Dẫn Nhập

1. KHÁI NIỆM LẮNG NGHE

2. LẮNG NGHE LỜI THIÊN CHÚA TRONG CỰU ƯỚC

2.1 Lắng Nghe Lời Thiên Chúa Qua Giao Ước Và Lề Luật

2.2 Lắng Nghe Lời Thiên Chúa Qua Các Ngôn Sứ

2.3 Lắng Nghe Lời Thiên Chúa – Nền Tảng Khôn Ngoan

3. LẮNG NGHE LỜI THIÊN CHÚA TRONG TÂN ƯỚC

3.1 Đức Giê-su Và Lời Cựu Ước

3.2 Đức Giê-su Lắng Nghe Chúa Cha

3.3 Đức Giê-su Lắng Nghe Lời Con Người

4. THEO ĐƯỜNG LẮNG NGHE CỦA ĐỨC GIÊ-SU

4.1 Đức Giê-su – Đường Lắng Nghe

4.2 Sống Theo Đường Lắng Nghe

4.3 Loan Báo Tin Mừng Đường Lắng Nghe

Kết Luận


Dẫn Nhập

Nội dung đức tin Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng ngay từ khi con người hiện hữu trong lịch sử cũng là lúc Thiên Chúa mặc khải thánh ý Người. Một trong những chủ đề xuyên suốt Kinh Thánh là 'lắng nghe': Thiên Chúa lắng nghe tiếng kêu cầu của con người và con người lắng nghe lời Thiên Chúa. Con người có thể lắng nghe lời Thiên Chúa theo nhiều cách thức khác nhau chẳng hạn như qua Kinh Thánh, qua lương tâm bản thân, qua đời sống thinh lặng, qua anh chị em, qua những người không cùng niềm tin, qua đau khổ, qua thử thách, qua các biến cố trong xã hội và qua thế giới thụ tạo. Giữa lòng trần thế, con người luôn phải đương đầu với nhiều thách đố trong việc lắng nghe bởi vì sự xáo động không chỉ từ thế giới bên ngoài mà còn từ thế giới nội tâm. Những cám dỗ của ma quỷ, thế gian, xác thịt và vô số hình thức bóng tối trong đời sống thể chất và tinh thần làm cho con người khó có thể lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa cách xứng hợp.

Mặc khải Thiên Chúa trong Cựu Ước được diễn tả dưới nhiều hình thức khác nhau và được lưu giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, chủ yếu qua hình thức truyền khẩu trước khi được ghi chép, được thu thập và được biên soạn thành văn bản. Nói cách khác, lời Thiên Chúa đến với con người qua việc lắng nghe, đượcghi tạc vào trái tim và đượcchia sẻ trong đời sống cộng đoàn trước khi được đúc kết và thông truyền qua muôn thế hệ. Lắng nghe trở thành nét đặc trưng của nền văn hóa Do-thái được thể hiện trong tương quan giữa họ với Thiên Chúa và với nhau. Đặc biệt, sự gặp gỡ và giao thoa giữa 'văn hóa lắng nghe' của người Do-thái và 'văn hóa suy tư' của người Hy-lạp đã ảnh hưởng lớn đến việc định hình tín lý, đời sống đức tin và tư duy thần học Ki-tô Giáo.

Lời mở đầu của tác giả thư gửi các tín hữu Do-thái như sau: "Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử" (Dt 1,1-2). Thiên Chúa phán dạy và con người lắng nghe. Tuy nhiên, sự lắng nghe của con người thường không đồng nhịp với lời phán dạy của Thiên Chúa. Khi thời gian tới hồi viên mãn, Ngôi Lời Thiên Chúa đã đến với con người để nhân danh con người mà lắng nghe Thiên Chúa theo cách thức phù hợp và hoàn hảo nhất. Quả thật, trong thân phận con người, Đức Giê-su không đặt mình bên ngoài hoặc bên trên gia đình nhân loại nhưng ở giữa lòng gia đình nhân loại. Đối với Đức Giê-su, lắng nghe trở thành hành vi thờ phượng Thiên Chúa trong khiêm tốn, vâng phục và dâng hiến. Người không chỉ dạy con người biết lắng nghe Thiên Chúa mà còn trở thành mô phạm, khuôn mẫu và nguyên lý sống động cho phép mọi người học hỏi để lắng nghe và thiết lập tương quan hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa.

Chủ đề bài viết 'Đức Giê-su Ki-tô – Đường Lắng Nghe' sẽ được khai triển theo các mục chính như sau: (1) Khái Niệm Lắng Nghe; (2) Lắng Nghe Lời Thiên Chúa Trong Cựu Ước (3); Lắng Nghe Lời Thiên Chúa Trong Tân Ước và (4) Theo Đường Lắng Nghe Của Đức Giê-su. Việc khai triển chủ đề bài viết giúp chúng ta nhận thức rằng khi con người lắng nghe, hiểu biết, thực hành và loan báo lời Thiên Chúa cũng là khi con người có thể thiết lập mối tương quan hòa hợp giữa các chiều kích nơi bản thân mình, hòa hợp với anh chị em đồng loại, hòa hợp với vạn vật và nhất là hòa hợp với Thiên Chúa.

1. KHÁI NIỆM LẮNG NGHE

Trong tiếng Do-thái, שָׁמַע (shāmaʿ) có nhiều nghĩa, chẳng hạn như nghe, lắng nghe, hiểu, vâng phục hay đáp lại bằng hành động. Nghe lời Thiên Chúa cũng có nghĩa là vâng phục Người. Đối với dân Do-thái, lắng nghe Thiên Chúa giữ vị trí hàng đầu trong đời sống đức tin. Động từ שָׁמַע (shāmaʿ) của tiếng Do-thái tương đương với động từ ἀκούω (akoúō) của tiếng Hy-lạp với nghĩa là tiếp nhận âm thanh, nghe bằng tai, nghe lời nói hay tin tức. Trong bối cảnh Kinh Thánh, ἀκούω (akoúō) còn có nghĩa là lắng nghe bằng trái tim, nghe với hàm ý biểu lộ niềm tin và tâm tình vâng phục. Trong Tân Ước, động từ này thường được sử dụng để diễn tả việc nghe hoặc lắng nghe lời Thiên Chúa, lắng nghe lời Đức Giê-su, lắng nghe Tin Mừng của Người hay lắng nghe sứ điệp của các môn đệ Đức Giê-su rao giảng. Động từ ὑπακούω (hypakoúō), được cấu tạo bởi ὑπό (dưới) và ἀκούω (nghe), có nghĩa là nghe trong tư thế kẻ ở dưới, tương đương với 'vâng phục', 'tuân lệnh' (Rm 1,5; Pl 2,8).

Bên cạnh động từ שָׁמַע (shāmaʿ), Cựu Ước còn sử dụng một số động từ và hình ảnh liên quan đến việc lắng nghe, chẳng hạn như: הִקְשִׁיב (hiqšîb – chú tâm lắng nghe), diễn tả thái độ tập trung nội tâm và sẵn sàng đáp lại (Cn 4,20; Is 51,4); הֶאֱזִין (he’ĕzîn – lắng tai nghe), nhấn mạnh đến sự mở lòng đón nhận lời được phán (Is 1,2). Động từ שָׁמַר (shāmar – giữ, tuân giữ) thường đi đôi với שָׁמַע cho thấy lắng nghe đích thực bao hàm việc ghi nhớ và trung thành thực hành lời đã nghe (Đnl 6,4-6; Tv 119,33-34). Động từ בִּין (bîn – hiểu, phân định) bổ sung chiều kích trí tuệ của việc lắng nghe, nhấn mạnh rằng nghe lời Thiên Chúa dẫn tới sự hiểu biết khôn ngoan (Cn 2,1-5). Ngoài ra, hình ảnh 'mở tai' hay 'tai được khai mở' thường được dùng để diễn tả hành vi Thiên Chúa ban khả năng lắng nghe cho con người (Is 50,4-5; Tv 40,7).

Trong Tân Ước, bên cạnh động từ ἀκούω (akoúō) và ὑπακούω (hypakoúō), động từ δέχομαι (déchomai – đón nhận) cũng được sử dụng để diễn tả việc tiếp nhận lời Thiên Chúa với thái độ sẵn sàng và tin tưởng (1 Tx 2,13; 2 Cr 7,15). Động từ τηρέω (tēréō – giữ, tuân giữ) diễn tả chiều kích thực hành của việc lắng nghe, nhấn mạnh rằng ai thực sự lắng nghe 'lời' thì cũng 'giữ' và sống theo lời ấy (Ga 14,23). Động từ πιστεύω (pisteúō – tin) thường gắn liền với hành vi nghe, cho thấy lắng nghe đích thực dẫn tới đức tin và sự gắn bó với Đức Ki-tô (Rm 10,17). Động từ ποιέω (poiéō – thực hành), đặc biệt trong giáo huấn của Đức Giê-su, nhấn mạnh rằng người nghe lời mà không thực hành thì chưa thực sự lắng nghe (Mt 7,24-26; Lc 8,21). Như vậy, trong viễn tượng Kinh Thánh, lắng nghe không dừng lại ở hành vi thụ động, nhưng luôn hướng tới việc đón nhận, ghi nhớ, tin tưởng và thi hành.

Từ vâng phục (obedience) trong tiếng Anh, dẫn xuất từ tiếng La-tinh, có liên hệ với động từ oboedire/ obedire, vốn được hình thành từ tiền tố 'ob' và động từ audire. Trong đó, 'ob' mang nghĩa 'hướng về' hay ‘quy hướng tới' (toward, in the direction of), còn 'audire' nghĩa là 'nghe' hay 'lắng nghe' (to hear, to listen). Như vậy, oboedire/ obedire diễn tả việc 'lắng nghe theo hướng quy phục', tức là 'lắng nghe để tuân thủ và đáp lại'. Từ động từ này phát xuất danh từ oboedientia (obedience, sự vâng phục, đức vâng phục). Tương đương từ gốc trong tiếng Hy-lạp như đề cập ở trên, danh từ ὑπακοή (hypakoē) mang sắc thái vâng phục gắn liền với hành vi nghe. Trong bối cảnh Kinh Thánh, nghe, lắng nghe gần như đồng nghĩa với vâng phục. Như vậy, nghe bao hàm thi hành thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh và yêu thương nhau theo cách thức Thiên Chúa yêu thương con người: Tình yêu hy sinh, tình yêu quên mình, tình yêu tự hiến. Ai lắng nghe Thiên Chúa cách chân thành thì cũng là người vâng phục Thiên Chúa và ngược lại. Người lắng nghe Thiên Chúa là người có cuộc sống phù hợp với lời Người. Do đó, lắng nghe và vâng phục luôn song hành với nhau: 'Ai lắng nghe thì vâng phục' và 'ai vâng phục thì lắng nghe'.

Như nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới, nghe (hear) và lắng nghe (listen) được phân biệt nhau. 'Nghe' xảy ra khi tiếng động đến tai, nghĩa là khả năng cảm nhận âm thanh một cách tự nhiên của con người trước những âm thanh xung quanh. 'Nghe' có thể hiểu như là bước đầu, là cánh cửa mở vào tâm hồn khi tai con người có thể tiếp cận nhiều thứ tiếng khác nhau. Nói cách khác, nghe là khả năng nhận diện tiếng động và tự bản chấtkhông quan tâm đến ý nghĩa tiếng động đó; còn 'lắng nghe' nghĩa là nghe với chủ ý để hiểu các thực tại khác nhau hay phân biệt nhau và để áp dụng vào đời sống, nghe để thưởng thức, chẳng hạn như con cái nghe lời cha mẹ hay nghe một bài giảng, một bản nhạc hoặc một câu chuyện. Lắng nghe không chỉ chạm đến trí não mà còn chạm đến con tim, chạm đến miền sâu thẳm nhất của lòng trí con người như thánh Au-gút-ti-nô giải thích về tương quan giữa Gio-an Tẩy Giả là tiếng (voice) và Đức Giê-su là Lời (Word) trong bài giảng của thánh nhân vào dịp mừng sinh nhật thánh Gio-an Tẩy Giả (Augustine, Sermon 293).

Chúng ta biết rằng 'nghe' là phản xạ tự nhiên của con người đối với tiếng động. Trong khi đó, lắng nghe là tiến trình có ý thức, bao gồm việctiếp xúc, cảm nhận, lượng định, ghi nhớ hầu làm cho điều mình lắng nghe trở thành thành phần quan trọng trong đời sống. Lắng nghe cũng có nhiều cung bậc khác nhau. Chẳng hạn, một số hình thức lắng nghe căn bản trên phương diện truyền thông là: Lắng nghe phân biệt (discriminative listening), lắng nghe phê phán (critical listening), lắng nghe thưởng thức (appreciative listening), lắng nghe chủ động (active listening), lắng nghe chăm chú (attentive listening), lắng nghe chọn lọc (selective listening), lắng nghe phản hồi (responsive listening). Một số hình thức lắng nghe căn bản trên phương diện tâm linh là: Lắng nghe nội tâm (internal listening); lắng nghe phân định (discernment listening), lắng nghe cầu nguyện (prayerful listening), lắng nghe suy niệm (meditative listening), lắng nghe chiêm niệm (contemplative listening).

Bộ Kinh Thánh Ki-tô Giáo được hình thành trong tiến trình lịch sử kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Tương tự như các sách Cựu Ước, các sách Tân Ước cũng được biên soạn sau thời gian truyền khẩu và hình thành dần trong đời sống đức tin cộng đoàn tiên khởi. Bốn sách Tin Mừng của Tân Ước được viết khá trễ so với các sách khác, chẳng hạn: Mác-cô (khoảng năm 65 đến 70); Mát-thêu (khoảng 80 đến 85); Lu-ca (khoảng 80 đến 90); Gio-an (khoảng 90 đến 100). Như vậy, những người Do-thái lắng nghe lời Thiên Chúa trước khi các sách Cựu Ước được biên soạn; các Ki-tô hữu tiên khởi lắng nghe lời Đức Giê-su qua các chứng nhân Tin Mừng trước khi Tin Mừng được viết ra. Trong lịch sử Giáo Hội, 'văn hóa lắng nghe Tin Mừng' có trước 'văn hóa đọc Tin Mừng'. Trước khi Johannes Gutenberg (1400–1468) phát minh ra kỹ thuật in bằng chữ rời, lời Thiên Chúa đến với hầu hết các Ki-tô hữu bởi 'lắng nghe' hơn là các hình thức truyền thông khác. Điều này có nghĩa là con người lắng nghe Kinh Thánh trước khi đọc và chú giải.

