của những người biết nhận ra giới hạn, yếu đuối của bản thân và lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Niềm vui không phải là điều mà con người tự mình đạt được nhờ những thành tựu lớn lao mà là niềm vui khi được Thiên Chúa đồng hành và hướng dẫn, nhờ đó con người biết phân định và bước đi trong ánh sáng của Người.

 

3.2 Phân Định Theo Giáo Huấn Đức Giê-su

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho chúng ta biết rằng, trước khi công khai loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, Đức Giê-su đến sông Gio-đan để xin Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa. Ban đầu, Gio-an Tẩy Giả không muốn thực hiện vì đã nhận ra căn tính Đức Giê-su nhưng sau đó đã làm phép rửa cho Người vì vâng lời Người: "Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính" (Mt 3,15). Trong câu trả lời của Đức Giê-su cho Gio-an Tẩy Giả có cụm từ 'giữ trọn đức công chính' đáng được chúng ta quan tâm bởi vì công chính ở đây không chỉ theo nghĩa công bằng pháp lý mà là thực thi thánh ý Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là Đức Giê-su đang thực thi thánh ý Chúa Cha và chính Gio-an Tẩy Giả được tham dự vào chương trình của Người. Điều đó cho thấy khi đến với gia đình nhân loại và ở trong gia đình nhân loại, Đức Giê-su tham dự mọi chiều kích của con người hay nói theo ngôn ngữ của tác giả thư gửi các tín hữu Do-thái: Đức Giê-su giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4,15). Quả thật, Người đứng vào hàng ngũ con cái gia đình nhân loại là những người tội lỗi để thực thi sứ mệnh 'xóa tội trần gian' (Ga 1,29). Người mang lấy tội trần gian hay tội của mọi người mà đưa lên cây thập tự (1 Pr 2,24).

Trong cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và những người Do-thái, nhất là giới lãnh đạo liên quan đến căn tính của Người, Đức Giê-su mặc khải rằng Người là 'Đấng Hằng Hữu' (ἐγώ εἰμι/ egō eimi/ I Am), có trước ông Áp-ra-ham (Ga 8,24.28.58). Trong sách Xuất Hành, khi Mô-sê hỏi danh của Thiên Chúa, Người mặc khải: "Ta là Đấng Hiện Hữu" [אֶהְיֶה אֲשֶׁר אֶהְיֶה/ Ehyeh Asher Ehyeh/ I Am Who I Am] (Xh 3,14); câu này thường được truyền thống diễn tả là 'Đấng Hằng Hữu'. Do đó, lẽ ra dân Do-thái cần phân định dựa trên những điều Người nói và những việc Người làm để nhận ra Người là Đấng từ trời mà đến và đang ở giữa họ. Trái lại, tâm trí họ chỉ bám vào thói quen, bám vào những gì họ biết về 'gia tộc trần thế' của Đức Giê-su để chống lại Người. Nói cách khác, họ không có tâm hồn khiêm tốn và cởi mở, hướng về những thực tại thượng giới để phân định như người phụ nữ Sa-ma-ri (dân ngoại) nhận ra căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su và trở thành người loan báo Tin Mừng cho anh chị em đồng loại (Ga 4,1-42).

Nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Giê-su khẳng định rằng chính Chúa Cha đã sai Người. Đức Giê-su không chỉ nói mà còn minh chứng cho những lời nói của Người bằng những việc làm cụ thể. Chẳng hạn, sau khi Đức Giê-su chữa người bại liệt tại hồ Bết-da-tha vào ngày Sa-bát, những người lãnh đạo Do-thái cho rằng Đức Giê-su không giữ luật nghỉ ngày Sa-bát, Người nói với họ: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc" (Ga 5,17). Theo thánh Gio-an: "Người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa" (Ga 5,18). Trong dịp lễ Cung Hiến (חֲנֻכָּה/ ḥănukkāh) ở Giêrusalem, chính Đức Giê-su nói: "Nếu tôi không làm các việc của Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi. Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng: Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha" (Ga 10,37-38). Như đã đề cập ở trên, việc phân định để tìm ra sự thật không chỉ dựa trên 'lời' mà còn dựa trên 'các dấu chỉ', tức là các việc Đức Giê-su đã làm như những bằng chứng sống động diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người.

Các trình thuật Tân Ước cho chúng ta biết Đức Giê-su luôn thông hiệp với Chúa Cha trong đời sống cầu nguyện để phân định và tìm hiểu thánh ý Chúa Cha (Mc 1,35; Lc 3,21; Lc 9,18; Lc 11,1; Mt 26,36–46). Chẳng hạn, Người cầu nguyện và phân định khi chịu Phép Rửa, trong bốn mươi ngày chay tịnh nơi sa mạc và trước khi tuyển chọn các môn đệ. Người cầu nguyện và phân định lúc tảng sáng, trước khi Phê-rô tuyên xưng Người là Đấng Ki-tô, trước khi các môn đệ xin Người dạy họ cách thức cầu nguyện. Nói cách khác, Người cầu nguyện và phân định liên lỉ trước những biến cố lớn lao, trước khi mặc khải những chân lý đặc biệt, trước các dấu chỉ hay phép lạ mà Người thực hiện. Người cầu nguyện và phân định trong đau khổ và trước cái chết cận kề. Nói theo cách tổng quát nhất, hành trình trần thế của Người cũng là hành trình cầu nguyện và phân định. Người đã thể hiện nhân tính của mình cách đầy đủ và sung mãn nhất trong sự hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần qua từng giây phút của cuộc đời.

Để trả lời cho câu hỏi của Phê-rô về việc tha thứ cho anh em mình, Đức Giê-su nói: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy" (Mt 18,22). Sau đó, Đức Giê-su kể dụ ngôn về một người mắc nợ vua mười ngàn yến vàng; anh ta không có khả năng trả nợ và vua đã tha nợ cho anh. Tuy nhiên, vừa ra khỏi đó, anh ta gặp một người bạn mắc nợ mình một trăm quan tiền: "Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: Trả nợ cho tao!" (Mt 18,28). Chuyện này đến tai nhà vua và vua đã cho gọi anh ta tới và nói với anh ta như sau: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn, như chính ta đã thương xót ngươi sao? Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông" (Mt 18,32-34). Dụ ngôn này cho thấy rằng vua đã phân định theo 'lòng thương xót' còn người mắc nợ vua lại phân định theo một thứ công bằng máy móc, thấm đẫm lòng tham. Việc tha món nợ cho người bạn mình theo khuôn mẫu của vua là điều phải làm để đáp lại lòng thương xót bao la của vua nhưng anh ta đã không làm và vì thế phải chịu hậu quả nghiêm khắc (Mt 18,32-34).

Theo các Tin Mừng Nhất Lãm (Mt 19,16-22; Mc 10,17-22; Lc 18,18-23), khi gặp gỡ người thanh niên có nhiều của cải, Đức Giê-su mời gọi anh ta phân định và trút bỏ để theo Người. Sự giàu có vừa làm cho nơi anh ở cũng như tâm hồn anh trở nên ngột ngạt và chật hẹp. Đức Giê-su đề nghị anh bán của cải và bố thí cho những người thiếu thốn. Như vậy, điều Đức Giê-su mời gọi là: Hãy phân định và đổi mới tâm trí qua việc thực hành để đạt tới sự tự do nội tâm cần thiết cho việc trở thành môn đệ của Người. Đối với Đức Giê-su, bao lâu con người còn tự thân vạch chương trình cho mình thì bấy lâu con người còn đi từ sai lầm này đến sai lầm khác. Do đó, điều cần thiết là con người cần quy chiếu về Thiên Chúa trong mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của mình. Quả thật, một trong những nguyên nhân làm cho con người trở nên lầm lạc là 'tự biên tự diễn', đặt mình là chuẩn mực cho chân lý cũng như hành động. Hậu quả là: Khi sống thì 'sống như không bao giờ phải chết' và khi chết thì 'chết như chưa bao giờ được sống'. Các trình thuật Tin Mừng Nhất Lãm cho chúng ta biết người thanh niên có nhiều của cải đã đánh mất cơ hội gắn bó với Đức Giê-su. Bởi vì, khi nghe Đức Giê-su nói đến việc bán tài sản mà cho người nghèo để theo Người thì anh ta buồn rầu bỏ đi (Mt 19,22).

