Dẫn Nhập
An ủi (consolation) là nhu cầu thiết yếu và cũng là khát vọng sâu xa trong đời sống con người từ khi được hình thành trong lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Mọi người đều cần được an ủi: trẻ nhỏ hay người lớn, người đau yếu hay khỏe mạnh, người trí thức hay bình dân. Câu hỏi đặt ra là 'tại sao con người lại cần niềm an ủi?' Thưa, bởi vì, những gì con người khát khao, mong muốn, đòi hỏi luôn lớn hơn những gì con người có thể nhận được. Nói cách khác, được an ủi là nhu cầu thiết yếu của con người và gắn bó với con người trong mọi thời và khắp mọi nơi.
Thiên Chúa an ủi con người là chủ đề xuyên suốt Kinh thánh. Tại sao Thiên Chúa lại an ủi con người? Thưa, tại vì khi tội lỗi xâm nhập trần gian cũng là khi con người phải đối diện với sầu khổ (desolation). Tuy nhiên, không thể từ đó suy ra rằng mọi đau khổ của mỗi người đều là hình phạt trực tiếp do tội riêng của người ấy. Các trình thuật Kinh thánh cho chúng ta biết rằng dù con người tội lỗivà tự thân con người không thể thoát khỏi tình trạng đó, Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương và mời gọi con người biết cộng tác với Người trong việc biến đổi bản thân để được tận hưởng nguồn an ủi muôn đời. Do đó, không ai đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa mà lại không được Người an ủi và ra tay cứu độ.
Sự an ủi của Thiên Chúa đối với con người được thể hiện cách cụ thể trong Biến Cố Đức Giê-su, Con Thiên Chúa trong thân phận con người, hiện diện và hoạt động giữa gia đình nhân loại. Nơi Đức Giê-su, Thiên Chúa thể hiện sự an ủi đối với con người theo cách thức vượt quá trí tưởng tượng và hiểu biết của con người. Bởi vì, Đức Giê-su là Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ nhưng đã trút bỏ chính mình, trở thành người phàm để đồng lao cộng khổ với mọi người trong gia đình nhân loại. Là Đấng An Ủi của Thiên Chúa, trong thân phận con người, Đức Giê-su đã chịu muôn hình thức đau khổ cũng như đón nhận sự an ủi của những ai gắn bó với Người.
Bài viết 'Đức Giê-su – Đường An Ủi', được trình bày theo các đề mục như sau: (1) Khái Niệm An Ủi, (2) An Ủi Trong Cựu ước, (3) An Ủi Trong Tân ước và (4) Theo Đường An Ủi Của Đức Giê-su. Việc khai triển các đề mục này giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về chủ đề an ủi dưới nhãn quan Ki-tô Giáo là: trong dòng lịch sử nhân loại, Thiên Chúa an ủi con người theo nhiều cách thức khác nhau và nhờ sự an ủi ấy, con người nhận ra phẩm giá cao quý của mình trong toàn thể thụ tạo. Đặc biệt, khi thời gian tới hồi viên mãn, nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa không chỉ an ủi con người mà còn ban cho con người ánh sáng cần thiết để có thể đối diện và vượt thắng muôn vàn hình thức đau khổ trong hành trình về với Quê Hương Vĩnh Cửu.
1. KHÁI NIỆM AN ỦI
Trong tiếng Híp-ri, danh từ תַּנְחוּם (tanḥûm) có cùng gốc từ với động từ נָחַם (nāḥam) và mang nghĩa là sự an ủi, niềm an ủi, sự nâng đỡ, nhất là trong hoàn cảnh đau khổ, gian nan, phiền muộn trong tâm hồn. Hình thức תַּנְחוּם (tanḥûm) là dạng số ít được tái lập và dùng làm mục từ trong từ điển, còntrong bản văn Kinh thánh, danh từ này chỉ xuất hiện dưới các dạng số nhiều, chẳng hạn תַּנְחוּמִים (tanḥûmîm) trong Gr 16,7 và תַּנְחֻמוֹת (tanḥumôt) ở G 15,11. Động từ נָחַם (nāḥam) có nhiều nghĩa, chẳng hạn như an ủi, làm nguôi ngoai, cảm thương, đổi ý, hối tiếc. Động từ נָחַם (nāḥam) xuất hiện khá nhiều, chẳng hạn như St 6,6; St 24,67; 1 Sm 15,11; Is 40,1; Ac 1,2; danh từ תַּנְחוּם (tanḥûm) xuất hiện ít hơn, dưới dạng số nhiều, chẳng hạn như G 15,11; Tv 94,19; Gr 16,7. Cần lưu ý rằng ý nghĩa của động từ này tùy thuộc vào thể động từ và văn cảnh: ở thể Piʿel, động từ thường mang nghĩa an ủi người khác, như trong Is 40,1; ở thể Nifʿal, động từ có thể diễn tả sự hối tiếc, như trong St 6,6 và 1 Sm 15,11, sự đổi ý như trong Xh 32,14 hoặc việc được an ủi, như trong St 24,67. Những cách nói Thiên Chúa ‘hối tiếc’ hay ‘đổi ý’ diễn tả bằng ngôn ngữ con người về mối tương quan sống động của Người với thụ tạo, chứ không có nghĩa Người sai lầm hay bất trung với lời hứa (St 6,6; 1 Sm 15,11.29).
Trong tiếng Hy-lạp, danh từ παράκλησις (paraklēsis), nghĩa là an ủi (consolation), sự khích lệ hay lời khuyên nhủ. Từ này phát xuất từ động từ παρακαλέω (parakaleō) và tương ứng với động từ Híp-ri נָחַם (nāḥam). Trong Bản Bảy Mươi, động từ παρακαλέω được dùng để dịch nghĩa của động từ thuộc gốc Híp-ri נחם (n-ḥ-m) trong nhiều ngữ cảnh liên quan đến an ủi, chẳng hạn St 37,35; St 50,21; Is 40,1; Is 51,12; Is 66,13. Ngoài ra, tùy theo văn cảnh trong Bản Bảy Mươi, động từ παρακαλέω còn mang các nghĩa như gọi đến (Xh 15,13), khích lệ (Đnl 3,28), làm dịu lòng (Hc 30,23), khuyên nhủ hay tha thiết kêu gọi (2 Mcb 6,12; 2 Mcb 13,14) và củng cố, tiếp sức cho những bàn tay yếu mỏi (G 4,3). Động từ παρακαλέω còn có các nghĩa khác nữa, chẳng hạn như mời gọi, khích lệ, vỗ về, khuyên nhủ, thúc giục. Động từ παρακαλέω được cấu tạo bởi hai phần, trong đó, tiền tố hay tiếp đầu ngữ (prefix) παρα (para) mang nghĩa 'bên cạnh' và động từ καλέω (kaleō) nghĩa là gọi, mời, hay triệu tập. Như vậy, theo từ nguyên, παρακαλέω (parakaleō) mang nghĩa là 'gọi đến bên cạnh'. Tuy nhiên, tùy theo ngữ cảnh, động từ này có thể mang nghĩa an ủi, khuyên nhủ hay kêu gọi. Do đó, không thể chỉ dựa vào việc ghép nghĩa của hai thành tố để xác định ý nghĩa của từ trong từng bản văn. Bên cạnh họ từ này, Tân ước còn dùng động từ παραμυθέομαι (paramytheomai), nghĩa là an ủi, khích lệ, như khi những người Do-thái đến an ủi Mác-ta và Ma-ri-a (Ga 11,19.31), hay trong lời mời gọi khích lệ những người nhút nhát (1 Tx 5,14). Danh từ cùng họ παραμυθία (paramythia), nghĩa là sự an ủi, được dùng bên cạnh παράκλησις trong lời thánh Phao-lô nói về việc xây dựng, khích lệ và an ủi cộng đoàn (1 Cr 14,3).
Danh từ παράκλητος (paraklētos), xét theo cấu tạo từ, diễn tả người được gọi đến để trợ giúp; trong cách dùng cổ điển, từ này đặc biệt chỉ người bênh vực hay trợ giúp trong một vụ kiện và cũng thuộc họ từ với động từ παρακαλέω. Trong Tin mừng Đức Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an, παράκλητος được dùng để chỉ 'Đấng Bảo Trợ khác' là Chúa Thánh Thần (Ga 14,16; Ga 15,26; Ga 16,7). Tin mừng này còn xác định Đấng Bảo Trợ là Chúa Thánh Thần, Đấng được Chúa Cha sai đến nhân danh Đức Giê-su để dạy dỗ và làm cho các môn đệ nhớ lại mọi điều Người đã nói (Ga 14,26). Từ này được vay mượn vào tiếng La-tinh dưới dạng Paraclitus và vào tiếng Anh dưới dạng Paraclete. Trong 1 Ga 2,1, từ παράκλητος được dùng để chỉ Đức Giê-su là Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha; bản Nova Vulgata dịch từ này bằng Advocatum (dạng mục từ advocatus), nghĩa là người bênh vực hay bảo trợ. Tùy theo ngữ cảnh thần học, παράκλητος có thể được diễn đạt bằng thuật ngữ Comforter hay Consoler (Đấng An Ủi), Advocate (Đấng Bảo Trợ, Đấng Bênh Vực) hay Helper (Đấng Trợ Giúp).
Khi dịch Kinh thánh từ tiếng Hy-lạp sang tiếng La-tinh, từ παράκλησις (sự an ủi, sự khích lệ, lời khuyên nhủ) trong tiếng Hy-lạp được diễn đạt bằng các từ khác nhau tùy theo ngữ cảnh, chẳng hạn consolatio và exhortatio. Trong bản Nova Vulgata, cả hai từ này đều mang nghĩa an ủi và đều được dùng trong 2 Cr 1,3-7; còn trong Hr 13,22, exhortatio diễn tả lời khuyên nhủ. Từ consolatio là danh từ phát xuất từ động từ consolari (an ủi, khích lệ), là dạng nguyên mẫu của consolor. Xét về từ nguyên, consolari được cấu tạo từ tiền tố con- và solari (an ủi, làm dịu nỗi buồn); trong từ này, con- có sắc thái tăng cường. Do đó, consolatio diễn tả hành vi an ủi, làm vơi nỗi buồn hay đem lại sự nâng đỡ cho người đau khổ. Từ tiếng Anh tương đương với consolatio là consolation; tiếng Pháp tương đương với consolatio cũng là consolation. Trong tiếng Việt, từ này thường được dịch là an ủi, niềm an ủi, sự an ủi. Một từ La-tinh khác có liên quan là confortatio, nghĩa là sự tăng sức, củng cố. Từ này phát xuất từ động từ confortare (củng cố, làm cho mạnh thêm) và động từ này được hình thành bởi tiền tố con- (mang sắc thái tăng cường) và gốc từ của tính từ fortis (mạnh, mạnh mẽ).
Như đã đề cập ở trên, sự an ủi có nghĩa là xoa dịu, nâng đỡ, khuyến khích, làm dịu bớt, làm nhẹ nỗi ưu phiền cho những người đang lâm cảnh đau khổ, buồn bã trong tâm hồn, thể xác cũng như những cảnh éo le khác làm cho con người bất an, khó chịu, sầu não. Người cần được an ủi là người đang đối diện với nghịch cảnh, khó khăn, thử thách hay thiếu vắng bình an. Sự an ủi liên quan đến các chiều kích tâm lý, tình cảm, thể lý cũng như các chiều kích thiêng liêng, luân lý, cánh chung. Do đó, chủ đề an ủi liên kết mật thiết với nhiều chủ đề khác, chẳng hạn như giải thoát, tha thứ, chữa lành, liên đới, cảm thông, hiện diện, hy vọng. Nói cách khác, tất cả những gì làm cho con người được bình an, lạc quan, thăng tiến về đời sống tâm hồn hay thể xác đều có thể được xếp vào phạm vi an ủi, kể cả những lời mời gọi đừng sợ hãi, đừng nản lòng, hãy trông cậy, tin tưởng vào lòng thương xót và hoán cải. Đặc biệt, đối với Ki-tô Giáo, sự an ủi của Thiên Chúa không chỉ giúp con người đối diện với những nghịch cảnh hiện tại mà còn hướng con người tới sự sống an bình trong vinh quang mai ngày.
Trong linh đạo thánh I-nha-xi-ô, an ủi và sầu khổ là hai trạng thái diễn tả những chuyển động nội tâm của con người. Trong đó, an ủi thiêng liêng thường gắn liền với thần khí tốt (good spirit), còn sầu khổ thiêng liêng thường gắn liền với thần khí xấu (evil spirit). Điều cần quan tâm là: không thể đồng nhất tuyệt đối an ủi thiêng liêng với tác động của Chúa Thánh Thần và sầu khổ thiêng liêng với tác động của ma quỷ. Do đó, cần phân biệt sầu khổ thiêng liêng với nỗi buồn tự nhiên hay những đau đớn tâm lý. Một người vẫn có thể khóc thương, chịu thử thách mà đồng thời được củng cố trong đức tin, đức cậy và đức mến; chính Đức Giê-su đã khóc thương La-da-rô (Ga 11,35). Dấu hiệu của an ủi thiêng liêng là tâm hồn nhận ra sự gần gũi và nâng đỡ của Thiên Chúa, được bình an và yêu mến Người; đồng thời, đức tin, đức cậy và đức mến được gia tăng, giúp con người quy hướng về Thiên Chúa. Dấu hiệu của sầu khổ thiêng liêng gắn liền với lo lắng, cô quạnh; tâm hồn bất an, buồn sầu, xáo trộn, nguội lạnh, dễ hướng về những thực tại trần tục; đồng thời, lòng tin tưởng, cậy trông và yêu mến bị thử thách hoặc suy giảm. Tuy nhiên, Thiên Chúa có thể cho phép sầu khổ xảy ra nơi tâm hồn để con người nhận ra những giới hạn bản thân, được thử luyện về lòng trung tín và tập thói quen nương tựa vào Người. Nhờ đó, con người trưởng thành hơn trong đời sống thiêng liêng và củng cố sự hiệp thông với Người cũng như tha nhân. Do đó, ngay cả kinh nghiệm sầu khổ thiêng liêng cũng trở nên hữu ích khi con người biết cộng tác với ơn Thiên Chúa.
Sự an ủi đích thực luôn làm cho con người nhận ra sự cần thiết của ân sủng Thiên Chúa, sự cần thiết phải hoán cải, sự chân thành trong việc hướng về Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người. Kinh nghiệm thiêng liêng của nhiều vị thánh trong lịch sử Giáo hội cho chúng ta nhận thức rằng có những sự an ủi thiêng liêng đích thực và cũng có những sự an ủi thiêng liêng giả tạo. Câu hỏi đặt ra: Đâu là tiêu chuẩn để phân biệt? Thưa, niềm an ủi đích thực giúp con người mở rộng tâm hồn, hướng về sự thiện, hướng về Thiên Chúa, tín thác vào Người và sẵn sàng thực thi thánh ý Người; ngược lại, niềm an ủi giả tạo làm cho con người khép kín, hướng về sự dữ và bất tuân huấn lệnh Thiên Chúa. Thánh Au-gút-ti-nô viết: "Tôi không trông đợi sự an ủi từ bất cứ người phàm nào bởi chính người ấy có thể bị nỗi buồn của mình giày vò trước khi có thể đem lại cho tôi niềm an ủi. Một người anh em cũng là phàm nhân liệu có thể an ủi tôi chăng khi chính người ấy cũng đang đau buồn như tôi? Chúng ta hãy cùng nhau sầu buồn; hãy cùng nhau khóc lóc; hãy cùng nhau kiên nhẫn đợi chờ và hãy cùng nhau hiệp lời cầu nguyện. Tôi đã trông đợi ai, nếu không phải là Chúa?" (St. Augustine, Exposition on Psalm 40, § 2). Điều này không có nghĩa Thiên Chúa chỉ an ủi con người cách trực tiếp. Thánh Phao-lô cho biết Thiên Chúa đã an ủi ngài qua sự hiện diện của Ti-tô và qua niềm an ủi mà Ti-tô nhận được từ cộng đoàn (2 Cr 7,6-7). Như vậy, sự hiện diện, cảm thông và nâng đỡ của anh chị em có thể trở thành phương thế Thiên Chúa dùng để thông ban niềm an ủi của Người. Ai không cảm nhận hay kinh nghiệm được sự an ủi của Thiên Chúa thì khó có thể trở thành người an ủi kẻ khác. Điều này có nghĩa là người có kinh nghiệm về việc được an ủi thì cũng có khả năng an ủi anh chị em đồng loại và giúp họ trung tín với niềm tin giữa những bấp bênh của đời sống thế sự.
An ủi thiêng liêng là điều kiện giúp con người hướng tới tương lai. Người được an ủi cũng là người 'nhìn thấy tương lai' bởi vì cho dù đang ở trong hoàn cảnh nào, họ vẫn nhận ra viễn cảnh xán lạn của tương lai và ý nghĩa cũng như hoa trái niềm an ủi. Chính an ủi giúp con người quan tâm hơn đến sự cần thiết phải củng cố các tương quan: tương quan với Thiên Chúa, tương quan với anh chị em và tương quan với muôn vật muôn loài. An ủi thiêng liêng giúp con người biết cởi mở tâm hồn mà không sợ hãi; biết quan tâm đến anh chị em mà không sợ thiệt thòi; biết hướng về sự thiện mà không sợ mất mát; biết hướng lòng về Quê Hương Vĩnh Cửu mà không sao nhãng bổn phận trần thế; biết yêu thương mà không tính toán; biết đặt bức tranh nhỏ của bản thân trong bức tranh lớn của gia đình nhân loại; biết đóng góp phần mình trong việc xây dựng Gia Đình Thiên Chúa trên mặt đất này.
Trong hành trình trần thế, ai cũng có kinh nghiệm về nhiều hình thức an ủi giả tạo. Điều cần thiết là con người phải phân định để biết đâu là an ủi đích thực và đâu là an ủi giả tạo. An ủi giả tạo xuất hiện khi tư tưởng, lời nói và việc làm của con người không quy hướng về Thiên Chúa. Có những hình thức an ủi giả tạo dễ nhận biết, tuy nhiên, cũng có những hình thức an ủi giả tạo tinh vi đến mức con người khó có thể nhận diện; có những hình thức an ủi đem lại khoái cảm hay lạc thú chóng qua, mau tàn chứ không phải là niềm vui đích thực. Trong Tông Huấn 'Hãy Vui Mừng và Hoan Hỷ' (Gaudete et Exsultate, 2018), Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: "Chủ nghĩa tiêu thụ chỉ làm trái tim phù nề. Nó có thể đem lại những khoái cảm nhất thời và chóng qua nhưng không đem lại niềm vui" (Gaudete et Exsultate 128). Do đó, con người được mời gọi phân định đâu là niềm an ủi đến từ Thiên Chúa và đâu là niềm an ủi giả tạo đến từ những cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.
Niềm an ủi của thế giới thụ tạo luôn có giới hạn, đầy khiếm khuyết và bất toàn. Trong khi đó, niềm an ủi của Thiên Chúa là vô hạn, hoàn hảo và toàn vẹn. Vì vậy, mọi người được mời gọi tìm kiếm niềm an ủi từ Thiên Chúa trên hết, chứ không phải chỉ từ thế giới thụ tạo. Niềm an ủi của Thiên Chúa không chỉ dừng lại ở việc làm cho con người vơi đi những đau khổ, nghịch cảnh, thử thách mà còn giúp con người nhận ra 'chiều kích tích cực của đau khổ'. Điều này có nghĩa là đau khổ có thể giúp con người biết nhận ra những giới hạn bản thân cũng như anh chị em đồng loại và toàn thể thụ tạo. Niềm an ủi từ Thiên Chúa giúp con người tìm được ý nghĩa của đau khổ, đặc biệt, giúp con người nhận thức rằng đau khổ và cao điểm của đau khổ là sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng trong cuộc đời con người. Do đó, đau khổ hay cả cái chết có thể trở thành cơ hội giúp con người biết đặt hy vọng vào Thiên Chúa và sự sống vĩnh cửu. Vì thế, con người không chỉ tìm phương dược để làm vơi đi đau khổ mà còn biết rút ra bài học từ đau khổ hay khám phá ý nghĩa của đau khổ.
Đối với thánh Phao-lô, những ai gắn bó mật thiết với Đức Giê-su thì những gì xảy đến trong cuộc sống mình đều có thể mang 'giá trị an ủi' cho bản thân cũng như những người mà mình quan tâm chăm sóc để dẫn đưa họ tới ơn cứu độ. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, ngài viết: "Thưa anh em, vì anh em có lòng tin, nên khi nghĩ đến anh em, chúng tôi được an ủi giữa mọi thống khổ gian truân chúng tôi phải chịu. Phải, chúng tôi sống được đến giờ này là nhờ anh em đứng vững trong Chúa. Chúng tôi biết nói gì để tạ ơn Thiên Chúa về anh em, vì tất cả niềm vui mà nhờ anh em, tôi có được trước nhan Thiên Chúa chúng ta? Đêm ngày chúng tôi tha thiết nài xin Chúa cho được thấy mặt anh em và bổ túc những gì còn thiếu trong đức tin của anh em" (1 Tx 3,7-10). Đặc biệt, thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu noi gương ngài và thông phần với ngài trong những nỗi thống khổ vì Đức Giê-su nhằm mưu ích cho phần rỗi của bản thân cũng như của anh chị em đồng loại (1 Cr 9,22-27; 1 Cr 11,1; 2 Tm 1,8). Quả thật, thông phần đau khổ và thông phần an ủi là một trong những chủ đề trọng tâm trong các thư của thánh Phao-lô gửi các giáo đoàn.
Thiên Chúa an ủi cũng chính là Thiên Chúa luôn hiện diện với con người trong mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh đời sống. Điều này có nghĩa là con người cần ý thức sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa và luôn mở lòng đón nhận Người. Sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong đời sống con người là niềm an ủi lớn lao nhất, giúp con người vượt qua những dông bão thế trần. Nhờ đó, con người được giải thoát khỏi nanh vuốt của những kẻ thù thiêng liêng và đem lại bình an đích thực cho bản thân giữa bao sóng gió của biển đời tăm tối. Do vậy, điều quan trọng là con người cần dành chỗ trong tâm hồn mình cho sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa để Người đồng hành, hướng dẫn và dạy bảo những gì cần thiết hầu giúp mình ngày càng sống xứng hợp với phẩm giá con cái Thiên Chúa.
Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, Thiên Chúa vừa là nguồn mạch mọi sự thiện hảo, vừa là niềm an ủi của con người trong hành trình trần thế. Thánh Au-gút-ti-nô thân thưa cùng Thiên Chúa: "Lạy Chúa, chính Ngài là niềm an ủi của con, là Cha hằng hữu của con. Thế nhưng, con lại bị phân tán giữa những đổi thay của thời gian mà con không hiểu nổi trật tự của chúng; và những tư tưởng của con, tận nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, bị giằng xé bởi muôn vàn xao động, cho đến khi con được quy tụ trọn vẹn trong Ngài, được thanh luyện và nung chảy trong ngọn lửa tình yêu của Ngài" (St. Augustine, Confessions, Book XI, 29.39). Đối với thánh nhân, Thiên Chúa là niềm an ủi còn con người luôn phải đối diện với những hiểm nguy, náo động và biến đổi trong dòng thời gian. Điều cần thiết là con người phải khiêm tốn lắng nghe, học hỏi và suy niệm để ngày càng nhận ra đường lối Thiên Chúa cách rõ ràng hơn.
Thiên Chúa luôn an ủi con người. Điều cần thiết là con người biết cộng tác với Người trong mọi hoàn cảnh để có thể phân định, chọn lựa và quyết định sao cho những gì liên quan đến bản thân mình đều diễn ra dưới ánh sáng và sự hướng dẫn của Thiên Chúa quan phòng. Con người được mời gọi không ngừng hoán cải, lắng nghe và nhận ra những dấu chỉ của Thiên Chúa để đáp lại cách trung tín. Đặc biệt, con người luôn cần đến niềm an ủi của Thiên Chúa trong cuộc lữ hành trần thế hướng về niềm vui vĩnh cửu. Thánh Au-gút-ti-nô viết: "Chúng ta vui mừng vì được đón nhận niềm an ủi. An ủi chỉ dành cho những người đang khổ đau; an ủi chỉ dành cho những ai đang rên xiết, đang buồn sầu... Chúng ta sầu khổ vì thân phận hiện tại của mình nhưng được an ủi trong niềm hy vọng. Khi cuộc đời hiện tại qua đi, từ nỗi sầu khổ của chúng ta sẽ nảy sinh niềm vui vĩnh cửu. Khi ấy, sẽ không còn cần đến sự an ủi nữa bởi chúng ta sẽ không còn bị bất cứ nỗi đau khổ nào làm tổn thương" (St. Augustine, Exposition on Psalm 126, § 2). Như vậy, ai đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa thì được Người an ủi, ban bình an và niềm vui đích thực ngay cả khi phải đối diện với nghịch cảnh trong hành trình về với Người.
2. AN ỦI TRONG CỰU ƯỚC
2.1 An Ủi Trong Giao ước Và Lề Luật
Trình thuật sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng sau khi con người phạm tội vì sa chước cám dỗ, Thiên Chúa đã an ủi con người và cho con người biết rằng dòng giống người nữ sẽ chiến thắng quyền lực của Xa-tan qua hình ảnh đánh vào đầu con rắn (St 3,15). Sau khi Ca-in giết A-ben và khi tội lỗi lan tràn trên mặt đất, Thiên Chúa đã kêu gọi Nô-ê để qua ông, gia đình nhân loại được bảo toàn (St 4,1-16; St 6,13-22). Thiên Chúa không chỉ cứu gia đình Nô-ê mà còn thiết lập giao ước với ông để gia đình nhân loại tiếp tục được triển nở. Người phán với Nô-ê và các con ông: "Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy hủy diệt, và cũng sẽ không còn có hồng thủy để tàn phá mặt đất nữa" (St 9,11). Giao ước giữa Thiên Chúa với Nô-ê cũng chính là giao ước của Người với 'mọi xác phàm trên mặt đất' (St 9,17). Như vậy, Nô-ê trở thành nguyên tổ mới của nhân loại sau hồng thủy, đồng thời góp phần chăm sóc và bảo toàn muôn vật muôn loài.
Chương trình cứu độ của Thiên Chúa cũng chính là 'chương trình an ủi' của Người đã đi vào lịch sử cách cụ thể qua việc Người lựa chọn Áp-ram (sau này được đổi tên thành Áp-ra-ham ở St 17,5), là người tin vào Thiên Chúa nên được kể là người công chính (St 12,1-3; St 15,6). Việc Thiên Chúa tái khẳng định giao ước với Áp-ra-ham được xem là niềm an ủi lớn lao đối với ông. Đây không chỉ là giao ước tạm thời mà là giao ước vĩnh cửu: "Ta sẽ lập giao ước của Ta giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây sẽ là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này" (St 17,7). Đặc biệt, Thiên Chúa phán: "Giao ước của Ta ghi dấu trong xác thịt các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cửu" (St 17,13). Áp-ra-ham và dòng dõi ông không đơn độc vì có Thiên Chúa luôn phù trì nâng đỡ. Người an ủi Áp-ra-ham qua việc hứa ban phúc lành cho ông và tái khẳng định lời hứa gắn liền với giao ước Người đã thiết lập với ông rằng dòng dõi ông sẽ đông đúc như sao trời, cát biển (St 22,16-17).
Một trong những biểu hiện của sự an ủi Thiên Chúa ban đáng được chúng ta quan tâm là câu chuyện về bà Ha-ga. Vì hiếm muộn, bà Xa-rai (vợ Áp-ra-ham, sau này được đổi tên thành Xa-ra ở St 17,15) đưa nữ tỳ người Ai-cập tên là Ha-ga làm vợ Áp-ra-ham. Khi thấy mình có thai, bà Ha-ga tỏ thái độ xem thường Xa-rai thì bà Xa-rai cảm thấy bị sỉ nhục và hành hạ bà Ha-ga đến nỗi bà phải bỏ trốn. Thiên Chúa đã không bỏ rơi bà Ha-ga. Trong hoàn cảnh ấy, sứ thần của Đức Chúa nói với bà: "Này đây ngươi đang có thai, sắp sinh hạ con trai và sẽ đặt tên là Ít-ma-ên, vì Đức Chúa đã nghe thấu nỗi khổ của ngươi" (St 16,11). Bà Ha-ga sinh cho Áp-ra-ham người con trai tên là Ít-ma-ên khi ông đã tám mươi sáu tuổi (St 16,15-16). Như thế, Thiên Chúa không chỉ là Đấng an ủi bà Ha-ga trong cảnh khốn khổ mà còn ban cho bà niềm vui được sinh con trai. Sau này, khi Ha-ga và con trai phải ra đi và không còn nước uống trong sa mạc, Thiên Chúa lại nghe tiếng đứa trẻ và cho bà thấy giếng nước để lấy nước cho con uống (St 21,14-19). Người đã thấy, đã nghe, đã đáp lại nỗi thống khổ của bà và chính bà đã nhận ra điều đó, nhất là Người luôn quan phòng, nâng đỡ và ban phúc lành cho Ít-ma-ên (St 16,13; St 21,18-21). Đặc biệt, lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện đối với Áp-ra-ham khi bà Xa-ra sinh con trai: "Đức Chúa viếng thăm bà Xa-ra như Người đã phán, và Người đã làm cho bà như Người đã hứa. Bà Xa-ra có thai và sinh cho ông Áp-ra-ham một con trai khi ông đã già, vào thời kỳ Thiên Chúa đã hứa" (St 21,1-2).
Dòng dõi Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp luôn được Thiên Chúa an ủi và chúc phúc. Chẳng hạn, trên đường từ Bơ-e Se-va tới Kha-ran, khi Gia-cóp dừng chân nghỉ đêm tại một nơi, trong giấc mộng, Thiên Chúa nói với ông: "Này Ta ở với ngươi; ngươi đi bất cứ nơi nào, Ta sẽ giữ gìn ngươi, và Ta sẽ đưa ngươi về đất này, vì Ta sẽ không bỏ ngươi cho đến khi Ta hoàn thành điều Ta đã phán với ngươi" (St 28,15). Câu chuyện Giu-se, người con trai thứ mười một của Gia-cóp, bị các anh mình bán sang Ai-cập nhưng luôn được Thiên Chúa nâng đỡ, rồi trở thành người có quyền thế ở đó, cho thấy dấu chỉ niềm an ủi và quan phòng của Thiên Chúa đối với gia đình Gia-cóp, tổ tiên dân Ít-ra-en. Chính Giu-se nói với các anh mình: "Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo. Bây giờ các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh" (St 50,20-21). Quả thật, nhờ Giu-se mà gia đình Gia-cóp khỏi phải lâm vào cảnh đói khát cùng cực. Như vậy, từ những hành động xấu xa của con người, Thiên Chúa có thể rút ra sự lành hầu đem lại lợi ích cho mọi người.
Thiên Chúa của con cái Ít-ra-en là Thiên Chúa luôn cảm thông với họ: "Con cái Ít-ra-en rên xiết trong cảnh nô lệ. Họ ta thán, và tiếng họ kêu từ cảnh nô lệ đã thấu tới Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nghe tiếng họ than van và Thiên Chúa nhớ lại giao ước của Người với các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp" (Xh 2,23-24). Người đã kêu gọi và chọn Mô-sê để giải thoát họ và dẫn đưa họ về với quê cha đất tổ: "Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng... Giờ đây, tiếng rên xiết của con cái Ít-ra-en đã thấu tới Ta; Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai-cập. Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập" (Xh 3,7-10). Việc Thiên Chúa 'nghe', Thiên Chúa 'biết' và Thiên Chúa 'hành động' để an ủi và giải thoát dân Người đã trở thành điệp khúc khắc sâu tận đáy lòng họ.
Trong hành trình tiến về Đất Hứa, sự kiên nhẫn của Thiên Chúa luôn là niềm an ủi lớn lao cho dân Ít-ra-en. Người luôn kiên nhẫn với họ cho dù họ bất tuân huấn lệnh Người, chẳng hạn như khi bị người Ai-cập đuổi theo tới gần, dân Ít-ra-en nói với Mô-sê: "Bên Ai-cập không có đủ mồ chôn hay sao, mà ông lại đưa chúng tôi vào chết trong sa mạc? Ông làm gì chúng tôi vậy, khi ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập? Đó chẳng phải là điều chúng tôi từng nói với ông bên Ai-cập sao?" (Xh 14,11-12). Mô-sê trả lời họ: "Đức Chúa sẽ chiến đấu cho anh em. Anh em chỉ có việc ngồi yên" (Xh 14,14). Lời này mời gọi dân tín thác vào quyền năng cứu độ của Thiên Chúa, chứ không cổ vũ thái độ thụ động. Ngay sau đó, Đức Chúa truyền cho Mô-sê bảo con cái Ít-ra-en tiếp tục lên đường (Xh 14,15). Trong sa mạc, Thiên Chúa tiếp tục bày tỏ sự quan tâm chăm sóc đối với dân Ít-ra-en như được thể hiện qua lời của Mô-sê nói với A-ha-ron: "Xin anh nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en thế này: Anh em hãy lại gần thánh nhan Đức Chúa, vì Người đã nghe thấy những lời anh em kêu trách" (Xh 16,9). Thật vậy, Thiên Chúa không đối xử với dân Ít-ra-en theo những gì họ đáng phải chịu nhưng luôn bày tỏ lòng thương xót và sự kiên nhẫn vô bờ bến của Người.
Thiên Chúa luôn an ủi và chăm sóc dân Người. Cụ thể là Người cho họ ăn man-na suốt bốn mươi năm trường, thức ăn mà chính họ cũng như cha ông họ chưa từng biết tới (Xh 16,35; Đnl 8,2-3). Nói đến sa mạc là nói đến sự thiếu thốn nguồn sống, sự hoang vu, khô cằn, nơi mà từng giọt nước trở nên quý giá. Khi dân không có nước uống, Đức Chúa truyền cho Mô-sê lấy gậy đập vào tảng đá để từ đó nước tuôn trào cho dân uống: "Đức Chúa phán với ông Mô-sê: Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Ít-ra-en; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khô-rếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống" (Xh 17,5-6). Quả thật, sa mạc là nơi thiếu thức ăn, nước uống nhưng Thiên Chúa đã nuôi sống họ bằng thức ăn và nước uống mà họ chưa từng nghĩ tới.
Trong hành trình băng qua sa mạc bốn mươi năm, Thiên Chúa đã thiết lập giao ước và trao ban lề luật. So với các giao ước lớn giữa Thiên Chúa và dân Ít-ra-en trong Cựu ước thì giao ước qua trung gian Mô-sê là quan trọng nhất bởi vì dân Ít-ra-en trở thành 'dân giao ước' như lời Đức Chúa nói với Mô-sê trên núi Xi-nai: "Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh. Đó là những lời ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en" (Xh 19,5-6). Qua giao ước và lề luật, Thiên Chúa không ngừng mời gọi dân Ít-ra-en 'hãy trở về với Đức Chúa', 'hãy trở về với Ta và làm điều thiện', 'hãy ăn năn hối cải', 'hãy kính sợ Đức Chúa', 'đừng theo các thần khác', 'hãy nghe', 'hãy yêu mến Đức Chúa', 'hãy tuân giữ mệnh lệnh Đức Chúa', 'hãy phụng thờ Đức Chúa', 'hãy đi trong đường lối Đức Chúa', 'hãy nên thánh', 'hãy nhớ', 'đừng quên Đức Chúa', 'hãy trung thành với giao ước', 'hãy ghi nhớ lề luật' (Đnl 6,4-6; Lv 19,2; Xh 20,3). Quả thật, giao ước và lề luật trở thành niềm an ủi lớn lao cho dân Ít-ra-en vì giúp họ nhận biết mình được Đức Chúa chọn làm gia nghiệp của Người (Xh 34,9; Đnl 4,20).
2.2 An Ủi Trong Lịch Sử Dân Chúa
Phần này khái quát chủ đề an ủi trong mười sáu Sách Lịch Sử thuộc Cựu ước, từ sách Gio-suê tới sách Ma-ca-bê quyển thứ hai. Dân Ít-ra-en trải qua thời gian ròng rã bốn mươi năm trong sa mạc từ Ai-cập đến Đất Hứa. Đây là hành trình đong đầy ân sủng nhưng cũng chất chứa muôn vàn gian nan, thử thách đối với họ. Tương tự như trong hành trình sa mạc, sự an ủi của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en khi họ vào Đất Hứa, dưới sự lãnh đạo của Gio-suê và sau đó là các thủ lãnh, được thể hiện qua những hành động cụ thể của Người. Đặc biệt, Sa-mu-en được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành thủ lãnh và ngôn sứ của dân Người, đồng thời, ông cũng thi hành chức năng tư tế (1 Sm 3,19-20; 1 Sm 7,9). Qua ông, Thiên Chúa an ủi dân Ít-ra-en bằng cách sai ông đến xức dầu cho Sa-un, vị vua đầu tiên của họ trong thời kỳ quân chủ (1 Sm 10,1). Chính ông cũng xức dầu cho Đa-vít, vị vua lừng lẫy nhất trong lịch sử dân này (1 Sm 16,13; 2 Sm 7,8-9; 1 Sb 29,28).
Trong muôn vàn gian nan, thử thách, Thiên Chúa luôn đồng hành với dân Người. Quả thật, sau khi Mô-sê qua đời và Gio-suê chuẩn bị đưa dân Ít-ra-en vào Đất Hứa, Đức Chúa khích lệ và nói với ông: "Mạnh bạo lên, can đảm lên! Đó chẳng phải là lệnh Ta đã truyền cho ngươi sao? Đừng run khiếp, đừng sợ hãi, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, sẽ ở với ngươi bất cứ nơi nào ngươi đi tới" (Gs 1,9). Việc Đức Chúa ở cùng Gio-suê, ở cùng dân Ít-ra-en là niềm an ủi lớn lao bởi vì trong mọi hoàn cảnh, họ được Thiên Chúa chỉ lối dẫn đường.
Cho dù dân Ít-ra-en bất xứng, Thiên Chúa vẫn trung thành với lời hứa của Người và ban cho họ Đất Hứa. Người nói với Gio-suê: "Mạnh bạo lên, can đảm lên! Vì chính ngươi sẽ cho dân này chiếm đất ấy làm gia nghiệp, đất mà Ta đã thề với cha ông chúng là Ta sẽ ban cho chúng" (Gs 1,6). Lời hứa của Đức Chúa được thực hiện: "Đức Chúa đã ban cho Ít-ra-en toàn miền đất mà Người đã thề là sẽ ban cho cha ông họ. Họ đã chiếm được đất ấy và ở tại đó. Đức Chúa cho họ được thảnh thơi mọi bề, đúng như Người đã thề với cha ông họ" (Gs 21,43-44). Sau này, dưới thời Nơ-khe-mi-a, các thầy Lê-vi dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa trong lời kinh sám hối cộng đồng về những công trình kỳ diệu của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en, nhất là việc Thiên Chúa ban cho họ Đất Hứa làm gia nghiệp (Nkm 9,22-25).
Sự an ủi của Người không chỉ dành riêng cho dân Ít-ra-en mà còn cho cả những người thuộc các dân ngoại. Trình thuật sách Rút cho chúng ta biết rằng bà là người Mô-áp lại trở thành một nhân vật quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Khi chồng qua đời, Rút theo mẹ chồng là bà Na-o-mi về Bê-lem, tại đó Rút gặp Bô-át và được ông trợ giúp. Bô-át nói với Rút: "Xin Đức Chúa trả công cho con vì những gì con đã làm! Chớ gì Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en, thưởng công bội hậu cho con, Người là Đấng cho con ẩn náu dưới cánh Người!" (R 2,12). Sau đó, Bô-át lấy Rút làm vợ và bà đã sinh Ô-vết, ông nội vua Đa-vít (R 4,13-17). Trong cuộc đời mình, Đa-vít luôn được Đức Chúa an ủi, đồng hành và nâng đỡ. Nhiều trình thuật trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất và quyển thứ hai cho chúng ta biết điều đó, chẳng hạn: "Ông Đa-vít thành công trong mọi công việc và Đức Chúa ở với ông" (1 Sm 18,14), hay: "Vua Đa-vít ngày càng mạnh thế, và Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, ở với vua" (2 Sm 5,10).
Thiên Chúa là Đấng trung tín và bảo vệ dân Ít-ra-en cho dù họ bất trung, phản nghịch với Người, chẳng hạn như: "Suốt triều vua Giơ-hô-a-khát, vua A-ram là Kha-da-ên đã áp bức người Ít-ra-en. Nhưng Đức Chúa tỏ lòng nhân từ và chạnh lòng thương đoái nhìn họ, vì Người đã lập giao ước với các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Người không muốn diệt trừ họ, và cho đến nay vẫn không xua đuổi họ cho khuất nhan Người" (2 V 13,22-23). Không chỉ dân chúng, những người lãnh đạo cũng bất trung và sự bất trung của họ lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng hạn như trường hợp vua A-khát: "Vua đã đi theo đường lối các vua Ít-ra-en, thậm chí còn làm những hình tượng đúc dâng kính các thần Ba-an. Chính vua đã đốt hương trong thung lũng Ben Hin-nôm và làm lễ thiêu các con trai mình theo thói tục ghê tởm của các dân mà Đức Chúa đã trục xuất cho khuất mắt con cái Ít-ra-en" (2 Sb 28,2-3). Trong một số trình thuật về giai đoạn cuối vương quốc Giu-đa, trước cuộc lưu đày Ba-by-lon, những người lãnh đạo Giu-đa đã làm nhiều điều trái nghịch thánh ý Thiên Chúa, chẳng hạn như: "Tất cả các thủ lãnh của các tư tế và dân chúng mỗi ngày một thêm bất trung bất nghĩa, học theo mọi thói ghê tởm của chư dân và làm cho Nhà Đức Chúa đã được thánh hiến ở Giê-ru-sa-lem ra ô uế" (2 Sb 36,14).
Thay vì trông cậy và tín thác vào Thiên Chúa, dân Ít-ra-en lại làm theo ý riêng mình cũng như cậy dựa vào các thế lực chính trị và quân sự của dân ngoại. Họ đã giả điếc làm ngơ trước lời mời gọi 'trở về' của Thiên Chúa và nhắm mắt trước những kỳ công mà Thiên Chúa đã thực hiện cho tổ tiên họ. Đặc biệt, họ không trung thành phụng thờ Thiên Chúa "là Thần các thần, là Chúa các chúa, là Thiên Chúa vĩ đại, dũng mãnh, khả úy" (Đnl 10,17). Theo sách Thủ Lãnh: "Con cái Ít-ra-en đã làm điều dữ trái mắt Đức Chúa, và đã làm tôi các thần Ba-an. Họ đã lìa bỏ Đức Chúa, Thiên Chúa của tổ tiên, Đấng đã đưa họ ra khỏi đất Ai-cập, và họ đã đi theo các thần ngoại lai trong số các thần của các dân chung quanh. Họ sụp lạy các thần ấy và chọc giận Đức Chúa" (Tl 2,11-12). Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn yêu thương họ: "Khi Đức Chúa cho xuất hiện các thủ lãnh để giúp họ, thì Đức Chúa ở với vị thủ lãnh và Người cứu họ khỏi tay quân thù bao lâu vị thủ lãnh còn sống, vì Đức Chúa động lòng trắc ẩn trước những tiếng than khóc của họ, khi họ bị đàn áp và ức hiếp" (Tl 2,18).
Một trong những khủng hoảng lớn lao nhất đối với dân Ít-ra-en là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vĩ đại được xây dựng dưới thời Sa-lô-môn bị phá hủy (587/586 trước Công Nguyên). Hơn nữa, Đất Hứa bị quân Ba-by-lon giày xéo, còn nhiều người dân Giu-đa lại phải chịu cảnh lưu đày sang Ba-by-lon. Tuy nhiên, niềm hy vọng của dân Ít-ra-en không hoàn toàn bị dập tắt bởi vì lời hứa và niềm an ủi của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực: những người lưu đày được trở về, xây lại Đền Thờ, khôi phục các nghi thức phụng vụ. Đặc biệt, dưới thời Ma-ca-bê, niềm hy vọng vào sự sống lại của những người chết trở nên mạnh mẽ. Như vậy, lời hứa về sự phục hồi không chỉ trên bình diện tập thể, quốc gia, dân tộc mà còn trên cả bình diện cá nhân nữa. Chẳng hạn, niềm tin vào sự sống đời đời được thể hiện qua lời tuyên xưng của người con thứ hai trong bảy anh em tử đạo: "Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của Vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời" (2 Mcb 7,9).
Những lời hứa và giáo huấn của Đức Chúa đối với dân Ít-ra-en đều là nguồn an ủi và giúp họ vững bước trong hành trình theo Người trên bình diện tập thể cũng như cá nhân. Trên bình diện tập thể, chẳng hạn như, tác giả sách Giô-suê khẳng định: "Trong mọi lời tốt lành Đức Chúa đã phán với nhà Ít-ra-en, không một lời nào ra vô hiệu: mọi lời đều ứng nghiệm" (Gs 21,45), hay lời trong thư thượng tế Giô-na-than gửi cho người Xi-pác-ta: "Phần chúng tôi, dù không cần đến những chuyện như thế, bởi vì chúng tôi đã có sẵn Sách thánh trong tay làm nguồn an ủi" (1 Mcb 12,9). Trên bình diện cá nhân, chẳng hạn như Đức Chúa phán với Giô-suê: "Chớ gì sách Luật này đừng rời khỏi miệng ngươi; và ngươi sẽ suy gẫm sách Luật đó ngày đêm, để lo thi hành tất cả những gì viết trong đó; vì như thế ngươi sẽ được thịnh đạt trên đường đời, vì như thế ngươi sẽ thành công" (Gs 1,8), hay lời Đa-vít thưa với Đức Chúa: "Lúc ngặt nghèo tôi kêu cầu Đức Chúa, kêu cầu Người là Thiên Chúa của tôi. Từ thánh điện, Người nghe tiếng tôi cầu cứu, lời tôi khẩn nguyện vọng đến tai Người" (2 Sm 22,7). Khi con người biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành, Lời Chúa sẽ sinh hoa kết quả dồi dào trong đời sống họ và niềm an ủi của Đức Chúa trở thành lẽ sống cũng như nguồn hy vọng cho họ.
2.3 An Ủi Trong Truyền Thống Khôn Ngoan Và Ngôn Sứ
Cũng như các Sách Lịch Sử, các Sách Khôn Ngoan và Ngôn Sứ của Cựu ước cho chúng ta biết niềm an ủi của Thiên Chúa là nguồn hy vọng của con người. Sự an ủi của Thiên Chúa dưỡng nuôi niềm hy vọng được giải thoát, phục hồi và được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, chẳng hạn: "Hồn tôi hỡi, cớ sao phiền muộn, xót xa phận mình mãi làm chi? Hãy cậy trông Thiên Chúa, tôi còn tán tụng Người, Người là Đấng cứu độ, là Thiên Chúa của tôi" (Tv 42,12); "Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi - sấm ngôn của Đức Chúa, kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng" (Gr 29,11). Lời hứa trong Gr 29,11 được gửi đến cộng đoàn đang lưu đày và gắn liền với lời mời gọi kiên nhẫn, cầu nguyện cũng như tìm kiếm Thiên Chúa hết lòng (Gr 29,4-14). Niềm hy vọng này không đồng nghĩa với việc bảo đảm rằng người tin sẽ luôn thành đạt hay tránh khỏi mọi gian truân trong cuộc sống hiện tại. Chính sự an ủi của Thiên Chúa nuôi dưỡng nơi con cái Ít-ra-en niềm hy vọng vào tương lai Người đã hứa, đồng thời, giúp họ đối diện với những hoàn cảnh nảy sinh vượt quá kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình.
Các Thánh Vịnh cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa là nguồn an ủi trong mọi nơi mọi lúc, nhất là khi con người phải đối diện với những khó khăn, nghịch cảnh, chẳng hạn: "Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ, cứu những tâm thần thất vọng ê chề. Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi" (Tv 34,19-20). Tương tự như vậy: "Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta. Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo" (Tv 46,2). Ai tin tưởng và đặt hy vọng vào Đức Chúa thì được Người che chở phù trì: "Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm" (Tv 23,4). Lòng thương xót của Người luôn bền vững: "Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên" (Tv 23,6). Người nâng đỡ những người dễ bị tổn thương: "Chúa phù trợ những khách ngoại kiều, Người nâng đỡ cô nhi quả phụ, nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân" (Tv 146,9).
Trình thuật trong sách Gióp cho chúng ta biết ông phải chịu muôn vàn nghịch cảnh vượt quá khả năng lý giải của mình. Trước khi đưa ra những lời giải thích, các bạn đã ngồi với ông trên đất suốt bảy ngày bảy đêm mà không nói một lời, vì thấy nỗi đau của ông quá lớn (G 2,11-13). Sự hiện diện trong thinh lặng ấy nhắc nhở chúng ta rằng an ủi trước hết là ở bên người đau khổ. Tuy nhiên, sau đó, ba người bạn đã tìm cách giải thích nguyên nhân gây đau khổ cho ông Gióp nhưng ông không chấp nhận những lời an ủi dựa trên những lập luận và suy diễn theo quan niệm 'thưởng phạt' truyền thống. Đối với ông, những lý luận của họ dựa trên cách áp dụng máy móc quan niệm thưởng phạt chứ không phản ánh đúng những gì ông đang trải nghiệm. Họ lý luận theo kiểu 'ở hiền gặp lành, ở dữ gặp ác'. Họ an ủi ông Gióp nhưng lại không thấu hiểu hoàn cảnh của ông cũng như đường lối nhiệm mầu của Thiên Chúa. Một mặt, ông luôn tin nhận rằng Thiên Chúa là Đấng tốt lành; mặt khác, ông cảm nhận cuộc đời mình thật vô nghĩa. Tuy nhiên, dù có những lời than trách và chất vấn Thiên Chúa, ông vẫn không từ bỏ niềm tin vào Người. Trong khi các bạn cho rằng ông chịu nhiều đau khổ vì tội lỗi của mình thì ông lại khẳng định rằng ông ngay chính trước những cáo buộc của họ. Đồng thời, qua cuộc đối thoại với Thiên Chúa, ông dần nhận ra rằng đau khổ của con người không nhất thiết là hình phạt của tội lỗi và đường lối Thiên Chúa vượt quá sự hiểu biết hay lượng định của con người. Cuối sách, chính Thiên Chúa khiển trách các bạn ông vì họ đã không nói đúng về Người (G 42,7). Lòng khiêm tốn, sự chân thành và tâm hồn hoán cải của ông Gióp trở thành bài học quý báu cho con người qua muôn thế hệ.
Trong truyền thống ngôn sứ, chủ đề an ủi được sách I-sai-a diễn tả một cách rõ nét. Các nhà chú giải Kinh thánh thường chia sách I-sai-a thành ba phần: Đệ Nhất I-sai-a (proto-Isaiah, Is 1-39); Đệ Nhị I-sai-a (Deutero-Isaiah, Is 40-55) và Đệ Tam I-sai-a (Trito-Isaiah, Is 56-66). Câu mở đầu của phần thường gọi là 'Sách An Ủi' trong sách ngôn sứ I-sai-a là: "Hãy an ủi, an ủi dân Ta" (Is 40,1). Đây được xem là khởi đầu một giai đoạn mới, chuyển từ những lời cảnh báo, phán xét sang sứ điệp an ủi, giải thoát, phục hồi. Trong phần trước, sách mặc khải về sự thánh thiện và siêu việt của Đức Chúa, loan báo Đấng Em-ma-nu-en; nhấn mạnh sự công chính của Thiên Chúa, việc Người bảo tồn 'số còn sót lại' và thực hiện ý định cứu độ; đồng thời cảnh báo về tội lỗi, hình phạt, tai họa. Niềm an ủi hướng đến dân Ít-ra-en trong cảnh lưu đày, dân thành Giê-ru-sa-lem, những người thất vọng, nghèo khổ, bị áp bức; đồng thời sứ điệp còn loan báo ơn cứu độ cho muôn dân muôn nước khắp cùng trái đất.
Nhiều lời trong 'Đệ Nhị I-sai-a' hay 'Sách An Ủi' (Book of Consolation) vừa loan báo sứ điệp Đức Chúa, vừa mời gọi dân Ít-ra-en đáp lại: "Có tiếng hô: Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa" (Is 40,3); "Hãy hô lên!" (Is 40,6); "Hãy cất tiếng lên cho thật mạnh" (Is 40,9); "Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền" (Is 40,10); "Hãy đưa mắt lên cao mà nhìn" (Is 40,26). Để đón nhận niềm an ủi từ Đức Chúa, mọi người được mời gọi cầu nguyện, thức tỉnh và hoán cải để nhận ra sự hiện diện của Đức Chúa là Đấng sáng tạo, là Chủ Tể vạn vật, là Đấng cứu độ. Đặc biệt, trong 'Sách An Ủi' có bốn 'Bài Ca Người Tôi Trung': (1) Người Tôi Trung được tuyển chọn để đem công lý cho muôn dân (Is 42,1-9); (2) Người Tôi Trung là ánh sáng muôn dân (Is 49,1-6); (3) Người Tôi Trung tín thác trong mọi hoàn cảnh (Is 50,4-9) và (4) Người Tôi Trung hiến mạng sống để đền tội cho muôn người (Is 52,13-53,12). Hình ảnh Người Tôi Trung ở đây tiên báo về Đức Giê-su, Người Tôi Trung của Thiên Chúa, hiện diện giữa gia đình nhân loại để an ủi, cứu độ và giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Chính Tân ước hướng dẫn Giáo hội đọc các bản văn này trong ánh sáng Đức Giê-su: "Người bị liệt vào hàng phạm pháp" (Lc 22,37); còn Phi-líp-phê khởi đi từ bài ca Người Tôi Trung để loan báo Tin mừng Đức Giê-su cho viên thái giám Ê-thi-óp (Cv 8,30-35).
Đường lối Thiên Chúa an ủi dân Ít-ra-en thật nhiệm mầu bởi vì Người không chỉ dùng những người thuộc dân Ít-ra-en để thực thi chương trình của Người mà còn dùng cả những người thuộc dân ngoại, chẳng hạn như Ky-rô, vua Ba-tư: "Đức Chúa phán với kẻ Người đã xức dầu, với vua Ky-rô – Ta đã cầm lấy tay phải nó, để bắt các dân tộc suy phục nó, Ta tước khí giới của các vua, mở toang các cửa thành trước mặt nó, khiến các cổng không còn đóng kín nữa" (Is 45,1). Trong khi dân Ít-ra-en, dân riêng của Thiên Chúa, bội ước, bất trung và phải chịu cảnh lưu đày, Thiên Chúa lại dùng vua Ky-rô để thực thi chương trình an ủi dành cho con cái Ít-ra-en. Ky-rô, vị vua ngoại giáo không biết Đức Chúa, lại trở thành khí cụ phục vụ chương trình cứu độ của Người, nhất là trong việc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi cảnh lưu đày. Qua ngôn sứ I-sai-a, Đức Chúa phán: "Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp, và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en, Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta" (Is 45,4). Vua Ky-rô được Thiên Chúa tuyển chọn và được mô tả bằng nhiều hình ảnh, danh hiệu cũng như hành động, chẳng hạn như được gọi là 'mục tử của Ta' (Is 44,28); được Đức Chúa cầm tay (Is 45,1-3); được dùng làm khí cụ để cứu dân Ít-ra-en (Is 45,4); được Thiên Chúa nâng đỡ và hướng dẫn (Is 45,5-6); được Thiên Chúa cho trỗi dậy để giải thoát dân Ít-ra-en khỏi cảnh lưu đày (Is 45,13); được Đức Chúa yêu mến và tuyển chọn để thực thi ý định của Người (Is 48,14-15).
Thiên Chúa là Đấng An Ủi không chỉ được diễn tả qua hình ảnh người cha mà còn qua hình ảnh người mẹ, chẳng hạn như, người mẹ cưu mang và nâng đỡ con mình: "Hãy nghe Ta, hỡi nhà Gia-cóp, và tất cả số sót của nhà Ít-ra-en! Ta đã nâng các ngươi từ trong lòng mẹ, đã hứng các ngươi từ lúc chưa chào đời" (Is 46,3); người mẹ không quên con: "Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ" (Is 49,15); người mẹ an ủi con: "Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giê-ru-sa-lem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về" (Is 66,13). Cần lưu ý rằng những hình ảnh ấy diễn tả sự gần gũi và dịu hiền của Thiên Chúa, Đấng vượt trên sự phân biệt phái tính của con người (GLGHCG 239). Tình yêu thương, sự chăm sóc và an ủi của Thiên Chúa được diễn tả qua hình ảnh người mẹ hoặc những hình ảnh tương tự, đặc biệt trong sách ngôn sứ I-sai-a và một số sách khác, chẳng hạn như Xh 19,4; Đnl 32,18; Hs 11,3-4. Hình ảnh người mẹ chăm sóc con mình có thể được xem là một trong những hình ảnh tiêu biểu và gần gũi nhất diễn tả sự an ủi trong các nền văn hóa nhân loại.
Ơn cứu độ và niềm an ủi của Thiên Chúa không chỉ dành cho Ít-ra-en mà còn hướng đến muôn dân muôn nước, chẳng hạn như: "Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ, vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác" (Is 45,22); Người Tôi Trung của Đức Chúa được đặt làm ánh sáng muôn dân để đem ơn cứu độ của Người đến tận cùng cõi đất (Is 49,6); ơn cứu độ của Đức Chúa được tỏ hiện trước mặt muôn dân: "Trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người: ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta, người bốn bể rồi ra nhìn thấy" (Is 52,10). Trong sách ngôn sứ I-sai-a, danh xưng Người Tôi Trung được dùng để chỉ nhiều đối tượng khác nhau, chẳng hạn như dân Ít-ra-en, người mang sứ mệnh ngôn sứ hay những người phụng sự Đức Chúa. Tuy nhiên, nơi một số bản văn, nhất là các bài ca về Người Tôi Trung (Is 42,1-9; Is 49,1-6; Is 50,4-9; Is 52,13-53,12), thường được các Ki-tô hữu đọc và giải thích dưới ánh sáng về cuộc đời và sứ mệnh Đức Giê-su, chẳng hạn như cuộc thương khó, cái chết và sự phục sinh của Người. Chủ đề an ủi còn được trình bày cách đậm nét trong Gr 30-31, phần cũng thường được gọi là ‘Sách An Ủi’. Thiên Chúa hứa biến tang tóc thành hoan hỷ, an ủi dân sau những ngày sầu khổ (Gr 31,13); đồng thời, Người hứa thiết lập giao ước mới, ghi lề luật vào lòng họ và tha thứ tội lỗi cho họ (Gr 31,31-34). Như vậy, niềm an ủi gắn liền với việc quy tụ dân Chúa, đổi mới tâm hồn và phục hồi sự hiệp thông với Người.
3. AN ỦI TRONG TÂN ƯỚC
3.1 Đức Giê-su – Sự Hiện Diện Của Niềm An Ủi
Mặc khải Cựu ước hướng về Đức Giê-su và phác họa những đường nét đa dạng về căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người, chẳng hạn như Người là A-đam mới, là Mô-sê mới, là Vua Mê-si-a, là Đấng Cứu Độ, là Người Tôi Trung đau khổ và là Đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Thánh A-tha-na-xi-ô viết về Đức Giê-su nhập thể, mang lấy bản tính nhân loại như sau: "Người nhận lấy từ chúng ta một thân xác cùng bản tính và bởi vì tất cả đều đang ở dưới án phạt của sự hư hoại và sự chết, Người đã trao thân xác ấy cho sự chết thay cho mọi người và dâng nó lên Chúa Cha" (Athanasius, On the Incarnation of the Word 8.4). Tương tự như thế, thánh Tô-ma A-qui-nô viết: "Thật là thích hợp khi Con Thiên Chúa mặc lấy thân xác chịu những yếu đuối của con người, để trong thân xác ấy, Người chịu đau khổ và chịu thử thách, và nhờ đó có thể nâng đỡ chúng ta" (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae III, q.14, a.1).
Với sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa trong thân phận con người, mọi người được chiêm ngưỡng sự hiện hữu của Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại. Như vậy, sự nghi ngờ, bất an và sợ hãi của con người mà cao điểm là sự chết không còn quyền thống trị nữa (1 Cr 15,55-57). Thay vào đó là sự tin tưởng, bình an và hy vọng được khơi dậy và củng cố trong đời sống con người. Nói cách khác, nơi Đức Giê-su, con người tìm được sự an ủi ngay trong hành trình trần thế hướng về Thiên Chúa, Đấng hằng yêu thương con người và muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý (1 Tm 2,4). Thánh Au-gút-ti-nô viết về chương trình của Thiên Chúa được Đức Giê-su thực hiện như sau: "Người đã sai Con Một của Người, Đấng nhờ Người mà muôn vật được tạo thành để Người trở nên con người mà vẫn là Thiên Chúa và như thế trở thành Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người, là con người Đức Giê-su Ki-tô; nhờ đó, những ai tin vào Người thì được thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi nhờ phép rửa tái sinh..." (St. Augustine, Tractates on the Gospel of John 124.5).
Nhờ Đức Giê-su, Thiên Chúa an ủi mọi người trong gia đình nhân loại không phải chỉ qua các trung gian thụ tạo, chẳng hạn như các thiên thần hay những người được chính Người tuyển chọn. Trái lại, Người an ủi mọi người trong gia đình nhân loại cách trực tiếp và trọn vẹn qua Con Yêu Dấu của Người. Thiên Chúa an ủi con người bằng những cách thức phù hợp với kinh nghiệm và sự hiểu biết của con người qua các thời đại. Đặc biệt, nhờ Đức Giê-su, con người được nhận làm con cái Thiên Chúa trong hành trình trần thế và được hưởng sự sống vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa.
Trình thuật Tin mừng theo thánh Lu-ca cho chúng ta biết trong biến cố tiến dâng Đức Giê-su trong Đền Thờ có sự hiện diện của ông Si-mê-ôn, người mong đợi niềm an ủi của dân Ít-ra-en: "Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông" (Lc 2,25). Niềm an ủi của dân Ít-ra-en cũng chính là niềm an ủi của mọi người trong gia đình nhân loại. Chính ông Si-mê-ôn nhận ra nơi Hài Nhi ơn cứu độ Thiên Chúa đã chuẩn bị trước mặt muôn dân, ánh sáng soi đường cho dân ngoại và vinh quang của Ít-ra-en (Lc 2,30-32). Quả thật, vào buổi đầu loan báo Tin mừng tại Na-da-rét, miền Ga-li-lê, Đức Giê-su áp dụng Lời Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a cho chính Người: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa... Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,18-21; Is 61,1-2; Is 58,6). Đức Giê-su chính là Đấng an ủi mọi người, nhất là những người yếu hèn, những người 'thấp cổ bé miệng', những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội.
Sự an ủi của Thiên Chúa đối với con người trong hành trình trần thế của Đức Giê-su cũng chính là sự chữa lành của Người đối với những ai mang thương tích do hậu quả của tội lỗi. Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm rằng, thông thường, trong việc chữa bệnh, người thầy thuốc thì lành lặn còn bệnh nhân thì mang thương tích. Trong khi đó, Đức Giê-su chữa bệnh nhưng Người lại mang lấy thương tích của bệnh nhân, nghĩa là mang lấy tội lỗi nhân loại mà đưa lên thập giá; Đấng chữa lành mang lấy thương tích của những người được chữa lành (Is 53,3-5; 2 Cr 5,21).
Là Thiên Chúa, Đức Giê-su có thể an ủi mọi người trong gia đình nhân loại theo nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, Người lại trở nên người phàm giữa gia đình nhân loại để 'trực tiếp' an ủi con người theo cách thức mà con người có thể dễ dàng cảm nhận. Người chia sẻ đau khổ với con người bằng cách gánh lấy hậu quả tội lỗi nhân loại. Đỉnh điểm của sự an ủi là Biến Cố Vượt Qua, khi Người chịu nhiều đau khổ, chịu chết và phục sinh vinh hiển. Nhờ Đức Giê-su, mọi người đều được mời gọi đón nhận lòng thương xót và sự an ủi, nâng đỡ của Thiên Chúa.
Như đã đề cập ở trên, qua dòng lịch sử, Thiên Chúa an ủi con người bằng nhiều hình thức trong những không gian và thời gian khác nhau. Sự an ủi của Thiên Chúa trong quá khứ hướng về sự an ủi được Đức Giê-su thực hiện giữa gia đình nhân loại. Nói cách khác, sự an ủi được Đức Giê-su thực hiện kiện toàn sự an ủi của Thiên Chúa trong quá khứ. Đồng thời, sự an ủi này vẫn tiếp diễn giữa gia đình nhân loại cho đến tận thế qua Giáo hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Thánh Phao-lô viết: "Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi, thì cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu. Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy" (2 Cr 1,6-7).
Biến cố Thiên Chúa trở thành người phàm nơi Đức Giê-su để an ủi mọi người trong gia đình nhân loại là biến cố kỳ diệu, vượt quá kinh nghiệm cũng như khả năng thấu hiểu của con người. Khi chú giải Tin mừng theo thánh Gio-an (Ga 3,6-21), thánh Au-gút-ti-nô viết: "Người ở dưới đất mà đồng thời cũng ở trên trời: Người ở dưới đất theo xác phàm, ở trên trời theo thần tính; hơn nữa, theo thần tính, Người hiện diện khắp mọi nơi. Người được sinh ra bởi một người mẹ nhưng vẫn không lìa bỏ Chúa Cha. Nơi Đức Ki-tô, chúng ta nhận biết hai cuộc sinh hạ: một thuộc thần tính, một thuộc nhân tính; bởi cuộc sinh hạ thứ nhất, Người là Đấng nhờ Người mà chúng ta được dựng nên; bởi cuộc sinh hạ thứ hai, Người trở thành Đấng nhờ Người mà chúng ta được tái tạo. Cả hai đều kỳ diệu: cuộc sinh hạ thứ nhất không có mẹ, cuộc sinh hạ thứ hai không có cha" (St. Augustine, Tractates on the Gospel of John 12.8). Sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính trong Ngôi Vị duy nhất của Đức Giê-su mở ra cho gia đình nhân loại niềm hy vọng lớn lao về việc con người được kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và thông phần sự sống vĩnh cửu của Người.
3.2 Đức Giê-su Thực Thi Sứ Mệnh An Ủi
Trong bài giảng Tám Mối Phúc, Đức Giê-su nói: "Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an" (Mt 5,5). Mối phúc này vọng lại lời hứa an ủi những người sầu khổ trong Is 61,2-3. Do đó, người có phúc không phải vì đau khổ tự nó là điều tốt, nhưng vì Thiên Chúa đến gần và mở ra cho họ niềm hy vọng được đổi mới trong Nước Người. Câu hỏi đặt ra: 'Ai là người sầu khổ?' Thưa, mọi người trong gia đình nhân loại đều là những người sầu khổ, khác nhau chăng cũng chỉ về hình thức và mức độ. Điều Đức Giê-su muốn nhấn mạnh ở đây là những người ý thức được rằng mình sầu khổ, mình cần sự an ủi, nâng đỡ, chở che từ Thiên Chúa bởi vì, tự thân, không ai có thể miễn nhiễm với sầu khổ. Chúng ta không bao giờ kể hết các hình thức sầu khổ mà bản thân phải đối diện: sầu khổ vì những giới hạn của không gian, thời gian; sầu khổ vì những đau đớn trong tâm hồn, thể xác; sầu khổ vì phải đối diện với những mãnh lực của thế giới tự nhiên; sầu khổ vì cô đơn, bị loại trừ; sầu khổ vì sa chước cám dỗ và đắm chìm trong tội lỗi; đỉnh cao sự sầu khổ là sự chết. Tự bản chất, sầu khổ nằm ngoài mong muốn tự nhiên của con người. Lúc sầu khổ, con người mong muốn tình trạng của bản thân được biến đổi. Người sầu khổ có phúc khi biết khao khát và đặt niềm tin tưởng, trông cậy vào lòng từ bi cũng như sự an ủi từ Thiên Chúa, chứ không chỉ cậy dựa vào người phàm hay bất cứ thế lực nào khác.
Sứ mệnh an ủi của Đức Giê-su dành cho mọi người trong mọi thời và khắp mọi nơi được diễn tả qua chính Lời Người: "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mt 11,28-30). Khi mời gọi mang lấy ách của Người, Đức Giê-su không hứa một đời sống vắng bóng trách nhiệm hay thập giá. Người mời gọi con người đến học với Người và bước theo Người trong tình yêu. Hình ảnh này cũng gợi lại lời mời mang lấy ách của Đức Khôn Ngoan để tìm được sự nghỉ ngơi (Hc 51,23-27). Xét về bối cảnh xã hội, thời Đức Giê-su, dân Ít-ra-en phải đương đầu với gánh nặng chính trị là sự đô hộ của Rô-ma; những áp lực từ ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp; những gánh nặng do cách áp dụng luật lệ tôn giáo Do-thái, chẳng hạn như những quy định chi tiết về ngày sa-bát, quy định về sự thanh sạch, những cách giải thích lề luật tùy tiện, áp đặt những nghĩa vụ nặng nề, thực hành tôn giáo hình thức, phân biệt đối xử trong xã hội. Trong gia đình nhân loại, ai cũng phải đối diện với những vất vả, gánh nặng về tinh thần và thể xác, chẳng hạn như gánh nặng về tinh thần: tội lỗi, lo âu, sợ hãi, thất bại, tuyệt vọng, cô đơn, áp lực của lề luật; gánh nặng về thể xác: bệnh tật, già yếu, khuyết tật, đói nghèo, lao động, chiến tranh, tù đày, bạo lực, cái chết. Ngoài ra, con người phải đối diện với nhiều loại gánh nặng khác nữa, chẳng hạn như gánh nặng về luân lý, tâm linh, tình cảm, nghề nghiệp.
Trong một số cuộc tranh luận được các sách Tin mừng thuật lại, có những người Pha-ri-sêu và kinh sư tỏ thái độ xa lánh những người thu thuế và người tội lỗi (Mc 2,15-17; Lc 15,1-2). Trong cách nhìn mang tính loại trừ ấy, những người này bị coi là thuộc tầng lớp ‘xa lạ với Thiên Chúa’, tầng lớp ‘bị chúc dữ’. Tuy nhiên, với Đức Giê-su, họ lại trở thành ‘tâm điểm’ của lòng Chúa thương xót, Người nói: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: 'Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế'. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13). Quả thực, Đức Giê-su đến trần gian để ‘cho chiên được sống và sống dồi dào’ (Ga 10,10). Đối với Đức Giê-su, không chỉ dân Do-thái được gọi là ‘Dân Thiên Chúa’ mà mọi người trong gia đình nhân loại đều được mời gọi trở thành Dân Thiên Chúa.
Hành trình trần thế của Đức Giê-su là hành trình an ủi mọi người, nhất là những người trong tình trạng sầu khổ và dễ bị tổn thương nhất: Người trừ quỷ cho nhiều người và tại nhiều nơi, chẳng hạn như tại hội đường Ca-phác-na-um, vùng Ghê-ra-sa hay vùng Tia và Xi-đôn (Lc 4,31-37; Mt 8,28-34; Mc 7,24-30). Người đồng cảm với những người tội lỗi hay bị loại trừ, chẳng hạn như Người gọi tên ông Da-kêu và đến dùng bữa tại nhà ông (Lc 19,1-10); Người cho con gái ông Gia-ia, con trai bà góa thành Na-in sống lại (Mc 5,21-43; Lc 7,11-17); Người tha tội và không kết án người phụ nữ ngoại tình (Ga 8,1-11); Người đã khóc trước cái chết của La-da-rô và cho La-da-rô hồi sinh (Ga 11,35; Ga 11,43); Người hứa ban ơn cứu độ cho người gian phi sám hối (Lc 23,39-43). Nói cách khác, sự hiện diện của Đức Giê-su cũng chính là sự hiện diện của niềm an ủi cho những ai thành tâm đến với Người. Trong Tông Huấn 'Lời Chúa' (Verbum Domini, 2010), Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI viết: "Kinh thánh có vô vàn trang nói về sự an ủi, nâng đỡ và chữa lành mà Thiên Chúa đem đến. Đặc biệt, chúng ta có thể nghĩ đến sự gần gũi của chính Đức Giê-su đối với những người đau khổ, và đến việc Người, Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, đã mang lấy những đau đớn của chúng ta và chịu đau khổ vì yêu thương chúng ta, qua đó đem lại ý nghĩa cho bệnh tật và cái chết" (Verbum Domini 61).
Để an ủi con người trong hành trình trần thế, Đức Giê-su ở lại với gia đình nhân loại bằng nhiều cách thức khác nhau, nhất là nơi Bí Tích Thánh Thể mà Người đã thiết lập trước khi bước vào cuộc thương khó. Trong bí tích này, bánh và rượu là hoa màu ruộng đất và công lao của con người, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần và lời của Đức Giê-su, đã trở nên Mình Thánh và Máu Thánh Người. Đây là Của Ăn và Của Uống thiêng liêng nuôi dưỡng con người trong hành trình trần thế. Trong Bí Tích Thánh Thể, con người được 'ăn Thiên Chúa'; thụ tạo phải chết được 'ăn Thiên Chúa hằng sống'; thời gian được 'ăn vĩnh cửu', hữu hạn được 'ăn vô hạn', nghèo hèn được 'ăn sung mãn', yếu đuối được 'ăn toàn năng', hư nát được 'ăn bất diệt'. Không có niềm an ủi nào cao cả hơn, sâu thẳm hơn, nhiệm mầu hơn niềm an ủi mà Bí Tích Thánh Thể đem lại cho các tín hữu. Chúng ta cần ghi nhận và quan tâm 'hai chuyển động' của Đức Giê-su: (1) từ trời xuống đất, Đức Giê-su đã làm người, sống giữa gia đình nhân loại, giống con người về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi, và (2) từ đất lên trời, Đức Giê-su đã để lại chính Mình và Máu của Người làm lương thực thiêng liêng, giúp con người được nếm hưởng sự sống vĩnh cửu ngay trong hành trình trần thế này hầu được biến đổi và ngày càng nên đồng hình đồng dạng với Người hơn. Đây quả là món quà an ủi vô giá, vượt quá khả năng nhận thức và kinh nghiệm của con người qua mọi thời đại.
Để an ủi các môn đệ trước khi bước vào cuộc thương khó, trong bối cảnh Bữa Tiệc Ly, gắn liền với lễ Vượt Qua (פֶּסַח, Pesach, Passover) của dân Ít-ra-en, Đức Giê-su nói với họ: "Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em" (Ga 14,18-20). Qua những lời này và các mặc khải trước đó, Đức Giê-su giúp các môn đệ nhận biết mầu nhiệm sự sống vĩnh cửu (Ga 11,25-26; Ga 14,6; Ga 17,3). Người mặc khải cho họ những chân lý nền tảng về tương quan giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, làm cơ sở cho việc khai triển tín lý về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi sau này (Ga 14,16-17; Ga 14,26; Ga 15,26). Trình thuật Tin mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su luôn giảng dạy và giúp các môn đệ hiểu rằng chính Người là Đấng an ủi họ trong mọi hoàn cảnh. Đặc biệt, lời nguyện dài nhất của Người được ghi lại trong các sách Tin mừng (thường được gọi là 'Lời Nguyện Hiến Tế') cho thấy tình yêu và sự an ủi của Người dành cho các môn đệ cũng như tất cả những ai tin vào Người (Ga 17,1-26).
'Qua thập giá tới vinh quang' là một trong những tư tưởng thần học chủ đạo xuyên suốt các sách Tân ước, nhất là Tin mừng theo thánh Lu-ca, Tin mừng theo thánh Gio-an và các thư thánh Phao-lô, chẳng hạn như Đức Giê-su nói với mọi người: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo" (Lc 9,23). Đức Giê-su phục sinh nói với hai môn đệ trên đường Em-mau: "Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?" (Lc 24,26). Đức Giê-su nói với đám đông dân chúng: "Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi" (Ga 12,32); thập giá chính là nơi Đức Giê-su được tôn vinh như lời của Người: "Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17,1). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: "Một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người" (Rm 8,17), hay trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, ngài viết: "Một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời" (2 Cr 4,17). Mầu nhiệm đau khổ dẫn tới vinh quang đã được tiên báo trong Cựu ước: "Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ" (Is 53,11). Chiêm ngắm Trái Tim Đức Giê-su bị đâm thâu, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người trên thập giá, giúp con người cảm nhận được sự an ủi vô song của Thiên Chúa, sự an ủi vượt xa những mong đợi và kinh nghiệm của con người (Ga 19,34).
Bảy lời Đức Giê-su trên thập giá đều có thể được đón nhận và suy niệm như những lời mang lại niềm an ủi trước khi "Người gục đầu và trao ban thần khí" (Ga 19,30): (1) Lời tha thứ: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34); (2) Lời cứu độ: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23,43); (3) Lời hiệp thông: "Thưa Bà, đây là con của Bà... Đây là mẹ của anh" (Ga 19,26-27); (4) Lời thống khổ: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27,46); (5) Lời khao khát: "Tôi khát!" (Ga 19,28); (6) Lời hoàn tất: "Thế là đã hoàn tất!" (Ga 19,30); (7) Lời phó thác: "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46). Lời thống khổ của Đức Giê-su là lời mở đầu Tv 22, lời cầu nguyện đi từ tiếng kêu trong đau khổ đến lòng tín thác và lời ca tụng Thiên Chúa (Tv 22,2.23-32). Khi thốt lên lời này, Người thực sự đi vào chiều sâu đau khổ của con người; tuy nhiên, Người không ngừng kết hợp với Chúa Cha trong tình yêu. Quả thật, đây vừa là những lời an ủi, vừa là những lời giúp mọi người nhận ra cách thức an ủi huyền diệu của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ dành cho nhân loại được thực hiện nơi Đức Giê-su.
Biến cố Người phục sinh là biến cố mang lại niềm an ủi lớn lao nhất cho các môn đệ. Quả thật, với sự hiện diện, đồng hành và hướng dẫn của Đức Giê-su phục sinh, các môn đệ tràn ngập niềm vui và hy vọng. Từ những con người yếu đuối, nhát đảm và sợ sệt, họ đã trở thành những con người mạnh mẽ, can đảm và nhiệt thành loan báo Đức Giê-su và Tin mừng của Người cho anh chị em đồng loại. Nhờ Đức Giê-su, Đấng đã chịu đau khổ, chịu chết và phục sinh mà con người có thể nhận ra tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa đối với toàn thể gia đình nhân loại. Vì yêu thương, Thiên Chúa đã sáng tạo, cứu độ và thánh hóa con người, đồng thời không ngừng hoạt động để đổi mới toàn thể công trình sáng tạo.
Trọng tâm của mầu nhiệm an ủi trong Tân ước là ơn cứu độ được thực hiện nơi Đức Giê-su và đạt tới viên mãn trong sự sống vĩnh cửu, bởi vì, nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, con người được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Đức Giê-su nói với Nhóm Mười Hai: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: "Những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết" (Rm 8,1-2). Như vậy, sự an ủi của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su không chỉ đem lại những hoa trái thiết thực cho con người trong hành trình trần thế mà còn hướng con người tới sự sống viên mãn trong Thiên Chúa. Quả thật, con người không bao giờ được thỏa mãn trọn vẹn bằng những hình thức an ủi tạm thời. Chính Đức Giê-su, Thiên Chúa làm người, ban cho con người niềm an ủi đích thực, được biểu lộ qua toàn bộ cuộc đời Người và đạt tới đỉnh cao nơi mầu nhiệm Vượt Qua, để đưa con người tới niềm an ủi vĩnh hằng.
3.3 Chúa Thánh Thần – Đấng An Ủi Khác
Trong Bữa Ăn Cuối Cùng của Đức Giê-su với các môn đệ trước khi bước vào cuộc thương khó, Người nói với họ: "Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em" (Ga 14,16-17). Đức Giê-su không nói rằng Người sẽ cầu xin Chúa Cha để ban 'Đấng Bảo Trợ' cho các môn đệ mà là 'Đấng Bảo Trợ khác' (another Paraclete) bởi vì chính Đức Giê-su là Đấng Bảo Trợ, Đấng An Ủi đích thực. Điều này được thánh Gio-an khẳng định trong thư thứ nhất của ngài: "Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng Công Chính" (1 Ga 2,1). Câu hỏi đặt ra: 'Đấng Bảo Trợ khác' là ai vậy? Thưa, đó chính là Chúa Thánh Thần, Thần Khí Sự Thật, Thần Khí An Ủi, Đấng luôn hiệp thông với Đức Giê-su và tiếp tục hiện tại hóa công trình cứu độ của Người giữa gia đình nhân loại. Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con. Sự hiện diện của Người làm cho các tín hữu được sống trong tình con thảo, biết kêu lên cùng Thiên Chúa là Cha và được hướng dẫn trong sự thật toàn vẹn (Rm 8,14-16; Ga 16,13). Vai trò của Chúa Thánh Thần với tư cách là Đấng Bảo Trợ và là Đấng An Ủi đã được đề cập và từng bước khai triển cách sâu sắc ngay từ những thế kỷ đầu trong lịch sử Giáo hội qua các tác phẩm của các Giáo Phụ như thánh I-rê-nê, thánh Ba-xi-li-ô Cả, thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-an, thánh Giê-rô-ni-mô, thánh Au-gút-ti-nô, thánh Ghê-gô-ri-ô Cả cũng như trong giáo huấn của Huấn Quyền Giáo hội qua các thời đại.
Đức Giê-su cho các môn đệ biết rằng Thần Khí An Ủi vừa 'dạy các môn đệ mọi điều', vừa làm cho họ 'nhớ lại mọi điều' mà Người đã nói với họ (Ga 14,25-26). Như vậy, Thần Khí An Ủi, Chúa Thánh Thần, là ký ức sống động của Giáo hội, hiện tại hóa mầu nhiệm cứu độ của Đức Giê-su và soi sáng Giáo hội giữa lòng trần thế, bởi vì, như thánh Au-gút-ti-nô diễn tả, Chúa Thánh Thần là Linh Hồn của Giáo hội (St. Augustine, Sermon 267.4). Quả thật, khoảng ba năm đồng hành cùng Đức Giê-su trong việc loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa, các môn đệ đã nghe nhiều lời Đức Giê-su nói và chứng kiến nhiều việc Đức Giê-su làm. Tuy nhiên, các ngài khó có thể hiểu thấu ý nghĩa của những lời Đức Giê-su nói cũng như những việc Người làm. Với sự hiện diện và đồng hành của Thần Khí An Ủi, các ngài ngày càng hiểu biết rõ hơn sứ mệnh Đức Giê-su và sứ điệp của Người. Chính Chúa Thánh Thần tác động và làm cho các môn đệ, vốn là những người bình thường và ít học trong xã hội Ít-ra-en, trở thành những chứng nhân can đảm và những Tông Đồ nhiệt thành của Đức Giê-su giữa dòng đời.
Chính Đức Giê-su căn dặn các môn đệ: "Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng, vì anh em ở với Thầy ngay từ đầu" (Ga 15,26-27). Như vậy, Đấng Bảo Trợ, Thần Khí An Ủi, vừa làm chứng cho Đức Giê-su, vừa giúp những ai tin vào Đức Giê-su có khả năng làm chứng cho Người trước mặt thiên hạ. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhấn mạnh vai trò Chúa Thánh Thần trong việc tuyên xưng đức tin vào Đức Giê-su: "Không ai có thể nói rằng Đức Giê-su là Chúa, nếu người ấy không ở trong Thần Khí" (1 Cr 12,3). Như vậy, Chúa Thánh Thần, Đấng đã hiện diện và đồng hành cùng Đức Giê-su trong hành trình trần thế, tiếp tục đồng hành với các môn đệ của Người theo dòng lịch sử cho đến tận thế.
Đức Giê-su còn nói với các môn đệ: "Thầy nói thật với anh em: Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em" (Ga 16,7). Đức Giê-su cũng cho các môn đệ biết rằng Thần Khí An Ủi sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về việc xét xử (Ga 16,8-11). Tại sao sự ra đi của Đức Giê-su lại có lợi cho các môn đệ? Thưa, bởi vì, nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su phục sinh luôn hiện diện với các môn đệ, ở lại trong tâm hồn họ, biến đổi họ thành những chứng nhân hữu hiệu của Người giữa lòng nhân loại. Nhờ Chúa Thánh Thần, các môn đệ được hiệp thông mật thiết hơn với Đức Giê-su và hiểu biết về Người cũng như sứ mệnh của Người cách đầy đủ hơn. Nhờ đó, sứ mệnh loan báo Tin mừng của họ được thực hiện cách hữu hiệu hơn (Ga 16,13-15).
Đức Giê-su cũng nói với các môn đệ: “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Chính nhờ Thần Khí sự thật mà các môn đệ đón nhận và tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa; cũng nhờ Người mà các môn đệ sẵn sàng loan báo Tin mừng và làm chứng cho Đức Giê-su trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Trong thư thứ nhất, thánh Gio-an viết: "Chính Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã đến, nhờ nước và máu; không phải chỉ trong nước mà thôi, nhưng trong nước và trong máu. Chính Thần Khí là chứng nhân, và Thần Khí là sự thật" (1 Ga 5,6). Cũng theo thánh nhân: "Chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Ai biết Thiên Chúa thì nghe chúng ta. Ai không thuộc về Thiên Chúa thì không nghe chúng ta. Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra thần khí dẫn đến sự thật và thần khí làm cho sai lầm" (1 Ga 4,6). Điều này có nghĩa là Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi vô hình, luôn hiện diện và hoạt động trong tâm hồn các môn đệ Đức Giê-su cũng như trong các cộng đoàn Ki-tô hữu qua mọi thời đại.
Khi đồng hành cùng Đức Giê-su, các môn đệ được Người hướng dẫn và an ủi. Sau Biến Cố Vượt Qua của Đức Giê-su, Chúa Thánh Thần, Thần Khí An Ủi, tiếp tục đồng hành và hướng dẫn các ngài, biến đổi các ngài từ những con người co cụm trong sợ hãi thành những con người can đảm đối diện với những sóng gió cuộc đời. Chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy các ngài mạnh dạn ra đi loan báo Tin mừng cho muôn dân. Những khó khăn, vất vả vẫn còn đó nhưng nhờ Chúa Thánh Thần, các ngài có đủ sức mạnh để vượt qua những thử thách và luôn trung tín với Đức Giê-su cũng như Tin mừng của Người (Ga 20,19; Cv 2,1-4; Cv 4,31).
Sự an ủi và nâng đỡ của Chúa Thánh Thần giúp các môn đệ Đức Giê-su vững tâm hơn trước những giới hạn và yếu đuối của bản thân cũng như muôn vàn nghịch cảnh do các thế lực sự dữ gây ra. Chúa Thánh Thần soi dẫn các ngài khi đưa ra những quyết định quan trọng trong Giáo hội sơ khai (Cv 15,28). Người nâng đỡ Giáo hội để Giáo hội được củng cố và không ngừng phát triển. Tác giả sách Tông Đồ Công Vụ viết: "Hồi ấy, trong khắp miền Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri, Hội thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ" (Cv 9,31). Chúa Thánh Thần cũng nâng đỡ đời sống thiêng liêng của các tín hữu. Người không chỉ giúp các tín hữu cầu nguyện khi họ cảm thấy bình an nhưng còn trợ giúp ngay trong sự yếu hèn hay khi họ không biết cầu nguyện thế nào cho phải (Rm 8,26-27). Hơn nữa, sự an ủi của Người hiện diện giữa tiếng rên siết và niềm mong đợi ơn cứu chuộc thân xác (Rm 8,22-25). Đặc biệt, nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, con người được nhận làm con cái Thiên Chúa (Rm 8,14-16; Gl 4,4-6).
Khi trình bày mối tương quan giữa ơn hiểu biết của Chúa Thánh Thần và mối phúc dành cho những người sầu khổ trong Bài Giảng Trên Núi của Đức Giê-su, thánh Tô-ma A-qui-nô khẳng định: "Trong mối phúc này, sầu khổ được trình bày như công trạng, còn niềm an ủi phát sinh từ đó như phần thưởng; niềm an ủi ấy khởi sự ngay trong đời này và được nên hoàn hảo trong đời sau" (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II, q.9, a.4, ad.1). Khi giải thích mối phúc này, thánh Tô-ma A-qui-nô viết: "Con người tìm kiếm sự an ủi trước những nhọc nhằn của cuộc sống hiện tại nơi những dục vọng và thú vui trần thế. Vì vậy, Chúa chúng ta hứa ban niềm an ủi cho những ai sầu khổ" (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae I-II, q.69, a.4). Tương tự như thế, khi đề cập đến mối phúc này, thánh Au-gút-ti-nô viết: "Sầu khổ là nỗi buồn phát sinh khi mất đi những gì người ta yêu quý... và bao lâu tình yêu đối với những thực tại vĩnh cửu chưa trọn vẹn nơi họ, họ vẫn còn mang một mức độ đau buồn nào đó. Vì thế, họ sẽ được Chúa Thánh Thần an ủi; chính vì điều này mà Người đặc biệt được gọi là Đấng Paraclete, nghĩa là Đấng An Ủi, để khi mất đi niềm vui chóng qua, họ được hưởng trọn vẹn niềm vui vĩnh cửu" (St. Augustine, On the Sermon on the Mount, Book I, 2, 5). Như vậy, Chúa Thánh Thần là Đấng Paraclete (Đấng An Ủi), Đấng xoa dịu nỗi sầu khổ của con người và ban cho con người sức mạnh cần thiết để đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa giữa muôn vàn bấp bênh, sóng gió và bão tố của biển đời.
4. THEO ĐƯỜNG AN ỦI CỦA ĐỨC GIÊ-SU
4.1 Đức Giê-su – Đường An Ủi
Trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giê-su cho các môn đệ biết Người là Đường (Ga 14,6). Những trình bày trên đây cho chúng ta nhận thức rằng Đường Đức Giê-su là Đường An Ủi bởi vì hành trình trần thế của Người là hành trình an ủi mọi người. Quả thật, chủ đề Thiên Chúa an ủi dân Ít-ra-en vang vọng trong các sách Cựu ước. Chủ đề này được diễn tả cách cụ thể trong Tân ước qua sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa hiện diện giữa gia đình nhân loại (Ga 1,14). Trong hành trình trần thế, Người đã đến với mọi người, nhất là những người tội lỗi, nghèo hèn và dễ bị tổn thương nhất.
Đường An Ủi của Đức Giê-su là Đường in đậm dấu ấn đau khổ của Con Thiên Chúa trong thân phận con người. Đặc biệt, từ khi Đức Giê-su chịu đóng đinh trên cây thập giá để biểu lộ tình yêu và sự an ủi của Thiên Chúa đối với con người, cây thập giá, vốn là công cụ hành quyết đã trở thành cây thánh giá biểu thị tình yêu an ủi vượt quá mọi hiểu biết của con người (Ep 3,18-19). Đối với thánh Gio-an Tông Đồ, tình yêu của Đức Giê-su là tình yêu hy sinh, tình yêu quên mình, tình yêu cho đến cùng đối với những ai thuộc về Người (Ga 13,1). Chúng ta cũng có thể khẳng định rằng tình yêu cho đến cùng của Đức Giê-su cũng chính là sự an ủi cho đến cùng của Người đối với mọi người.
Để an ủi và cứu độ con người, Đức Giê-su đã không chọn con đường nào khác ngoài con đường thập giá và phục sinh. Sự an ủi của Đức Giê-su được thể hiện ngay trong hoàn cảnh mà chính Người phải chịu đau khổ tột cùng bởi vì Người vô tội nhưng lại mang lấy gánh nặng tội lỗi của toàn thể gia đình nhân loại. Trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết về Đức Giê-su: "Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người" (2 Cr 5,21). Những lời thánh nhân làm vang vọng sứ điệp về Người Tôi Trung của Thiên Chúa trong Cựu ước: "Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta" (Is 53,6).
Tương tự như thánh Phao-lô, thánh Phê-rô viết: "Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành" (1 Pr 2,24). Tư tưởng thánh nhân đã được tiên báo trong Cựu ước: "Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề" (Is 53,4). Nhờ Đức Giê-su mang lấy những thương tích của con người mà con người được an ủi và được chữa lành. Như vậy, dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, đau khổ không phải lúc nào cũng mang nghĩa tiêu cực mà con người phải tìm cách xa lánh bằng mọi giá. Nhờ cuộc thương khó của Đức Giê-su trên thập giá, Đấng đem lại niềm an ủi cho mọi người trong gia đình nhân loại, con người có thể nhận ra ý nghĩa đau khổ dưới ánh sáng chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Bài Giảng Tám Mối Phúc mà Đức Giê-su công bố trong hành trình loan báo Tin mừng giúp mọi người ý thức sâu sắc hơn về cách thức an ủi của Thiên Chúa (Mt 5,3-12). Quả thật, Tám Mối Phúc không phải là những điều rời rạc mà tạo thành một thể thống nhất, khởi đầu với tinh thần nghèo khó của con người và hướng tới phần thưởng là Nước Thiên Chúa. Hơn ai hết, chính Đức Giê-su đã sống và thực thi Tám Mối Phúc cách triệt để nhất trong hành trình trần thế của Người. Ai theo Đức Giê-su, Đấng An Ủi và là Đường An Ủi, thì được mời gọi bước đi trên 'chiếc thang Tám Mối Phúc'. Người đó cần trung tín với Đức Giê-su trong mọi hoàn cảnh để có thể nói 'không' khi đám đông nói 'có', trở nên 'bé nhỏ' khi đám đông 'tán dương', cảm thấy 'tổn thương' khi đám đông cho là 'vĩ đại', nhận ra 'nguy hại' khi đám đông 'cổ vũ' hết mình, sẵn sàng 'hy sinh' khi đám đông thúc giục 'trốn thoát', biết 'khao khát' khi đám đông cho rằng đã 'đủ đầy', biết 'thơ ngây' khi đám đông bảo rằng 'khôn lớn'.
Khi chú giải Bài Giảng Tám Mối Phúc, nhất là Mt 5,5, thánh Au-gút-ti-nô viết: "Ở đời này, người đang sầu khổ được an ủi bởi những điều mà chính chúng lại khiến người ấy lo sợ rằng mình sẽ phải sầu khổ một lần nữa. Chẳng hạn, cái chết của một người con làm người cha đau buồn, còn sự ra đời của một người con đem lại niềm vui. Người con này, ông đã đưa đi mai táng; người con kia, ông vừa đón vào đời. Nơi người con thứ nhất là nguyên cớ của nỗi buồn; người con thứ hai là nguyên cớ của sự lo sợ. Trong cả hai trường hợp đều không có sự an ủi đích thực. Vì thế, sự an ủi đích thực là sự an ủi trong đó con người được ban cho điều không bao giờ có thể mất đi" (St. Augustine, Sermon on the New Testament 3.3). Điều chính yếu mà thánh nhân muốn nhấn mạnh ở đây không phải là những niềm an ủi ở trần gian vô giá trị mà là chúng không bền vững. Ngài mời gọi mọi người hướng lòng về niềm an ủi đến từ Thiên Chúa bởi vì đây là niềm an ủi đích thực, trọn vẹn và vĩnh cửu.
Trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô cầu nguyện với Đức Giê-su và Thiên Chúa Cha: "Xin chính Chúa chúng ta là Đức Giê-su Ki-tô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đã dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp, xin các Ngài an ủi và cho tâm hồn anh em được vững mạnh, để làm và nói tất cả những gì tốt lành" (2 Tx 2,16-17). Những lời thánh Phao-lô gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca gợi lên trong chúng ta lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: "Vâng, những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, họ sẽ tiến đến Xi-on giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất" (Is 51,11). Sự an ủi bền vững, sự an ủi vĩnh cửu là niềm mong đợi của con người ở mọi thời và mọi nơi bởi vì đây chính là sự an ủi đáp ứng khát khao sâu xa nhất của lòng người.
Trong hành trình trần thế, mỗi người đều có những kinh nghiệm về sự an ủi đối với bản thân mình. Tuy nhiên, điều mọi người cần quan tâm là phân định giữa những hình thức an ủi giúp con người hướng về sự thật, tự do và tình yêu đích thực, vốn là những hình thức an ủi phát xuất từ Thiên Chúa, với những hình thức an ủi chỉ mang tính tạm thời và nhằm thỏa mãn những cảm xúc và ham muốn của bản thân mình. Nói cách khác, những hình thức an ủi đích thực giúp con người thiết lập và củng cố các mối tương quan với Thiên Chúa, với nhau và với muôn vật muôn loài, phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Những hình thức an ủi làm cho con người xa rời Thiên Chúa, xa rời anh chị em cũng như muôn vật muôn loài là những hình thức an ủi giả tạo và có thể bắt nguồn từ những cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.
Những hình thức an ủi của thế gian không thể đem lại cho con người sự bình an trọn vẹn và bền vững. Do đó, mọi người được mời gọi đến với Thiên Chúa và cầu xin Người an ủi như lời thánh Phê-rô khuyên nhủ: "Mọi âu lo, hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em" (1 Pr 5,7). Thánh Phao-lô cũng khẳng định: Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. Một khi đã ban Người Con đó, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?" (Rm 8,31-32). Đối với thánh Au-gút-ti-nô, nhờ Đức Giê-su, con người "được sống trong đức tin, đức cậy và đức mến trong khi còn lữ hành ở thế gian này, và tiến bước đến ngày được diện kiến Người, giữa một bên là những thử thách gian nan và nguy hiểm, bên kia là những sự an ủi của Thiên Chúa, cả thể xác lẫn tinh thần, đồng thời luôn bước đi trên Con Đường mà Đức Ki-tô đã trở thành cho họ" (St. Augustine, Tractates on the Gospel of John 124.5).
Dù không phải là môn đệ trực tiếp đồng hành với Đức Giê-su trong thời gian Người thực thi sứ vụ trần thế nhưng thánh Phao-lô đã có được kinh nghiệm sâu xa về sự an ủi của Thiên Chúa Cha được thông ban qua Đức Giê-su: "Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó. Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Ki-tô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi" (2 Cr 1,3-5). Chính thánh Phao-lô đã cảm nghiệm sâu sắc sự an ủi của Thiên Chúa qua Đức Giê-su và đáp lại bằng đời sống gắn bó mật thiết với Người cho đến tận cùng cũng như sẵn sàng hy sinh mạng sống vì sứ mệnh loan báo Tin mừng.
Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, kẻ thù lớn nhất của con người là sự chết. Do đó, niềm an ủi lớn nhất là sự sống vĩnh cửu, sự sống mà Đức Giê-su đem lại cho con người nhờ công trình cứu chuộc của Người. Thánh Phao-lô viết: "Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô" (1 Cr 15,26-27). Đối với thánh Phao-lô, sự an ủi của Thiên Chúa vượt xa những đau khổ mà con người phải gánh chịu trong đời sống mình: "Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mặc khải nơi chúng ta" (Rm 8,18). Điều này đã được loan báo qua hình ảnh 'bữa tiệc cánh chung' trong sách ngôn sứ I-sai-a: "Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xóa sạch nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy" (Is 25,8), hay qua lời hứa về niềm vui của những người được giải thoát: "Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Xi-on giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất" (Is 35,10). Sự sống vĩnh cửu và sự chết đời đời đối nghịch nhau: người công chính được an ủi vĩnh cửu nhờ được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, còn những ai bị luận phạt đời đời phải chịu đau khổ vì vĩnh viễn xa lìa Người.
4.2 Sống Theo Đường An Ủi
Là Ki-tô hữu, mọi người được mời gọi chiêm ngắm Đường Đức Giê-su, Đường An Ủi, và trở thành khí cụ an ủi của Người cho anh chị em mình. Câu hỏi đặt ra: 'Đâu là những điều kiện cần thiết để thực hiện điều đó?' Thưa, mọi người được mời gọi: (1) loại trừ những nguy cơ làm cho tâm hồn mình trở nên khép kín trước tình yêu của Đức Giê-su, (2) ý thức về sự an ủi của Người và thể hiện sự an ủi ấy bằng chính đời sống mình, (3) nhận biết sự bất xứng của bản thân, (4) không ngừng hoán cải, (5) mở rộng tâm hồn đối với anh chị em, (6) cảm thông sâu sắc với những đau khổ của họ, (7) lựa chọn cách thức phù hợp và thực thi bằng những hành động cụ thể để an ủi họ.
Là thành phần của Giáo hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô, mọi người được mời gọi quan tâm hơn đến đời sống bí tích của Giáo hội. Bởi vì, các bí tích là những phương thế thông ban ân sủng và an ủi, giúp con người củng cố và gia tăng đức tin, đức cậy và đức mến cũng như ngày càng hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa, gắn bó với anh chị em và sống hài hòa với thế giới thụ tạo: Bí Tích Rửa Tội an ủi các tín hữu qua việc làm cho họ trở thành con cái Thiên Chúa và chi thể của Giáo hội là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô; Bí Tích Thêm Sức an ủi các tín hữu nhờ ân huệ Chúa Thánh Thần, giúp họ trở thành những chứng nhân can đảm của Đức Giê-su cho anh chị em mình; Bí Tích Thánh Thể an ủi các tín hữu vì họ được lãnh nhận Đức Giê-su là Của Ăn thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống đức tin của mình; Bí Tích Hòa Giải an ủi các tín hữu qua việc ban ơn tha thứ và chữa lành những vết thương do tội lỗi gây nên; Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân an ủi các Ki-tô hữu qua việc nâng đỡ, ban sức mạnh và giúp các tín hữu vững tin vào sự hiệp thông của mình với cuộc thương khó của Đức Giê-su; Bí Tích Truyền Chức Thánh an ủi những người lãnh nhận qua việc làm cho họ trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giê-su là Đầu và Mục Tử của Giáo hội, để tiếp nối sứ mệnh phục vụ của Người; Bí Tích Hôn Phối an ủi đôi bạn qua việc ban ân sủng, giúp họ trở thành những người đồng hành trong yêu thương, trung tín và trở thành dấu chỉ tình yêu của Đức Giê-su giữa dòng đời.
Niềm an ủi là quà tặng của Thiên Chúa cho con người. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, quà tặng và sứ vụ đi đôi với nhau. Ai lãnh nhận quà tặng là sự an ủi của Thiên Chúa thì người đó được mời gọi chia sẻ niềm an ủi ấy cho anh chị em mình. Các Ki-tô hữu luôn ý thức rằng đau khổ và an ủi liên hệ mật thiết với nhau và cả hai đều có thể cùng hiện diện trong tâm hồn những người gắn bó mật thiết với Đức Giê-su. Hơn ai hết, chính thánh Phao-lô đã có kinh nghiệm sâu xa về đau khổ và an ủi trong hành trình dõi theo bước chân Đức Giê-su hầu làm cho danh Người được tôn vinh cũng như Tin mừng của Người được trổ sinh hoa trái tốt đẹp (2 Cr 7,4; 2 Cr 4,8-10). Chính niềm an ủi mà ngài nhận được từ Đức Giê-su phục sinh đã giúp ngài vững tâm hơn trong việc loan báo Tin mừng về Người và làm chứng cho Tin mừng đó bằng đời sống thấm đượm tinh thần hy sinh quảng đại.
Khuôn mặt nhân hậu của Đức Giê-su, đặc biệt là khuôn mặt của Người trên thập giá, là khuôn mặt an ủi con người trong mọi hoàn cảnh. Do đó, ai cảm nghiệm được niềm an ủi của Đức Giê-su thì cũng nhận ra sự cần thiết phải ở lại trong Người, đồng hình đồng dạng với Người trong nếp sống của bản thân cũng như cách cư xử với anh chị em. Ai cảm nhận được niềm an ủi của Đức Giê-su thì cũng ý thức về sự cần thiết phải hiệp nhất nên một với Người trong mọi tư tưởng, lời nói và việc làm. Ai cảm nghiệm được niềm an ủi của Đức Giê-su thì cũng có thể kiên tâm chịu đựng những thử thách như cô đơn, bị nghi ngờ, bị hiểu nhầm, bị vu khống, bị đối xử bất công, bị khinh miệt, bị phản bội, bị bách hại, bị lợi dụng, bị chế giễu, bị lừa dối.
Theo Đức Giê-su, Đường An Ủi, các Ki-tô hữu được mời gọi biết 'ôm lấy' những đau khổ trong đời sống thường ngày. Việc ‘ôm lấy’ đau khổ khi kết hợp với Đức Giê-su không loại trừ bổn phận chữa lành, bảo vệ người bị áp bức và khắc phục những nguyên nhân gây đau khổ. Chính Đức Giê-su đã chữa bệnh, chạnh lòng thương và nâng đỡ những người khốn khổ; do đó, đón nhận thập giá cũng đòi hỏi chúng ta cộng tác với Người để làm vơi đi đau khổ của anh chị em mình trong cuộc sống hằng ngày (Mt 9,35-36; Lc 10,33-37). Bởi vì, bao lâu còn trong hành trình trần thế, bấy lâu con người còn phải đối diện với muôn vàn đau khổ. Thông thường, những ai trung tín với Đức Giê-su thì cũng có thể phải đối diện với nhiều đau khổ hơn. Điều quan trọng là luôn xác tín rằng những đau khổ hiện tại không thể sánh với vinh quang mai ngày. Theo thánh Tô-ma A-qui-nô: "Những sầu khổ của đời hiện tại dẫn chúng ta đến niềm an ủi của đời sau. Bởi vì, chính khi con người sầu buồn vì tội lỗi của mình hoặc vì vinh quang còn trì hoãn chưa đến, họ lập công để được hưởng niềm an ủi đời đời. Cũng vậy, con người lập công để đạt được niềm an ủi ấy khi không quản ngại gian nan và khốn khó hầu đạt tới điều mình mong đợi" (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae I-II, q.35, a.3. ad.1). Ai chịu đau khổ với Đức Giê-su thì có thể tìm được niềm an ủi và hy vọng nhờ chiến thắng khải hoàn của Người qua mầu nhiệm thập giá và phục sinh.
Các Ki-tô hữu luôn được mời gọi đi trên Đường An Ủi của Đức Giê-su để đến với những ai bé nhỏ, nghèo khó, bị coi thường hay dễ bị tổn thương. Để được như vậy, trái tim của các Ki-tô hữu cần luôn được nối kết và chung nhịp với Trái Tim của Đức Giê-su khi đến với anh chị em mình; hãy mang tâm tình của Đức Giê-su khi tiếp xúc với họ; hãy là đôi tay nối dài của Đức Giê-su để xoa dịu đau khổ của họ; hãy ý thức về việc thông phần vào những đau khổ của họ theo gương thánh Phao-lô: "Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội thánh" (Cl 1,24). Quả thật, công trình cứu độ của Đức Giê-su đã được hoàn tất một lần thay cho tất cả (Rm 6,10; Hr 9,12; 1 Pr 3,18). Do đó, những điều ‘còn phải chịu’ trong Cl 1,24 không có nghĩa hy tế cứu chuộc của Đức Ki-tô còn thiếu sót. Thánh Phao-lô nói đến việc ngài được thông phần vào những đau khổ của Đức Ki-tô trong sứ vụ phục vụ Hội thánh, nhờ đó hoa trái của công trình cứu độ duy nhất được thông ban cho các chi thể Người (GLGHCG 618). Vì thế, Đức Giê-su vẫn hiệp thông trong đau khổ với các chi thể Giáo hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người, đang phải đương đầu với muôn vàn hình thức đau khổ giữa lòng trần thế (Cv 9,4).
Ai cảm nghiệm được sự an ủi của Thiên Chúa thì cũng nhận ra sự cần thiết phải an ủi anh chị em mình theo gương Đức Giê-su như lời thánh Phao-lô: "Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?" (2 Cr 11,29). Thánh nhân cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho các tín hữu Rô-ma: "Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Ki-tô Giê-su đòi hỏi" (Rm 15,5). Ngài khuyên các tín hữu Phi-líp-phê: "Xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau... hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su" (Pl 2,2-5). Sự gắn bó mật thiết với Đức Giê-su vừa đem lại cho thánh Phao-lô niềm an ủi sâu xa, vừa giúp ngài nhận ra sự cần thiết phải cổ vũ tình hiệp thông giữa các Ki-tô hữu trong mọi hoạt động xây dựng cộng đoàn thấm đượm tinh thần của Đức Giê-su cũng như cộng tác với nhau trong việc làm chứng cho căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người giữa dòng đời.
Sự an ủi của các Ki-tô hữu không chỉ dừng lại ở những việc làm như 'cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới mặc' mà còn bao gồm việc quan tâm, lắng nghe và nâng đỡ anh chị em đồng loại như Đức Giê-su đã thực thi trong hành trình trần thế của Người. Nói cách khác, an ủi anh chị em đồng loại cần mang tính toàn diện, nghĩa là quan tâm đến những nhu cầu thể chất, tinh thần và thiêng liêng, đồng thời tôn trọng và phục vụ phẩm giá cao quý của mỗi người theo Đường Đức Giê-su, Đường An Ủi. Sự an ủi của các Ki-tô hữu được thực hiện trong sự hiệp thông và kết hợp với sự an ủi tinh tuyền, thánh thiện và trọn hảo của Thiên Chúa. Do đó, các Ki-tô hữu được mời gọi không ngừng kết hợp với Đức Giê-su trong đời sống cầu nguyện.
Trong hành trình loan báo Tin mừng, Đức Giê-su nói với thánh Phê-rô rằng Người đã cầu nguyện để ông giữ vững đức tin (Lc 22,31-32). Trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giê-su cầu nguyện cho các môn đệ của Người cũng như những ai nhờ các môn đệ mà tin vào Người (Ga 17,19-20). Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết rằng, bên Chúa Cha, Đức Giê-su hằng chuyển cầu cho chúng ta (Rm 8,34). Tương tự như thế, tác giả thư gửi tín hữu Híp-ri viết về Đức Giê-su phục sinh như sau: "Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta" (Hr 9,24). Khi trình bày hiệu quả việc cầu nguyện, thánh Tô-ma A-qui-nô viết: "Ngoài việc mang lại niềm an ủi thiêng liêng, lời cầu nguyện còn có hai hiệu năng đối với những kết quả trong tương lai, đó là hiệu năng lập công và hiệu năng khẩn cầu" (St. Thomas Aquinas, Summa Theologiae II-II, q.83, a.15). Còn Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II thì khẳng định: "Trong sự hiệp thông cầu nguyện, Đức Ki-tô thực sự hiện diện: Người cầu nguyện 'trong chúng ta', 'cùng với chúng ta' và 'cho chúng ta'. Chính Người hướng dẫn lời cầu nguyện của chúng ta trong Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi mà Người đã hứa ban và rồi đã ban cho Giáo hội tại Nhà Tiệc Ly ở Giê-ru-sa-lem, khi Người thiết lập Giáo hội trong sự hiệp nhất nguyên thủy" (Ut Unum Sint 22). Như vậy, người thành tâm cầu nguyện là người được liên kết với Đức Giê-su, Đường An Ủi, cũng như gắn bó với Chúa Thánh Thần, Thần Khí An Ủi, hầu có thể thực thi thánh ý Thiên Chúa cách trung tín nhất.
4.3 Loan Báo Tin mừng Đường An Ủi
Các Ki-tô hữu được mời gọi tham dự và tiếp nối sứ mệnh Đức Giê-su trong việc an ủi anh chị em mình. Khi sai các môn đệ loan báo Tin mừng, Đức Giê-su nói với họ: "Ai nghe anh em là nghe Thầy; và ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy" (Lc 10,16). Quả thật, theo Công Đồng Vatican II, sứ mệnh Giáo hội phát xuất từ sứ mệnh Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Chúa Cha (AG 2). Đây là sứ mệnh tình yêu, sứ mệnh an ủi của Thiên Chúa được thể hiện trọn vẹn nơi Đức Giê-su trong hành trình trần thế của Người. Là thành phần của Giáo hội, các Ki-tô hữu tham dự vào sứ mệnh này với niềm tin không lay chuyển vào tình yêu vượt thắng sự chết như lời khẳng định của Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI: "Niềm tin rằng tình yêu có thể vươn tới tận đời sau, rằng vẫn có thể có sự trao ban và đón nhận lẫn nhau, trong đó tình yêu thương chúng ta dành cho nhau vẫn tiếp tục vượt qua giới hạn của cái chết, đó là một xác tín nền tảng của Ki-tô Giáo qua mọi thời đại và cho đến hôm nay vẫn là một nguồn an ủi" (Pope Benedict XVI, Spe Salvi 48).
Khi sai các môn đệ ra đi loan báo Tin mừng, Đức Giê-su phục sinh để lại cho họ sứ điệp an ủi lớn lao: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Đây là lời cuối cùng của Người với các môn đệ theo trình thuật Tin mừng Mát-thêu. Cùng với những mặc khải của Người trong suốt thời gian loan báo Tin mừng, sứ điệp này cho thấy Đức Giê-su từ trời xuống thế gian nhưng không bao giờ lìa xa trời; Người từ thế gian về trời nhưng không bao giờ lìa xa thế gian. Khi chú giải lời Đức Giê-su nói về nguồn gốc thần linh của Người (Ga 7,25-36), thánh Au-gút-ti-nô viết: "Xét theo thân xác, con người ở một nơi rồi rời khỏi nơi ấy; và khi đến một nơi khác, người ấy không còn ở nơi mình đã rời đi. Nhưng Thiên Chúa lấp đầy mọi sự và hiện diện trọn vẹn khắp mọi nơi; Người không bị giới hạn trong không gian hay nơi chốn. Tuy nhiên, xét theo thân xác hữu hình, Đức Ki-tô ở dưới đất; còn xét theo uy quyền vô hình của Người, Người ở cả trên trời lẫn dưới đất" (St. Augustine, Tractates on the Gospel of John 31.9). Tin tưởng vào sự hiện diện, đồng hành và hướng dẫn của Đức Giê-su, qua bao thế hệ, các môn đệ Người không ngừng loan báo Tin mừng an ủi của Người cho anh chị em đồng loại.
Như thánh Phao-lô, các Ki-tô hữu được mời gọi trở thành những khí cụ và người phục vụ sứ mệnh an ủi đối với mọi người trong môi trường sống của mình. Đặc biệt, các Ki-tô hữu được mời gọi liên kết và chia sẻ với anh chị em đang phải đối diện với những gian truân hay nghịch cảnh mà tự thân họ khó có thể thoát khỏi. Việc an ủi không chỉ được thực thi bằng lời nói mà còn bằng những hành động cụ thể, nhất là đối với những người dễ bị tổn thương nhất. Hơn nữa, việc an ủi còn bao gồm việc khơi dậy nơi tâm hồn anh chị em mình tinh thần thông hiệp với Đức Giê-su trên con đường thập giá. Thật vậy, những gì xem ra ngược với ý muốn của con người lại có thể trở thành cơ hội giúp con người trưởng thành và kiên nhẫn hơn khi đối diện với mầu nhiệm đau khổ. Thánh Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm của ngài: "Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi" (2 Cr 4,8-10).
Lịch sử Giáo hội cho chúng ta biết rằng sự bách hại của thế gian và sự an ủi của Thiên Chúa thường đi đôi với nhau trong đời sống những ai trung tín với Đức Giê-su. Quả thật, việc loan báo Tin mừng của các Ki-tô hữu thường gặp nhiều thử thách khi Tin mừng đến với các nền văn hóa: có nơi sẵn sàng đón nhận, có nơi đón nhận nhưng với sự ngờ vực, có nơi lại cản trở. Ưu tiên của việc loan báo Tin mừng không phải là việc 'cải đạo' theo nghĩa áp đặt niềm tin mà là làm cho các giá trị Tin mừng thấm nhập vào đời sống con người trong chính nền văn hóa đã định hình nên họ. Hành trình trần thế của Đức Giê-su giúp các Ki-tô hữu nhận thức rằng Tin mừng mà Người loan báo không nhằm phá hủy những giá trị chân chính của các nền văn hóa, vì những giá trị chân chính này là hoa trái của Hạt Giống Ngôi Lời. Tuy nhiên, vì các nền văn hóa cũng bị chi phối bởi tội lỗi, nên hoạt động loan báo Tin mừng sẽ chữa lành, thanh luyện, nâng cao và biến đổi chúng theo chiều hướng tốt đẹp hầu làm cho mọi người được sống xứng đáng hơn với phẩm giá cao quý của mình.
Trong Tông Huấn 'Loan Báo Tin mừng' (Evangelii Nuntiandi, 1975), Đức Giáo hoàng Phao-lô VI mời gọi người loan báo Tin mừng phải tôn trọng sự thật ngay cả khi phải trả giá bằng chính mạng sống mình. Người ấy không bao giờ che giấu hay phản bội sự thật, nhất là phải truyền đạt sự thật nguyên tuyền cho anh chị em đồng loại: "Người ấy không làm lu mờ sự thật mặc khải vì lười biếng không chịu tìm kiếm, vì ham tiện nghi bản thân hay vì sợ hãi. Người ấy không xao lãng việc học hỏi sự thật. Người ấy phục vụ sự thật cách quảng đại chứ không bắt sự thật phục vụ mình" (Evangelii Nuntiandi 78). Ngài mời gọi những ai loan báo Tin mừng: "Chúng ta hãy giữ gìn lòng hăng say của tâm hồn. Chúng ta hãy giữ gìn niềm vui ngọt ngào và an ủi của việc loan báo Tin mừng, cả khi gieo trong nước mắt" (Evangelii Nuntiandi 80). Đức Giê-su là Sự Thật và Tin mừng của Người là Tin mừng Sự Thật. Đức Giáo hoàng Bê-nê-đích-tô XVI khẳng định: "Khả năng chịu đau khổ vì sự thật là thước đo của nhân tính" (Spe Salvi 39). Khi trả lời câu hỏi của Phi-la-tô liên quan đến danh hiệu 'vua', Đức Giê-su nói rằng Người đến trần gian để làm chứng cho sự thật (Ga 18,37). Người là Ngôi Lời, Đấng mặc khải trọn vẹn sự thật của Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại, Đấng hoàn tất những gì đã được Thiên Chúa mặc khải trong Cựu ước và được các sách Tân ước làm chứng.
Lời Chúa là lời an ủi mạnh mẽ và có sức biến đổi tâm hồn con người cách kỳ diệu. Kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Em-mau cho chúng ta biết điều đó. Sau khi nhận ra Đức Giê-su phục sinh, họ nói: "Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?" (Lc 24,32). Mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng Lời Chúa luôn là lời an ủi cho con người như lời thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Rô-ma: "Mọi lời xưa đã chép trong Kinh thánh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn, và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy" (Rm 15,4). Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô trình bày về niềm hy vọng phục sinh của những người đã chết và ngài mời gọi mọi người hãy dùng những lời như thế để an ủi nhau (1 Tx 4,13-18). Đặc biệt, đối với thánh nhân, Thiên Chúa đã định cho chúng ta được hưởng ơn cứu độ, nhờ Đức Giê-su, Chúa chúng ta (1 Tx 5,9-11). Cần lưu ý rằng thánh Phao-lô không cấm các tín hữu đau buồn trước cái chết của người thân, nhưng mời gọi họ đừng buồn như những người không có niềm hy vọng. Nền tảng của niềm an ủi là: Đức Giê-su đã chết và sống lại, để những người thuộc về Người được ở cùng Người luôn mãi (1 Tx 4,13-18).
Ai được Thiên Chúa an ủi thì người đó có thể cảm nghiệm niềm vui đích thực cho dù phải đương đầu với trăm bề thử thách trong việc làm chứng cho Đức Giê-su, Đường An Ủi. Trong Bữa Ăn Cuối Cùng trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giê-su an ủi các môn đệ: "Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui" (Ga 16,20). Trong Giáo hội sơ khai, tác giả sách Tông Đồ Công Vụ viết: "Hồi ấy, trong khắp miền Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri, Hội thánh được bình an, được xây dựng vững chắc và sống trong niềm kính sợ Chúa, và ngày một thêm đông, nhờ Thánh Thần nâng đỡ" (Cv 9,31). Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thánh Phao-lô viết: "Khi chúng tôi loan báo Tin mừng cho anh em, thì không phải chỉ có lời chúng tôi nói, mà còn có quyền năng, có Thánh Thần, và một niềm xác tín sâu xa" (1 Tx 1,5). Giáo hội sơ khai ý thức và xác tín mạnh mẽ về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần khi Tin mừng được lan rộng trong các nền văn hóa quanh vùng Địa Trung Hải. Sứ mệnh Giáo hội được thực hiện dưới sự hướng dẫn và nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, nhằm đưa Tin mừng Nước Thiên Chúa mà Đức Giê-su loan báo và minh chứng bằng đời sống của Người đến với những ai thành tâm thiện chí trong việc tìm kiếm Thiên Chúa và ý nghĩa tối hậu của đời mình.
Người loan báo Tin mừng có thể tìm được niềm an ủi lớn lao khi làm chứng cho Đức Giê-su và thực thi huấn lệnh Người. Đặc biệt, niềm an ủi của người loan báo Tin mừng là được chứng kiến công việc của mình trổ sinh hoa trái nơi tâm hồn những người biết lắng nghe, hoán cải và định dạng đời họ theo sứ điệp Tin mừng. Tuy nhiên, hành trình loan báo Tin mừng của Đức Giê-su cũng như kinh nghiệm loan báo Tin mừng của Giáo hội qua dòng lịch sử giúp chúng ta nhận ra rằng Lời Chúa được đón nhận và trổ sinh hoa trái nơi tâm hồn con người theo những cách thức huyền nhiệm, vượt quá sự hiểu biết và tiên liệu của con người như lời thánh Phao-lô: "Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể" (1 Cr 3,6-7). Nói cách khác, đối với thánh nhân, hoa trái của việc loan báo Tin mừng có được là nhờ vào ân sủng của Thiên Chúa và sự cộng tác chân thành của những ai biết không ngừng hoán cải, lắng nghe, tin tưởng và thành tâm hướng về Người trong đời sống mình.
5. Kết Luận
Thiên Chúa an ủi con người là chủ đề xuyên suốt Kinh thánh. Những trình bày trên đây giúp chúng ta có được cái nhìn bao quát về lòng khao khát được an ủi, vốn gắn liền với đời sống con người ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Theo mặc khải Ki-tô Giáo, do sự vô ơn, bất tuân và kiêu ngạo của con người, tội lỗi đã xâm nhập trần gian. Một trong những hậu quả của tội lỗi là con người phải đối diện với muôn vàn hình thức sầu khổ và tự sức mình, con người không thể hoàn toàn giải thoát mình khỏi thân phận sầu khổ ấy. Các trình thuật Kinh thánh cho chúng ta biết rằng lịch sử mặc khải cũng chính là lịch sử Thiên Chúa an ủi dân Người, giúp họ vượt qua muôn hình thức sầu khổ trong đời sống. Đồng thời, Thiên Chúa luôn an ủi con người trong mọi cơn gian lao thử thách để con người có thể trung tín với Người giữa những bấp bênh thế sự.
Nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa an ủi loài người theo cách thức cụ thể và viên mãn nhất. Lời nói và việc làm của Đức Giê-su trong hành trình trần thế đều hướng đến việc đem lại niềm an ủi cho những ai đang đối diện với vô vàn nghịch cảnh bởi ma quỷ, thế gian và xác thịt gây ra. Để đem lại niềm an ủi trọn vẹn và vĩnh cửu cho con người, Đức Giê-su đã mang lấy những hậu quả của tội lỗi mà đỉnh điểm là cái chết của Người trên thập giá. Qua hành trình trần thế của Đức Giê-su, loài người nhận ra tình yêu và niềm an ủi vô biên của Thiên Chúa dành cho mình bởi vì nhờ Người và trong Chúa Thánh Thần, Thần Khí An Ủi, con người được trở thành con cái Thiên Chúa.
Đức Giê-su là Đường An Ủi cho gia đình nhân loại. Do đó, mọi người được mời gọi bước đi trong Thần Khí trên Đường An Ủi của Đức Giê-su để đến với Thiên Chúa, đến với nhau và đến với toàn thể thụ tạo. Là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, các Ki-tô hữu được mời gọi luôn hướng về Người, đón nhận và thực hành giáo huấn của Người để trở thành chứng nhân đích thực của Người giữa lòng thế giới. Đường An Ủi của Đức Giê-su dẫn đưa con người tới niềm an ủi trọn vẹn và vĩnh cửu trong thời viên mãn cánh chung như được diễn tả trong sách Khải Huyền: "Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa... Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng cò;n tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất" (Kh 21,1-4).