Lắng nghe lời Thiên Chúa không phải là biến cố nhất thời nhưng là tiến trình liên lỉ bởi vì con người luôn phải đối diện với những thực tại mới, bối cảnh mới và tự sức mình không thể thực hiện cách hiệu quả. Lắng nghe lời Thiên Chúa giúp con người biết suy nghĩ, chọn lựa và hành động cách đúng đắn. Nhờ lắng nghe lời Thiên Chúa, con người được mời gọi để hoán cải, hiệp thông và đáp lại thánh ý Người. Thời gian và cách thức lắng nghe lời Thiên Chúa quyết định cách thức hành động cũng như hiệu quả của hành động ấy. Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng càng lắng nghe lời Thiên Chúa cách chăm chú bao nhiêu, con người càng chu toàn công việc tốt bấy nhiêu. Chẳng hạn, thánh Lu-ca trình thuật rằng sau khi lắng nghe lời Đức Giê-su, các môn đệ vâng lời Người để ra chỗ nước sâu thả lưới và họ đã bắt được rất nhiều cá (Lc 5,4-7). Khả năng lắng nghe giúp con người gia tăng sức sống và sức bền nội tâm hầu có thể đương đầu với muôn nghịch cảnh của cuộc sống. Do đó, cuộc đời các Ki-tô hữu phải là cuộc đời lắng nghe lời Thiên Chúa. Chẳng hạn, các Ki-tô hữu không thể nghe một đoạn Tin Mừng và hiểu đoạn Tin Mừng đó 'một lần cho tất cả'. Trái lại, các Ki-tô hữu nghe từ lần này tới lần khác và mỗi lần như vậy càng khám phá sâu hơn các sứ điệp Tin Mừng và ý thức rõ hơn về lời mời gọihoán cải bản thân sao cho phù hợp với tư cách chứng nhân của Người.

Để có thể lắng nghe, con người cần phải biết thinh lặng. Thinh lặng chính là cách thức lắng nghe hữu hiệu nhất. Quả thật, Thiên Chúa thường tự mặc khải trong thinh lặngvà ngôn ngữ của Thiên Chúa là ngôn ngữ thinh lặng. Ai không có khả năng thinh lặng thì cũng không có khả năng lắng nghe và ngược lại. Ai không học ngôn ngữ của Thiên Chúa, ngôn ngữ thinh lặng, thì cũng khó có thể giao tiếp với Người. Khi con người biết thinh lặng cũng là khi con người biết mở lòng đón nhận thánh ý Thiên Chúa đối với bản thân mình. Thinh lặng có thể được hiểu như nghệ thuật lắng nghe (the art of listening) lời Thiên Chúa. Chẳng hạn, để có thể chia sẻ lời Thiên Chúa cho người khác, người chia sẻ phải dành thời gian thinh lặng, suy niệm, chiêm niệm trước khi có thể truyền đạt những gì mình đã kinh nghiệm cho người khác. Tác giả sách Châm Ngôn viết: "Nếu biết giữ thinh lặng, kẻ ngu cũng được kể là người khôn ngoan; nếu biết ngậm môi, kẻ đó được coi là người thông hiểu" (Cn 17,28). Thông thường người ta nói rằng Thiên Chúa 'thinh lặng', 'ẩn mình' hay 'vắng mặt'; nhưng thực ra, Thiên Chúa không bao giờ thinh lặng, ẩn mình hay vắng mặt, bởi vì: "Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành!" (Tv 121,4).

Một trong các hình thức thinh lặng đặc biệt trong Ki-tô Giáo được gọi là 'thinh lặng thánh' (sacred silence): Hình thức thinh lặng này giúp con người lớn lên trong sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Đây là hình thức thinh lặng nội tâm, nghĩa là hình thức thinh lặng giúp con người vượt qua những ồn ào, xao động trong đời sống tâm linh cũng như trong đời sống xã hội. Người thinh lặng ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, bởi vì: "Đức Chúa, Người ngự trong thánh điện, toàn thể cõi đất, hãy thinh lặng trước nhan Người!" (Kb 2,20). Thinh lặng thánh không đòi hỏi những thể hiện bên ngoài nhưng mời gọi con người chú tâm vào những gì bên trong, đồng thời, ý thức và tín thác rằng chính Thiên Chúa hiện diện và nâng đỡ mình. Quả thật, việc gặp gỡ và lắng nghe lời Thiên Chúa trong thinh lặng có khả năng biến đổi và củng cố nội tâm con người trước những khó khăn, thử thách hay gian truân cuộc sống.

Kinh nghiệm của các thánh trong dòng lịch sử Giáo Hội cho chúng ta nhận thức rằng lắng nghe lời Thiên Chúa bằng trái tim còn quan trọng hơn lắng nghe bằng đôi tai thể lý của mình. Người lắng nghe không chỉ chú tâm tới những gì được phát ra cách rõ ràng mà còn để tâm đến môi trường và bối cảnh những gì mình nghe cũng như đến cả những gì không được nói ra nhưng mình có thể hiểu được tâm hồn và những điều mà người nói muốn diễn tả. Điều này có nghĩa rằng người lắng nghe cần quan tâm không chỉ đến mọi lời mình nghe mà còn đến sứ điệp cốt lõi được chuyển tải qua những lời ấy, nhất là những hệ quả phát sinh từ điều mình nghe. Chỉ khi ấy, việc lắng nghe mới đem lại hiệu quả thiết thực bởi lẽ nhiều khi điều không được nói ra từ phía người nói lại quan trọng gấp bội so với những lời đã được thốt ra.

Lắng nghe và hiểu biết luôn đi đôi với nhau. Là con người, ai cũng có kinh nghiệm rằng người chú tâm lắng nghe cũng là người hiểu biết sâu sắc hơn về chủ đề đang được nói tới. Tương tự như vậy, người thành tâm lắng nghe lời Thiên Chúa cũng là người hiểu biết lời Người nhiều hơn và khi hiểu biết lời Người nhiều hơn, họ lại càng khao khát lắng nghe thêm nữa. Khi lắng nghe lời Thiên Chúa trở thành thói quen cũng là khi con người biết đặt niềm tin tưởng, hy vọng và lòng yêu mến nơi Thiên Chúa.

Lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa thật quan trọng. Chúng ta có thể nói rằng lắng nghe đem lại cho con người tâm hồn bình an và giúp con người làm việc cách hiệu quả. Lắng nghe lời Thiên Chúa thế nào thì thực hành lời Thiên Chúa như vậy. Người không biết lắng nghe lời Thiên Chúa cách xứng hợp thì làm sao có thể thực hành lời Người cách trọn vẹn được? Người không bao giờ lắng nghe lời Thiên Chúa thì làm sao có thể kết hiệp với Người được? Người xem lời Thiên Chúa là thứ yếu thì làm sao có thể lớn lên trong đời sống tâm linh được? Người lắng nghe lời Thiên Chúa nhưng không đem ra thực hành thì làm sao có thể tiến triển trong đức tin được? Quả thật, lắng nghe và thực hành luôn gắn bó mật thiết với nhau; lắng nghe mở đường cho thực hành, còn thực hành chứng thực cho sự lắng nghe.

Trong Tông Huấn 'Hãy Vui Mừng và Hân Hoan' (Gaudete et Exsultate, 2018), Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết: "Chỉ khi sẵn sàng lắng nghe, chúng ta mới có được sự tự do để gác lại những ý tưởng phiến diện hoặc chưa đầy đủ của mình, những thói quen quen thuộc và những lối nhìn quen dùng. Nhờ đó, chúng ta thực sự mở lòng để đón nhận một lời mời gọi có thể làm tan vỡ sự an toàn của chúng ta nhưng lại dẫn đưa chúng ta tới đời sống tốt đẹp hơn" (Gaudete et Exsultate 172). Quả thật, cách thức con người lắng nghe lời Thiên Chúa định hình cách thức con người thiết lập tương quan với Người. Điều này có nghĩa là khi con người thành tâm lắng nghe lời Thiên Chúa thì cũng là lúc con người thực sự đi vào mối tương quan liên vị với Người. Do đó, dù khả năng hiểu biết của con người thật giới hạn nhưng khi con người đến với Thiên Chúa bằng cả tâm hồn chân thành, Thiên Chúa luôn rộng lòng nâng đỡ. Nhờ vậy, niềm tin của con người vào Thiên Chúa ngày càng được tiến triển. Tương tự như vậy, niềm cậy trông của con người vào Thiên Chúa ngày càng vững mạnh hơn. Hiệu quả là tình yêu của con người với Thiên Chúa, với nhau và với muôn vật muôn loài sinh hoa kết quả dồi dào.

Con người có thể lắng nghe lời Thiên Chúa qua thế giới thụ tạo, bởi vì: "Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm. Ngày qua mách bảo cho ngày tới, đêm này kể lại với đêm kia. Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh, mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển" (Tv 19,2-5). Thiên Chúa lắng nghe 'tiếng kêu' muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo và Người cho chúng ăn đúng thời đúng buổi (Tv 145,15–16). Thiên Chúa chăm sóc những con quạ (G 38,41); Thiên Chúa đáp lời trời, đất, lúa mì và rượu mới (Hs 2,23-24); Người ban sự sống cho muôn vật muôn loài (G 12,7-10); Người không để những con chim trời bị đói khát (Mt 6,26). Trong buổi tiếp kiến chung (26.01.2000), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói: “Đối với người tín hữu, chiêm ngắm thụ tạo cũng là lắng nghe một sứ điệp, là lắng nghe tiếng nói huyền nhiệm và thinh lặng". Những hình ảnh thế giới thụ tạo giúp con người hiểu biết hơn về sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, chẳng hạn như khi mặc khải về Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su nói với Ni-cô-đê-mô: "Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu" (Ga 3,8).

Trong thế giới kỹ thuật số (the digital world) hôm nay, các hình thức âm thanh trở nên dồi dào đến mức con người bị 'ù tai'. Quả thật, trong thế giới này, con người 'bị buộc phải nghe' hơn là 'chú tâm lắng nghe'. Điều này có nghĩa là con người phải 'nghe' mà không 'lắng', nghe mà không có nhiều thời gian, nhiệt huyết hay khát vọng để lắng đọng và tìm ra ý nghĩa nơi những điều mình nghe. Như thế, con người dần không còn khoảng trống nội tâm cho việc hiểu biết, tích hợp và phân định những điều hữu ích cho bản thân mình. Lắng nghe hiệu quả giúp con người nhận biết những điều 'xa lạ', những điều mà, tự thân, khả năng hay kinh nghiệm vốn có của mình không thể tiếp cận. Lắng nghe hiệu quả giúp con người hướng về anh chị em mình để tìm hiểu, nâng đỡ và tỏ lòng bác ái, chia vui sẻ buồn với mọi người, nhất là những người đang trong tình trạng nghèo khó, thiếu thốn, bệnh tật hay đang phải đối diện với muôn hình thức đau khổ. Lắng nghe hiệu quả giúp con người nắm bắt cơ hội để hoán cải và đổi mới bản thân, đồng thời được vững mạnh hay can đảm hơn khi phải đối diện với muôn hình thức sợ hãi, thách đố hay nghịch cảnh.

Để có thể lắng nghe cách xứng hợp, mọi người được mời gọi lắng nghe Chúa Thánh Thần, nhất là đối thoại với nhau trong Chúa Thánh Thần. Ở đâu việc lắng nghe và đối thoại trong Chúa Thánh Thần được quan tâm và trân trọng, ở đó con người tìm được niềm an ủi, hy vọng và hướng đi phù hợp cho bản thân cũng như như góp phần phát triển và kiện toàn cộng đoàn. Lắng nghe Chúa Thánh Thần giúp mọi người nhận diện rõ hơn tình trạng tâm hồn mình cũng như các môi trường hay hình thức sinh hoạt cộng đoàn mà mình tham dự. Trên bình diện cá nhân, trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: "Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa" (Rm 8,14). Trên bình diện cộng đoàn, ngài cho biết rằng các đặc sủng khác nhau nơi mỗi cá nhân đều phát xuất từ cùng một Thần Khí và nhằm xây dựng Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô, trong đó mỗi người là chi thể phục vụ lợi ích chung của toàn thể (1 Cr 12,4-7).

2. LẮNG NGHE LỜI THIÊN CHÚA TRONG CỰU ƯỚC

2.1 Lắng Nghe Lời Thiên Chúa Qua Giao Ước Và Lề Luật

Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng, ngay từ ban đầu, lệnh truyền Thiên Chúa dành cho con người đã mang chiều kích giao ước cùng với những giới hạn cụ thể như lời răn dạy của Người: "Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết" (St 2,16-17). Điều này cho thấy: Nếu con người lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa thì được sống; trái lại, nếu bất tuân thì phải chết. Khi người nữ nghe lời dụ dỗ của con rắn và đưa cho chồng cùng ăn 'trái cấm', họ rơi vào cảnh bất an, lo lắng, sợ hãi: "Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Đức Chúa là Thiên Chúa" (St 3,8). Đáng thương thay thân phận con người: Khi chưa phạm tội, nghe tiếng Thiên Chúa thì vui sướng bình an; khi đã phạm tội, nghe chính tiếng ấy lại trở nên bất an sợ hãi. Đức Chúa phán bảo con người: "Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng: 'Ngươi đừng ăn nó', nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra" (St 3,17). Như vậy, Tội Nguyên Tổ là 'tội bất tuân', nghĩa là con người không lắng nghe và không thực hành lời Thiên Chúa.

Theo các trình thuật của sách Sáng Thế, Thiên Chúa lắng nghe mọi người, nhất là những người đau khổ, bị bỏ rơi hay bị loại trừ. Chẳng hạn, bà Xa-rai đã già mà không sinh được đứa con nào cho Áp-ram. Vì thế, bà đã đem nữ tì người Ai-cập tên là Ha-ga cho ông, để bà ấy trở thành thứ thiếp của ông. Ha-ga đã có thai và sinh cho ông một người con tên là Ít-ma-ên (St 16,1–16). Sau đó, Đức Chúa cho ông biết rằng ông sẽ trở thành cha vô số dân tộc và Người đổi tên ông từ Áp-ram thành Áp-ra-ham (St 17,4–5). Đức Chúa cũng đổi tên vợ ông từ Xa-rai thành Xa-ra và hứa rằng chính bà sẽ sinh cho ông một người con trai (St 17,15–22). Quả thật, Đức Chúa đã thực hiện lời hứa của Người: Bà Xa-ra đã sinh một con trai và ông Áp-ra-ham đặt tên cho con là I-xa-ác (St 21,1–7). Trong cảnh khốn cùng, khi bị đẩy ra khỏi gia đình, Ha-ga đã kêu cầu Đức Chúa và Người đã lắng nghe bà, an ủi bà, đồng thời hứa cho dòng dõi bà nơi Ít-ma-ên được phát triển đông đảo: “Ta sẽ làm cho nó thành một dân tộc lớn” (St 21,18). Quả thật, Thiên Chúa lắng nghe và ban phúc cho kẻ công chính cũng như người tội lỗi, kẻ giàu cũng như người nghèo, kẻ quyền thế cũng như người thấp cổ bé miệng, kẻ tự do cũng như người nô lệ. Bởi vì, đối với Thiên Chúa, phẩm giá con người cao cả và bình đẳng, vượt trên mọi hình thức phân cấp xã hội do con người thiết đặt. Trước mặt Thiên Chúa, không ai là dân ngoại, không ai thánh thiện đến mức không cần hối cải và cũng không ai tội lỗi đến mức nằm ngoài 'biên giới' lòng thương xót của Người. Nói cách khác, dòng giống con người sau sa ngã luôn mang thân phận mong manh và cần đến sự nâng đỡ của Thiên Chúa.