Các trình thuật Tin Mừng Nhất Lãm cũng như Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng sự phân định của những người lắng nghe Đức Giê-su thật đa dạng. Chẳng hạn, những phản ứng của các nhân vật khi lắng nghe Đức Giê-su rao giảng tại Giê-ru-sa-lem trong dịp Lễ Lều (סֻכּוֹת/ Sukkōt) là bằng chứng cụ thể (Ga 7,1-53): Những người thân của Đức Giê-su thì không tin Người, các thủ lãnh thì tìm cách loại trừ Người, đám đông thì kinh ngạc, các vệ binh nhận ra uy quyền nơi Người, Ni-cô-đê-mô mời gọi mọi người thượng tôn công lý, một số người khác thì tin tưởng. Đức Giê-su nói với những người có thẩm quyền tôn giáo và đám đông hiện diện: "Các ông đừng xét đoán theo bề ngoài nữa, nhưng hãy xét đoán cho công minh" (Ga 7,24). Như nhiều lần khác trong hành trình loan báo Tin Mừng, người ta thường chỉ quan tâm đến ‘gốc gác’ hay ‘chiều kích xã hội’ của Đức Giê-su khi lắng nghe và phân định lời nói cũng như các việc làm của Người. Trong cuộc khổ nạn, chính Đức Giê-su nói với các môn đệ thân tín của Người để giúp họ phân định: "Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm" (Ga 14,11).

Cách thức phân định của Đức Giê-su soi sáng cách thức phân định của con người trong gia đình nhân loại. Hơn thế nữa, cách thức phân định của Đức Giê-su giúp mọi người biến đổi đời sống mình. Chẳng hạn, trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng, để thử thách Đức Giê-su, các kinh sư và người Pha-ri-sêu đem một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Đối với họ, theo lề luật, người phụ nữ này đáng tội chết. Họ đã hỏi Đức Giê-su cách thức xử lý. Đức Giê-su đã không xử lý theo câu hỏi họ đặt ra: "Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?" (Ga 8,5). Người nói với họ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi" (Ga 8,7). Nghe vậy, họ bỏ đi hết. Đức Giê-su nói với người phụ nữ rằng Người không kết án chị và dặn chị: "Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" (Ga 8,11). Con người thường đối xử với anh chị em theo những thứ luật hà khắc, trong khi đó, Đức Giê-su đối xử với mọi người theo luật tình yêu của Thiên Chúa.

Trong cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su nói: "Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời" (Ga 3,14-15). Biến Cố Vượt Qua (Passover) của Đức Giê-su là cao điểm trong hành trình trần thế của Người. Do đó, nếu con người không chú tâm vào Biến Cố này thì khó có thể phân định và nhận ra tình yêu nhiệm mầu mà Thiên Chúa thực hiện giữa gia đình nhân loại nhờ Con Yêu Dấu của Người, Đức Giê-su, Đấng luôn phân định và thưa với Chúa Cha lời sau cùng: "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46). Thiên Chúa trở thành người phàm là điều khó hiểu; việc Thiên Chúa chịu muôn hình thức đau khổ và chịu chết trên thập giá còn là điều khó hiểu hơn. Do đó, ai không thành tâm trong việc phân định để có thể tiến sâu vào mầu nhiệm này thì khó có thể trở thành Ki-tô hữu đúng nghĩa. Quả thật, ơn cứu độ của Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện mà cao điểm là Biến Cố Vượt Qua đem lại cho mọi người trong gia đình nhân loại ơn cứu độ muôn đời. Đối với thánh Phao-lô, thập giá Đức Giê-su là sức mạnh của Thiên Chúa (1 Cr 1,18); ngài không hãnh diện vì điều gì khác, ngoài thập giá Đức Giê-su. Do đó, ngài tự hào về những yếu đuối của mình (2 Cr 12,9); chịu gian truân là được tham dự vào thập giá Đức Giê-su (Gl 2,19–20); điều cốt yếu của đời sống là được biết Đức Giê-su (Pl 3,10). Như vậy, đối với thánh nhân, thập giá Đức Giê-su là mô thức cho mọi hình thức phân định của con người bởi vì nơi đó họ cảm nhận được thánh ý Thiên Chúa vượt trên mọi tư tưởng và kinh nghiệm tự nhiên của con người.

 

3.3 Phân Định Trong Chúa Thánh Thần

Sự hiện diện và hoạt động của Thần Khí, tức là Chúa Thánh Thần gắn liền với chương trình trần thế của Đức Giê-su đã được loan báo trong Cựu Ước (Is 61,1-2; Ed 36,26-27). Đặc biệt, những ai đón nhận Đức Giê-su thì được Thần Khí của Người nâng đỡ như lời của Thiên Chúa phán qua miệng ngôn sứ Giô-en: "Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người phàm. Con trai con gái các ngươi sẽ trở thành ngôn sứ, người già được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến. Trong những ngày đó, Ta cũng sẽ đổ thần khí Ta trên tôi nam tớ nữ" (Ge 3,1-2). Chúng ta biết rằng, trong Tân Ước, hành trình trần thế của Đức Giê-su gắn liền với sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, chẳng hạn như trong Biến Cố Truyền Tin, khi Đức Giê-su chịu phép rửa và khi chịu cám dỗ trong hoang địa (Lc 1,35; Mt 3,16-17; Mt 4,1-11). Chúa Thánh Thần đồng hành cùng Đức Giê-su trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa (Lc 4,18–19; Mt 12,28); Chúa Thánh Thần tiếp tục chương trình của Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại (Lc 24,49; Mt 28,18-20; Ga 20,21-22). Chúa Thánh Thần gắn bó với Đức Giê-su thế nào thì Người cũng gắn bó với các môn đệ của Đức Giê-su như vậy để họ tiếp tục phân định và diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Đức Giê-su giữa dòng đời.

Trong bốn Tin Mừng, từ 'Hội Thánh' (ἐκκλησία, Giáo Hội) xuất hiện chỉ ba lần và cả ba lần đều trong trình thuật Tin Mừng theo thánh Mát-thêu (Mt 16,18; Mt 18,17). Ở đây, Đức Giê-su không chỉ công bố việc thiết lập Giáo Hội trên nền tảng Phê-rô mà còn nhấn mạnh sự cần thiết của việc cầu nguyện và phân định trong đời sống của cộng đoàn Giáo Hội: "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" (Mt 18,20). Trong biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống, lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu Ước được ứng nghiệm bởi vì mọi người tụ họp nhân danh Đức Giê-su đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Đồng thời, họ đều được lãnh nhận những ân sủng đặc biệt để tiếp tục phân định và xây dựng cộng đoàn các tín hữu sơ khởi cũng như đóng góp phần mình trong việc làm cho Tin Mừng Đức Giê-su được lan tỏa khắp nơi (Cv 1,8).

Những hướng dẫn của Đức Giê-su trong thời gian Người loan báo Tin Mừng đã được áp dụng cách cụ thể nơi cộng đoàn Giáo Hội sơ khai trong sách Tông Đồ Công Vụ khi các chứng nhân của Đức Giê-su ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi các chọn lựa cũng như quyết định của các ngài, chẳng hạn như: "Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người" (Cv 5,32); "Một hôm, đang khi họ làm việc thờ phượng Chúa và ăn chay, thì Thánh Thần phán bảo: Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sao-lô cho Ta, để lo công việc Ta đã kêu gọi hai người ấy làm" (Cv 13,2); Đặc biệt, tại Công Đồng Giê-ru-sa-lem, Công Đồng tiên khởi của Giáo Hội, các nghị phụ đã tuyên bố: "Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định" (Cv 15,28). Đây được xem là công thức tiêu chuẩn trong việc phân định của Giáo Hội khi thể hiện căn tính, đời sống và sứ mệnh của mình giữa gia đình nhân loại.

Theo thánh Phao-lô, ơn Chúa Thánh Thần nơi mỗi người nhằm phục vụ Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô. Theo nghĩa hẹp, phân định các thần khí (διακρίσεις πνευμάτων/ discernment of spirits) là một trong các đặc sủng của Chúa Thánh Thần được thánh Phao-lô diễn tả trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô rằng mỗi người được Thần Khí tỏ mình theo mỗi cách để phục vụ lợi ích chung: "Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ" (1 Cr 12,8-10). Ơn Chúa Thánh Thần luôn đa dạng và phong phú hơn khả năng cảm nhận hay hiểu biết của con người. Thánh nhân đúc kết: "Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người" (1 Cr 12,11). Ở đây, nguyên lý 'hiệp nhất trong đa dạng' được tỏ lộ: Đa dạng trong ân sủng, hiệp nhất trong Chúa Thánh Thần. Mỗi người được mời gọi sử dụng ơn Chúa Thánh Thần theo cách phù hợp nhất: Vừa phù hợp với đặc sủng riêng của mình, vừa phù hợp với thánh ý Thiên Chúa nhằm xây dựng đời sống cộng đoàn. Ở đây, chúng ta thấy sự giao thoa cách hài hòa giữa phân định cá nhân (personal discernment) và phân định cộng đoàn (communal discernment) làm cho Giáo Hội được tiến triển theo thánh ý Thiên Chúa.

Đối với thánh Phao-lô, sự phân định cũng như đời sống và nhiệt huyết của ngài trong việc loan báo Tin Mừng sau khi gặp gỡ Đức Giê-su phục sinh là do Thần Khí tác động. Ngài viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: "Chúng tôi không dùng những lời lẽ đã học được nơi trí khôn ngoan của loài người, nhưng dùng những lời lẽ học được nơi Thần Khí; chúng tôi dùng những lời lẽ Thần Khí linh hứng để diễn tả thực tại thuộc về Thần Khí" (1 Cr 2,13). Đối với thánh nhân, chỉ với khả năng tự nhiên, con người không thể lĩnh hội những gì thuộc về Thần Khí: "Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán" (1 Cr 2,14). Quả thật, thánh nhân luôn đề cao việc phân định nhờ Thần Khí trên bình diện cá nhân cũng như các hình thức cộng đoàn (1 Cr 2,15; 1 Tx 5,19–21).

Phân định các thần khí là hình thức phân định đặc biệt trong đời sống của các tín hữu bởi vì giữa lòng thế giới, con người luôn chịu tác động của nhiều loại thần khí khác nhau. Điều này có nghĩa là con người không chỉ được Chúa Thánh Thần hướng dẫn mà còn chịu tác động bởi các thần lành hay thần dữ cũng như bởi chính việc sử dụng tự do của bản thân mình và nhiều tác động khác có thể làm cho con người gần gũi hay xa rời thánh ý Thiên Chúa. Nói theo cách tổng quát, dưới nhãn quan Tân Ước, con người chỉ có thể phân định các thần khí khi thần khí của con người (τὸ πνεῦμα τοῦ ἀνθρώπου) được Thần Khí của Thiên Chúa (τὸ Πνεῦμα τοῦ θεοῦ) hướng dẫn trong tiến trình phân định. Đối với thánh Giu-đa, dựa trên giáo huấn của các Tông Đồ, những kẻ nhạo báng, đắm mình trong dục vọng vô luân là "những kẻ gây chia rẽ, sống theo tính tự nhiên, không có Thần Khí" (Gđ 1,19). Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô khẳng định rằng: "Không có tự do nào lớn hơn tự do của người biết để mình được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, từ bỏ ý muốn tự mình hoạch định và kiểm soát mọi sự đến từng chi tiết cuối cùng, nhưng để cho Người soi sáng, dẫn dắt và điều hướng mình, đưa mình đến bất cứ nơi nào Người muốn. Chúa Thánh Thần biết rõ điều gì là cần thiết trong mọi thời và mọi nơi" (Evangelii Gaudium 280).

Phân định trong Chúa Thánh Thần không chỉ dừng lại ở việc nhận ra điều tốt hay xấu, đúng hay sai, hữu dụng hay vô ích mà còn biết được điều xem ra tốt nhưng lại xấu, chẳng hạn như: "Các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên... nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi" (Mt 7,15); "...men Pha-ri-sêu, tức là thói đạo đức giả" (Lc 12,1); "Chính Xa-tan cũng đội lốt thiên thần sáng láng!" (2 Cr 11,14). Do đó, để có thể phân định, con người cần biết từ bỏ chính mình, sống khiêm tốn, suy niệm lời của Thiên Chúa, cầu nguyện liên lỉ, bác ái chân thành, lắng nghe người khôn ngoan, tránh xa dịp tội, dấn thân trong cuộc chiến thiêng liêng với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Con người cần có sự quân bình, điều độ và hòa hợp các chiều kích trong đời sống cá nhân, cộng đoàn, xã hội cũng như với muôn vật muôn loài. Ơn phân định đóng vai trò soi sáng các nhân đức khác để giúp con người ngày càng sống xứng hợp với căn tính, đời sống và sứ vụ của mình theo thánh ý Thiên Chúa.

Thánh Gio-an mời gọi các tín hữu phân định các thần khí để nhận ra thần khí nào phát xuất từ Thiên Chúa và thần khí nào không bởi Người: "Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian" (1 Ga 4,1). Đồng thời, thánh nhân khẳng định: "Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: Thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa; còn thần khí nào không tuyên xưng Đức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của tên phản Ki-tô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi" (1 Ga 4,2-3). Giữa những biến động của thế sự, thánh nhân chỉ cho mọi người cách thức phân định các thần khí căn bản và thiết thực nhất, dựa trên tương quan mật thiết và niềm xác tín vào Đức Giê-su, Đấng yêu thương và tự hiến chính mình vì con người và cho con người.

Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và đồng hành với con người giữa lòng thế giới. Do đó, con người cần ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Người nơi chính mình, nơi anh chị em đồng loại và nơi thế giới thụ tạo. Đối thoại, lắng nghe và vâng phục Chúa Thánh Thần cho phép con người phân định để có thể vượt qua những khó khăn, nghịch cảnh, thử thách cũng như những giới hạn của bản thân hầu có thể trung tín với Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Thánh Phao-lô viết: "Có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa" (Rm 8,26-27). Đối với thánh nhân, phân định trong cầu nguyện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần giúp con người nhận ra thánh ý Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người (Rm 12,2; Ep 5,17–18).