Dưới nhãn quan mặc khải Cựu Ước, những người được Thiên Chúa tuyển chọn không chỉ lắng nghe và thi hành thánh ý Thiên Chúa trong truyền thống tôn giáo của mình mà còn lắng nghe nhiều người khác nữa bởi vì cả những người này cũng được ánh sáng Thiên Chúa chiếu soi tâm hồn để họ biết cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa. Chẳng hạn, theo sách Xuất Hành, nhạc phụ Mô-sê là Gít-rô, tư tế Ma-đi-an, không phải là tư tế theo Luật Mô-sê bởi vì vào thời điểm ấy Mô-sê chưa lãnh nhận mặc khải Thiên Chúa trên núi Si-nai. Ông Gít-rô nói với Mô-sê: "Bây giờ anh hãy nghe lời tôi khuyên; cầu chúc Thiên Chúa ở với anh! Còn anh, anh hãy đứng ra thay mặt dân trước nhan Thiên Chúa: Chính anh sẽ trình các việc lên Thiên Chúa, sẽ dạy cho họ các thánh chỉ, các lề luật, và cho họ biết đường lối phải đi và cách phải xử sự" (Xh 18,19-20). Sách Xuất Hành cho chúng ta biết: "Ông Mô-sê nghe lời nhạc phụ và đã làm tất cả những điều ông ấy nói" (Xh 18,24). Là 'dân ngoại' nhưng Gít-rô vẫn kính sợ, chúc tụng Thiên Chúa của Ít-ra-en và căn dặn Mô-sê thi hành thánh ý Người. Như thế, ý định Thiên Chúa thật cao cả, vượt quá tầm nhìn hạn hẹp của con người trong mọi thời đại.

Hành trình tiến về Đất Hứa cũng là hành trình thử thách trong việc dân Do-thái lắng nghe Thiên Chúa qua Mô-sê, vị trung gian của họ. Với mọi giới hạn và va chạm thực tế, bốn mươi năm sa mạc trở thành 'trường học' đào luyện họ biết lắng nghe, ghi nhớ và đem lời Thiên Chúa ra thực hành. Quả thật, dân Do-thái được hình thành, được nâng đỡ và được trưởng thành trong nền văn hóa lắng nghe, nơi lời Thiên Chúa vừa là chuẩn mực vừa là sức sống cộng đoàn. Nói cách khác, đối với dân Do-thái, 'tai thể lý' và 'tai tâm hồn' luôn song hành trong đời sống đức tin của họ. Vì thế, lắng nghe kết nên thái độ nền tảng khi họ đón nhận, sống và thi hành thánh ý Thiên Chúa trong các hình thức giao ước. Họ lắng nghe để hiểu sứ điệp rồi đáp lại bằng đời sống trung tín và vâng phục Thiên Chúa. Nhờ lắng nghe, dân Do-thái nhận ra ý định Thiên Chúa và thấm nhuần lời Người. Nhờ đó, họ ngày càng trưởng thành hơn trong việc diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của dân giao ước.

Như đã đề cập ở trên, lắng nghe lời Thiên Chúa không chỉ là hành vi tôn giáo mà còn thuộc về cốt lõi của giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Người. Đối với những người Do-thái đạo đức và thuần thành, hằng ngày, nhất là khi thức dậy vào buổi sáng và trước khi đi ngủ vào buổi tối, họ đọc lời kinh שְׁמַע יִשְׂרָאֵל (Shema Yisrael!/ Listen, Israel!/ Nghe đây, hỡi Ít-ra-en!): "Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em). Những lời này tôi truyền cho anh (em) hôm nay, anh (em) phải ghi tạc vào lòng. Anh (em) phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu, phải viết lên khung cửa nhà anh (em), và lên cửa thành của anh (em)" (Đnl 6,4-7). Niềm tin của dân Do-thái được thể hiện qua việc tuyên xưng Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất, đồng thời đây cũng là lời mời gọi dân Chúa lắng nghe, ghi tạc, yêu mến và thông truyền cho hậu thế.

Một trong những trình thuật về chủ đề lắng nghe điển hình là việc Sa-mu-en lắng nghe lời Đức Chúa. Trong Kinh Thánh, tên 'Sa-mu-en' (שְׁמוּאֵל/ Šəmûʾēl) có nghĩa là 'Thiên Chúa đã nghe' hoặc 'Thiên Chúa lắng nghe'. Trình thuật sách Sa-mu-en quyển thứ nhất cho chúng ta biết rằng bà An-na hiếm muộn và bà đã cầu xin Thiên Chúa cho bà có con. Lời khẩn cầu tha thiết của bà được Thiên Chúa lắng nghe và nhậm lời. Bà sinh con trai và đặt tên là Sa-mu-en. Khi cậu bé Sa-mu-en ở với ông Ê-li, Đức Chúa đã gọi Sa-mu-en ba lần; cả ba lần Sa-mu-en đều tưởng là ông Ê-li gọi và chạy đến với ông. Bấy giờ, ông Ê-li mới nhận ra rằng chính Đức Chúa đang gọi Sa-mu-en. Vì vậy, ông bảo Sa-mu-en rằng nếu còn nghe tiếng đó thì hãy nói: "Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe" (1 Sm 3,9). Khi Đức Chúa gọi lại, cậu đáp như lời căn dặn của ông Ê-li. Sau khi tiếp nhận lời Đức Chúa về sự suy vong của nhà Ê-li, Sa-mu-en đã kể lại cho ông Ê-li và ông đã khiêm tốn nói với Sa-mu-en: "Người là Đức Chúa. Xin Người cứ làm điều Người cho là tốt" (1 Sm 3,18). Cũng từ đó, Đức Chúa mặc khải cho Sa-mu-en nhiều điều trọng đại và Sa-mu-en trở thành khí cụ hữu hiệu trong việc thực hành huấn lệnh Thiên Chúa cho dân Ít-ra-en: "Sa-mu-en lớn lên. Đức Chúa ở với ông và Người không để cho một lời nào của Người ra vô hiệu" (1 Sm 3,19). Sa-mu-en trở thành vị ngôn sứ đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ thời các thẩm phán tới thời vua chúa (quân chủ) trong xã hội Ít-ra-en.

Lắng nghe luôn là ưu tiên hàng đầu trong đời sống tôn giáo của dân Ít-ra-en, gắn liền với giao ước giữa họ với Thiên Chúa. Lắng nghe quan trọng hơn mọi hình thức bên ngoài: "Đức Chúa có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng mỡ cừu" (1 Sm 15,22). Lắng nghe là điều kiện tiên quyết để thấu hiểu và hướng dẫn người khác như lời vua Sa-lô-môn thưa cùng Đức Chúa: "Xin ban cho tôi tớ Chúa đây, một tâm hồn biết lắng nghe, để cai trị dân Chúa và phân biệt phải trái; chẳng vậy, nào ai có đủ sức cai trị dân Chúa, một dân quan trọng như thế?" (1 V 3,9). Trong lời cầu nguyện tại Lễ Cung Hiến Đền Thờ, vua Sa-lô-môn cũng khẩn nài: "Xin nghe lời nài van của tôi tớ Ngài và của Ít-ra-en dân Ngài dâng lên ở nơi đây. Từ trời, nơi Ngài ngự, xin lắng nghe; xin lắng nghe và tha thứ" (1 V 8,30). Câu tương tự cũng được ghi lại trong sách Sử Biên Niên, quyển II (2 Sb 6,21).

2.2 Lắng Nghe Lời Thiên Chúa Qua Các Ngôn Sứ

Ngôn sứ đích thật là người lắng nghe và đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa bằng sự vâng phục và sẵn sàng lên đường như ngôn sứ I-sai-a thưa với Đức Chúa: "Dạ, con đây, xin sai con đi" (Is 6,8). Nhiều trình thuật Cựu Ước cho thấy các ngôn sứ phải đương đầu với muôn vàn gian truân khi thực hành sứ mạng giữa dân chúng. Thông thường, dân Do-thái thích lắng nghe những chuyện tốt lành, đem lại bình an, hạnh phúc và phát đạt cho họ hơn là những lời kêu gọi họ từ bỏ những thói quen nguy hại. Nói cách khác, họ thích nghe điều lành hơn là điều dữ, nghe tin vui hơn là tin buồn, nghe lời hứa ban ơn phúc hơn là lời cảnh báo trừng phạt, nghe được phát đạt hơn là lụi tàn, nghe tự do hơn là lề luật, nghe theo ý mình hơn là theo ý Thiên Chúa. Đặc biệt, trong khi các ngôn sứ không ngừng mời họ hoán cải để đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa thì họ lại đắm chìm trong những lầm lạc, chẳng hạn như thờ ngẫu tượng, tế tự tà thần, thực hành tôn giáo hình thức, lỗi phạm lề luật giao ước và cậy vào quyền lực trần thế.

Để có thể trưởng thành trong việc lắng nghe, Thiên Chúa mời gọi dân Do-thái 'làm quen' với những điều 'lạ tai' hay 'không phù hợp' với tư tưởng của mình. Nhiều trình thuật Cựu Ước cho chúng ta biết rằng dân Do-thái thường không lắng nghe lời cảnh báo của các ngôn sứ để trở về đường ngay nẻo chính. Thậm chí, dân Do-thái, nhất là những người quyền thế đã bách hại các ngôn sứ là những người được Thiên Chúa sai đến trợ giúp và hướng dẫn họ, chẳng hạn như: Mô-sê bị chống đối (Xh 17,4); Sa-mu-en bị khước từ (1 Sm 8,7); Ê-li-a bị vua A-kháp truy sát (1 V 19,1–3); Ê-li-sa bị nhạo báng (2 V 2,23–24); A-mốt bị trục xuất (Am 7,12–13); Hô-sê bị cho là điên rồ (Hs 9,7–8); Giê-rê-mi-a bị đánh đòn và quăng vào giếng (Gr 20,2; Gr 38,6); Ê-dê-ki-en bị kháng cự (Ed 2,3–7); sau này, Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu (Mc 6,17–29).

Lời Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ I-sai-a thật nặng nề: "Hãy đi nói với dân này rằng: Cứ nghe cho rõ, nhưng đừng hiểu, cứ nhìn thật kỹ, nhưng đừng nhận ra. Hãy làm cho lòng dân này ra đần độn, cho tai nó điếc, cho mắt nó mù; kẻo mắt nó thấy, tai nó nghe và lòng nó hiểu, mà nó trở lại và được chữa lành" (Is 6,9-10). Sự cứng lòng của dân Do-thái không chỉ xảy ra đôi lần trong lịch sử mà dường như mang tính hệ thống, nghĩa là, qua nhiều thế hệ, dân Do-thái cứ 'chứng nào tật ấy': "Cha ông các ngươi đã chẳng đoái hoài, không chịu lắng tai nghe. Chúng cứng đầu cứng cổ, không chịu nghe theo, không chấp nhận lời sửa dạy" (Gr 17,23) hay: "Ta đã không ngừng sai đến với các ngươi tất cả các tôi tớ Ta là các ngôn sứ để nói rằng: Chớ làm điều ghê tởm mà Ta ghét ấy!" Nhưng chúng chẳng thèm nghe, chẳng thèm lắng tai và từ bỏ điều gian ác của mình mà trở lại, là thôi không dâng hương cho các thần khác nữa" (Gr 44,4-5). Trong khi đó, ngôn sứ Giê-rê-mi-a kêu mời họ: "Quê hương ơi! Đất nước ơi! Hãy nghe lời Đức Chúa" (Gr 22,29). Như thế, không lắng nghe hoặc lãnh đạm với lời Thiên Chúa không chỉ là lỗi luân lý cá nhân, mà còn làm tê liệt khả năng hoán cải và phá vỡ sự hiệp thông của cả cộng đồng.

Đối với các ngôn sứ, lắng nghe lời Thiên Chúa là điều kiện cần thiết để duy trì các mối tương quan hòa hợp trong xã hội hầu mỗi người sống xứng hợp hơn với danh hiệu là Dân Riêng của Thiên Chúa và sinh hoa kết quả dồi dào. Lời Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta biết: "Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó" (Is 55,10-11). Nói cách khác, đối với các ngôn sứ, lời Thiên Chúa cần được lắng nghe, suy niệm, sống, chuyển tải và sinh hoa kết trái trong đời sống con người trên bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn.

Giữa muôn hình thức cám dỗ nhưng các ngôn sứ vẫn trung thành lắng nghe lời Thiên Chúa. Chẳng hạn, trong cơn bĩ cực, thiếu thốn, thất vọng, Ê-li-a xin Đức Chúa cho ông được chết nhưng Đức Chúa đã sai thiên sứ đến nâng đỡ vị ngôn sứ và cho ông được ăn bánh và uống nước. Vị ngôn sứ đã có kinh nghiệm rằng Đức Chúa 'không đến' qua những dấu chỉ mà con người cho là lừng lẫy, dữ dội, hoành tráng, chẳng hạn như gió to, bão lớn, động đất hay lửa cháy. Trái lại, Người hiện diện trong tiếng gió hiu hiu thổi (1 V 19,12-13). Nói cách khác, ngôn sứ Ê-li-a đã khám phá ra cách thức hiện diện và hoạt động của Đức Chúa: Người không đến qua những dấu chỉ bắt mắt, những dấu chỉ cuốn hút, những dấu chỉ say mê lòng người. Trái lại, Đức Chúa hiện diện cách nhẹ nhàng và sống động: Có lắng mới nghe, có nhìn mới thấy, có tìm mới được.

Thiên Chúa luôn gần gũi con người, Thiên Chúa luôn lắng nghe con người. Lời Người đối với con cái Ít-ra-en trong sách ngôn sứ I-sai-a thể hiện điều đó: "Chính vì lầm lỗi của các ngươi mà các ngươi đã bị đem đi bán, chính bởi tội lỗi của các ngươi mà mẹ các ngươi đã bị rẫy" (Is 50,1). Trong văn hóa Do-thái thời Cựu Ước, người mắc nợ có thể phải bán bản thân hoặc con cái làm nô lệ để trả nợ. Dân Do-thái phải chịu cảnh lưu đày ở Ba-by-lon. Nguyên nhân không bởi Thiên Chúa hay các ngôn sứ của Người mà vì tội lỗi của họ, của dân được Thiên Chúa tuyển chọn và sai đi. Thiên Chúa trừng phạt họ nhưng Người không bao giờ bỏ rơi họ trong cảnh bị đọa đày muôn kiếp. Đó là lý do tại sao họ được mời gọi quy tụ để cảm tạ Thiên Chúa vì muôn ân huệ Người ban.

Trong 'Bài Ca Người Tôi Trung' (bài ca thứ ba) của sách ngôn sứ I-sai-a, chúng ta biết rằng người tôi trung lắng nghe lời Đức Chúa và trở thành mẫu gương lắng nghe cho mọi người (Is 50,4-11). Chẳng hạn: "Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ" (Is 50,4). Người Tôi Trung là Đấng lắng nghe Đức Chúa cách hoàn hảo. Hiệu quả của việc lắng nghe Đức Chúa là sự vâng phục tự nguyện, chấp nhận đau khổ để thể hiện sự trung tín với Đức Chúa. Người Tôi Trung trở thành mẫu gương cho mọi người biết tín thác vào Thiên Chúa ngay cả trong những lúc tăm tối nhất của cuộc đời. Hình ảnh Người Tôi Trung là lời tiên báo Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy thân phận con người giữa gia đình nhân loại.