 

4. THEO ĐƯỜNG PHÂN ĐỊNH CỦA ĐỨC GIÊ-SU

4.1 Đức Giê-su – Đường Phân Định

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói rằng Người là Đường (Ga 14,6). Những trình bày trên đây cho phép chúng ta hiểu rằng Đường Đức Giê-su là Đường Phân Định. Quả thật, là Thiên Chúa, Đức Giê-su 'ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự, hằng xem thấy con, hằng nghe lời con cầu nguyện'. Trở nên người phàm giữa gia đình nhân loại và trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su luôn phân định để thực thi thánh ý Chúa Cha. Như đã đề cập ở trên, mọi tư tưởng, lời nói và việc làm của Đức Giê-su đều trở nên bài học cho mọi người trong việc phân định vì Người quy hướng về Chúa Cha trong mọi hoàn cảnh. Quả thật, Biến Cố Đức Giê-su đã được tiên báo trong Cựu Ước và được hoàn tất trong Tân Ước (Tv 40,7-9; Dt 10,5-7).

Hành trình trần thế của Đức Giê-su với cao điểm là Biến Cố Vượt Qua của Người cho chúng ta nhận thức rằng lời nói và việc làm của Người vừa soi sáng, vừa trở thành tiêu chuẩn cho việc phân định của mọi người như lời thánh Phê-rô: "Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người" (1 Pr 2,21). Trong Lời Tựa Tin Mừng, thánh Gio-an viết: "Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người" (Ga 1,9). Thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-xê có đoạn viết về Đức Giê-su như sau: "Trong Người có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết" (Cl 2,3). Khi phân định theo Đường Đức Giê-su trở thành nguyên lý, mô thức hay chuẩn mực thì các thói quen (habitus) và cách thức hiện hữu (modus essendi) của con người trở nên lành mạnh giúp họ ngày càng phát triển và đóng góp phần mình trong việc xây dựng các hình thức cộng đoàn nơi mình hiện diện và hoạt động ngày càng tốt đẹp hơn.

Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, tội lỗi và hậu quả tội lỗi luôn là trở ngại lớn lao cho con người trong việc phân định. Quả thật, trong thân phận tội lỗi, con người được mời gọi phân định với ý thức rằng nếu bản thân không lắng nghe lời của Thiên Chúa, không ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần thì việc phân định sẽ sai đường lạc lối và dẫn tới những hậu quả khôn lường. Phân định, chọn lựa, quyết định và thực thi theo ý riêng mình mà không cậy dựa vào ơn Thiên Chúa, không tham chiếu ý kiến của những người hữu trách hoặc những người khôn ngoan, thánh thiện thì rất dễ bị sai lạc. Quả thật, chỉ trong ánh sáng Thiên Chúa và dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần cũng như những người có kinh nghiệm, con người mới có thể phân định, quyết định và thực thi mọi công việc cách xứng hợp.

Mọi người trong gia đình nhân loại đều phân định và hướng tới phẩm chất và giá trị của thực tại. Cùng một thực tại nhưng khả năng phân định thực tại đó nơi mỗi người không giống nhau. Cách chung, phân định được xem như khả năng nhận thức và phân biệt các khía cạnh khác nhau của thực tại và đưa ra quyết định phù hợp về thực tại đó. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, việc phân định liên quan đến những quyết định, chọn lựa mang tính luân lý. Điều này có nghĩa là trong muôn vàn chọn lựa liên quan đến thực tại được lượng định, đánh giá và xem xét, con người phải đưa ra quyết định tốt nhất không theo sở thích cá nhân nhưng phù hợp với tiêu chuẩn luân lý. Phân định gắn liền với việc đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa cách trung tín. Điều này có nghĩa là phân định phải hướng tới giới răn cao cả nhất của Ki-tô Giáo, đó là giới răn yêu thương theo khuôn mẫu Đức Giê-su.

Một trong những cám dỗ chung của con người qua mọi thời đại là 'quá coi trọng khả năng lý trí của mình'. Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta biết rằng chỉ lý trí của con người thôi thì chưa đủ để có phán đoán, chọn lựa, quyết định hay hành động đúng đắn. Bởi vì, những phán đoán, chọn lựa, quyết định hay hành động luôn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nằm ngoài sự 'kiểm soát' của lý trí con người. Nói cách khác, nếu con người không phân định thánh ý Thiên Chúa cho mình hay cho các hình thức cộng đoàn thì có thể đi từ sai lầm này đến sai lầm khác và từ đó dẫn đến 'sai lầm mang tính hệ thống'. Hậu quả của 'sai lầm mang tính hệ thống' dẫn tới những điều tồi tệ không thể kiểm soát. Do đó, mọi người được mời gọi lắng nghe và phân định để nhận diện bản thân và môi trường xung quanh cách phù hợp hơn hầu góp phần kiến tạo bình an cho mình và hòa bình cho xã hội. Trong diễn văn tại Quốc Hội Đức vào năm 2011, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI nói: "Tôi nghĩ rằng, ngay cả hôm nay, cuối cùng chúng ta cũng không thể ước mong điều gì khác hơn là một trái tim biết lắng nghe [như vua Sa-lô-môn cầu xin Đức Chúa (1 V 3,9)], khả năng phân định giữa điều thiện và điều ác, và nhờ đó thiết lập luật pháp đích thực, để phục vụ công lý và hòa bình" (Address of His Holiness Benedict XVI, Reichstag Building, Berlin, Thursday, 22 September 2011).

Việc phân định không chỉ liên quan đến cá nhân, cộng đoàn, Giáo Hội và toàn thể gia đình nhân loại mà còn liên quan đến toàn thể vũ trụ. Con người và muôn vật muôn loài liên kết chặt chẽ với nhau vì Thiên Chúa sáng tạo muôn vật muôn loài cho con người và cùng với con người hướng về Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết: "Trong vũ trụ này, được cấu thành bởi những hệ thống mở và liên thông với nhau, chúng ta có thể phân định vô vàn hình thức tương quan và sự tham dự. Điều đó dẫn chúng ta đến chỗ suy nghĩ về toàn thể như mở ra trước sự siêu việt của Thiên Chúa, trong đó vũ trụ được triển nở. Đức tin cho phép chúng ta giải thích ý nghĩa và vẻ đẹp huyền nhiệm của những gì đang dần được tỏ lộ" (Laudato Si’ 79). Con người là tiểu vũ trụ (microcosmos). Do đó, con người không thể đặt mình độc lập với các tương quan trong vũ trụ cũng không thể tách rời với muôn vật muôn loài. Việc phân định để nhận diện các tương quan và đóng góp phần mình vào việc củng cố và phát triển các tương quan ấy là điều luôn cấp bách và cần thiết.

Nhận ra tiếng Thiên Chúa giữa bao tiếng khác luôn là điều khó khăn đối với con người vì tiếng Thiên Chúa thì không dễ lắng nghe còn các tiếng khác thì luôn vang dội với cường độ ngày càng mạnh mẽ hơn. Nếu con người không biết chuẩn bị, không sống trong tinh thần 'tỉnh thức và cầu nguyện' thì khó có thể nhận ra tiếng Thiên Chúa. Kinh nghiệm của ngôn sứ Ê-li-a cho chúng ta biết rằng tiếng Thiên Chúa không đến với con người trong cảnh ồn ào, náo động như gió bão xé núi, động đất, lửa, mà trong tiếng gió hiu hiu thổi (1 V 19,11-13). Nói cách khác, tiếng Thiên Chúa không phô trương, không áp đặt, không lấn át, không dao động nhưng ấm áp, kín đáo, nhẹ nhàng và sâu lắng.

Trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su thưa cùng Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn" (Mt 11,25). Từ đó, chúng ta có thể xác quyết rằng ơn phân định không phải là đặc ân giới hạn nơi một số cá nhân có địa vị hay danh vọng nhưng là hồng ân phổ quát Thiên Chúa ban cho những ai có lòng thành tâm và thiện chí. Ơn này không chỉ thuộc về các ngôn sứ, các nhà lãnh đạo hay những người có tri thức vượt trội nhưng được ban để mọi người, nhờ kết hiệp với Đức Giê-su, được tham dự vào mối tương quan với Chúa Cha. Thực vậy, trong tiến trình mặc khải, Thiên Chúa chủ động tỏ mình cho con người, đặc biệt cho những ai bé mọn trước mặt Người, là những người sẵn sàng đón nhận chân lý trong sự khiêm hạ và tinh thần phó thác chân thành.

Một trong những khía cạnh liên quan mật thiết đến việc phân định là sự tự do của con người. Theo Công Đồng Vatican II: "Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người... [tuy nhiên] tự do của con người vì bị tội lỗi làm tổn thương nên chỉ nhờ ơn Chúa trợ lực mới có thể thực hiện việc hướng về Thiên Chúa cách hoàn toàn sống động" (GS 17). Quả thật, dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, con người được tự do làm mọi việc nhưng không phải mọi việc do sự chọn lựa tự do của con người đều phù hợp với phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa ban cho con người: Ai tự do cộng tác với Đức Giê-su, Đường Phân Định, thì trở nên người tốt lành; còn ai tự do cộng tác với các thế lực đêm tối thì trở nên xấu xa. Những ý tưởng phiến diện nảy sinh do sự xúi giục của tà khí làm cho con người định hình bản thân theo chiều hướng của thế giới tối tăm. Theo Công Đồng Vatican II: "Nếu nhìn sâu tận đáy lòng mình, con người cũng khám phá ra rằng mình đã hướng về sự dữ và đã ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Ðấng Tạo Hóa tốt lành của mình" (GS 13). Ai ở lại trong lời của Đức Giê-su thì có được sự tự do đích thật như lời của Người với những người Do-thái: "Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8,31-32).

 

4.2 Sống Theo Đường Phân Định

Là Ki-tô hữu, chúng ta được mời gọi phân định để nhận ra những điều chân thật, tốt lành và phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, đồng thời sống theo những điều đó trong hành trình trần thế của mình. Phân định cho phép chúng ta quan tâm hơn đến đời sống đạo đức luân lý giữa xã hội với bao chuẩn mực luôn biến đổi dựa trên sự đồng thuận hoặc quyết định của những phe nhóm hay các thể chế không ngừng tiến triển. Các chuyển động của tư tưởng, lời nói và việc làm có thể đem lại bình an hay chia rẽ, cổ vũ hòa bình hay gây phân cách, xây dựng hiệp nhất hay nuôi dưỡng sự loại trừ; mở ra cho sự sống viên mãn hay khép lại trong ích kỷ cục bộ; hướng con người về chân lý và tự do nội tâm hay đẩy họ vào mê lầm và lệ thuộc; tham dự vào chiều kích vĩnh cửu của Nước Thiên Chúa hay chỉ dừng lại ở những thực tại chóng qua và mau tàn theo dòng chảy của thế sự. Do đó, điều cần thiết là mỗi người cần biết phân định cách tỉnh táo và trưởng thành.

Việc phân định phù hợp và đúng đắn giúp các thành phần trong Giáo Hội ý thức sâu sắc hơn về tương quan giữa đức tin của mình và đức tin mà Giáo Hội đón nhận, sống và trung thành lưu truyền qua muôn thế hệ. Chúng ta biết rằng cảm thức đức tin nơi mỗi tín hữu (sensus fidei fidelis) và cảm thức đức tin của toàn thể các tín hữu hay của Dân Chúa (sensus fidei fidelium) liên kết mật thiết với nhau. Trong đời sống Giáo Hội, cảm thức đức tin vừa được biểu lộ nơi hành vi đức tin của người tín hữu (fides qua creditur), vừa được biểu lộ nơi nội dung đức tin mà Giáo Hội tin và tuyên xưng (fides quae creditur). Do đó, để có thể phân định cách phù hợp, các cá nhân, các cộng đoàn cũng như toàn thể Giáo Hội cần sử dụng những phương pháp phù hợp, chẳng hạn như chú giải Kinh Thánh, Truyền Thống và Huấn Quyền Giáo Hội (Magisterium), hiểu biết về các Giáo Phụ, những khai triển của các thần học gia cũng như nhiều ngành khoa học khác (the Synod on Synodality, Final Document 85).

Hành trình trần thế của con người cũng là hành trình gắn liền với nhiều hình thức phân định. Đặc biệt, phân định thiêng liêng (spiritual discernment) đóng vai trò quyết định. Trong Tông Huấn Christus Vivit (2019), Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết: "Sự phân định trở thành một phương thế đích thực của cuộc chiến thiêng liêng, giúp chúng ta theo Chúa cách trung tín hơn" (Christus Vivit 195). Phân định thiêng liêng giúp con người nhận ra những yếu đuối, thiếu sót, nghiêng về sự dữ theo khuynh hướng lệch lạc của bản thân, để biết cộng tác với Thiên Chúa trong việc hoán cải. Hình thức phân định này giúp con người nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa, Đấng mời gọi họ biết cộng tác với Người trong việc biến đổi đời sống nội tâm, nhờ đó tiến tới trên con đường thánh thiện và góp phần làm cho ân sủng Người ban sinh hoa trái tốt đẹp nơi chính mình cũng như nơi anh chị em đồng loại. Hình thức phân định này cũng giúp con người đón nhận sự nâng đỡ và an ủi thiêng liêng (consolation), giải thoát con người khỏi cảnh u ám hay sầu khổ thiêng liêng (desolation) mà họ thường phải đối diện.

Để có thể phân định, mọi người được mời gọi học hỏi ngôn ngữ của Thiên Chúa, đó là ngôn ngữ thinh lặng. Theo Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, trong thinh lặng, "chúng ta có thể phân định, dưới ánh sáng của Thần Khí, những con đường thánh thiện mà Chúa đang mời gọi chúng ta bước theo. Nếu không, mọi quyết định chúng ta đưa ra có thể chỉ là vẻ bề ngoài, thay vì làm cho Tin Mừng được tôn vinh trong đời sống chúng ta, lại che lấp hoặc làm lu mờ Tin Mừng" (Gaudete et Exsultate 150). Ai không lắng nghe và học hỏi ngôn ngữ thinh lặng, ngôn ngữ của Thiên Chúa, thì không thể phân định cách phù hợp. Nói cách khác, lắng nghe lời của Thiên Chúa, lắng nghe Chúa Thánh Thần và lắng nghe nhau giúp mọi người có thể phân định các thực tại cách xứng hợp, đồng thời đưa ra những giải đáp cụ thể để hiểu biết và đào sâu bản chất của các thực tại cũng như nhận ra sự cần thiết phải hoán cải, đổi mới, hầu có thể thực thi thánh ý Thiên Chúa.

Mọi người cần cộng tác với Thiên Chúa trong việc định dạng lương tâm mình để có thể đương đầu với muôn hình thức khó khăn trong cuộc sống. Như thánh Phao-lô cho thấy, là con người, ai cũng nhận ra những thử thách và mâu thuẫn trong đời sống nội tại (Rm 7,15-19). Điều con người khát khao và mong muốn lại không ăn khớp với điều mình thực hành. Chẳng hạn, nhiều khi con người rơi vào tình trạng mâu thuẫn nội tâm: Mình muốn điều tốt nhưng lại làm điều xấu, muốn sống theo sự thật nhưng lại hành xử giả dối. Mình muốn nên thánh nhưng lại chiều theo những yếu đuối và đam mê, muốn sống nhân đức nhưng lại dễ dàng buông theo những thói quen xấu. Mình muốn sống bác ái nhưng lại ích kỷ, muốn tha thứ nhưng lại nuôi giữ oán giận. Những căng thẳng ấy cho thấy nơi mỗi người luôn có cuộc giằng co giữa điều mình khao khát và điều mình thực sự sống, giữa lý tưởng hướng thượng và những hành vi còn bị chi phối bởi bóng tối của tội lỗi.

Tâm trí con người được định dạng bởi việc phân định. Điều này có nghĩa là, người biết phân định và thực thi những điều chân thật, tích cực, lành thánh thì tâm trí mình ngày càng được tiến triển, nhờ đó có khả năng điều hướng tư tưởng, lời nói, việc làm. Ngược lại, nếu tâm trí con người bị chi phối bởi điều giả dối, tiêu cực, xảo quyệt thì tâm trí mình ngày càng suy thoái và hậu quả là mọi tư tưởng, lời nói, việc làm trở nên xấu xa, lệch lạc. Cũng từ đó, con người dần buông mình chìm đắm trong bóng tối của sự dữ. Hậu quả là căn tính, đời sống và sứ vụ của bản thân bị băng hoại, đồng thời làm phương hại tương quan với anh chị em đồng loại. Nói cách khác, khả năng phân định quyết định con người trở thành sứ giả bình an hay tác nhân gây đổ vỡ trong đời sống cá nhân và cộng đoàn.

Thiên Chúa luôn tỏ bày thánh ý của Người cho mọi người trong mọi hoàn cảnh sống. Tuy nhiên, nếu con người không quan tâm đến việc phân định thì họ cũng không thể nhận diện và thực thi thánh ý Người cách xứng hợp. Nhờ phân định, con người nhận ra những điều cần thiết mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi bản thân mình. Phân định thánh ý Thiên Chúa cho bản thân hay trong cộng đoàn luôn là công việc gắn liền với nhiều thử thách. Do đó, trả lời cho câu hỏi 'đâu là thánh ý Thiên Chúa và đâu là sự tham dự của con người trong một chọn lựa, quyết định hay thực hành?' luôn là điều vượt quá khả năng của nhiều người. Trong lịch sử Giáo Hội cũng như các hình thức xã hội dân sự, con người có thể bỏ phiếu để cùng nhau đi đến một quyết định nào đó. Tuy nhiên, 'chân lý không nhất thiết thuộc về đám đông' luôn là điều mà các hình thức cộng đoàn phải quan tâm và lưu ý. Điều này có nghĩa là: Một quyết định đúng đắn luôn đòi hỏi tiến trình phân định chân thành và nghiêm túc chứ không chỉ đơn thuần là sự đồng thuận của tập thể.

Cám dỗ phổ biến của con người là muốn Thiên Chúa thực hiện theo chương trình riêng của mình thay vì chính mình phục tùng thánh ý Người. Thực vậy, con người thường mong mọi sự diễn ra phù hợp với suy nghĩ và nhãn quan giới hạn của mình. Theo Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô: "Một điều kiện thiết yếu để tiến triển trong phân định là ngày càng hiểu rõ hơn sự nhẫn nại của Thiên Chúa và thời biểu của Người, vốn không bao giờ trùng với thời biểu của chúng ta" (Gaudete et Exsultate 174). Đặc biệt, theo ngài: "Phân định cũng cho phép chúng ta nhận ra những phương thế cụ thể mà Chúa ban trong kế hoạch nhiệm mầu và yêu thương của Người, hầu giúp chúng ta vượt lên trên những ý hướng tốt lành đơn thuần" (Gaudete et Exsultate 169). Như vậy, điều cần thiết là con người cần thuận theo 'thời' của Thiên Chúa hơn là theo 'thời' của chính mình. Để được như vậy, con người cần luôn có trái tim rộng mở hướng về Thiên Chúa để Người trợ giúp hầu có thể thiết lập tương quan liên vị với Người cách mật thiết hơn.

Là Ki-tô hữu, mọi người được mời gọi phân định theo thánh ý Thiên Chúa để mọi lời nói, việc làm và suy nghĩ của bản thân luôn tương hợp với danh hiệu 'môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su'. Việc phân định thường xuyên và hữu hiệu giúp các Ki-tô hữu không chỉ quan tâm những gì 'thuộc hạ giới' mà còn quan tâm đến những gì 'thuộc thượng giới' (Cl 3,1-2). Phân định vừa giúp bản thân ngày càng lớn lên trong ân nghĩa của Thiên Chúa, vừa giúp con người ý thức hơn về sự sống đời đời. Quả thật, sự sống con người không vận hành như cỗ máy được thiết lập sẵn nhưng là thực tại không ngừng được tăng trưởng trong ân sủng của Thiên Chúa, kết hợp với những cố gắng không ngừng nghỉ của bản thân trong việc quy hướng về Người. Trong cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su nói: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời" (Ga 3,16). Vì thế, phân định để gia tăng niềm tin vào Đức Giê-su và đón nhận ân sủng của Thiên Chúa là nền tảng cho sự sống đời đời của con người trong Quê Hương Vĩnh Cửu.

Trên bình diện Giáo Hội là cộng đoàn các tín hữu, tức là cộng đoàn các môn đệ Đức Ki-tô, theo ngôn ngữ của Công Đồng Vatican II, chúng ta có thể nói rằng phân định nằm trong cả ba tiến trình: 'Trở về nguồn' (ressourcement), đọc dấu chỉ thời đại (signs of the times) và canh tân (aggiornamento). Điều này có nghĩa là các Ki-tô hữu cần sự trợ giúp của Thiên Chúa trong việc trở về với nội dung đức tin Ki-tô Giáo, đọc những dấu chỉ trong bối cảnh hiện tại và canh tân, tức là cập nhật những gì phù hợp để Giáo Hội thể hiện đúng căn tính, đời sống và sứ mệnh của mình giữa gia đình nhân loại. Chẳng hạn, phân định đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Giáo Hội nhận diện được đời sống văn hóa, xã hội của mọi người trong gia đình nhân loại hầu phục vụ mọi người cách cụ thể và thiết thực hơn. Hơn nữa, phân định không chỉ giúp con người đưa ra những quyết định hay chọn lựa cho Giáo Hội và cho con người mà còn cho muôn vật muôn loài trong bối cảnh hiện tại cũng như mai ngày.

Sự phân định mang tính Giáo Hội diễn ra khi các thành phần của Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cùng nhau tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa trong những điều liên quan đến việc diễn tả thực tại có tên là Giáo Hội. Hình thức phân định này giúp cộng đoàn con cái Giáo Hội nhận diện tiếng nói của Chúa Thánh Thần để đi đến những chọn lựa, quyết định và canh tân những gì phù hợp với đời sống của từng người cũng như toàn thể Giáo Hội đang trên đường lữ hành. Nói cách khác, khi con cái Giáo Hội sống tinh thần đồng trách nhiệm và biết phân định dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, họ trở nên khí cụ để thánh ý Thiên Chúa được thể hiện trong mọi môi trường mà họ hiện diện và hoạt động (1 Cr 12,7; Kh 2,7).

 

4.3 Loan báo Tin Mừng Đường Phân Định

Đức Giê-su là Lời, là Sức Mạnh và Khôn Ngoan của Thiên Chúa (1 Ga 1,1; 1 Cr 1,24). Do đó, Người là nguồn mạch và tiêu chuẩn của mọi hình thức phân định trong gia đình nhân loại. Tin Mừng mà Người loan báo và minh chứng bằng đời sống giúp con người phân định để có thể thực thi thánh ý Thiên Chúa như chính Người đã thực thi đến nỗi hiến dâng chính mình cho gia đình nhân loại. Để có thể loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu, các môn đệ Đức Giê-su được mời gọi bước theo Người, Đấng là Đường, Đường Phân Định. Nghĩa là, trong Chúa Thánh Thần, các môn đệ Đức Giê-su ở lại với Người, lắng nghe lời của Người, tin tưởng vào Người và hiệp thông với Người.