Lời Người Tôi Trung trong sách ngôn sứ I-sai-a giúp chúng ta hiểu biết hơn về tình yêu vô bờ của Thiên Chúa, tình yêu ban sức mạnh để con người vâng phục và kiên vững giữa muôn nghịch cảnh: "Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui" (Is 50,5). Làm thế nào con người có thể lắng nghe lời Thiên Chúa là câu hỏi lớn trong các sách ngôn sứ. Khi con người biết thinh lặng, biết dành khả năng, sức lực và thời gian cho Thiên Chúa thì Người sẽ mở tai của họ để họ lắng nghe lời Người. Ai được Thiên Chúa mở tai thì lòng trở nên nhạy bén trước lời Người, biết nghe điều phải nghe và khước từ điều trái nghịch. Tâm hồn họ không còn bị những ô uế và lầm lạc xâm chiếm vì được chính Thiên Chúa dẫn dắt, được Thần Khí đồng hành và tuôn đổ dồi dào ân sủng.

2.3 Lắng Nghe Lời Thiên Chúa – Nền Tảng Khôn Ngoan

Tác giả sách Châm Ngôn viết: "Hiểu biết và khôn ngoan, con hãy mua hãy sắm. Đừng bao giờ quên lãng và cũng chớ lìa xa lời miệng cha dạy dỗ. Con chớ bao giờ lìa bỏ khôn ngoan, thì khôn ngoan sẽ giữ gìn con mãi. Hãy yêu mến khôn ngoan, khôn ngoan sẽ chở che bảo vệ. Đây là bước đầu của khôn ngoan: Con hãy mua lấy khôn ngoan; và dùng tất cả những gì con sở hữu mà sắm lấy hiểu biết" (Cn 4,5-7). Dưới nhãn quan Kinh Thánh, khôn ngoan không hệ tại ở việc sở hữu nhiều kiến thức để thích nghi với đời sống văn hóa, xã hội nhưng hệ tại ở thái độ biết lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Những câu đầu tiên của Bộ Thánh Vịnh mặc khải cho chúng ta rằng: "Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày. Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành" (Tv 1,1-3). Dưới nhãn quan các tác giả Thánh Vịnh, thế giới luôn có đủ bóng tối cũng như ánh sáng để con người lắng nghe và chọn lựa lối sống phù hợp hay không phù hợp với lời Thiên Chúa. Để có thể đi vào mối tương quan liên vị đích thực với Thiên Chúa, con người cần phải chú tâm lắng nghe, suy niệm và thực hành lời Thiên Chúa.

Lời mời gọi lắng nghe Thiên Chúa vang vọng xuyên suốt các trang sách thuộc truyền thống văn chương khôn ngoan của Kinh Thánh, chẳng hạn như: "Dân Ta hỡi, nghe Ta cảnh cáo, Ít-ra-en này, phải chi ngươi chịu nghe Ta, thì đừng đem thần lạ về nhà, thần ngoại bang, chớ hề cúng bái" (Tv 81,9-10). Trong sách Huấn Ca, thầy khôn ngoan khuyên dạy học trò của mình: "Con ơi, nếu muốn, con sẽ là người có học, nếu để tâm, con sẽ thành người khôn khéo. Nếu thích nghe, con sẽ học được nhiều, nếu biết lắng tai để ý, con sẽ trở nên khôn" (Hc 6,32-33). Lắng nghe giúp con người hiểu biết và trung tín với Thiên Chúa, đó là lý do tại sao thầy khôn ngoan căn dặn học trò: "Mọi lời lẽ về Thiên Chúa, con hãy thích nghe, những châm ngôn ý nhị, con đừng bỏ uổng" (Hc 6,35). Người khôn ngoan là người không tự mãn với đường lối mình nhưng khiêm tốn lắng nghe lời khuyên nhủ: "Kẻ ngu cứ tưởng mình đi đường ngay chính, ai nghe lời khuyên nhủ mới là người khôn" (Cn 12,15). Như thế, trong truyền thống khôn ngoan, lắng nghe chính là con đường dẫn vào sự khôn ngoan đích thực vì người biết nghe cũng là người biết để cho Thiên Chúa dạy dỗ.

Lắng nghe là điều kiện tiên quyết để con người được lớn lên trong đời sống như lời tác giả sách Châm Ngôn: "Muốn nên khôn, phải nghe lời nghiêm huấn, đừng bao giờ gạt bỏ. Phúc thay người lắng nghe ta dạy, ngày ngày canh thức trước cửa nhà ta, túc trực ở ngay lối ra vào" (Cn 8,33-34) hay: "Này con, nếu thôi không nghe lời nghiêm huấn, con sẽ lạc xa những lời lẽ khôn ngoan" (Cn 19,27). Theo tác giả sách Châm Ngôn: "Kẻ lắng nghe lời sửa dạy, lời ban sự sống, sẽ được cư ngụ với những bậc khôn ngoan" (Cn 15,31). Người biết lắng nghe lời Thiên Chúa cũng nhận ra rằng, ngoài Thiên Chúa, không ai có thể giúp mình trở nên khôn ngoan và minh mẫn hầu vượt qua những thách đố thường ngày, nhất là những thách đố trong đời sống nội tại. Ân sủng, tình yêu và sự khôn ngoan của Thiên Chúa thấm nhuần đời sống những ai thành tâm hướng về Người trong tinh thần khiêm tốn và tự hạ.

Thiên Chúa luôn thi ân giáng phúc cho người biết lắng nghe để có thể nhận diện rõ hơn chương trình của Người đối với bản thân mình. Trong sách Gióp, Ê-li-hu nói với ông Gióp về sự công minh của Thiên Chúa: "Hỡi những người biết phân biệt phải trái, xin nghe tôi: Không đời nào Thiên Chúa làm sự dữ, Đấng Toàn Năng chẳng làm chuyện bất công bao giờ!" (G 34,10). Trong tinh thần hoán cải chân thành vì lầm lỗi nặng nề, Đa-vít khẩn cầu Đức Chúa: "Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết. Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng" (Tv 51,9-10). Đối với Đa-vít, khi con người lắng nghe và tuân phục thánh ý Thiên Chúa thì dù ở trong hoàn cảnh nào, họ vẫn không rơi vào tuyệt vọng bởi vì 'sau cơn bĩ cực sẽ tới hồi thái lai'.

Lắng nghe lời Thiên Chúa giúp con người thêm khôn ngoan để có thể đối diện với muôn địch thù: "Nhưng dân Ta đã chẳng nghe lời, Ít-ra-en nào đâu có chịu. Ta đành mặc họ lòng chai dạ đá, muốn đi đâu thì cứ việc đi! Ôi dân Ta mà đã nghe lời, Ít-ra-en chịu theo đường Ta chỉ, thì hết những địch thù của chúng, những kẻ hà hiếp chúng xưa nay, Ta tức khắc trở tay quật ngã" (Tv 81,12-15). Được giải thoát khỏi địch thù luôn là ước vọng sâu xa của dân Do-thái. Tuy nhiên, dưới nhãn quan Kinh Thánh, 'địch thù' không chỉ là những đối thủ hữu hình, bằng xương bằng thịt nhưng còn là những thế lực vô hình thuộc thế giới bóng tối: Tội lỗi, ma quỷ, thế gian, xác thịt, nghĩa là các thế lực khiến con người trở nên kiêu căng, tự phụ và sống xa rời đường lối Thiên Chúa.

Trong sách Gióp, Ê-li-hu tuyên bố rằng Thiên Chúa là Đấng công chính và sự công chính của Người siêu việt mọi tội lỗi cũng như mọi công trạng của con người. Thiên Chúa không bị chi phối bởi những hoạt động nhân loại bởi vì nơi Người mọi sự đều trọn hảo. Trái lại, tội lỗi gây nên sự đổ vỡ trong các mối tương quan của con người, khiến con người rơi vào tình trạng bất chính. Vì thế, trong những trường hợp ấy, lời kêu cứu của họ không còn là lời cầu nguyện khiêm tốn, van nài lòng thương xót của Thiên Chúa mà chỉ là tiếng kêu phát xuất từ sự ngạo mạn. Chính trong bối cảnh này, Ê-li-hu khẳng định: "Bấy giờ nghe kêu cứu, Người cũng không đáp lại, vì kẻ gian ác vẫn còn ngạo mạn kiêu căng. Thật là công dã tràng: Thiên Chúa chẳng hề nghe, Đấng Toàn Năng không thấy" (G 35,12-13). Như vậy, Thiên Chúa luôn lắng nghe, nhìn thấy và thương xót con người khi con người biết thành tâm hướng về Người với tâm hồn chân thành, nghĩa là khi con người từ bỏ mọi ảo tưởng về chính mình và biết nhìn nhận mình yếu đuối, bất toàn trước nhan Người.

Người khôn ngoan là người biết không ngừng hoán cải để ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về chương trình của Thiên Chúa cũng như những biến chuyển của thế giới thụ tạo. Tác giả sách Châm Ngôn cho thấy người khôn ngoan luôn có thái độ khiêm nhường và tinh thần sẵn sàng để được sửa dạy: "Kiêu hãnh đi liền với ô nhục, khôn ngoan ở với kẻ khiêm nhường" (Cn 11,2). Cũng vậy, người biết lắng nghe lời nghiêm huấn sẽ được nuôi dưỡng và lớn lên trong sự hiểu biết: "Kẻ lắng nghe lời sửa dạy, lời ban sự sống, sẽ được cư ngụ với những bậc khôn ngoan. Bỏ lời nghiêm huấn là coi rẻ chính mình, nghe lời sửa dạy là sắm lấy hiểu biết" (Cn 15,31-32). Chính trong thái độ khiêm tốn và lắng nghe, họ đặt niềm tin vững chắc vào Thiên Chúa là Chủ Tể muôn vật muôn loài, Đấng quyền năng và thấu triệt muôn vật muôn loài do tay Người tác tạo. Đặc biệt, thái độ khiêm tốn trong lắng nghe, khôn ngoan trong lời nói và khiêm nhu trong hành động được thể hiện cách trọn vẹn nơi Biến Cố Đức Giê-su giữa gia đình nhân loại.

3. LẮNG NGHE LỜI THIÊN CHÚA TRONG TÂN ƯỚC

3.1 Đức Giê-su Và Lời Cựu Ước

Hành trình trần thế của Đức Giê-su trước hết là hành trình lắng nghe hơn là rao giảng. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt được trình thuật trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca, khi Đức Giê-su mười hai tuổi, Người lên Giê-ru-sa-lem và lưu lại trong Đền Thờ để đối thoại về lời Thiên Chúa, chúng ta có thể nhận định rằng gần ba mươi năm sống tại làng quê Na-da-rét là khoảng thời gian thinh lặng. Trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su vẫn luôn duy trì nếp sống đó. Cách riêng, trước những biến cố quan trọng, Người thường thinh lặng, lắng nghe và cầu nguyện để thỉnh ý Chúa Cha, chẳng hạn như khi tuyển chọn Nhóm Mười Hai, trước khi hỏi các môn đệ về căn tính của Người, tại vườn Ghết-sê-ma-ni và khi treo trên thập giá (Lc 6,12-13; Lc 9,18-20; Lc 23,34).

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho chúng ta biết, sau khi chịu Phép Rửa bởi Gio-an Tẩy Giả, Đức Giê-su tràn đầy Thánh Thần: "Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ" (Lc 4,1). Hình ảnh Đức Giê-su trong sa mạc bốn mươi ngày nhắc nhở mọi người về hành trình bốn mươi năm của dân Do-thái từ Ai-cập trở về Đất Hứa. Đối với nhiều người, sa mạc là nơi khô cằn và thiếu sức sống nhưng đối với dân Do-thái, chính trong không gian ấy, kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa lại được biểu lộ cách mạnh mẽ nhất. Sa mạc trở thành trường huấn luyện dân Do-thái trưởng thành trong ân nghĩa Thiên Chúa, trở thành môi trường gặp gỡ, môi trường thanh luyện, môi trường đón nhận mặc khải và cũng là môi trường giúp họ lớn lên trong đức tin. Như dân Do-thái, Đức Giê-su cũng chịu cám dỗ nhưng Người đã không sa chước cám dỗ. Đặc biệt, Người đã dùng lời Thiên Chúa trong Cựu Ước để chống lại ba thù là ma quỷ, thế gian, xác thịt.

Sau bốn mươi ngày trong sa mạc, Đức Giê-su trở về Ga-li-lê loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Tại Na-da-rét, nơi Đức Giê-su sinh trưởng, Người vào hội đường trong ngày Sa-bát như thường lệ. Người ta trao cho Người sách ngôn sứ I-sai-a. Mở sách ra Người gặp đoạn về 'ơn gọi ngôn sứ' (Is 61,1-3). Theo thánh Lu-ca, khi đọc xong: "Đức Giê-su cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người" (Lc 4,20). Sau đó, Người nói với những người xung quanh: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,21). Chính Đức Giê-su là Ngôn Sứ của các ngôn sứ trong Cựu Ước. Người là hình ảnh quy tụ và đồng thời siêu việt phẩm chất cao quý của các ngôn sứ trong lịch sử mặc khải. Lời Thiên Chúa trong Cựu Ước được ứng nghiệm nơi Người. Đặc biệt, đối với Đức Giê-su, lắng nghe lời Thiên Chúa không chỉ 'bằng tai thịt' mà 'bằng tâm thành' của con người trước Đấng hằng yêu thương, săn sóc mình.

Đức Giê-su đã dựa vào lời Thiên Chúa để giảng dạy, để trình bày về căn tính của Người cũng như để đối đáp với những kẻ chống đối. Người đã trích dẫn lời Thiên Chúa trong các sách Cựu Ước, chẳng hạn như sách Sáng Thế, Xuất Hành, Đệ Nhị Luật, Thánh Vịnh, I-sai-a, Đa-ni-en. Tư tưởng của một số ngôn sứ khác cũng được Người đề cập, chẳng hạn như Giê-rê-mi-a, Hô-sê, Mi-kha, Da-ca-ri-a. Người luôn mời gọi mọi người lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa. Chẳng hạn, khi khai triển Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su nói: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành" (Mt 5,17-18). Quả thật, Đức Giê-su kiện toàn lời Thiên Chúa nơi chính bản thân Người bởi vì Người là Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa. Nhờ Người và trong Chúa Thánh Thần, muôn vật muôn loài được sáng tạo, được cứu độ và được thánh hóa.

Đức Giê-su thường dùng những hình ảnh cụ thể và các dụ ngôn để giúp mọi người hiểu biết hơn về lời Thiên Chúa. Qua dụ ngôn người gieo giống, Đức Giê-su mạc khải cho mọi người biết những thái độ khác nhau khi đón nhận lời Thiên Chúa. Có hạt rơi vệ đường và bị chim ăn mất; có hạt rơi trên sỏi đá nên không thể bén rễ và khô héo; có hạt rơi vào bụi gai nên bị bóp nghẹt; cũng có hạt rơi vào đất tốt, sinh hoa kết quả dồi dào. Sau đó, Đức Giê-su giải thích dụ ngôn này như hình ảnh của bốn loại tâm hồn con người: Tâm hồn như vệ đường, nơi Xa-tan cướp mất lời đã được gieo; tâm hồn như sỏi đá, nông cạn nên lời không thể lớn lên; tâm hồn như bụi gai, nơi những lo lắng và đam mê trần thế bóp nghẹt lời; cuối cùng là tâm hồn như mảnh đất tốt, biết đón nhận, gìn giữ và sinh hoa thơm trái tốt từ lời Thiên Chúa. Nhờ dụ ngôn này, mỗi người có thể nhận ra mình đang thuộc loại 'đất' nào và được mời gọi hoán cải để luôn trở nên loại đất tốt trong việc đón nhận lời Thiên Chúa. Trong bối cảnh Kinh Thánh, tiến trình lời Thiên Chúa đến với con người và sinh hoa kết trái thường diễn ra qua bốn bước liên kết chặt chẽ với nhau: (1) lắng nghe lời Thiên Chúa; (2) hiểu lời Thiên Chúa; (3) nội tâm hóa lời Thiên Chúa trong đời sống và (4) hành động theo lời Thiên Chúa.

Đối với Đức Giê-su, liên kết thiêng liêng đặt nền tảng trên việc lắng nghe lời Thiên Chúa quan trọng hơn mọi liên kết tự nhiên khác trong gia đình nhân loại. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho chúng ta biết: "Mẹ và anh em Đức Giê-su đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng quá đông. Người ta báo cho Người biết: Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy. Người đáp lại: Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành" (Lc 8,19-21). Người ta quan tâm sự hiện diện của Đức Ma-ri-a và anh em chị em của Đức Giê-su, nghĩa là quan tâm mối dây huyết thống. Trong khi đó, Đức Giê-su lại mời gọi mọi người đặt ưu tiên cho 'gia đình những người lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa'. Câu trả lời Đức Giê-su giúp mọi người nhận ra tầm quan trọng của việc lắng nghe này. Hơn ai hết, Đức Ma-ri-a luôn là người lắng nghe lời Thiên Chúa: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38). Các trình thuật Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Ma-ri-a hằng trung tín lắng nghe, suy niệm và thực hành lời Thiên Chúa trước khi cưu mang Đức Giê-su là Lời vĩnh cửu và là Con Một Thiên Chúa. Đặc biệt, Đức Ma-ri-a luôn ghi nhớ, luôn vâng phục, luôn suy đi nghĩ lại chương trình của Thiên Chúa trong đời mình (Lc 2,19.51).

Đức Giê-su mời gọi mọi người chú tâm vào lời Thiên Chúa. Chẳng hạn, Người nói với những người Do-thái đang chống đối Người: "Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa" (Ga 8,47). Thánh Lu-ca trình thuật rằng: "Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người: Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! Nhưng Người đáp lại: Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11,27-28). Một lần nữa, Đức Giê-su giúp mọi người biết đâu là hạnh phúc thật, đồng thời, Người cũng cho mọi người biết gia đình Người là gia đình gồm những ai trung tín với lời Thiên Chúa.

Trong biến cố Đức Giê-su hiển dung trên núi có sự hiện diện của Mô-sê và Ê-li-a, đại diện cho Lề Luật và Ngôn Sứ, tức là lời Thiên Chúa trong Cựu Ước. Như vậy, với biến cố này, Đức Giê-su gặp gỡ những người đại diện cho lời Thiên Chúa trong lịch sử dân Do-thái. Đặc biệt, trong biến cố này có tiếng Chúa Cha từ trời phán: "Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người!" (Lc 9,35). Ở đây, chúng ta có thể nhận ra sự chuyển tiếp mang tính mặc khải giữa lời Thiên Chúa trong Cựu Ước và lời Thiên Chúa được kiện toàn trong Tân Ước. Sự chuyển tiếp này không chỉ được thể hiện qua các biến cố hay nhân vật mà còn được chính lời Chúa Cha xác thực. Trong bối cảnh ấy, Mô-sê và Ê-li-a xuất hiện như những nhân vật tiêu biểu: Các ngài là những người trung tín lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa trong Cựu Ước, đồng thời cũng mang nơi mình chiều kích tiên báo hướng về mầu nhiệm Đức Giê-su trong Tân Ước. Qua các ngài, lời Thiên Chúa vừa được bảo tồn trong lịch sử, vừa mở ra và đạt tới sự viên mãn nơi Đức Giê-su, Lời trở thành người phàm và ở giữa gia đình nhân loại (Ga 1,14).

Sau khi Đức Giê-su chịu đau khổ và chịu chết trên thập giá, các môn đệ của Người sống trong sợ hãi và thất vọng. Câu chuyện hai môn đệ trên đường Em-mau là ví dụ điển hình. Đối với họ, ước mơ đổi đời nhờ đi theo Đức Giê-su đã bị tan biến bởi vì Người đã chết. Lòng nặng trĩu, họ lên đường hướng về cố hương là Em-mau trong buổi chiều tà. Đức Giê-su phục sinh đã hiện ra và cùng đi với họ nhưng họ không nhận ra Người. Họ thuật lại cho Đức Giê-su nghe những biến cố vừa xảy ra tại Giê-ru-sa-lem liên quan đến Thầy của họ, Đấng đã chịu đau khổ và chịu chết. Đức Giê-su đã nói với họ: "Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!" (Lc 24,25). Sau đó, chính Người giải thích cho họ hiểu rằng tất cả những gì Sách Thánh đã chép về Người phải được ứng nghiệm, đặc biệt, những lời Mô-sê và các ngôn sứ. Họ đã mời Đức Giê-su ở lại dùng bữa. Trong bữa ăn, khi Đức Giê-su bẻ bánh thì họ nhận ra Người nhưng Người biến mất. Họ bảo nhau: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?" (Lc 24,32). Sau đó, họ trở về Giê-ru-sa-lem để cùng với các môn đệ khác chia sẻ và loan báo Tin Mừng về Đức Giê-su phục sinh cho mọi người.

3.2 Đức Giê-su Lắng Nghe Chúa Cha

Với hành trình trần thế, Đức Giê-su đã trở nên người phàm và hội nhập trọn vẹn vào truyền thống Cựu Ước. Người luôn khẳng định Thiên Chúa là Đấng duy nhất, chân thật, hằng sống. Trước những người Do-thái, Đức Giê-su cho họ biết rằng Người luôn quy hướng về Thiên Chúa là Cha, Đấng mà họ hằng yêu mến, tin tưởng và đặt niềm hy vọng. Người lắng nghe lời Thiên Chúa như tổ tiên họ đã từng lắng nghe và thực hành. Chẳng hạn, Đức Giê-su nói với những người Do-thái đang tranh luận với Người: "Giả như các ông là con cái ông Áp-ra-ham, hẳn các ông phải làm những việc ông Áp-ra-ham đã làm. Thế mà bây giờ các ông lại tìm giết tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà tôi đã nghe biết từ Thiên Chúa. Điều đó, ông Áp-ra-ham đã không làm. Còn các ông, các ông làm những việc cha các ông làm" (Ga 8,39-41).

Đức Giê-su cho mọi người biết rằng lời Người là lời của Chúa Cha, chẳng hạn: "Không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì" (Ga 12,49) hay khi trả lời câu hỏi của Phi-líp-phê về việc tỏ bày Chúa Cha cho các môn đệ, Đức Giê-su nói: "Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình" (Ga 14,10). Quả thực, hình ảnh Thiên Chúa là Cha, Thiên Chúa là Mục Tử đã ăn sâu vào tâm khảm dân Do-thái: "Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi" (Tv 23,1-3). Đức Giê-su diễn tả hình ảnh này cách hoàn hảo nhất: "Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi" (Ga 10,27-28). Đức Giê-su là Mục Tử Nhân Lành, hiến dâng mạng sống mình vì đoàn chiên là mọi người trong gia đình nhân loại.

Đối với Đức Giê-su, ai lắng nghe Người là lắng nghe Chúa Cha. Chẳng hạn, Người nói với Nhóm Bảy Mươi Hai môn đệ: "Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy" (Lc 10,16). Tương tự như vậy, trong trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an, Đức Giê-su nói với những người lãnh đạo Do-thái: "Tôi bảo thật các ông: Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống" (Lc 10,16); Người cũng nói với các môn đệ thân tín trong Bữa Ăn Cuối Cùng: "Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 14,24). Cũng trong bối cảnh đó, Người nói với họ: "Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết" (Ga 15,15).

Ai thấy Đức Giê-su là thấy Chúa Cha. Chẳng hạn, trong Lời Tựa Tin Mừng theo thánh Gio-an, thánh sử tuyên bố: "Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết" (Ga 1,18). Trong diễn từ tại hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su nói với những người Do-thái: "Không phải là đã có ai thấy Chúa Cha đâu, nhưng chỉ có Đấng từ nơi Thiên Chúa mà đến, chính Đấng ấy đã thấy Chúa Cha" (Ga 6,46). Tại Giê-ru-sa-lem, trước cuộc thương khó của Người, Đức Giê-su nói: "Ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi" (Ga 12,45). Trả lời cho câu hỏi của Tô-ma về 'đường đi', Đức Giê-su nói rằng Người là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 14,6). Đồng thời, Người nói với các môn đệ: "Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người" (Ga 14,7). Khi Phi-líp-phê cầu xin Đức Giê-su về việc 'thấy Chúa Cha' để được mãn nguyện, Người trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?" (Ga 14,9).

Đức Giê-su cho mọi người biết rằng ai tin vào Người là tin vào Chúa Cha, chẳng hạn, Người nói với dân Do-thái, nhất là những người lãnh đạo chống đối Người: "Các ông đã không để cho lời Người ở mãi trong lòng, bởi vì chính các ông không tin vào Đấng Người đã sai đến" (Ga 5,38); trong Diễn Từ Về Bánh Trường Sinh, Người cũng nói: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến" (Ga 6,29). Người nói với đám đông trước cuộc thương khó: "Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi" (Ga 12,44). Người củng cố đức tin cho các môn đệ trong Bữa Ăn Cuối Cùng: "Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu" (Ga 13,19) hay: "Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14,1).

Đức Giê-su cho mọi người biết rằng ai đón nhận Người là đón nhận Chúa Cha, chẳng hạn, Người nói với các môn đệ trong hành trình loan báo Tin Mừng: "Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy" (Mc 9,37). Trong Bữa Ăn Cuối Cùng với các môn đệ, Đức Giê-su nói với họ: "Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, trước khi sự việc xảy ra, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu. Thật, Thầy bảo thật anh em: Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy" (Ga 13,19-20). Trong thư thứ nhất, thánh Gio-an Tông Đồ viết: "Ai chối Chúa Con thì cũng không có Chúa Cha; kẻ tuyên xưng Chúa Con thì cũng có Chúa Cha" (1 Ga 2,23). Trong thư thứ hai, ngài viết: "Phàm ai đi quá xa, không ở lại trong giáo huấn của Đức Ki-tô, thì không có Thiên Chúa. Còn ai ở lại trong giáo huấn, thì người ấy có Chúa Cha và Chúa Con" (2 Ga 1,9).

Đức Giê-su cho mọi người biết rằng công việc của Người là công việc của Chúa Cha. Chẳng hạn, tại Giê-ru-sa-lem, sau khi chữa người bất toại lâu năm tại hồ Bết-da-tha, Người nói với những người Do-thái: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc" (Ga 5,17) hay: "Người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy" (Ga 5,19) hay: "Những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi" (Ga 5,36). Trong dịp Lễ Cung Hiến Đền Thờ, Đức Giê-su nói với những người Do-thái: "Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi" (Ga 10,25) hay: "Nếu tôi không làm các việc của Cha tôi, thì các ông đừng tin tôi. Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng: Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha" (Ga 10,37-38). Trong Bữa Ăn Cuối Cùng với các môn đệ, Đức Giê-su nói với họ: "Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm" (Ga 14,11).

Khi dạy các môn đệ Kinh Lạy Cha, Đức Giê-su không đặt mình bên ngoài cộng đoàn đang lắng nghe Người: "Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời" (Mt 6,9). Quả thật, nhờ biến cố Người hiện diện trên trần gian, mọi người được mời gọi trở thành con cái Thiên Chúa. Như vậy, Chúa Cha vừa là Cha của Đức Giê-su, vừa là Cha của những ai đón nhận, tin tưởng và thực hành lời Đức Giê-su. Người là Con của Chúa Cha theo bản tính, còn con người trở thành con của Chúa Cha nhờ ân sủng, nghĩa là nhờ công nghiệp cứu độ của Người. Chính Người ban cho con người phúc làm con Thiên Chúa, như Tin Mừng theo thánh Gio-an khẳng định: “Những ai đón nhận Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Sau khi phục sinh, Đức Giê-su nói với Ma-ri-a Mác-đa-la: "Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em" (Ga 20,17). Như vậy, nhờ Đức Giê-su, phẩm giá con người được kiện toàn, nghĩa là con người không chỉ 'được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa' mà còn được nâng lên địa vị là 'con cái Thiên Chúa' nhờ ân sủng của Đức Giê-su.

Khi trình bày tương quan giữa Đức Giê-su là Chúa Con với Chúa Cha, thánh Tô-ma A-qui-nô viết: "Chúa Cha không sinh ra Chúa Con do ý muốn nhưng do bản tính; và bản tính của Chúa Cha đã hoàn hảo từ đời đời; hơn nữa, hành động nhờ đó Chúa Cha phát sinh Chúa Con không phải là hành động diễn tiến theo trình tự, vì nếu vậy Chúa Con sẽ được sinh ra cách tiệm tiến, và việc sinh ra ấy sẽ mang tính vật chất và kèm theo chuyển động, điều hoàn toàn không thể chấp nhận. Do đó, chúng ta kết luận rằng Chúa Con hiện hữu bất cứ khi nào Chúa Cha hiện hữu, và như thế Chúa Con đồng hằng hữu với Chúa Cha" (Thomas Aquinas, Summa Theologiae I, Q.42, a.2). Theo Kinh Tin Kính Nicaea-Constantinople (AD 325-381), Đức Giê-su là: "Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha."

Đức Giê-su hằng hướng về Chúa Cha trong đời sống nội tại của Chúa Ba Ngôi cũng như trong hành trình trần thế của Người. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su là Ngôi Lời vĩnh cửu, hằng hướng về Chúa Cha (Ga 1,1-3). Cũng theo thánh nhân, hành trình trần thế của Đức Giê-su là hành trình hướng về Chúa Cha như chính Người đã từng nói với các môn đệ. Trong Bữa Ăn Cuối Cùng trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nhắc lại cho các môn đệ ý thức về điều đó: "Anh em đã nghe Thầy bảo: Thầy ra đi và đến cùng anh em. Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha " (Ga 14,28). Người còn khẳng định cách rõ ràng hơn: "Thầy từ Chúa Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha" (Ga 16,28).

Những lời cuối cùng của Đức Giê-su trên thập giá là những lời thân thưa cùng Chúa Cha. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mát-thêu cho chúng ta biết rằng trên thập giá, từ giờ thứ Sáu đến giờ thứ Chín (tức từ mười hai giờ Trưa đến ba giờ Chiều) bóng tối bao trùm mặt đất. Đặc biệt, khi Đức Giê-su trút hơi thở cuối cùng: "Bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ" (Mt 27,51). Như vậy, nhờ Đức Giê-su, bức màn từng ngăn cách con người với Thiên Chúa được mở ra để con người có thể chiêm ngưỡng Thiên Chúa cách tỏ tường hơn. Tác giả thư gửi các tín hữu Do-thái viết: "Người đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người. Chúng ta lại có một vị tư tế cao trọng đứng đầu nhà Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn, vì trong lòng thì đã được tẩy sạch mọi vết nhơ của lương tâm, còn ngoài xác thì đã được tắm rửa bằng nước tinh tuyền" (Dt 10,21-23).

Đức Giê-su luôn hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong đời sống nội tại cũng như trong chương trình cứu độ trần gian. Chẳng hạn, trong biến cố Truyền Tin, sứ thần Gáp-ri-en nói với Đức Ma-ri-a: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa" (Lc 1,35). Đặc biệt, sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần ứng nghiệm lời Thiên Chúa trong Cựu Ước (Is 61,1-3; Lc 4,18). Chúa Thánh Thần luôn hiện diện với Đức Giê-su, chẳng hạn như khi Người chịu Phép Rửa (Mt 3,16–17; Lc 3,21–22); khi Người vào hoang địa (Mt 4,1; Lc 4,1); khi Người loan báo Tin Mừng công khai (Lc 4,14). Tác giả thư gửi các tín hữu Do-thái viết: "Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa" (Dt 9,14). Trong Bữa Ăn Cuối Cùng với các môn đệ, chính Đức Giê-su khẳng định với họ: "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến" (Ga 16,13). Điều này giúp chúng ta hiểu biết thêm về đời sống nội tại của Chúa Ba Ngôi cũng như sự hiện diện và hoạt động của Chúa Ba Ngôi trong chương trình cứu độ, thánh hóa con người và biến đổi muôn vật muôn loài.

3.3 Đức Giê-su Lắng Nghe Lời Con Người

Các môn đệ Đức Giê-su gặp không ít khó khăn trong hành trình theo Người vì những lời nói và việc làm của Đức Giê-su vượt quá sự hiểu biết của họ. Họ lắng nghe, nhìn thấy và đụng chạm Đức Giê-su nhưng sự hiểu biết của họ về căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người vẫn hạn hẹp. Đó là lý do tại sao họ thường cầu xin Đức Giê-su giải thích cho họ hiểu những lời nói và việc làm của Người. Chúng ta có thể khẳng định rằng các môn đệ đã lắng nghe và tin tưởng vào Đức Giê-su trước khi có thể hiểu biết Người cách trọn vẹn hơn. Đặc biệt, với Biến Cố Vượt Qua của Người, tâm trí họ được đổi mới và họ trở thành khí cụ của Người cho đến hơi thở cuối cùng để phục vụ chương trình của Thiên Chúa.

Khi loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su luôn mời gọi mọi người hãy 'lắng tai' để có thể đón nhận những điều vượt quá tâm thức mình. Chẳng hạn, sau khi Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Người cho các môn đệ biết rằng Người phải chịu nhiều đau khổ, chịu chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Thánh Mác-cô trình thuật rằng: "Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người" (Mc 8,32). Đức Giê-su nói với Phê-rô: "Xa-tan! Lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" (Mc 8,33). Trong hành trình theo Thầy, Phê-rô biết rằng Đức Giê-su là Đấng quyền năng vì Người đã làm biết bao điều kỳ diệu để nâng đỡ người khác, chẳng hạn như chữa bệnh, trừ quỉ, hồi sinh kẻ chết, đi trên mặt biển và dẹp yên bão tố (Mc 2,1-12; Mc 5,1-20; Mc 5,21-43; Mc 4,35-41, Mc 6,45-52). Tuy nhiên, Phê-rô không thể hình dung nổi Đấng Mê-si-a lại phải chịu đau khổ, chịu chết. Nói cách khác, Phê-rô 'nghe' Đức Giê-su nói nhưng không 'lắng' để hiểu biết Người, nghĩa là không thực sự lĩnh hội mặc khải của Đức Giê-su cách đầy đủ.

Đức Giê-su thường tìm cách gợi ý để người khác có thể trình bày những vấn đề mà họ quan tâm cũng như những nỗi đau, niềm thất vọng mà họ đang phải gánh chịu. Người lắng nghe họ cách vô điều kiện và cho họ biết rằng họ được trân quý trước nhan Người. Chẳng hạn, Người xót thương kẻ bị phong hủi và không ngần ngại 'đụng vào' thân thể anh (Mc 1,41); Người chạnh lòng thương đám đông đang sống trong cảnh vất vưởng, đói khát (Mc 6,34); Người cảm thông với người phụ nữ Na-in có đứa con trai duy nhất vừa qua đời và ra tay cứu giúp (Lc 7,11-17); Người thương những người yếu hèn và quan tâm những người đang phải đối diện với khổ đau, mất mát. Chẳng hạn, Người xúc động, thổn thức trong lòng và rơi lệ khi thấy Mác-ta, Ma-ri-a và nhiều người khác đang khóc thương vì La-da-rô đã chết (Ga 11,33–35). Sau đó, Người cho La-da-rô từ cõi chết sống lại, dù anh đã nằm trong mồ bốn ngày (Ga 11,43-44).

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mác-cô cho chúng ta biết Đức Giê-su và đám đông đang ra khỏi thành Giê-ri-khô thì gặp một người mù tên là Ba-ti-mê. Giữa cảnh ồn ào náo động, Ba-ti-mê van nài Đức Giê-su: “Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!” (Mc 10,47). Nhiều người ngăn cản và bảo anh ta im đi, nhưng anh càng kêu lớn tiếng hơn. Đức Giê-su dừng lại, lắng nghe lời cầu khẩn của Ba-ti-mê và chữa lành cho anh. Nếu Đức Giê-su chỉ chú ý đến tiếng ồn ào của đám đông mà không lắng nghe tiếng kêu của Ba-ti-mê thì chắc rằng anh đã không có cơ hội được chữa lành. Giữa cảnh ồn ào náo động, Đức Giê-su vẫn lắng nghe tiếng kêu cầu của những ai đến với Người trong niềm tin và sẵn sàng đáp lại lời cầu xin của họ. Điều quan trọng không chỉ là Ba-ti-mê được sáng mắt mà còn được sáng lòng, bởi vì từ đây, anh liền bước theo Đức Giê-su trên con đường của Người (Mc 10,46-52).

Câu chuyện Đức Giê-su gặp người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp là trình thuật điển hình về cách thức Đức Giê-su lắng nghe con người. Trong cuộc gặp gỡ ấy, Người không khởi đầu bằng việc trình bày những điều trừu tượng về căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người, cũng như không giải thích hay trưng dẫn lời Thiên Chúa trong Cựu Ước liên quan đến Người nhưng bằng việc đi vào hoàn cảnh và đời sống thực tế của người đối diện. Cụ thể là Người chỉ xin người phụ nữ Sa-ma-ri cho uống nước, lắng nghe chị và chia sẻ với chị câu chuyện đời mình. Dần dần, Người mặc khải cho chị biết tình trạng đời sống của chị. Người cũng cho chị biết về việc phụng thờ Thiên Chúa đích thực và sự sống vĩnh cửu cho những ai theo Người. Qua đó, người phụ nữ Sa-ma-ri hiểu biết Người hơn (Ga 4,1-42). Như vậy, khởi đi từ những điều rất đỗi bình thường của đời sống con người như ăn uống, gia đình và các mối tương quan, Đức Giê-su đã từng bước mời gọi người phụ nữ Sa-ma-ri hướng lòng mình về 'nước hằng sống', tức là nguồn mạch giải tỏa tận căn mọi khát vọng sâu xa của con người nơi trần gian. Quả thật, xét về phương diện thể lý, con người luôn mang trong mình nhiều khát vọng; xét về phương diện tâm linh, khát vọng con người còn sâu xa và mãnh liệt hơn gấp bội bởi vì thế giới thụ tạo, tự bản chất, không thể đáp ứng trọn vẹn những hoài bão thâm sâu của con người. Đức Giê-su cho thấy rằng chỉ nơi Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch sự sống, con người mới tìm thấy câu trả lời xứng hợp cho phẩm giá cao quý của mình.

Đức Giê-su lắng nghe những người không được lắng nghe: Những người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ, những người không cùng niềm tin tôn giáo. Đức Giê-su cũng lắng nghe những người đại diện thẩm quyền tôn giáo. Chẳng hạn, trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng các kinh sư và những người Pha-ri-sêu dẫn một phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình tới gặp Đức Giê-su và nhờ Người phân xử (Ga 8,1-11). Bấy giờ, chính Đức Giê-su nói với những người lên án người phụ nữ: "Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi" (Ga 8,7). Sau khi mọi người bỏ đi, Người căn dặn người phụ nữ: "Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!" (Ga 8,11). Như vậy, Đức Giê-su giúp mọi người biết tự vấn lương tâm mình trước khi lên án người khác, đồng thời giúp người phạm tội nhận ra lỗi lầm của mình để ăn năn hối cải và trở về đường ngay nẻo chính. Hệ luận phát sinh từ biến cố này cho thấy rằng lề luật được ban ra nhằm giáo dục, sửa dạy và hoán cải con người, chứ không phải để kết án hay tiêu diệt những kẻ lầm lỗi.

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết Đức Giê-su lắng nghe và cứu chữa một người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-41). Ông rất khổ sở bởi vì bị mọi người khinh thường, xa lánh. Đặc biệt, trong xã hội Do-thái thời Đức Giê-su, người ta xem các hình thức đau khổ chẳng hạn như bệnh tật hay mù lòa là do tội lỗi tổ tiên. Đức Giê-su không đồng quan điểm với dân Do-thái về tư tưởng này. Đối với Người, anh ta bị mù không phải vì tội mình cũng không phải vì tội cha mẹ. Người nói: "Sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh" (Ga 9,3). Nhờ sự gặp gỡ Đức Giê-su, người mù từ thuở mới sinh không chỉ được sáng mắt mà còn nhận ra và tin vào Người. Không những thế, anh còn trở thành chứng nhân của Đức Giê-su trước đám đông đang xì xầm bàn tán về anh cũng như về chính Đức Giê-su. Quả thật, người mù ấy đã lắng nghe và theo Đức Giê-su. Trái lại, biết bao người khác đã nghe lời Đức Giê-su và chứng kiến những việc Người làm nhưng vẫn đóng cửa tâm hồn mình đối với Người.

4. THEO ĐƯỜNG LẮNG NGHE CỦA ĐỨC GIÊ-SU

4.1 Đức Giê-su – Đường Lắng Nghe

Trong Bữa Ăn Cuối Cùng của Đức Giê-su với các môn đệ, ông Tô-ma hỏi Người: "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?" Người đáp: "Chính Thầy là Đường" (Ga 14,6). Những trình bày trên đây cho phép chúng ta khẳng định rằng Đường của Đức Giê-su là Đường Lắng Nghe và mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đi trên Đường của Người. Bởi vì Người trở thành Tiêu Chuẩn, Khuôn Mẫu và Mô Thức cho mọi người đang trăn trở về Nguồn Gốc và Cùng Đích của đời mình. Để được gắn bó với Người trong hành trình trần thế cũng như trong Quê Hương Vĩnh Cửu, tất cả được mời gọi lắng nghe và thực hành lời Người.

Nhiều lần trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su nói với những người đang hiện diện rằng: "Ai có tai nghe thì nghe!" (Mt 11,15; Mt 13,43; Mc 4,9.23; Mc 7,16 và Lc 8,8; Lc 14,35). Tác giả sách Khải Huyền viết thư cho bảy Hội Thánh trong Giáo Hội sơ khai với lời tương tự: "Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh", chẳng hạn như thư gửi Hội Thánh Ê-phê-xô (Kh 2,7); thư gửi Hội Thánh Xi-miếc-na (Kh 2,11); thư gửi Hội Thánh Péc-ga-mô (Kh 2,17); thư gửi Hội Thánh Thy-a-ti-ra (Kh 2,29); thư gửi Hội Thánh Xác-đê (Kh 3,6); thư gửi Hội Thánh Phi-la-đen-phi-a (Kh 3,13); thư gửi Hội Thánh Lao-đi-ki-a (Kh 3,22). Lời mời gọi ấy cũng được tác giả sách Khải Huyền nhắc đến khi trình bày thị kiến về Con Mãng Xà trao quyền cho Con Thú: “Ai có tai thì hãy nghe” (Kh 13,9). Khi nói rằng 'ai có tai thì hãy nghe', Đức Giê-su hay tác giả sách Khải Huyền không chỉ nhắm đến khả năng nghe theo nghĩa thể lý mà còn hướng đến chiều kích nội tâm của người nghe. Chỉ những ai có tâm hồn được chuẩn bị sẵn sàng mới có thể thực sự lắng nghe lời Thiên Chúa. Do đó, nếu không có khát vọng, không có sự chuẩn bị và không có thái độ sẵn sàng, con người không thể lắng nghe lời Thiên Chúa cách xứng hợp.

Là con người, ai cũng gặp muôn vàn khó khăn, thử thách khi lắng nghe lời Thiên Chúa. Quả thật, Thiên Chúa luôn nói với con người trong mọi nơi mọi lúc. Tuy nhiên, con người lại không thể lắng nghe lời Người vì con người đặt ưu tiên cho việc lắng nghe nhiều 'lời' khác nữa, cả những lúc có ý thức hoặc vô ý thức. Nghe, hiểu và thực hành lời Thiên Chúa không dễ dàng, bởi vì, nghe đã khó, hiểu và thực hành lại còn khó hơn: Khó vì giới hạn của tri thức cá nhân, bối cảnh văn hóa xã hội, các mối quan hệ và môi trường sống. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su nói 'hãy yêu kẻ thù', nhiều người cho rằng lời căn dặn của Người mang tính lý thuyết hơn là thực hành. Tuy nhiên, nếu ai thành tâm lắng nghe và tìm hiểu, họ sẽ nhận ra rằng lời Người thật huyền diệu, giáo huấn Người thật cao siêu và ý định Người thật vi diệu.

Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta nhận thức rằng xã hội loài người càng phát triển thì con người càng phải nghe nhiều thứ hơn. Con người nghe và đồng hóa nhiều thứ đến nỗi tâm hồn mình trở nên chật chội, không còn chỗ cho lời Thiên Chúa hiện diện và hoạt động. Thật nghịch lý, cô đơn đang trở thành như đại dịch trong thế giới đầy ắp tiếng động hôm nay. Con người cô đơn không hẳn vì cuộc đời hiu quạnh nhưng vì bị bao vây bởi quá nhiều tiếng ồn. Con người còn cô đơn vì nhiều lý do khác nữa, chẳng hạn như có người cô đơn vì không ai lắng nghe mình; có người cô đơn vì bị người đời xa lánh; có người cô đơn vì không thể chung sống với người khác; có người cô đơn vì tuổi già và sức yếu. Như vậy, cô đơn hôm nay không chỉ là tình trạng xã hội hay tâm lý nhưng còn là dấu chỉ của cuộc khủng hoảng thiêng liêng khi con người đánh mất khả năng lắng nghe và bước vào mối tương quan chân thực với Thiên Chúa, với anh chị em mình cũng như với muôn vật muôn loài.

Mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi đồng tâm hiệp lực kiến tạo 'nền văn hóa lắng nghe'. Chúng ta có thể khẳng định rằng khi nền văn hóa lắng nghe hiện diện giữa gia đình nhân loại cũng là lúc mọi người có thể lắng nghe nhau, cùng nhau xây dựng ngôi nhà toàn cầu, trong đó mọi người ý thức hơn về việc lắng nghe thực tại đang diễn tiến cũng như các tương quan khác trong xã hội loài người. Khi lắng nghe trở thành đặc tính cốt yếu cũng là lúc mọi người biết quan tâm đến nhau hơn, ý thức về lợi ích người khác và sẵn lòng giúp đỡ người khác hơn. Nền văn hóa lắng nghe hôm nay luôn phải đối diện với nhiều hiện tượng, khuynh hướng và não trạng khác nhau đang nảy sinh và lan rộng mà nhiều người lại dán nhãn là 'văn hóa', chẳng hạn như: 'văn hóa lãnh đạm', 'văn hóa bài bác những gì được xem là linh thiêng', 'văn hóa rút lui khỏi các cam kết lành thánh', 'văn hóa hướng ngoại', 'văn hóa lấy cái tôi làm trung tâm', 'văn hóa phê bình và kết án người khác', 'văn hóa sùng bái cá nhân', cũng như nhiều biểu hiện khác đang dần làm suy yếu khả năng lắng nghe và đối thoại đích thực của con người với chính mình, với anh chị em, với thế giới thụ tạo và với Thiên Chúa.

Là Ki-tô hữu, chúng ta xác tín rằng lắng nghe lời Thiên Chúa là điều kiện để mọi người trong đại gia đình nhân loại cùng nhau xây dựng 'ngôi nhà chung' (common home) trong đó mọi người luôn quan tâm đến phẩm giá tối thượng của con người giữa muôn vật muôn loài. Lắng nghe Thiên Chúa giúp con người ý thức rằng sự hiện diện và hoạt động của mình trên trần gian là nhờ tình thương vô biên của Người. Con người được mời gọi lắng nghe tiếng nói lương tâm lành mạnh để có thể phân biệt đúng, sai, lành, dữ, tốt, xấu trong đời sống hằng ngày; lắng nghe anh chị em để có thể hiểu biết, thông cảm và chia sẻ với họ; lắng nghe thế giới thụ tạo để ý thức rằng mình là thực thể nhỏ bé và thế giới thụ tạo là 'món quà' vô giá mà Thiên Chúa ban tặng cho gia đình nhân loại.

Lắng nghe cách chân thành và thực hành điều mình lắng nghe thể hiện sự giao thoa và cộng hưởng giữa thánh ý Thiên Chúa với việc con người tự do đáp lại thánh ý Người. Trong đó, thánh ý Thiên Chúa luôn là khởi nguyên, tinh tuyền, chủ đạo, còn sự tự do đáp lại của con người lại tùy thuộc vào tình trạng nội tâm, sự xác tín và lòng khao khát hướng về Thiên Chúa. Khi con người biết lắng nghe Trời, lắng nghe người, lắng nghe đời, đó cũng là khi con người ý thức được sự cần thiết để đồng lòng hợp tác với nhau và giúp nhau trong việc biến đổi bản thân và biến đổi các hình thức tập thể trong gia đình nhân loại hầu xây dựng bầu khí sống động dựa trên lời Thiên Chúa để có thể thực hành mọi công việc với tình bác ái chân thành (Gl 5,13).

Thánh Gia-cô-bê mời gọi các Ki-tô hữu: "Anh em thân mến của tôi, anh em nên biết rằng: Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa" (Gc 1,19-20). Quả thật, 'mau nghe, chậm nói, khoan giận' cần phải là châm ngôn sống của các Ki-tô hữu, của những người theo Đường Đức Giê-su, Đường Lắng Nghe, trong hành trình trần thế của mình. Ai đi trên Đường Lắng Nghe của Đức Giê-su thì được mời gọi lắng nghe tiếng nói của mọi người, nhất là những người đau khổ, bị bỏ rơi, bị loại trừ, bị coi là 'không quan trọng' trong xã hội loài người.

Lắng nghe hay không lắng nghe lời Thiên Chúa là điều hệ trọng, liên quan trực tiếp đến đặc sủng, ơn gọi và đời sống con người. Người chỉ lắng nghe mà không thực hành lời Thiên Chúa thì lời Người không thể sinh hoa trái trong đời sống mình. Khi con người lơ đễnh trong việc lắng nghe lời Thiên Chúa thì con người cũng lơ đễnh đối với lương tâm của mình cũng như các tương quan với anh chị em và với vạn vật. Công Đồng Vatican II khẳng định: "Những người không nghe theo tiếng nói của lương tâm, cố tình loại trừ Thiên Chúa ra khỏi lòng mình và tránh né những vấn đề tôn giáo, chắc chắn họ mắc lỗi" (GS 19). Trái lại, khi con người biết lắng nghe lời Thiên Chúa cách chăm chú và thực hành lời Người cách trung tín cũng là khi con người thấm đượm giáo lý của Đức Giê-su và dõi theo Người, Đấng vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và mãi tới muôn đời (Dt 13,8).

4.2 Sống Theo Đường Lắng Nghe

Khi loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe" (Mt 13,16-17). Đức Giê-su nói những lời này trong bối cảnh Người trình bày mầu nhiệm Nước Thiên Chúa cho các thính giả. Quả thật, sứ mệnh trần thế của Đức Giê-su là loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa và mời gọi mọi người hoán cải, tin vào Tin Mừng để được trở thành thành phần của Nước Thiên Chúa. Nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Giê-su cho mọi người biết rằng sự hiện diện và hoạt động của Người chính là sự hiện diện và hoạt động của Nước Thiên Chúa (Mt 12,28; Mc 1,14-15; Lc 22,29-30). Những ai được nghe và thấy Đức Giê-su là người có phúc bởi vì họ được nghe và chiêm ngưỡng Nước Thiên Chúa.

Đức Giê-su mời gọi mọi người 'coi mình như trẻ nhỏ' để trở thành công dân của Nước Thiên Chúa. Kinh nghiệm giúp chúng ta hiểu rằng trẻ nhỏ cần phải lắng nghe để được hướng dẫn, được giáo dục, được trưởng thành và được phát triển toàn diện. Chính Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Thầy bảo thật anh em: Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời" (Mt 18,3-4). Qua việc giới thiệu hình ảnh trẻ nhỏ, Đức Giê-su mời gọi mọi người biết hạ mình, sống khiêm tốn, trút bỏ chính mình để có thể lắng nghe, lĩnh hội và thi hành thánh ý Thiên Chúa. Thật vậy, hạ mình, khiêm tốn, trút bỏ bản thân luôn là những đặc tính cao trọng mà Đức Giê-su không ngừng dạy các môn đệ, cũng như những ai tin tưởng, đón nhận và bước theo Đường của Người qua dòng thế kỷ.

Khi con người lắng nghe lời Thiên Chúa và dành chỗ xứng hợp trong tâm hồn mình cho lời Người cũng là khi con người có thể sống và hành động nhân danh Người đối với anh chị em mình. Đồng thời, khi đó lời Thiên Chúa trở nên của ăn thiêng liêng nuôi dưỡng sự phát triển con người toàn diện. Đặc biệt, việc lắng nghe lời Thiên Chúa giúp con người ngày càng trưởng thành hơn trong đời sống đức tin, đức cậy và đức mến. Như vậy, đối với các môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, đời sống thánh thiện luôn là lý tưởng cao cả nhất. Chính lời Thiên Chúa nuôi dưỡng con người và làm cho con người ngày càng thánh thiện hơn và khi trở nên thánh thiện hơn, con người cảm nhận sự cần thiết phải học hỏi, lắng nghe, suy niệm và chiêm niệm lời Thiên Chúa. Nhờ đó, con người biết thực hành lời Thiên Chúa trên bình diện cá nhân cũng như trong các hình thức cộng đoàn mà mình hiện diện và hoạt động. Để được như vậy, con người cần ý thức rằng lời Thiên Chúa không chỉ là 'đối tượng' để con người khám phá và học hỏi mà đúng hơn là 'chủ thể' của đời sống mình.

Người lắng nghe Đức Giê-su cách chân thành cũng là người nhận ra rằng mình cần đặt niềm hy vọng vào Người vì chính Người đồng hành, hướng dẫn và làm cho mình trở thành khí cụ hữu hiệu của Người. Do đó, sự biến đổi lương tâm trong sáng hơn luôn là điều quan trọng để bản thân có thể lắng nghe Người cách xứng hợp. Hơn ai hết, chính Đức Giê-su giúp con người được biến đổi để 'trở thành người hơn'. Các Ki-tô hữu chỉ có thể thực thi giới răn yêu thương của Đức Giê-su đối với anh chị em mình khi luôn ý thức về sự cần thiết phải lắng nghe Người và cảm nhận được sự gần gũi của Người nơi bản thân mình mọi nơi, mọi lúc. Nói cách khác, lắng nghe Đức Giê-su là điều kiện tiên quyết trong việc tuân giữ và thực thi giới răn Người trong đời sống mình. Ai lắng nghe Đức Giê-su cách chân thành thì có thể đến với anh chị em mình cách quảng đại, bằng không, chỉ với khả năng bản thân, không ai có thể đến với anh chị em và lắng nghe họ theo thánh ý Thiên Chúa.

Từ thơ bé đến trưởng thành, con người trải qua nhiều môn học khác nhau nhưng hầu như không ai được học môn 'lắng nghe'. Quả thật, trong khi lắng nghe chiếm phần lớn thời gian trong đời sống học tập và giao tiếp thì kỹ năng căn bản này lại thường bị xem nhẹ. Vì thế, mọi người được mời gọi học cách lắng nghe, để nhờ việc lắng nghe những điều tốt đẹp và lành thánh, bản thân được hoán cải và biến đổi. Đặc biệt, đối với các Ki-tô hữu, lắng nghe không chỉ giới hạn trong phạm vi hiểu biết cá nhân mà còn trong các hình thức cộng đoàn để có thể phân định, điều chỉnh và đón nhận sứ điệp Tin Mừng cách đúng đắn. Như thế, lắng nghe không chỉ là phương thế thu nhận kiến thức mà còn là yếu tố quyết định trong việc định hình căn tính, đời sống và sứ mệnh con người.

Tâm hồn biết lắng nghe lời Thiên Chúa cách xứng hợp không phải là điều tự nhiên hay thuần túy là bản năng mà là kết quả sự chuyên chăm tập luyện trong tỉnh thức. Lịch sử Giáo Hội minh chứng rằng con người trở nên vĩ đại không hệ tại ở việc nói nhiều hay hành động vội vã nhưng nhờ biết chú tâm lắng nghe: Lắng nghe lời Thiên Chúa, lời lương tâm ngay thẳng, lời của anh chị em đồng loại. Khi con người không trau dồi, không làm quen và không yêu thích việc lắng nghe thì họ cũng khó có thể hoàn thành tốt bất cứ công việc nào bởi lẽ lắng nghe chính là cửa ngõ cho mọi tiến trình tiếp nhận, phân định, tích hợp và áp dụng vào đời sống hằng ngày. Lắng nghe quan trọng đến mức, nếu đánh mất khả năng ấy, con người có nguy cơ làm tổn thương phẩm giá mình, khi mình quan tâm nhiều hơn đến những điều vô bổ thay vì những gì thực sự hữu ích cho bản thân và cho anh chị em đồng loại.

Học cách phát triển khả năng lắng nghe được xem là điều cần thiết cho mọi người. Cụ thể là mọi người được mời gọi luôn thành tâm trong việc học cách lắng nghe và chia sẻ kinh nghiệm của mình cho những người khác. Trong bất cứ hình thức cộng đoàn nào, khi mọi người biết lắng nghe Chúa Thánh Thần và lắng nghe nhau thì cộng đoàn đó sẽ phát triển bền vững, đi đúng hướng và đem lại lợi ích thiết thực cho các thành viên. Môn đệ và tông đồ Đức Giê-su là người biết lắng nghe lời Thiên Chúa, hiểu biết lời Thiên Chúa và sống theo lời Thiên Chúa trong hành trình trần thế của mình.

Lịch sử gia đình nhân loại cho phép chúng ta nhận thức rằng sự kết nối giữa người với người hay giữa các hình thức tập thể của xã hội ngày càng đa chiều và năng động hơn. Lắng nghe Đức Giê-su là điều kiện cần thiết để kết nối cách chân thành với Thiên Chúa, với nhau và với muôn vật muôn loài. Qua mọi thời, kết nối luôn là điều cần thiết để làm cho con người được phát triển toàn diện: Kết nối với ai, với hiện tượng hay biến cố nào đều có âm hưởng sâu sắc tới hữu thể có tên gọi là 'con người', đầu đội trời và chân đạp đất. Kết nối lạc nhịp khiến con người trở nên miếng mồi béo bở cho thế giới bóng đêm, thế giới ma quỷ, thế gian, xác thịt; ngược lại, kết nối đồng nhịp với Đức Giê-su, Đường Lắng Nghe, giúp con người có được bình an ngay cả khi phải gánh chịu muôn hình thức nghịch cảnh trong cuộc sống.

Là Ki-tô hữu, mọi người được mời gọi lắng nghe lời thế giới thụ tạo. Trong Buổi Tiếp Kiến Chung (General Audience) vào thứ Tư, ngày 26 tháng 01 năm 2000, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói: "Đối với người tín hữu, chiêm ngắm công trình tạo dựng cũng là lắng nghe lời nhắn gửi, lắng nghe tiếng nói thinh lặng và nhiệm mầu." Quả thật, dấu ấn Thiên Chúa in đậm trên muôn vật muôn loài. Vì thế, mọi người được mời gọi chiêm ngắm và lắng nghe tiếng nói của chúng, tiếng nói phản chiếu quyền năng và tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, ông Gióp nói với bạn mình là Xô-pha, người Na-a-ma rằng: "Anh cứ hỏi súc vật, chúng sẽ chỉ giáo cho anh, cứ hỏi chim trời, chúng sẽ cho anh biết. Thú rừng sẽ chỉ giáo cho anh hay, cá biển sẽ giải thích cho anh rõ. Vì trong giống vật, có con nào lại không biết rằng tay Đức Chúa đã làm nên những điều đó!" (G 12,7-9).

Thánh Gio-an viết: "Lý do khiến chúng ta được mạnh dạn trước mặt Thiên Chúa, đó là: Người nhậm lời chúng ta, khi chúng ta xin điều gì hợp ý Người" (1 Ga 5,14). Lắng nghe lời Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện giúp con người sống theo thánh ý Người, chứ không theo ý riêng bản thân mình. Theo thánh Tô-ma A-qui-nô: "Con người biểu lộ sự kính tôn đối với Thiên Chúa nhờ lời cầu nguyện, xét như người ấy quy phục mình dưới quyền Thiên Chúa, và khi cầu nguyện, người ấy tuyên xưng rằng mình cần Người, Đấng ban phát mọi sự thiện hảo của mình" (Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II, q.83, a.3). Kinh nghiệm của các nhà thần bí trong lịch sử Giáo Hội cho chúng ta biết rằng lắng nghe luôn là điểm khởi đầu nền tảng, giúp con người bước vào cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Từ nền tảng ấy, suy niệm, cầu nguyện và chiêm niệm trở thành những chặng đường tiếp nối, đưa tâm hồn đi sâu vào niềm vui và sự bình an sâu thẳm, mà ngôn từ khó có thể diễn tả. Qua những thực hành này, con người đến gần Thiên Chúa ngay trong không gian và thời gian của đời sống thường nhật, đồng thời được nâng lên để chạm tới chiều kích siêu việt mọi giới hạn không gian, thời gian và thế giới thụ tạo.

4.3 Loan Báo Tin Mừng Đường Lắng Nghe

Trước khi về trời, Đức Giê-su trao sứ mệnh cho các môn đệ loan báo Tin Mừng của Người khắp thế gian. Điều này có nghĩa rằng Tin Mừng của Đức Giê-su là Tin Mừng cho mọi người trong gia đình nhân loại bởi vì Tin Mừng này không xa lạ với bất cứ nền văn hóa nào. Đến lượt mình, nhân danh Đức Giê-su, các môn đệ cũng trao sứ mệnh này cho nhiều người khác nữa. Để loan báo Tin Mừng hiệu quả, một mặt, người loan báo Tin Mừng lắng nghe lời Thiên Chúa và sống theo lời Người. Mặt khác, người loan báo Tin Mừng cũng cần lắng nghe thực tại, hoàn cảnh và môi trường mà Tin Mừng hướng tới. Câu hỏi đặt ra là: 'Loan báo bằng cách nào?' Thưa, bằng cách kể lại cho mọi người nghe câu chuyện của Đức Giê-su: Những lời Người đã nói, những việc Người đã làm, nhất là Biến Cố Vượt Qua của Người. Lịch sử Giáo Hội sơ khai cho chúng ta biết rằng vì được đào luyện và định hình trong việc lắng nghe theo khuôn mẫu Đức Giê-su, các môn đệ đã trở thành những chứng nhân thực thụ của Người.

Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng An-rê nguyên là môn đệ của Gio-an Tẩy Giả, khi nghe thầy mình giới thiệu Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa và là Đấng cứu độ trần gian, An-rê liền theo Đức Giê-su. Sau đó, chính An-rê gặp em mình là Si-mon, cũng gọi là Phê-rô và dẫn Phê-rô tới gặp Đức Giê-su. Nhờ gặp gỡ và lắng nghe Đức Giê-su, An-rê, Phê-rô cũng như hai anh em con ông Dê-bê-đê là Gio-an và Gia-cô-bê đã trở thành những môn đệ đầu tiên ở lại với Đức Giê-su, lắng nghe Người rao giảng, chứng kiến những việc Người làm để chuẩn bị cho sứ vụ loan báo Tin Mừng sau này. Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cầu nguyện cùng Chúa Cha cho các môn đệ: "Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian" (Ga 17,18). Cũng chính Gio-an viết cho mọi người: "Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người" (1 Ga 1,3).

Nhiều trình thuật Tin Mừng cho chúng ta biết rằng đa số các môn đệ Đức Giê-su là những người bình dân, chất phác nhưng lại được Người tuyển chọn để cộng tác vào công trình cứu độ. Sau khi Đức Giê-su phục sinh, Thần Khí của Người là Chúa Thánh Thần luôn đồng hành và hướng dẫn họ. Nhờ đó, họ trở thành những người can đảm trong việc loan báo Tin Mừng. Quả thật, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến" (Ga 16,13). Đức Giê-su phục sinh đã tỏ mình cho các môn đệ thân tín để trao ban bình an, trao ban Chúa Thánh Thần và củng cố đức tin cho các ngài (Ga 20,21-22). Nhờ đó, các ngài có thêm sức mạnh trong hành trình loan báo Tin Mừng đầy nghịch cảnh. Nhờ Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động, các môn đệ có thể nói các thứ tiếng khác nhau và dùng chính ngôn ngữ của muôn dân mà loan báo những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giê-su (Cv 2,9–11).

Thánh Phao-lô thường đề cao việc lắng nghe của các Ki-tô hữu liên quan đến việc loan báo Tin Mừng, chẳng hạn như trong thư gửi tín hữu Rô-ma, ngài viết: "Làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?" (Rm 10,14-15). Cũng theo thánh nhân: "Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Ki-tô" (Rm 10,17). Trong tài liệu đúc kết của Thượng Hội Đồng Giám Mục Về Giới Trẻ (2018) có đoạn: “Việc lắng nghe làm cho sự trao đổi các ân huệ trở nên khả thể trong một bối cảnh cảm thông... Đồng thời, việc lắng nghe cũng tạo nên những điều kiện cho việc rao giảng Tin Mừng có thể chạm đến tâm hồn một cách đích thực, dứt khoát và sinh hoa trái” (Final Document 8).

Để có thể loan báo Tin Mừng cách hiệu quả, các Ki-tô hữu cần ý thức hơn về tầm quan trọng của việc lắng nghe trong thinh lặng. Như đã được đề cập ở trên, trong hành trình trần thế, Đức Giê-su dành nhiều thời gian cho việc lắng nghe trong thinh lặng và cầu nguyện hơn là cho việc rao giảng và chữa lành. Vì thế, các Ki-tô hữu được mời gọi sống đời thinh lặng và cầu nguyện để có thể lắng nghe lời Thiên Chúa trong Kinh Thánh, trong lương tâm quy hướng về Người và trong thế giới thụ tạo mà Người đã dựng nên vì con người và cho con người. Thật vậy, thinh lặng, lắng nghe và cầu nguyện soi sáng, giải thích và nâng đỡ nhau, đồng thời cùng nâng đỡ tâm hồn con người lên để gặp gỡ Thiên Chúa, gặp gỡ tha nhân và gặp gỡ thế giới thụ tạo. Khi ý thức và sống những chiều kích ấy, con người được thúc đẩy loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại.

Nói đến loan báo Tin Mừng là nói đến việc thông truyền lời Thiên Chúa cho anh chị em mình. Như đã được đề cập ở trên, người loan báo Tin Mừng cần lắng nghe thực tại của môi trường mà Tin Mừng hướng đến; đồng thời, cần hiểu biết văn hóa, đời sống, ngôn ngữ, nghịch cảnh cũng như hoài bão của họ như lời thánh Phan-xi-cô Át-xi-di trong Kinh Hòa Bình: 'Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu'. Nói cách khác, các Ki-tô hữu cần lắng nghe người khác khi muốn người khác lắng nghe mình. Lắng nghe con người, hoàn cảnh và những thao thức của họ là điều kiện quyết định để hạt giống Tin Mừng có thể gieo xuống và sinh hoa, kết quả dồi dào.

Cách thức người lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa sẽ định hình cách thức họ đến với anh chị em mình. Tương tự như thế, cách thức người loan báo Tin Mừng đón nhận các yếu tố văn hóa của những người mình được sai đến cũng quyết định cách Tin Mừng Đức Giê-su được loan truyền cho họ. Vì thế, các Ki-tô hữu không chỉ được mời gọi giới thiệu Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại mà còn giúp họ biết quan tâm hơn đến việc lắng nghe lời Thiên Chúa ngay trong bối cảnh văn hóa đặc thù của mình, với niềm xác tín rằng: Đối với Thiên Chúa, không ai là dân ngoại và Tin Mừng của Đức Giê-su không xa lạ với bất cứ ai biết đặt câu hỏi về Thiên Chúa, về con người, về thế giới thụ tạo và thao thức về vận mệnh bản thân, của anh chị em cũng như của muôn vật muôn loài.

Việc lắng nghe lời Đức Giê-su với trái tim rộng mở giúp con người được biến đổi để luôn ý thức rằng lời Người là trung tâm và chóp đỉnh của đời sống mình. Đồng thời, thói quen lắng nghe ấy giúp mọi người cảm nhận sâu xa ân sủng và tình yêu Người đối với gia đình nhân loại cũng như toàn thể thế giới thụ tạo. Trong Tông Huấn Niềm Vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium, 2013), Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô viết: "Ký ức của các tín hữu, cũng như ký ức của Đức Ma-ri-a, phải tràn đầy những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện. Trái tim họ, được lớn lên trong niềm hy vọng nhờ việc thực hành cách vui tươi và cụ thể tình yêu mà họ đã lãnh nhận, sẽ cảm nhận rằng mỗi lời của Thánh Kinh là một ân ban trước khi là một đòi hỏi" (Evangelii Gaudium 142). Đối với ngài, lời Thiên Chúa là 'ân sủng', là 'món quà' cho mỗi người và mỗi người được mời gọi đáp lại bằng trái tim rộng mở và đời sống hoán cải hầu có thể trở nên những chứng nhân tín thành trong việc làm cho lời Thiên Chúa được lan tỏa, hầu đem lại bình an, hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu cho muôn người.

Lắng nghe không chỉ là bổn phận của từng cá nhân, mà còn là chiều kích thiết yếu của đời sống cộng đoàn trong Giáo Hội do Đức Giê-su thiết lập và đồng hành. Trong thư gửi cộng đoàn tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô viết: "Về phần chúng tôi, chúng tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa, vì khi chúng tôi nói cho anh em nghe lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy" (1 Tx 2,13). Khi mọi người trong cộng đoàn không biết lắng nghe nhau và không cùng nhau lắng nghe lời Thiên Chúa thì những vấn đề nguy hại sẽ xuất hiện. Để có thể lắng nghe lời Thiên Chúa trong các cộng đoàn cách hiệu quả, mọi người cần ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn mình, đồng thời biết lắng nghe Người như tác giả Sách Khải Huyền nhắn nhủ: "Hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh" (Kh 2,7).

Trong thời đại kỹ thuật số hay môi trường kỹ thuật số hôm nay, sự tương tác giữa các cá nhân, các cộng đoàn và các nền văn hóa diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn bao giờ hết. Đây là điều kiện thuận lợi giúp các Ki-tô hữu mở rộng khả năng lắng nghe anh chị em mình. Nhờ các phương tiện truyền thông, con người có cơ hội đến gần nhau hơn, biết lắng nghe, thấu hiểu và cộng tác với nhau hầu cùng nhau xây dựng gia đình nhân loại ngày càng nhân bản. Công Đồng Vatican II khẳng định: "Công trình cứu chuộc của Chúa Ki-tô cốt yếu nhằm việc cứu rỗi nhân loại, nhưng cũng bao hàm việc canh tân tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ mệnh của Giáo Hội không những là đem Phúc Âm của Chúa Ki-tô và ân sủng của Người cho nhân loại, mà còn làm cho tinh thần Phúc Âm thấm nhuần và hoàn thiện những thực tại trần thế" (AA 5). Vì thế, việc loan báo Tin Mừng, góp phần phát triển các thực tại trong gia đình nhân loại, nhất là cổ vũ việc tôn trọng phẩm giá con người, luôn là sứ mệnh thiết yếu của Giáo Hội do Đức Giê-su thiết lập cũng như của tất cả những ai đón nhận Người là Thầy và là Bạn của mình trong hành trình trần thế.

Kết Luận

Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết con người được Thiên Chúa sáng tạo với phẩm giá cao quý và được mời gọi bước vào cuộc đối thoại liên lỉ với Người trong dòng lịch sử. Về phía con người, việc lắng nghe và thực hành lời Thiên Chúa là nền tảng để duy trì mối tương quan này. Tuy nhiên, vì sa ngã và phạm tội, con người nhiều lần khước từ việc lắng nghe và thực thi thánh ý Người, trong khi Thiên Chúa vẫn luôn kiên trì hướng dẫn và đồng hành. Cuộc đối thoại liên lỉ giữa Thiên Chúa và con người trước hết được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua hình thức truyền khẩu; rồi theo thời gian, được thu thập, biên soạn và diễn tả qua những thể loại văn chương khác nhau như giao ước, lề luật, ngôn sứ và khôn ngoan. Nhiều trình thuật trong Cựu Ước cho chúng ta biết rằng dân Do-thái 'nghe' mà không 'lắng', 'vâng' mà không 'phục', 'biết' mà không 'sống' theo lời Thiên Chúa.

Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa sai Lời vĩnh cửu của Người là Đức Giê-su đến với gia đình nhân loại. Trong hành trình trần thế, Người giúp những ai gặp gỡ Người nhận ra rằng thời đại của Người là thời viên mãn của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người và muôn vật muôn loài. Người mời gọi mọi người hoán cải để đón nhận Tin Mừng Nước Thiên Chúa, đồng thời cho họ hiểu rằng chính sự hiện diện và hoạt động của Người cũng là sự hiện diện và hoạt động của Nước Thiên Chúa giữa thế gian. Lời nói và việc làm của Người minh chứng rằng Người đến trần gian để thực thi và kiện toàn thánh ý Thiên Chúa trong dòng lịch sử cứu độ. Người trở thành Nguyên Lý, Khuôn Mẫu và Đỉnh Cao của đời sống lắng nghe đối với nhân loại vì Người hằng lắng nghe Chúa Cha, đón nhận gia sản mặc khải của Cựu Ước, đồng thời lắng nghe tiếng nói của con người cũng như muôn vật muôn loài.

Đức Giê-su trung tín với lời Thiên Chúa đã được thông truyền qua dòng lịch sử. Đồng thời, Người mặc khải cho mọi người biết rằng tất cả những lời ấy quy tụ và kiện toàn nơi chính Người là Lời hằng hữu của Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh, Người không ngừng lắng nghe và thi hành thánh ý Chúa Cha, đặc biệt trước những biến cố hệ trọng như khi khởi đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng, tuyển chọn các môn đệ, trừ quỷ và chữa lành bệnh tật. Đồng thời, Người bước vào câu chuyện đời của những ai Người gặp gỡ để lắng nghe, cảm thông, thấu hiểu và nâng đỡ họ. Người đến với những kẻ nghèo hèn, bất hạnh, bị loại trừ, bị quỷ ám và những ai đang phải đối diện với muôn hình thức khổ đau. Qua đó, Người mời gọi mọi người lắng nghe, đón nhận, tin tưởng và sống theo lời Thiên Chúa. Sau hết, sự lắng nghe của Người đạt mức trọn hảo trong sự vâng phục tuyệt đối đối với Chúa Cha: Người chấp nhận cái chết và chết trên thập giá, để hoàn tất chương trình cứu độ nhân loại và canh tân toàn thể thế giới thụ tạo.

Trong Bữa Ăn Cuối Cùng với các môn đệ, trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su cho họ biết rằng Người chính là Đường, Đường của Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại. Đường của Người là Đường Lắng Nghe, bởi vì Người hằng lắng nghe lời Thiên Chúa trong Cựu Ước, lắng nghe lời của Chúa Cha, lắng nghe tiếng cầu khẩn của con người cũng như 'tiếng' của muôn vật muôn loài. Trước khi về trời, Người truyền cho các môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng của Người cho muôn dân muôn nước. Vì thế, mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi bước đi trên Đường Đức Giê-su, Đường Lắng Nghe, để đến với Thiên Chúa, đến với nhau và đến với muôn vật muôn loài. Ước chi con cái gia đình nhân loại luôn khắc cốt ghi tâm lời Người trong mọi hoàn cảnh đời mình: "Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa" (Lc 11,28).