Trong Giáo Hội sơ khai, các môn đệ Đức Giê-su luôn ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của họ (Cv 1,8; Cv 8,29). Chính Chúa Thánh Thần luôn đồng hành với các ngài trong việc phân định, nhờ đó Tin Mừng Nước Thiên Chúa được lan rộng trong thế gian (Cv 16,6–7). Quả thật, với sự đồng hành của Chúa Thánh Thần, các ngài đã vượt qua muôn vàn nghịch cảnh trong việc lắng nghe, suy niệm lời của Thiên Chúa cũng như phân định trong cầu nguyện để có thể thực thi thánh ý Thiên Chúa cách phù hợp và đúng đắn nhất. Nhờ lắng nghe lời Đức Giê-su, các môn đệ có thể phân định và trung tín với Người trong việc loan báo Tin Mừng của Người cho muôn dân muôn nước (Lc 8,21; Cv 8,14-24).

Các môn đệ Đức Giê-su luôn ý thức rằng mình phải phân định dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để trái tim mình được Tin Mừng hóa trước khi có thể thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng cho anh chị em đồng loại. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa nói với dân Ít-ra-en, những người bị lưu đày ở Ba-by-lon: "Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt" (Ed 11,19). Trong Tân Ước, thánh Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm của ngài như sau: "Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống" (2 Cr 3,6). Ngài mời gọi các tín hữu biết cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần để trái tim đủ điều kiện được 'khắc ghi Tin Mừng': "Anh em là bức thư của Đức Ki-tô được giao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người" (2 Cr 3,3). Khi 'bức thư của Đức Ki-tô' được viết bằng Thần Khí vào trái tim mình cũng là khi mình có thể trở thành môn đệ và tông đồ trung tín của Người giữa dòng đời.

Là người Do-thái sùng đạo và nhiệt thành đến mức bách hại các Ki-tô hữu, chắc rằng trước khi gặp gỡ Đức Giê-su phục sinh, Phao-lô cũng đã phân định theo lương tâm về Lề Luật của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Tuy nhiên, sau khi gặp gỡ Đức Giê-su phục sinh, cách phân định của ngài được đổi mới hoàn toàn: Ngài không còn dựa vào sự công chính do Lề Luật nhưng dựa vào Đức Giê-su phục sinh và Thần Khí của Người. Điều này được ngài xác quyết: "Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người" (Pl 3,7-9). Nói cách khác, từ khi gặp gỡ Đức Giê-su phục sinh và được Tin Mừng của Người cảm hóa trong sự hướng dẫn của Thần Khí, thánh nhân đã biến đổi tận căn đến nỗi ngài 'bị Đức Giê-su phục sinh chiếm hữu'. Ngài bày tỏ cho mọi người được biết: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi" (Gl 2,20) hay "đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi" (Pl 1,21).

Trong thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô trình bày về kinh nghiệm phân định sứ vụ loan báo Tin Mừng như sau: "Sau mười bốn năm, tôi lại lên Giê-ru-sa-lem một lần nữa cùng với ông Ba-na-ba; tôi cũng đem theo anh Ti-tô đi với tôi. Tôi lên đó vì được Thiên Chúa mặc khải, và đã trình bày cho người ta Tin Mừng tôi rao giảng cho dân ngoại, cách riêng cho các vị có thế giá, vì sợ rằng tôi ngược xuôi, và đã ngược xuôi vô ích" (Gl 2,1-2). Thánh nhân luôn đặt 'bức tranh nhỏ' của bản thân trong 'bức tranh lớn' của Giáo Hội về sứ mệnh loan báo Tin Mừng (1 Cr 12,12–27; Cl 1,24–25). Điều này có nghĩa là ngài luôn phân định và ý thức về Tin Mừng mà ngài lãnh nhận, đồng thời, ngài cộng tác với các chứng nhân khác hầu làm cho Tin Mừng ngày càng lan rộng và trở thành lẽ sống cho muôn người. Đặc biệt, ngài luôn ý thức về các mầm mống sai lạc, chia rẽ hay xuyên tạc, để cổ võ tinh thần hiệp thông, xây dựng nơi các cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ (1 Cr 1,10–11; Rm 16,17–18).

Việc loan báo Tin Mừng cho muôn dân được thực hiện trong tiến trình phân định theo giáo huấn Đức Giê-su để Tin Mừng luôn được loan báo hầu giúp mọi người hoán cải và sống theo giáo huấn của Người. Sách Tông Đồ Công Vụ cho chúng ta biết: Một mặt, cộng đoàn Ki-tô hữu trong Giáo Hội sơ khai nhận thức sự cần thiết phải loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc trong gia đình nhân loại; mặt khác, họ trăn trở với những câu hỏi khó khăn, chẳng hạn như: 'Bằng cách nào để việc loan báo Tin Mừng đạt hiệu quả nhất?', 'đâu là những thực tại tốt lành nơi các truyền thống tôn giáo cần được tích hợp hay hội nhập và đâu là những thực tại cản trở việc loan báo Tin Mừng cần được thanh luyện hay biến đổi?', 'bằng cách nào để Tin Mừng thấm nhập vào một nền văn hóa mà không làm phương hại đến những giá trị tốt lành của nền văn hóa đó?'. Quả thật, phân định để loan báo Tin Mừng của Giáo Hội sơ khai trong bối cảnh đối diện với ba thực tại – 'tôn giáo (Do-thái Giáo), văn hóa (Hy-lạp) và xã hội (Rô-ma)' – không phải là việc dễ dàng hay thuận tiện.

Theo dòng thời gian, việc loan báo Tin Mừng cho muôn dân muôn nước bao gồm việc phân định để nhận diện 'những hạt giống Lời Chúa' (semina Verbi/ seeds of the Word) nơi các dân tộc cũng như các nền văn hóa. Thực ra, ý tưởng về 'những hạt giống Lời Chúa' đã được các giáo phụ đề cập và diễn tả rất sớm trong đời sống Giáo Hội, chẳng hạn như thánh Giút-ti-nô tử đạo (Justin Martyr, 100-165). Ngài viết về Đức Giê-su như sau: "Người chính là Ngôi Lời, Đấng mà mọi chủng tộc loài người đều được tham dự. Vì thế, những ai sống hợp với lý trí đều là Ki-tô hữu, cho dù họ đã bị coi là vô thần" (First Apology 46). Công Đồng Vatican II khẳng định: "Những kẻ vô tình không nhận biết Phúc Âm của Chúa Ki-tô và Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn Thánh Ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm, thì họ có thể được cứu rỗi" (LG 16). Cũng theo Công Đồng Vatican II: "Chúa Thánh Thần là Ðấng kêu gọi mọi người đến với Chúa Ki-tô, thúc đẩy tâm hồn họ vâng phục đức tin nhờ hạt giống Lời Chúa và việc rao giảng Phúc Âm. Chính khi Ngài sinh những kẻ tin Chúa Ki-tô trong lòng Giếng Rửa Tội để sống đời sống mới, Ngài tập họp họ thành một Dân Chúa duy nhất" (AG 15).

Người loan báo Tin Mừng cần bước theo Đường của Đức Giê-su để phân định và nhận diện những khó khăn của những người đón nhận Tin Mừng. Một mặt, người loan báo Tin Mừng cần trung tín với nội dung đức tin Ki-tô Giáo. Mặt khác, họ cần phân định để ngày càng hiểu biết hơn về bối cảnh văn hóa của người đón nhận Tin Mừng. Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô xác tín: "Chỉ mình Thần Khí mới có thể thấu suốt những gì mờ tối và ẩn giấu trong từng hoàn cảnh, và nắm bắt mọi sắc thái của chúng, để sự mới mẻ của Tin Mừng có thể xuất hiện dưới một ánh sáng khác" (Gaudete et Exsultate 173). Theo Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, các chứng nhân của Tin Mừng Đức Giê-su luôn xác tín rằng Tin Mừng Đức Giê-su không xa lạ với bất cứ nền văn hóa nào trong gia đình nhân loại (Evangelii Nuntiandi 20). Do đó, Tin Mừng của Người có khả năng biến đổi cả con người lẫn môi trường văn hóa, để giúp con người ngày càng sống xứng hợp hơn với phẩm giá cao quý của mình trong sự tôn trọng, thanh luyện và hội nhập các giá trị văn hóa.

Trong Chúa Thánh Thần, các môn đệ Đức Giê-su được mời gọi phân định để đóng góp phần mình trong việc loan báo Tin Mừng. Công Đồng Vatican II chỉ rõ rằng loan báo Tin Mừng thuộc bản tính của Giáo Hội lữ hành bởi vì Giáo Hội "bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo Ý Ðịnh của Thiên Chúa Cha" (AG 2). Do đó, loan báo Tin Mừng thuộc về bản tính của các cá nhân cũng như các hình thức cộng đoàn trong Giáo Hội. Là cộng đoàn của các môn đệ Đức Giê-su, Giáo Hội luôn được mời gọi quan tâm cách đặc biệt trong việc phân định mang tính Giáo Hội (ecclesial discernment), nghĩa là sự phân định của toàn thể Dân Chúa trong sứ mệnh tiếp tục diễn tả Biến Cố Đức Giê-su giữa dòng đời. Như đã đề cập ở trên, hình thức phân định này đặt nền tảng trên cảm thức đức tin của toàn thể Dân Chúa (sensus fidei fidelium). Dĩ nhiên, cảm thức đức tin này liên kết mật thiết, được thể hiện và diễn tả nơi cảm thức đức tin của từng tín hữu (sensus fidei fidelis).

Việc loan báo Tin Mừng giúp con người biết phân định và bước theo Đức Giê-su, nhờ đó không ngừng đổi mới tương quan của mình với Thiên Chúa, với tha nhân và với toàn thể thụ tạo. Dưới nhãn quan Tin Mừng, nhất là của thánh Phao-lô, ơn cứu độ mà Đức Giê-su mang lại không chỉ cho con người mà còn cho toàn thể thụ tạo (Rm 8,19-22). Điều này có nghĩa là nhờ Biến Cố Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại, toàn thể thụ tạo cũng được biến đổi và quy hướng về Thiên Chúa. Chiều kích hoàn vũ của ơn cứu độ (universal salvation) được thánh nhân đề cập khá nhiều trong các thư của ngài, chẳng hạn như: "Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất" (Cl 1,19-20) hay: "Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: Thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô" (Ep 1,9-10). Công Đồng Vatican II mời gọi mọi người hãy yêu mến toàn thể thụ tạo: "Bởi vì đã được Chúa Ki-tô cứu chuộc và được biến đổi thành tạo vật mới trong Chúa Thánh Thần, nên con người có thể và phải yêu mến chính các tạo vật do Thiên Chúa dựng nên" (GS 37). Quả thật, vì yêu thương con người, Đức Giê-su đã mang lấy những yếu tố thụ tạo để đồng lao cộng khổ với con người giữa thế giới thụ tạo. Nhờ đó, ơn cứu độ của Người vừa cho con người được tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa, vừa làm cho toàn thể thụ tạo được biến đổi theo kế hoạch yêu thương của Người trong viễn tượng quy tụ tất cả trong Đức Ki-tô.

 

Kết Luận

Phân định gắn liền với đời sống con người trong mọi thời, khắp mọi nơi và các hình thức phân định thật đa dạng: Từ phân định cá nhân đến phân định cộng đoàn, từ phân định nhân bản đến phân định thiêng liêng, từ phân định tự nhiên đến phân định siêu nhiên. Dưới nhãn quan mặc khải Ki-tô Giáo, con người là thụ tạo cao cả của Thiên Chúa giữa toàn thể thụ tạo. Thiên Chúa không chỉ dựng nên con người theo hình ảnh Người mà còn ban cho con người tự do phân định để làm chủ vận mệnh bản thân. Tuy nhiên, vì vô ơn, kiêu ngạo, con người đã bất tuân huấn lệnh của Thiên Chúa và tội lỗi đã xâm nhập trần gian. Hậu quả là con người phải mang những giới hạn của thân phận sa ngã, chẳng hạn như tim đen, trí mọn, tài hèn, sức yếu. Vì thế, tự mình, con người không thể phân định đúng đường lành, đúng phương thế và đúng hướng đi.

Thiên Chúa hằng yêu thương và mặc khải chương trình cứu độ của Người. Bằng nhiều cách thế, nhất là qua các giao ước với dân Ít-ra-en, Thiên Chúa mời gọi con người biết phân định để trung tín với Người. Nhân danh Thiên Chúa, các ngôn sứ giúp dân Ít-ra-en phân định để hoán cải, sống công minh chính trực, từ bỏ tà thần. Để được như vậy, họ cần gắn bó với Thiên Chúa, hiệp thông với Người và xin Người ban ơn khôn ngoan, nhờ đó có thể trung thành với các huấn lệnh của Người. Các giao ước, Luật Mô-sê, lời ngôn sứ cũng như truyền thống khôn ngoan Cựu Ước giúp mọi người phân định và hướng về Đức Giê-su, Đấng đến trần gian để thi hành thánh ý Thiên Chúa, giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết, đồng thời ban tặng sự sống vĩnh cửu cho những ai tin tưởng, yêu mến và hy vọng vào Người.

Trong Chúa Thánh Thần, hành trình trần thế của Đức Giê-su là hành trình hướng về Chúa Cha để lắng nghe, cầu nguyện và phân định. Người luôn phân định dựa trên lời của Thiên Chúa để có thể chống lại các hình thức cám dỗ của ma quỷ, thế gian, xác thịt. Mọi lời nói và việc làm trong đời sống trần thế của Đức Giê-su luôn là nguyên lý, mô thức và tiêu chuẩn cho mọi hình thức phân định của con người trong gia đình nhân loại. Nói cách khác, phân định theo mẫu gương Đức Giê-su giúp con người vượt qua mọi rào cản hay nghịch lý cũng như muôn hình thức khó khăn trong đời sống mình. Do đó, ai hiệp thông với Người thì sống trong bình an của Người, sự bình an mà thế gian không thể ban tặng vì được Thần Khí của Người đồng hành, hướng dẫn và chở che trên mọi nẻo đường.

Đức Giê-su là Đường của Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại và Đường của Người là Đường Phân Định. Những trình bày trên đây cho phép chúng ta xác tín rằng phân định theo Đường của Đức Giê-su giúp con người ngày càng trưởng thành hơn trong các chiều kích của đời sống mình. Để có thể phân định theo Đường của Đức Giê-su, mọi người được mời gọi đến với Người, bước đi trong ánh sáng của Người, ánh sáng thường hằng bất biến giữa thế giới thụ tạo hữu hạn, chóng qua và không ngừng luân chuyển. Đặc biệt, là chứng nhân của Đường Phân Định, những ai mang danh hiệu Ki-tô hữu, nghĩa là môn đệ, tông đồ và bạn của Đức Giê-su thì được mời gọi luôn sống xứng hợp với danh nghĩa của mình giữa những biến đổi, bấp bênh, bất định của thế sự để loan báo Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại.