GIỚI THIỆU
Trong giai đoạn thực hiện Thượng Hội đồng Giám mục về Hiệp hành (2025–2028), Giáo hội được mời gọi không chỉ áp dụng các định hướng mục vụ, nhưng trước hết học cách bước đi với nhau trong Thánh Thần. Điều này đòi hỏi một sự hoán cải sâu xa: từ cách họp hành, phân định, ra quyết định, đến cách lắng nghe nhau và lắng nghe tiếng Chúa trong đời sống cộng đoàn.
Trong bối cảnh đó, Hiệp Thông số 152 trân trọng giới thiệu tập sách Welcoming the Spirit – A Communal Discernment Approach to Pastoral Planning (Đón tiếp Chúa Thánh Thần - Một cách tiếp cận phân định cộng đoàn trong hoạch định mục vụ)của Giáo sư Christina Kheng, như một tư liệu nền tảng và thực hành, hỗ trợ các giáo phận, giáo xứ và cộng đoàn trong việc học hỏi và áp dụng tiến trình phân định cộng đoàn theo tinh thần hiệp hành.
Giáo sư Christina Kheng là một nhà thần học và chuyên gia về lãnh đạo mục vụ đến từ Singapore. Bà hiện giảng dạy tại East Asian Pastoral Institute (EAPI) – trung tâm đào tạo thường huấn của Hội nghị Dòng Tên Á Châu – Thái Bình Dương, và đã đồng hành mục vụ cho nhiều giáo phận, giáo xứ, hội dòng, hiệp hội giáo dân cũng như các tổ chức Công giáo quốc tế.
Đặc biệt, Giáo sư Christina Kheng đã trực tiếp cộng tác với Văn phòng Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục tại Vatican trong tiến trình Thượng Hội đồng về Hiệp Hành 2021–2024. Vì thế, Welcoming the Spirit không chỉ mang chiều kích học thuật, nhưng còn phát xuất từ kinh nghiệm sống động của Giáo hội hoàn vũ đang học cách lắng nghe Thánh Thần và bước đi hiệp hành.
Tập sách giúp tái định hướng cách hiểu về hoạch định mục vụ: không chỉ như một công việc kỹ thuật hay hành chính, nhưng như một tiến trình thiêng liêng và cộng đoàn, trong đó Chúa Thánh Thần hướng dẫn, thanh luyện và canh tân đời sống cũng như sứ vụ của Hội thánh.
Trong số báo này, Phần Tư Liệu giới thiệu tập sách qua hai hình thức:
– Đăng lại bản dịch đầy đủ Phần I – Nền tảng thần học, giúp độc giả nắm vững chiều sâu thần học và linh đạo của phân định cộng đoàn.
– Trình bày Phần II – Tiến trình hoạch định mục vụ dưới dạng tóm tắt mục vụ, như một lộ trình gợi ý có thể linh hoạt áp dụng trong thực tế.
Ban Biên tập Hiệp Thông trân trọng cám ơn tác giả Christina Kheng đã quảng đại cho phép phổ biến tập sách Welcoming the Spirit (bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt) tại Việt Nam, ước mong tư liệu này góp phần xây dựng văn hóa hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh.
I. NỀN TẢNG THẦN HỌC CỦA VIỆC HOẠCH ĐỊNH
Phần I trình bày nền tảng thần học cho việc hoạch định mục vụ, giúp độc giả hiểu rõ vì sao việc hoạch định là cần thiết và đâu là tiến trình phù hợp với cái nhìn đức tin. Phần này nhằm hình thành một thái độ nội tâm đúng đắn đối với hoạch định, giúp người tham gia bước vào tiến trình với sự tỉnh thức và ý nghĩa. Một số nội dung có thể được dùng làm tài liệu đọc chuẩn bị trước khi hoạch định hoặc cho các kỳ tĩnh tâm hoạch định, với nhiều trích dẫn giúp suy niệm và cầu nguyện.
1. Tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi thụ tạo
Thiên Chúa tạo dựng và sinh động hoá mọi tạo vật, để chúng đạt đến sự sống sung mãn, nghĩa là được kết hiệp với Thiên Chúa đến muôn đời.
Người Kitô-hữu tin rằng Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ và không ngừng biến đổi vũ trụ, để hướng nó tới cùng đích thiện hảo mà Thiên Chúa yêu thương hằng mong ước: đó là tất cả trở nên một với nhau trong sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Đặc biệt, truyền thống đức tin Công Giáo nhấn mạnh rằng Thiên Chúa tích cực lao tác trong thế giới, để giúp thế giới đạt đến sự sống sung mãn.
Dư âm của niềm tin này cũng vang vọng bên ngoài đức tin Công Giáo. Chẳng hạn, nhiều người thuộc các tôn giáo khác vẫn cố gắng tìm kiếm và kết nối với một Đấng thiện hảo thần thiêng, mà họ tin rằng Đấng ấy đã tạo dựng và tiếp tục nuôi dưỡng thế giới này. Thậm chí có những người không theo một tôn giáo chính thức nào, nhưng vẫn có thể kinh nghiệm và nhận biết có một Nguồn ban sinh lực tích cực rộng khắp trong vũ trụ, khi họ nhìn ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên, chiêm ngưỡng lòng tốt nơi con người, chiêm ngưỡng sự can trường của các cộng đồng dù họ phải trải qua nhiều khổ đau và mất mát. Hơn thế nữa, có khi chính họ đã từng gặp gỡ với Nguồn sức mạnh chữa lành và biến đổi ấy trong cuộc đời của mình.
Do sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa, con người tự bẩm sinh luôn hướng tìm sự sống sung mãn hơn. Nói theo ngôn từ của Công Giáo, con người hướng tìm đến sự kết hiệp với Thiên Chúa là Đấng vô biên. Điều ấy được minh chứng ngang qua lòng khao khát gần như bất tận của con người, khi họ mong ước đạt đến sự viên mãn và tình yêu. Điều ấy cũng được minh chứng ngang qua khả năng nhận biết chân giá trị, nhận biết lòng tốt và sự thật, khi con người hết lòng hướng tìm các điều ấy một cách sâu sắc và chân thành. Quả vậy, chính những ước muốn thuần khiết và sâu xa nhất ấy lại đưa chúng ta trở về với chính mình, trở về với nhau, và cao nhất là trở về với Thiên Chúa.
Sự hướng tìm kết hiệp giữa con người với Thiên Chúa, Nguồn ban sinh lực cho vạn vật, không mang tính tĩnh tại và thụ động, nhưng chủ động và mang tính thông dự. Sự hướng tìm này thúc đẩy chúng ta cộng tác vào công việc của Thiên Chúa với sự tự do, sáng tạo và siêu vượt trên chính mình. Hơn thế nữa, người Công Giáo còn tin rằng, chính Thần Khí của Thiên Chúa chủ động tiếp thêm sinh lực, ban cảm hứng và hướng dẫn con người hành động cách tích cực.
Sách Sáng thế trong Kinh thánh Do Thái và Kitô giáo trình bày các niềm tin ấy ngang qua một trình thuật đầy tính biểu tượng về công cuộc tạo dựng (St 1–2). Để khai triển ý nghĩa của trình thuật này, Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo (GLCG) nhấn mạnh rằng:
Thiên Chúa, Đấng Toàn Thiện và Hạnh Phúc khôn lường trong chính Người, nhưng thể theo ý định nhân hậu của mình, Người đã tự ý tạo dựng con người để họ được thông phần vào sự sống vĩnh cửu. Vì thế, Thiên Chúa đã đến với con người ở mọi thời và mọi nơi. Người kêu gọi con người tìm kiếm Chúa, nhận biết Chúa và yêu mến Chúa với tất cả tâm lực của họ (GLCG, số 1).[1]
Thiên Chúa hành động trong tất cả mọi hoạt động của thụ tạo, đây là một chân lý không thể tách rời khỏi đức tin vào Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo. Người là nguyên nhân đệ nhất tác động trong và qua các nguyên nhân đệ nhị: “Vì chính Thiên Chúa tác động nơi chúng ta, để chúng ta quyết chí và hành động theo kế hoạch Người đã đặt ra vì yêu thương” [Pl 2,13] (GLCG, số 308).
Linh đạo của thánh Inhaxiô nhấn mạnh đến hai khía cạnh quan trọng liên quan đến quyền tối thượng của Thiên Chúa. Thứ nhất, Thiên Chúa vừa là khởi đầu vừa là đích điểm của mọi sự. Kế đến, Người luôn hiện diện với nhân loại cách tích cực và đầy yêu thương trong dòng lịch sử của họ. Trong sách Linh thao (LT), ý tưởng này được truyền tải đặc biệt qua hai bài suy gẫm mở đầu và kết thúc Linh thao: “Nguyên lý và nền tảng” (LT 23) và “Chiêm niệm để đạt được tình yêu” (LT 230–237). Thánh Inhaxiô viết như sau:
Con người được dựng nên để ngợi khen, tôn kính, và phụng sự Thiên Chúa, nhờ đó cứu rỗi linh hồn mình. Mọi sự khác trên mặt đất được dựng nên cho con người, nhằm giúp họ đạt tới cùng đích vì đó mà họ được tạo dựng (LT 23).[2]
Thiên Chúa cư ngụ trong các tạo vật: trong các nguyên tố bằng cách ban cho chúng sự tồn tại, trong thảo mộc bằng cách ban cho chúng sự sống, trong các động vật bằng cách ban cho chúng cảm giác, trong con người bằng cách ban cho trí tuệ. Như thế, Người cư ngụ trong tôi và ban cho tôi sự hiện hữu, sự sống, cảm giác, và trí tuệ; và Người còn biến tôi thành đền thờ, vì tôi được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Đấng Tạo Hoá … Thiên Chúa làm việc và lao tác cho tôi trong tất cả mọi tạo vật trên mặt đất này, nghĩa là Người hành xử như một Đấng đang lao tác trong trời đất, trong các nguyên tố, thảo mộc, hoa trái, súc vật, v.v, khi Người trao ban và bảo toàn sự hiện hữu, ban sự sống và cảm giác cho chúng, v.v (LT 235-236).
Như đã nói, những người không theo một tôn giáo nào vẫn có thể đón nhận các quan điểm ở trên liên quan đến nguồn lực phổ quát của mọi sự thiện lành trên thế giới. Chẳng hạn, Eckhart Tolle, một người nổi tiếng ủng hộ chánh niệm (mindfulness), cho rằng thông qua ý thức nội tâm, con người có thể nhận thức về “một Sự Sống vĩnh cửu, thường hằng, vượt ra ngoài vô số dạng của sự sống.”[3] Tương tự, khi giải thích về Lý thuyết U (Theory U), Otto Scharmer, một chuyên gia trong lĩnh vực điều hành tổ chức (organizational expert), đề cập đến sự tồn tại của một “suối nguồn” làm phát sinh ra trực giác, cảm hứng, bản ngã và ý chí trong sâu thẳm nội tâm con người.[4] Nhà xã hội học Charles Taylor thì mô tả cảm thức sâu xa về sự “hoàn mỹ” mà một số người đã trải nghiệm được khi chiêm ngắm vẻ đẹp của thiên nhiên.[5]
Trong hoạch định mục vụ, nguyên lý căn bản về quyền tối thượng của Thiên Chúa nhắc nhở chúng ta hãy xa tránh những cạm bẫy của chủ nghĩa thế tục (secularism), chủ nghĩa duy nhân bản của Pelagiô (Pelagian humanism), thuyết thần luận (deism) hay thuyết bất khả tri (agnosticism). Chúng ta không thể tiến hành lập kế hoạch như thể Thiên Chúa không tồn tại, như thể chuyện ấy không liên can gì đến Thiên Chúa, như thể Thiên Chúa chẳng quan tâm gì đến các kế hoạch của chúng ta, hoặc thậm chí như thể sự hướng dẫn của Thiên Chúa vượt quá khả năng tiếp nhận của con người. Tuy nhiên, điều này nói thì dễ hơn làm. Nhiều tổ chức đặt nền trên đức tin, nhất là các tổ chức dấn thân trong các lĩnh vực xã hội (như giáo dục phổ thông và đại học, phát triển xã hội, y tế, các phong trào dân sự, phát triển dân sinh và kinh tế), đôi khi để mình bị lôi kéo bởi các nền văn hoá đang thống trị và bởi các nguyên tắc hoạt động của chúng; chẳng hạn như họ chạy theo các tiêu chí thành công của các tổ chức thế tục. Cho dù một số tiêu chí ấy có là cần thiết, thậm chí hữu ích, vấn đề là đôi khi chúng lại biến các thành tựu trở thành mục đích tự thân. Khi lập kế hoạch mục vụ, những lối tư duy như thế có thể bỏ sót hoặc gạt ra ngoài lề những mục tiêu toàn diện hơn, phản chiếu cái nhìn của Thiên Chúa đối với thụ tạo. Chỉ có lối nhìn toàn cảnh này mới giúp làm triển nở đích thực các khía cạnh của cuộc sống, từ thể chất, xã hội, văn hoá cho đến đạo đức và tinh thần. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng:
Lập kế hoạch mục vụ không có nghĩa là sáng tác ra một “chương trình mới”, vì chương trình thì đã có sẵn: đó là kế hoạch có sẵn trong Tin Mừng và trong truyền thống sống động [của Giáo hội], vẫn như thế từ ngàn xưa. Nói cho cùng, trọng tâm của mọi việc lên kế hoạch phải quy về chính Chúa Kitô, Đấng phải được [mọi người] nhận biết, yêu mến và học theo, đến nỗi trong Người chúng ta có thể được thông dự vào đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, và với Người chúng ta có thể biến đổi và đưa lịch sử đến chỗ hoàn tất.[6]
Hiện nay, giữa các tổ chức đặt nền trên đức tin, đang có một trào lưu du nhập các nguyên tắc điều hành của các tổ chức kinh doanh thế tục, do họ chạy theo tính chuyên nghiệp hoặc cập nhật với thời đại một cách sai lệch. Dẫu rằng chúng ta có thể học hỏi nhiều điều từ các khoa học đời, như các khoa lãnh đạo và điều hành tổ chức (organizational leadership and management), nhưng chúng ta vẫn phải lo sao để việc du nhập các phương pháp thực hành thế tục phải phù hợp với đường lối của Tin Mừng. Ví dụ, thay vì đánh giá thành quả theo số lượng kiểu thế tục, Đức Thánh Cha Phanxicô đưa ra lưu ý sau về các hoa trái [đích thực] của sứ mạng Kitô giáo:
Thành quả này thường vô hình, khó nắm bắt và không thể đo lường được … Ðôi khi những nỗ lực của chúng ta dường như không đem lại một kết quả nào. Nhưng sứ mạng không phải là một thương vụ kinh doanh hay đầu tư, cũng chẳng phải là một công cuộc từ thiện. Đó không phải là một buổi trình diễn để đếm xem có bao nhiêu người tham dự nhờ vào việc quảng cáo; nhưng đó là một điều gì đó sâu xa hơn, vượt ra ngoài tất cả mọi đo lường. Có lẽ, Chúa sử dụng những hy sinh của chúng ta để tuôn đổ phúc lành xuống một nơi khác trên thế giới mà chúng ta không bao giờ đặt chân đến. Chúa Thánh Thần hoạt động như Người muốn, ở những địa điểm và thời điểm Người muốn; biết tin tưởng phó thác cho Người khi không thấy được kết quả tỏ tường. Chúng ta chỉ biết rằng việc dấn thân của mình là điều cần thiết. Chúng ta hãy học nghỉ ngơi trong vòng tay âu yếm của Chúa Cha, giữa cuộc dấn thân sáng tạo và quảng đại của mình. Chúng ta hãy tiếp tục tiến bước, hãy dâng cho Chúa tất cả, và để Người làm cho những nỗ lực của chúng ta sinh hoa kết quả vào thời điểm Người muốn.[7]
Đôi lúc, do lòng nhiệt thành muốn “cứu cả thế giới”, nhiều tổ chức đặt nền trên đức tin lại để mình bị lôi kéo bởi việc cậy vào sức riêng như khuynh hướng Pelagiô, mà quên rằng mọi sự đều tuỳ thuộc vào Thiên Chúa. Về điểm này, Đức Thánh Cha Phanxicô từng cảnh báo:
Mặc dù sứ vụ đòi chúng ta phải có lòng quảng đại, nhưng thật sai lầm khi ta xem đó như là một nhiệm vụ anh hùng của riêng mình, vì tiên vàn đó là công việc của Thiên Chúa, vượt xa những gì chúng ta có thể nhìn thấy và hiểu được … Quyền tối thượng luôn thuộc về Thiên Chúa, Ðấng đã mời gọi chúng ta cộng tác với Người và dẫn dắt chúng ta bằng quyền năng của Thánh Thần ... Nếp sống của Giáo hội phải luôn chứng tỏ rằng sáng kiến đến từ Thiên Chúa, rằng “Người yêu chúng ta trước” (1 Gioan 4,19), và rằng chỉ một mình Người “làm cho ta phát triển” (1 Corinto 3,7). Xác tín này giúp chúng ta vui tươi giữa một sứ vụ quá đòi hỏi và đầy thách đố vốn chiếm lấy toàn bộ cuộc đời chúng ta. Thiên Chúa đòi hỏi mọi sự nơi chúng ta, nhưng đồng thời, Người cũng ban cho chúng ta mọi sự (Niềm Vui Tin Mừng, số 12).
Tiếp nối ý tưởng này, cha Arturo Sosa, S.J., Bề Trên Tổng Quyền của Dòng Tên, đã chỉ ra:
Phân định chung phải là điều kiện tiên quyết để lập kế hoạch tông đồ ở mọi cấp độ cơ cấu của Dòng Tên. Do đó, phân định và lập kế hoạch tông đồ phải tương tác với nhau, sao cho mọi quyết định đều được thực hiện dưới ánh sáng của kinh nghiệm về Thiên Chúa, và nhắm đến thi hành ý muốn của Chúa nhờ tính hữu hiệu theo tiêu chuẩn Tin Mừng. Cách thức lập kế hoạch tông đồ khởi đi từ phân định chung sẽ trở thành phương thế đem lại hiệu quả tông đồ, giúp chúng ta tránh được nguy cơ khi chỉ lập kế hoạch dựa theo các kỹ thuật nhằm phát triển các tổ chức [theo kiểu trần thế].[8]
Tất cả những điều này đòi hỏi sự khiêm tốn và tôn kính Thiên Chúa khi tiến hành lập kế hoạch mục vụ. Đồng thời, trái ngược với thuyết thần luận (deism) hoặc thuyết bất khả tri (agnosticism) về một Đấng Tạo Hoá thần thiêng nhưng lạnh lùng, xa cách và vô tâm, việc hoạch định mục vụ theo cách thức ở trên đòi ta phải không ngừng chú tâm và tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng luôn hiện diện, chủ động và yêu thương hướng dẫn cũng như gợi hứng từng bước đi trong tiến trình lập kế hoạch mục vụ. Công việc này cũng được củng cố bởi niềm tín thác tuyệt đối vào ân sủng cứu độ của Thiên Chúa.
Vậy có cách nào giúp ta có thể bám sát hơn vào cùng đích do Thiên Chúa đặt ra không; có cách nào giúp ta trau dồi hơn nữa thái độ tin tưởng, tín thác và khiêm tốn không; và có cách nào giúp ta trở nên nhạy bén hơn với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần không? Linh đạo thánh Inhaxiô đã chỉ ra cách thức phân định thiêng liêng, dạy cách để ý và phân biệt tác động của các thần lành và thần dữ trong tâm hồn; từ đó có thể nhận biết Thần Khí Chúa rõ rệt hơn và hành động theo thúc đẩy của Người. Vì thế, phân định thiêng liêng giữ một vị trí quan trọng trong suốt tiến trình thiết lập và thực hiện kế hoạch tông đồ. Linh Thao và truyền thống Inhaxiô còn cung cấp nhiều phương thế giúp chúng ta phát triển các khả năng này.
2. Ơn gọi và bản tính cộng đồng của nhân loại
Mọi người đều được mời gọi cộng tác vào công cuộc trao ban sự sống của Thiên Chúa. Sự cộng tác này mang tính cộng đồng từ trong bản chất, và biểu lộ thực tại nguyên sơ của nhân loại và vũ trụ, vốn là một cơ thể thống nhất hữu cơ, nhưng đang phát triển và hướng tới việc đơm hoa kết trái, với một chuỗi đa dạng phong phú về các đặc sủng.
Thiên Chúa mời gọi mọi người, không trừ một ai, cộng tác vào công trình trao ban sự sống của Người. Lời mời gọi này không hề tước đi ý chí tự do của chúng ta, nhưng đúng hơn lại cho chúng ta cơ hội cộng tác như những tác nhân có ý hướng, có trách nhiệm và có khả năng tạo nên sự khác biệt trong thế giới. Về điểm này, Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy:
Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ ý định của Người. Nhưng để thực hiện, Người cũng dùng đến sự cộng tác của các thụ tạo … Vì Thiên Chúa không chỉ cho các thụ tạo hiện hữu, nhưng cũng cho chúng phẩm giá tự mình hoạt động, là nguyên nhân và nguyên lý cho nhau, và nhờ đó mà cộng tác vào việc hoàn thành ý định của Người (GLCG, số 306).
Tuyên bố trên nêu bật phẩm giá, trách nhiệm, ơn gọi và quyền tự do của mọi người, cũng như nêu bật tầm quan trọng của tác nhân nhân loại trong chân trời là quyền tối thượng của Thiên Chúa. Do đó, Giáo hội cổ vũ mọi người “hãy phục vụ lẫn nhau tuỳ theo các ân sủng hay tài năng mà Thiên Chúa ban riêng cho mỗi người;”[9] đồng thời, Giáo hội nhấn mạnh rằng “mỗi người chỉ có thể đạt đến sự thiện hảo bằng cách tuân theo kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mình, và thực hiện nó một cách trọn vẹn”: bởi lẽ trong kế hoạch này, mỗi người tìm thấy sự thật về mình, và nhờ gắn kết với sự thật ấy mà họ trở nên tự do.”[10] Nói cách khác, mọi người đều được Thiên Chúa ban cho những đặc sủng riêng để họ cộng tác vào công việc của Chúa; các đặc sủng Chúa ban sẽ hoà điệu với cái tôi chân thực của mỗi người, từ đó dẫn tới hoa trái và sức sống viên mãn.
Linh đạo thánh Inhaxiô lặp lại giáo huấn nền tảng trên đây của Giáo hội, khi chỉ ra thực tế ơn gọi của con người một cách sống động qua các bài suy niệm như “Tiếng Gọi của Vua trần thế” (LT 91–98). Hơn thế nữa, toàn bộ Linh Thao nhằm giúp mọi người nhận ra tiếng gọi của Thiên Chúa dành cho họ, rồi điều chỉnh đời sống cho phù hợp hơn với tiếng gọi ấy. Thế giới quan căn bản của Linh Thao một mặt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ơn gọi từ Thiên Chúa, và bên kia là quyền tự do, ý hướng, đặc sủng và trách nhiệm của mỗi người. Linh Thao cũng quan niệm rằng, tiến trình nhận thức của con người huy động mọi năng lực của họ một cách hiệu quả trên mọi chiều kích: từ thể chất (physical), kinh nghiệm (empirical), tâm cảm (affectivity), các xúc cảm (feelings), cho đến cảm quan nghệ thuật, khả năng nhận thức, các giá trị theo đuổi, trực giác, lương tâm luân lý và sự nhạy bén thiêng liêng của họ. Điều này thể hiện rõ qua các phương pháp cầu nguyện trong Linh Thao, huy động mọi khả năng suy gẫm, phản tỉnh, cân nhắc, áp dụng ngũ quan (LT 66–67, 121–125), các tư thế cơ thể (LT 76), trí tưởng tượng (LT 47), các cảm xúc (LT 6, 48, 60), khả năng suy luận lành mạnh (LT 178–188), ký ức (LT 56), ý chí (LT 50), và các chuyển động nội tâm hay “an ủi và sầu khổ thiêng liêng” (LT 313–336). Một cái nhìn bao hàm như thế về tri thức luận của con người cũng am hợp với giáo huấn của Giáo hội.
Song song với việc đề cao phẩm giá của con người, khoa nhân học và thần học Công Giáo cũng nhấn mạnh đến xã hội tính nội tại nơi con người, và đến bản tính cộng đồng của việc tham gia vào đời sống và sứ mạng của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thật vậy, tình liên đới cộng đoàn, điều thường được xây dựng và củng cố trong tiến trình cùng nhau tham gia vào công trình của Thiên Chúa, cũng là mục tiêu và sứ mạng của công cuộc của Người. Tình liên đới này làm chứng cho sức sống triển nở đích thực, ngay cả khi các kế hoạch hành động không mang lại hoa trái biểu kiến, hoặc vấp phải những trở ngại không lường trước được.
Đối lại văn hoá cá nhân chủ nghĩa hiện nay, Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng “Thiên Chúa không tạo dựng người nam và người nữ như những sinh vật đơn độc,” nhưng như “những hữu thể mang tính xã hội từ trong bản chất; vì thế, nếu ngưng tương giao với tha nhân, thì họ không thể sống và không thể phát triển được tài năng của mình” (Giáo hội trong thế giới hôm nay, số 12). Như vậy, nhân loại được tạo dựng để lớn lên trong một đơn nhất thể (ontological oneness), theo nghĩa căn tính của mỗi người không xuất phát từ sự cô lập, nhưng trong một tổng thể hữu cơ và có trật tự. Công Đồng nhấn mạnh thêm:
Ngay từ khởi đầu của lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã chọn con người không như những cá thể, nhưng như những phần tử của một cộng đoàn. Khi Thiên Chúa biểu lộ ý định của mình, Ngài cũng gọi những người được chọn là “Dân Thiên Chúa” (Xuất hành 3,7-12), hơn nữa, Người còn ký kết giao ước với Dân ấy tại Sinai. Tính chất cộng đồng này được phát triển và kiện toàn nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô (Vui Mừng và hy Vọng, số 32).
Do vậy, nhân loại được tạo dựng như một cộng đoàn, được kêu gọi trong tư cách một cộng đoàn, và được cứu độ như một cộng đoàn. Điều này hàm ý rằng, sự hiểu biết về chân lý và khả năng đón nhận mạc khải cũng mang tính cộng đoàn. Cộng đoàn ấy tiếp nhận sự thông truyền của Thiên Chúa như một thân thể duy nhất, nhưng có nhiều bộ phận (a single organic body), và được tăng trưởng trong truyền thống khôn ngoan của mình. Chân lý và mạc khải của Thiên Chúa được truyền thụ ngang qua sensus fidei fidelium (cảm thức đức tin chung của các tín hữu ) – một tri thức luận mang tính cộng đồng, bao hàm trên bình diện thiêng liêng chung của tất cả các tín hữu xét như Một Thân Thể. Lý thuyết về tri thức luận này thừa nhận tiếng nói của Chúa Thánh Thần nơi mỗi người, nhất là những người ở các vùng ngoại biên, và đề cao trách nhiệm chung của mỗi người trong việc phân định và phát triển sứ mạng. Trong bối cảnh toàn thể Giáo hội đang cố gắng làm mới lại bản chất đồng nghị hay hiệp hành (synodal nature) của mình, cách thức làm việc như thế rất quan trọng. Nó giúp chúng ta xa tránh lối tiếp cận chiều dọc từ trên xuống, khi người lãnh đạo áp đặt hoặc cố thuyết phục các thành viên làm theo kế hoạch mục vụ của mình, hoặc kế hoạch do một nhóm nhỏ tập quyền soạn thảo ra.
Cha Arturo Sosa S.J. đã từng chỉ thị anh em Dòng Tên: “Dòng cần cổ vũ sự tham gia của toàn thân thể tông đồ, lựa chọn ra các phương thế tốt nhất có thể, để góp phần vào việc loan báo Tin Mừng và biến đổi trần thế trong thời đại có nhiều thay đổi nhanh chóng và sâu sắc như hiện nay.” Cha Tổng Quyền còn nói thêm: “Trong những trường hợp có những người ngoài Kitô giáo cộng tác vào các công việc phục vụ những người túng thiếu của Dòng, chúng ta cần tìm ra phương thế chân thật và trân trọng, để các anh chị em đó được tham gia vào tiến trình phân định chung. Đó là một thách đố lớn lao cho tinh thần sáng tạo và tự do của chúng ta, xét như những con cái của Thiên Chúa.”[11]
Thánh Inhaxiô và các bạn tiên khởi là những người kinh nghiệm đầu tiên về ơn gọi trở nên một thân thể tông đồ duy nhất của Dòng. Ơn gọi ấy đã hoà quyện với ước muốn sâu thẳm nhất của các vị, bất chấp những thách đố cả bên ngoài lẫn bên trong. Từ vài năm qua, Dòng Tên muốn nhấn mạnh trở lại bản chất cộng đoàn trong đời sống và sứ mạng của Dòng. Điều này được đặc biệt lưu ý trong các Tổng Hội 35 và 36, dù nó không hoàn toàn vắng bóng ở các Tổng Hội trước. Trong một thế giới ngày càng toàn cầu hoá, Dòng được mời gọi phải chú ý hơn đến bản chất hiệp thông phổ quát, nhưng vẫn không bỏ quên việc nâng cao chất lượng đời sống cộng đoàn và sự hợp tác sứ mạng ở cấp độ địa phương. Từ đó, các hoạt động nhằm canh tân cộng đoàn, canh tân tinh thần đồng nghị/hiệp hành, việc phân định chung trong đời sống sứ mạng, và thực hành nói chuyện thiêng liêng đang được hồi sinh trong Dòng Tên.
Cũng như mỗi cá nhân có những đặc sủng riêng, mỗi cộng đoàn hay mỗi tổ chức đều có những phẩm chất cốt lõi nhất định, thể hiện các ân ban duy nhất của Thiên Chúa cho thế giới. Các phẩm chất này bao gồm việc nhận biết căn tính riêng của nhóm trước mặt Chúa; nhận biết cùng đích, các giá trị cốt lõi, các đặc sủng và linh đạo riêng của cộng đoàn. Các phẩm chất này có thể được xem như những hạt giống của Lời Thiên Chúa đang nảy mầm. Đặc sủng của một tổ chức là suối nguồn chân thực nhất cho đời sống, lý do hiện hữu, năng lượng, phương hướng, động lực và thành quả của tổ chức ấy. Bất kỳ nhận thức sai lệch nào về đặc sủng đều dẫn đến sự trì trệ hoặc suy thoái trong đời sống và sứ mạng.
Vì thế, mặc dù đặc sủng về bản chất là yếu tố trường tồn và bất biến, nhưng nó cần được tái khám phá, tái nhận thức, hoặc tái khẳng định trong những bối cảnh mới và thời đại mới. Đây cũng là một nhiệm vụ cốt yếu khi tiến hành hoạch định mục vụ.
Một lưu ý quan trọng, để bảo đảm tính cộng đồng trong việc thiết lập kế hoạch mục vụ, chúng ta cần để ý đến chiều kích lịch sử và xuyên đại (diachronic) của cộng đoàn. Ngoài sự tham gia của các thành viên cộng đoàn và các bên liên quan trong thời điểm hiện tại, việc lập kế hoạch còn phải xét đến lịch sử phát triển và truyền thống phát sinh của cộng đoàn. Cách riêng đối với các thể chế trong Giáo hội, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh rằng: “Kitô giáo không chỉ là giáo thuyết, mà còn là một với lịch sử dẫn đưa đến giáo thuyết ấy.” Ngài cảnh báo chúng ta đừng để mình biến thành những “Kitô-hữu kiểu ý thức hệ” (ideological christians), tức là chỉ cóp nhặt những lập trường hợp theo sở thích cá nhân mà “không ý thức rằng mình thuộc về một dân” – Dân Thiên Chúa với một lịch sử cứu độ và mạc khải đặc biệt.[12] Như vậy, hành trình cộng đoàn đã trải qua từ khởi đầu cũng như di sản quá khứ của cộng đoàn là những thành tố quan trọng làm nên tổng thể cộng đoàn hiện tại.
Ngoài Kitô giáo ra, các tôn giáo lớn khác cũng nhìn nhận các nguyên tắc vừa nói về ơn gọi và bản chất cộng đồng của nhân loại. Hầu hết các truyền thống đức tin đều nhìn nhận đời người có một mục tiêu tối hậu, và tin rằng mọi người đều được mời gọi nỗ lực hướng tới sự triển nở chung của toàn thể vũ trụ. Nhiều tôn giáo lớn nhìn nhận rằng mọi thụ tạo đều mang tính cộng đồng và liên kết mật thiết với nhau. Các tôn giáo bản địa cũng nhấn mạnh đến tính thống nhất căn bản (fundamental oneness) của toàn thể vũ trụ, trong đó mỗi thành phần đều ảnh hưởng sâu sắc đến các thành phần còn lại.
Ngay cả những người không tôn giáo cũng có thể thừa nhận rằng con người chỉ đạt đến sự viên mãn tối hậu nơi những gì vượt trên bản thân của họ, và mục đích ý nghĩa cuộc đời chỉ được thành tựu nhờ biết nỗ lực sống cho những thiện ích lớn lao hơn. Ngoài ra, ý tưởng về bản chất xã hội và tính cộng đồng nội tại nơi con người cũng được chia sẻ bởi nhiều trường phái tư tưởng trong khoa học nhân văn.
Đối với kế hoạch mục vụ, những nguyên tắc này ngụ ý rằng, việc xây dựng cộng đoàn cũng phải là một trong số các mục tiêu đặt ra trong quá trình lập kế hoạch mục vụ, và phải được nhắc nhở lại thường xuyên trong quá trình thực hiện kế hoạch, nếu chúng ta tuân thủ đúng theo nguyên tắc. Vì thế, có khi các tham dự viên lại nhận ra rằng, những sự biến đổi nhằm hàn gắn hoặc hoà giải bên trong cộng đoàn lại diễn ra trước khi kế hoạch bên ngoài được hoàn thành. Chính vì lý do đó, chúng ta phải kiên nhẫn dành thời gian và không gian khi lập kế hoạch mục vụ, cũng như phải trung tín chú tâm đến sự dẫn dắt của Thánh Thần.
3. Hướng đến sự triển nở phổ quát
Toàn thể vũ trụ là một không gian thánh, nơi công trình cứu độ của Thiên Chúa đang diễn ra. Sự triển nở của thế giới bao trùm vạn vật và mọi khía cạnh của cuộc sống, cả về thể chất, xã hội, văn hoá, đạo đức lẫn thiêng liêng.
Truyền thống đức tin Công Giáo không nhìn xem thế giới như một cõi “trần tục” cần xa tránh, nhưng là bối cảnh trong đó công trình cứu độ của Thiên Chúa đã và đang tiếp tục diễn ra. Vì thế, vũ trụ là một không gian thánh. Tông huấn Laudato Si’ tuyên bố, “toàn thể vũ trụ vật chất phản ánh tình yêu của Thiên Chúa và sự trìu mến vô biên của Người dành cho chúng ta.”[13]
Tương tự, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng số 36 của Công Đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng, mạc khải của Thiên Chúa cũng thể hiện ngay trong các khoa học đời. Hiến chế này thừa nhận rằng “những người khiêm tốn và kiên trì tìm hiểu những bí mật về thực tại, luôn được bàn tay Thiên Chúa dẫn dắt ngay cả khi họ không hay biết, vì chính Chúa, Đấng bảo tồn vạn vật, đã tạo ra chúng như chúng vốn là.”
Công Đồng Vaticanô II cũng nhấn mạnh rằng, tôn giáo không phải là sự trốn tránh trần thế:
Thực sai lầm cho những ai sao nhãng các bổn phận trần gian, dẫu biết rằng quê hương trường tồn không phải là trần thế này, nhưng là thế giới mai hậu. Những kẻ ấy quên rằng, đức tin đòi buộc họ phải chu toàn các bổn phận trần thế cách hoàn hảo hơn, mỗi người tuỳ theo ơn gọi của mình … Theo gương Chúa Giêsu, Đấng đã sống như một người thợ, các Kitô hữu hãy vui mừng, vì họ có thể đóng góp công sức vào các hoạt động trần thế, cũng như các nỗ lực của nhân loại, gia đình, nghề nghiệp, khoa học hay kỹ thuật, bằng cách nối kết chúng với các giá trị tôn giáo để làm nên một hợp tuyển sống động, mà dưới sự dẫn dắt tối thượng của hợp tuyển ấy, mọi sự được quy hướng về vinh quang Thiên Chúa (Vui Mừng và Hy Vọng, số 43).
Lặp lại ý tưởng này, Đức Thánh Cha Phanxicô chỉ ra rằng:
Để nên thánh, không cần phải trở thành giám mục, linh mục, hay tu sĩ. Chúng ta thường bị cám dỗ khi nghĩ rằng, sự thánh thiêng chỉ tồn tại nơi những người rút lui khỏi công việc trần thế để dành thời giờ cho cầu nguyện. Sự thực không phải thế. Chúng ta được mời gọi nên thánh bằng lối sống chứng tá yêu thương trong tất cả mọi việc mình làm, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào (Niềm Vui Tin Mừng, số 14).[14]
Do đó, sứ mệnh Kitô giáo – trong đó bao gồm việc hoạch định mục vụ – không loại bỏ bất kỳ lĩnh vực nào của trần thế, nhưng nhằm thông truyền sự thánh thiêng cho mọi khía cạnh của trần thế.
Truyền thống Inhaxiô cung cấp nhiều thông tin bổ sung cho những nguyên lý này. Trong Linh Thao, các bài suy niệm như “Tiếng Gọi của Vua Trần Thế” (LT 91–100) và “Mầu Nhiệm Nhập Thể” (LT 101–109) đặc biệt sâu sắc khi nhấn mạnh rằng biến cố cứu độ diễn ra ngay trong lịch sử trần thế, với đủ mọi loại người và trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Nhìn thấy Chúa trong mọi sự là nguyên tắc trọng tâm trong Linh đạo thánh Inhaxiô. Thánh Inhaxiô nhấn mạnh rằng “Thiên Chúa ngự trong các tạo vật: Người ngự trong các yếu tố khi cho ban chúng được hiện hữu, trong thảo mộc khi ban cho chúng sự sống, trong động vật khi ban cho chúng biết cảm giác, trong con người khi trao ban cho họ trí tuệ. Như thế, Thiên Chúa đang ngự trong tôi và ban cho tôi sự hiện hữu, sự sống, khả năng cảm giác và trí tuệ” (LT 235). Do đó, việc chú tâm và thích nghi với các thực tại con người lẫn khung cảnh của nó là điều xuyên suốt trong Linh Thao, đặc biệt trong các chú dẫn về cách thức cho Linh Thao (LT 4–20). Thánh Inhaxiô cũng nhấn mạnh rằng “tình yêu phải thể hiện bằng hành động hơn là lời nói” (LT 230). Điều này được lặp lại trong nhận xét của Đức Thánh Cha Phanxicô, rằng “thực tại thì quan trọng hơn ý tưởng” (Niềm Vui Tin Mừng, số 231). Bài suy niệm về “Ba Mẫu Người” (LT 149–157) nêu bật tầm quan trọng của việc thể hiện cách cụ thể sự tự do nội tâm của một người theo ý Chúa bằng cách làm điều duy nhất cần thiết phải làm.
Khi gán tầm quan trọng đặc biệt cho lịch sử trần thế, truyền thống đức tin Công Giáo trình bày một viễn tượng toàn diện về sự triển nở của vũ trụ vốn bao gồm cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần. Cuốn Tóm tắt Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công Giáo chỉ ra rằng sự sống sung mãn phải bao trùm mọi khía cạnh “cá nhân và xã hội, tinh thần và thể xác, lịch sử và siêu việt.”[15] Tương tự, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng nhấn mạnh đến “thiện ích chung” (common good) (số 26), đến “các nhu cầu vật chất, lẫn nhu cầu về đời sống trí tuệ, đạo đức, thiêng liêng và tôn giáo của con người” (số 64). Do đó, thiện ích phổ quát (universal good) bao trùm sự sung túc về vật chất của toàn bộ vũ trụ, đặc biệt đối với những người dễ bị tổn thương, cũng như những thiện ích vượt trên khía cạnh vật chất như tình liên đới xã hội, công lý, bình đẳng và hoà bình. Sự triển nở về văn hoá, bao gồm phát triển con người cả về trí tuệ và khôn ngoan, nghệ thuật và thẩm mỹ, cũng là một thành tố đặc biệt không thể thiếu vắng, như Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng từng nhấn mạnh. Điều quan trọng không kém là chúng ta cần giúp mỗi nhân vị được triển nở trong chân tính riêng, tự do, tinh thần trách nhiệm, đạo đức, ơn gọi và sự tham gia riêng của mỗi người. Tất cả những mục tiêu đáng ước ao này, đến lượt chúng, lại hướng tới mục tiêu cuối cùng, là đạt đến sự kết hiệp với Thiên Chúa.
Trong các tôn giáo khác cũng như trong xã hội thế tục, chúng ta cũng gặp thấy những giá trị tương tự. Chẳng hạn, hầu hết các tôn giáo đều nhấn mạnh đến việc thúc đẩy thiện ích chung (common good) trên nhiều phương diện, vật chất cũng như phi vật chất. Các Công ước quốc tế như Bản Tuyên Ngôn về Nhân quyền của Liên hiệp quốc hay Các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên hiệp quốc cũng tán thành quan điểm toàn diện về các giá trị và các mục đích đáng mong ước phổ quát, bằng cách chú ý nhiều đến những người dễ bị tổn thương nhất.
Đối với việc hoạch định mục vụ, tầm quan trọng của lĩnh vực trần thế ngụ ý rằng chúng ta cần phải chú tâm đúng mức đến bối cảnh riêng của mỗi thực tế, bao gồm các thực tế bên trong cộng đoàn hay tổ chức, bên trong bối cảnh địa phương lẫn bối cảnh toàn cầu bao quanh chúng. Việc phân định chung khi hoạch định mục vụ đòi ta phải chú ý đến các dấu chỉ thời đại, nhất là tiếng nói của những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, tìm kiếm những thông tin liên quan đến bối cảnh của họ, thậm chí phải đi ra các vùng ngoại biên, nhưng vẫn không bỏ sót những thực tại đang diễn ra ngay trước mắt. Do đó, việc phân định không được thực hiện “trên mây” hay “trong tháp ngà”; cũng không chỉ giới hạn về “tâm linh” hay những vấn đề của một “môi trường trần thế khác”. Đúng hơn, nó đòi ta phải chú ý cả đến những điểm mù tiềm ẩn, những thành kiến và những giả định chưa được kiểm chứng. Điều quan trọng cuối cùng là phải làm sao để biến việc phân định thành những hành động cụ thể.
Với cái nhìn toàn cảnh trên đây, ta thấy sự triển nở phổ quát giữ vai trò như chiếc la bàn, giúp cho các cá nhân, cộng đoàn, tổ chức đặt nền trên đức tin, cũng như xã hội lượng giá các dấu chỉ của thời đại, đề ra các giá trị và các mục tiêu chung, cũng như phân định các lời mời gọi và những đóng góp cần thiết. Quan trọng không kém, đích nhắm phát triển phổ quát này cũng đòi việc lập kế hoạch phải tuân theo những lý tưởng tương tự; đó là quan tâm đến hạnh phúc của mỗi thành viên; đến sự hiệp thông và tham gia tích cực của mỗi cá nhân; đến chân tính riêng và sự tăng trưởng của mỗi cá nhân về mặt giá trị, tự do và thiêng liêng.
4. Trên bước đường hành hương
Lịch sử trần thế là một cuộc lữ hành, trong đó mỗi người chúng ta được mời gọi lớn lên không ngừng trong đời sống và ơn gọi, ngay giữa những thăng trầm, thách đố và bấp bênh, ngay giữa sự thiện và sự ác.
Truyền thống Công Giáo đi theo chủ trương của thần học biến dịch, nghĩa là nhìn xem thế giới đang ở trên đà tiến hoá và không ngừng phát triển. Sách GLCG nêu bật:
Mỗi thụ tạo đều có sự tốt lành và hoàn hảo riêng, nhưng chưa đạt đến sự trọn vẹn tuyệt đối khi thoát thai từ bàn tay của Đấng Tạo Hoá. Thế giới được Thiên Chúa tạo dựng “trong tình trạng trên đường” và hướng đến sự hoàn hảo cuối cùng mà Người đã định cho chúng (GLCG 302).
Trong kế hoạch của Thiên Chúa, quá trình này bao gồm việc có những sự vật này xuất hiện và có những sự vật khác lại biến đi; có sự vật này hoàn hảo hơn và có sự vật khác kém cỏi hơn; có diễn ra sự xây dựng trong thiên nhiên, nhưng cũng có sự tàn phá. Đồng thời với sự tốt lành về thể lý, cũng có xảy ra sự dữ về thể lý, bao lâu công cuộc tạo dựng chưa đạt tới mức hoàn hảo của nó (GLCG, số 310).
Nhận định vừa nói cũng có thể được áp dụng cho Giáo hội. Công Đồng Vaticanô II chỉ ra rằng: “Giáo hội trên trần gian chỉ là mầm chớm nở của Nước Thiên Chúa, và còn phải trải qua một tiến trình tăng trưởng chậm rãi để đạt đến Nước Trời hoàn hảo” và Giáo hội chỉ “đạt đến sự hoàn hảo trọn vẹn này trong vinh quang thiên đàng.”[16] Trong lúc chờ đợi, Giáo hội “cần rút tỉa kinh nghiệm từ các thế kỷ đã qua” và các phần tử của Giáo hội được khuyến khích không ngừng “thanh lọc và đổi mới” (Vui Mừng và Hy vọng, số 43). Hình ảnh hành hương thường được dùng để mô tả thế giới cũng như mô tả Giáo hội. Quan trọng hơn cả, các Kitô-hữu cần tin tưởng vào ân sủng thường hằng từ Thiên Chúa, Đấng thúc đẩy con người hướng tới điều thiện hảo.
Lời hứa của Thiên Chúa, rằng tình yêu và sự sống cuối cùng sẽ chiến thắng sự ác, mang đến cho các Kitô-hữu niềm tin và hy vọng, để họ kiên vững bước đi trong cuộc hành trình của mình.
Linh đạo thánh Inhaxiô nhấn mạnh đến tính chất lữ hành của kiếp người, và nêu bật sự giằng co của họ giữa hai khuynh chiều thiện và ác. Linh Thao cũng thừa nhận sự tồn tại của tội lỗi và những hậu quả của nó, đặc biệt là trong các bài suy gẫm ở Tuần Một. Bài gẫm “Ba Mẫu Người” và “Ba Bậc Khiêm Nhường” (LT 165–168) trong Tuần Hai cũng khắc hoạ cho thấy những cấp độ cao thấp khác nhau của việc dấn thân cho điều thiện. Các Quy tắc Phân biệt Thần loại (LT 313–336) cho thấy rõ hơn tình trạng giằng co giữa các khuynh hướng đối nghịch nơi con người dưới tác động của thần lành và thần dữ. Các quy tắc này cũng chỉ ra cho con người cách thức phân định để tiến bước theo các thúc đẩy của thần lành. Các bài gẫm về cuộc thương khó, tử nạn và phục sinh của Đức Kitô ở Tuần Ba và Tuần Bốn của Linh Thao nhắc nhở chúng ta về tình yêu tự hiến của Thiên Chúa và về chiến thắng cuối cùng của Người, mặc dù không thể tránh khỏi những đau thương của Thập giá, như là một thành phần tất yếu của hành trình ấy.
Các chủ đề về cuộc chiến giữa thiện và ác, về những thất bại và thành công của con người cũng phổ biến trong nhiều truyền thống tôn giáo. Hầu hết mọi người đều thừa nhận rằng, tự bản chất, cả con người lẫn thế giới vẫn đang trên đà tiến triển, theo năng động của sự phát triển hay suy thoái. Vì thế, các ý tưởng thần học nói trên đều có nét quen thuộc với nhiều đối tượng độc giả.
Từ đó, chúng ta có thể rút ra một hệ luận quan trọng này, là mỗi người, mỗi cộng đoàn, và mỗi tổ chức phải thường xuyên duyệt xét lại bản thân; lượng giá lại hành trình đã trải qua; đi đến những điều chỉnh giữa chừng khi cần thiết; tìm kiếm những biện pháp để củng cố; thậm chí phải sẵn sàng thay đổi tận căn. Cũng như việc tĩnh tâm đều đặn sẽ giúp các cá nhân vững tiến trong đời sống và ơn gọi, hoặc thúc bách họ quay trở lại mỗi khi lạc xa khỏi ơn gọi và các giá trị chân xác của mình, thì trong tiến trình lập kế hoạch mục vụ, cộng đoàn cũng phải rút lui khỏi những công việc thường ngày, để nhìn nhận rõ hơn về những gì đang xảy ra trên hành trình của cộng đoàn, để có được một tầm nhìn mới mẻ, để tập trung hơn vào các trọng tâm, thậm chí để hoà giải với Thiên Chúa và với nhau, hầu có thể chọn lựa ra con đường mang lại nhiều sức sống hơn cả.
Theo nhãn quan Kitô giáo, công trình tạo dựng tự bản chất chưa đạt đến sự hoàn thiện và đang không ngừng phát triển; vì thế, luôn tồn tại ở phía trước một không gian cho sự tăng trưởng và tiến bộ. Bởi đó, cộng đoàn hay tổ chức luôn được mời gọi đào sâu tìm tòi, để phát triển hơn nữa đời sống và sứ mạng chung của nhóm. Thỉnh thoảng cũng xảy ra cám dỗ với những cộng đoàn hay tổ chức ngủ quên trên hào quang của quá khứ hay những thành tựu họ đã đạt được, từ đó, họ tự nhủ rằng nhiệm vụ còn lại chỉ là duy trì tình trạng hiện có. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh báo một cách đúng đắn rằng, “nếu chỉ dừng lại ở việc quản trị mà thôi thì không đủ. Trong thế giới này, chúng ta cần phải lao mình không ngừng vào sứ vụ” (Niềm Vui Tin Mừng, số 25). Linh đạo thánh Inhaxiô sử dụng thuật ngữ “magis” [hơn], để khích lệ tìm kiếm vinh quang lớn hơn cho Thiên Chúa. Vì vậy, việc hoạch định mục vụ đều đặn có thể giúp cộng đoàn hay tổ chức tránh khỏi sự tự mãn, quy ngã, và cố thủ trong vùng an toàn của nhóm.
Có một số nhóm biện hộ rằng, do bối cảnh bên trong hoặc bên ngoài có quá nhiều biến động và khó dự đoán, nên việc lập kế hoạch trước là bất khả thi. Thật vậy, từ “kế hoạch” có gốc chung với từ “mặt phẳng” (plane, planar), ám chỉ về độ phẳng, độ nhẵn, có thể thấy hết mọi sự trước mắt, thế nhưng trong thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Thật vậy, khuynh hướng chung hiện nay là tập nhìn xem sự đứt đoạn và bất khả dự đoán là điều bình thường mới của cuộc sống. Ngay cả khi bối cảnh của cộng đoàn hay tổ chức tương đối ổn định, thì một số người vẫn cho rằng chủ trương lập kế hoạch là dựa vào một giả định sai lầm, như thể con người có quyền kiểm soát và làm chủ lịch sử. Thánh Vịnh 33,10 đã viết: “Chúa đảo lộn chương trình muôn nước, Người phá tan ý định chư dân.” Tương tự, tác giả của Thánh Vịnh 2 cũng tự hỏi: “Sao chư dân lại ồn ào náo động? Sao vạn quốc dám bày kế viển vông? … Chúa ngự trời cao thấy thế bật cười, Người chế nhạo bọn chúng” (Tv 2,1 và 4). Thế nhưng, Đức Thánh Cha Phanxicô dạy:
không có tự do nào lớn hơn việc đặt mình cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, từ bỏ các tính toán và kiểm soát mọi sự, nhưng để cho Người soi sáng, hướng dẫn, lèo lái và dẫn đưa đến nơi Người muốn. Chúa Thánh Thần biết rõ điều chúng ta cần đến ở mọi nơi và mọi thời. Ðiều này quả thật là mầu nhiệm! (Niềm Vui Tin Mừng, số 280)
Tuy nhiên, cũng trong tài liệu ấy, Đức Thánh Cha nói thêm:
Tôi mơ ước về một “lựa chọn truyền giáo”, tức một lực đẩy truyền giáo có khả năng biến đổi mọi sự, sao cho các thói quen, lề lối, thời gian, kế hoạch, ngôn ngữ và cơ cấu của Giáo hội đều trở thành những kênh thích hợp cho việc tin mừng hoá thế giới ngày nay, hơn là tìm cách tự bảo toàn Giáo hội. Việc đổi mới các cơ cấu mà việc hoán cải mục vụ đòi hỏi, cần được hiểu như sau: phải trở nên một phần của nỗ lực làm cho các cơ cấu ấy quy hướng về truyền giáo hơn; cho các hoạt động mục vụ thông thường ở mọi cấp độ trở nên toàn diện và cởi mở hơn; khơi dậy trong tâm hồn các tác viên mục vụ một ước vọng không ngừng lên đường, nhờ đó khơi dậy được một sự đáp trả tích cực từ tất cả những ai được Chúa Giêsu mời gọi trở nên bạn hữu với Người (Niềm Vui Tin Mừng, số 27).
Lời dạy trên ngụ ý rằng, đúng là tương lai và thậm chí hiện tại đều không có gì chắc chắn, vì thế con người không nên giả định là mình có toàn quyền kiểm soát chúng. Tuy nhiên, giới hạn ấy lại càng mời gọi tất cả chúng ta cùng quy hướng về Thiên Chúa, quyết tâm gắn bó hơn với Sự Hiện Diện của Người. Đây chính là trọng tâm của việc hoạch định mục vụ. Dưới ánh sáng này, chúng ta có thể nhớ đến lời Chúa hứa trong Kinh thánh: “Ta biết những kế hoạch Ta sẽ dành cho ngươi,” “những kế hoạch đem đến cho ngươi sự thịnh vượng chứ không gây tổn hại, những kế hoạch mang lại cho ngươi hy vọng và tương lai” (Giêrêmia 29,11).
Do đó, hãy xem việc lập kế hoạch như là “san cho phẳng” con đường trong lý trí và con tim của chúng ta để “dọn đường cho Đức Chúa; để kiến tạo một con lộ thẳng băng trong sa mạc cho Thiên Chúa. Mọi thung lũng phải được nâng cao, mọi núi đồi, hãy bạt xuống; hố sâu, hãy lấp cho đầy, nơi gồ ghề, hãy san cho phẳng” (Isaiah 40,3-4). Khi cộng đoàn lập kế hoạch mục vụ, nghĩa là cộng đoàn tạo ra một con đường rộng mở, không gây cản trở cho Thần Khí Thiên Chúa, nhưng để cho lời hứa của Người được thực hiện: “Ta sẽ đưa các ngươi trở về quê hương xứ sở” (Ezekiel 36,24). Thật vậy, việc hoạch định mục vụ là hành trình trở về với căn tính và ơn gọi thực sự của chúng ta trước mặt Thiên Chúa. Đó là cuộc tái khám phá của cả cộng đoàn về đặc sủng và các giá trị cốt lõi của nhóm, một sự phân định thiêng liêng về kế hoạch của Thiên Chúa và về vai trò của nhóm trong kế hoạch đó, một cuộc tái dâng hiến chính mình để thực hiện những điều cần thiết cho chặng đường phía trước.
Điều này là đúng đắn, bất kể cộng đoàn hay tổ chức có thể đoán định được tương lai của nhóm hay không. Hơn nữa, nếu các định hướng và các ưu tiên phổ quát trong kế hoạch mục vụ giữ vai trò như một kim chỉ nam, thì các mục tiêu cụ thể và các chiến lược hành động lại được phép chỉnh sửa, để đáp ứng với những diễn biến mới và với các sự kiện bất ngờ.
Dù trong hoàn cảnh nào, việc hoạch định mục vụ cũng đòi có một thái độ khiêm nhường, cởi mở và trung thành, không cứng nhắc, không tự tin thái quá, và không khép kín. Trong thực tế, hiếm khi cộng đoàn đạt đến các kế hoạch mục vụ hoàn bị, với một danh sách đầy đủ các mục tiêu, các chỉ báo, và các hoạt động được tính toán chi li cho nhiều năm sắp tới. Trái lại, phải chấp nhận rằng phần lớn các kế hoạch vẫn còn những yếu tố thiếu chắc chắn, thậm chí còn mơ hồ. Điều ấy nhắc nhở rằng có một số việc cần phải chờ đợi thời gian. Nó cũng mời gọi nhóm tiếp tục lắng nghe, đối thoại, phân định, đón nhận những cơ hội bất ngờ và tìm kiếm bàn tay hướng dẫn của Thiên Chúa.
Cuối cùng, bản chất bất toàn của cuộc sống trần gian mời gọi ta chỉ nên có những kỳ vọng thực tiễn khi đưa ra các mục tiêu hay như khi lượng giá các bước tiến; đồng thời phải chấp nhận các bước lùi và những thất bại, như một phần tất yếu của cuộc hành trình này. Cho dù các thất bại như vừa nói có thể gây ra những đau đớn và đưa đến thất vọng, nhưng chúng lại cho chúng ta những bài học quý giá và những cơ hội giúp chúng ta học hỏi. Dưới ánh sáng này, việc hoạch định mục vụ phải đi kèm với sự phân định liên tục, ngang qua những giai đoạn thăng và trầm trong đời sống của nhóm, đặc biệt là khi chuyển từ giai đoạn lập kế hoạch (planning) qua việc thực hiện kế hoạch (implementation). Hai thực hành “Chiêm niệm trong hành động” và “Xét Mình thiêng liêng” của Linh đạo thánh Inhaxiô cung cấp cho chúng ta những công cụ hữu ích để đạt đến mục tiêu ấy.[17]
5. Các yếu tố tác nhân (who); công việc (what) và cách thực hiện (how) trong kế hoạch mục vụ
Các nền tảng thần học của việc hoạch định mục vụ ngụ ý rằng, khi một cộng đoàn hay tổ chức bắt tay lập kế hoạch, nó phải trải qua một hành trình nhằm tái khám phá những cội nguồn mang lại sức sống lẫn những nền tảng cốt lõi của nó, củng cố lại mối dây nối kết giữa các thành viên với nhau và với người khác, đồng thời đổi mới sứ mạng của mình cho phù hợp với những thực tế hiện tại của thế giới. Trong ba chiều kích chuyển động – hướng vào bên trong, hướng đến chiều ngang và hướng ra bên ngoài – các thành viên của cộng đoàn sẽ gặp gỡ Thiên Chúa, gặp gỡ lẫn nhau, và gặp gỡ những người mà nhóm phục vụ.
Từ đó, một kế hoạch mục vụ phải bao hàm ba cấp độ năng động tương tác lẫn nhau:
– Các giá trị bền vững của nhóm, căn tính, đặc sủng, và cùng đích của nhóm;
– Phương hướng và các công việc ưu tiên trong trung hạn (medium term);
– Các mục tiêu và hành động cụ thể.
Có thể xem ba cấp độ ấy trong một kế hoạch mục vụ tương ứng với ba yếu tố Ai – Cái gì – Thế nào (Who – What – How). Trong đó, “Ai” có nghĩa cộng đoàn hay tổ chức về căn bản là ai; “Cái gì” có nghĩa cộng đoàn được mời gọi làm gì trong bối cảnh hiện tại; và “Thế nào” có nghĩa cộng đoàn sẽ chọn cách thức tiến hành công việc đó như thế nào. Nếu cấp độ “Thế nào” có tính linh hoạt và được phép thích ứng theo sự thay đổi của bối cảnh và các sự kiện bất ngờ, thì cấp độ “Cái gì” giữ vai trò như chiếc la bàn ổn định để xác định hướng đi và đề ra các công việc ưu tiên trong trung hạn; còn cấp độ “Ai” cung cấp điểm quy chiếu tối thượng, bao gồm căn tính của nhóm, cùng đích vì đó mà nhóm được thành lập, và các giá trị mà nhóm theo đuổi.
Như đã đề cập trong phần nền tảng thần học, Linh đạo thánh Inhaxiô nhấn mạnh rằng “Nguyên Lý và Nền Tảng” của đời sống là kết hiệp với Thiên Chúa (LT 23). Điều này mời gọi một tổ chức hãy quay về với đặc sủng nền tảng của mình – nhóm chúng ta là “Ai” – để nhóm không tìm kiếm điều gì khác ngoài chân tính của mình trước mặt Thiên Chúa. Tương tự, truyền thống Inhaxiô cũng mời gọi chú ý đến những thực tại của thế giới để đi đến những lựa chọn căn bản cần thực hiện chiếu theo đặc sủng của tổ chức – “nhóm cần làm các công việc gì” – để có thể dấn thân với sự xác tín. Sau hết, không thể thiếu việc xác định cách thức hành động cụ thể, nghĩa là – “Làm thế nào” – và những điều này phải được điều chỉnh cách khéo léo cho phù hợp với các bối cảnh (contexts) và các hoàn cảnh (circumstances) trong cuộc sống. Như vậy, sự tương tác năng động và qua lại giữa ba cấp độ này sẽ giúp cho một tổ chức vừa sống chân thực với ơn gọi của mình, vừa phục vụ cách phù hợp với thời đại mà tổ chức thuộc về.
II. TIẾN TRÌNH HOẠCH ĐỊNH MỤC VỤ LINH HOẠT
Phần II đề xuất một khung tiến trình hoạch định mục vụ, có thể được các cộng đoàn và tổ chức linh hoạt điều chỉnh theo bối cảnh và nhu cầu riêng. Mỗi bước đều kèm theo các mẫu và phiếu làm việc cụ thể. Nhiều thực hành trong phần này được lấy cảm hứng từ các phương pháp Inhaxiô như Đối thoại thiêng liêng và Dòng lịch sử (History Line), vốn được phát triển qua nhiều năm nhờ công sức của các tu sĩ Dòng Tên và các cộng sự sứ vụ.
1. Lập kế hoạch hay không lập kế hoạch?
Phân định thời điểm thích hợp cho hoạch định mục vụ
Hoạch định mục vụ không phải là một việc làm tự động hay mang tính hình thức, nhưng là một hành vi phân định thiêng liêng của cộng đoàn. Trước khi bắt tay vào việc lập kế hoạch, cộng đoàn cần lắng nghe Thánh Thần để nhận ra: đã đến lúc nên hoạch định hay chưa.
a. Khi nào nên lập kế hoạch mục vụ?
Nhiều cộng đoàn nhận thấy việc hoạch định mục vụ 5–10 năm một lần là cần thiết, nhất là khi xuất hiện những dấu hiệu sau:
– Con đường mục vụ hiện tại không còn phù hợp hoặc kém hiệu quả trong bối cảnh mới.
– Cộng đoàn rơi vào tình trạng trì trệ, kiệt sức, thiếu định hướng hoặc thiếu hiệp nhất.
– Sinh hoạt mục vụ bị đóng khung trong các cơ cấu và thói quen cũ, thiếu khả năng đổi mới.
– Cộng đoàn xa rời căn tính, giá trị cốt lõi và sứ mạng ban đầu.
– Những vấn đề nội tại không được giải quyết dẫn đến chia rẽ, chán nản và suy giảm sinh lực thiêng liêng.
Trong những hoàn cảnh này, hoạch định mục vụ trở thành một cơ hội hoán cải, giúp cộng đoàn trở về với ơn gọi và sứ mạng đích thực của mình.
b. Khi nào chưa nên lập kế hoạch mục vụ?
Tài liệu cũng nhấn mạnh rằng không phải lúc nào cũng thích hợp để hoạch định, đặc biệt trong các trường hợp:
– Cộng đoàn đang hoặc vừa trải qua khủng hoảng nghiêm trọng (thiên tai, xung đột lớn, bê bối công khai…).
– Ban lãnh đạo mới được thiết lập và cần thời gian lắng nghe, học hỏi, xây dựng niềm tin.
– Uy tín lãnh đạo bị suy giảm do những kế hoạch trước đây thiếu hiệp hành hoặc không được thực hiện.
– Cộng đoàn có nhiều thành viên mới, hoặc tinh thần – động lực chung đang ở mức thấp.
Trong những hoàn cảnh này, ưu tiên trước hết là hàn gắn, củng cố hiệp thông và xây dựng lòng tin, thay vì vội vàng lập kế hoạch.
c. Hoạch định giữa bối cảnh biến động
Ngay cả trong bối cảnh bất ổn và thay đổi nhanh, hoạch định mục vụ vẫn có giá trị nếu được thực hiện theo linh đạo phân định cộng đoàn. Việc làm rõ căn tính, giá trị và các định hướng nền tảng giúp cộng đoàn không bị cuốn theo các áp lực bên ngoài hay những chương trình nghị sự nhất thời.
Trong truyền thống Inhã, thời điểm thích hợp để hoạch định đòi hỏi:
– Một mức độ tự do nội tâm và cởi mở lắng nghe nhau.
– Đủ thông tin và khả năng chú tâm vào tiến trình.
– Những kỹ năng căn bản về phân định thiêng liêng.
Khi các điều kiện này được hội đủ, hoạch định mục vụ trở thành một hành trình bước đi trong Thánh Thần, chứ không chỉ là một kế hoạch kỹ thuật.
2. Giai đoạn chuẩn bị
Giai đoạn chuẩn bị đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và hoa trái của toàn bộ tiến trình lập kế hoạch mục vụ. Đây không chỉ là khâu tổ chức kỹ thuật, nhưng là chuẩn bị thiêng liêng và cộng đoàn, giúp cộng đồng bước vào phân định với tự do nội tâm, sự tin tưởng và tinh thần hiệp hành.
a. Thành lập Nhóm Hoạch định
Khi cộng đoàn quyết định bắt đầu tiến trình hoạch định mục vụ, cần thành lập một nhóm hoạch định nhỏ (khoảng 3–4 người) để điều phối toàn bộ tiến trình. Nhóm này làm việc dưới sự hướng dẫn của các vị lãnh đạo cộng đoàn.
Nhóm hoạch định có nhiệm vụ:
– đề xuất phương pháp và lộ trình,
– tổ chức các sinh hoạt (họp, tĩnh tâm, tham vấn),
– điều phối truyền thông,
– tổng hợp ý kiến,
– và giúp chuyển từ phân định sang thực thi.
Các thành viên nhóm cần là những người được tín nhiệm, có cái nhìn toàn diện, tương đối trung lập, không bị chi phối bởi chương trình nghị sự cá nhân, và có khả năng phân định khi cần điều chỉnh tiến trình.
b. Làm rõ mức độ tham gia và thẩm quyền quyết định
Một điểm thiết yếu trong giai đoạn chuẩn bị là xác định rõ ai tham gia, tham gia ở mức độ nào, và ai là người đưa ra quyết định cuối cùng.
Theo tinh thần hiệp hành:
– Toàn thể cộng đoàn nên được tham gia ở mức phù hợp, vì đây là tiến trình canh tân đời sống và sứ vụ chung.
– Các bên liên quan khác (đối tác, người thụ hưởng, cộng tác viên…) cũng có thể được tham vấn.
Về quyết định:
– Quyết định cuối cùng thuộc về những người có thẩm quyền theo Giáo luật hay điều lệ.
– Tuy nhiên, nền tảng cho quyết định phải là kết quả của phân định cộng đoàn, sau khi mọi người đã có cơ hội cầu nguyện, suy tư và chia sẻ.
Việc làm rõ cơ cấu ra quyết định ngay từ đầu giúp cộng đoàn tham gia với kỳ vọng đúng đắn và tinh thần bình an.
c. Thiết lập các bước và lịch trình
Tiến trình hoạch định cần có các bước rõ ràng và một lịch trình thực tế, phù hợp với hoàn cảnh và nhịp sống của cộng đoàn.
Thông thường, toàn bộ tiến trình cần khoảng 1 đến 1,5 năm:
– quá ngắn sẽ không đủ cho kinh nghiệm biến đổi cộng đoàn,
– quá dài dễ làm suy giảm động lực.
Trong suốt tiến trình, cần luôn phân định để điều chỉnh lịch trình khi hoàn cảnh hoặc năng lượng cộng đoàn thay đổi.
d. Phân bổ nguồn lực
Cộng đoàn cần dự trù và thu xếp các nguồn lực cần thiết, như:
– địa điểm, phương tiện,
– hỗ trợ hành chính, tài liệu,
– và, khi cần, thù lao cho người điều phối bên ngoài.
Việc chuẩn bị đầy đủ nguồn lực giúp tiến trình diễn ra nghiêm túc và bền vững.
e. Truyền thông mục vụ
Truyền thông là yếu tố rất nhạy cảm. Các nhà lãnh đạo cần:
– truyền đạt thông tin rõ ràng, kịp thời và với sự cảm thông,
– lắng nghe những lo lắng, sợ hãi, hoặc hoài nghi của cộng đoàn,
– đặc biệt quan tâm đến những người sợ mất mát hay thay đổi.
Thông điệp xuyên suốt cần được nhấn mạnh: Đây là một tiến trình phân định thiêng liêng cộng đoàn, chứ không phải một kế hoạch quản trị kiểu doanh nghiệp.
f. Định hướng và huấn luyện căn bản
Đối với các thành viên mới hoặc các bên tham gia bên ngoài, cần có định hướng căn bản về:
– căn tính, sứ mạng, đặc sủng,
– lịch sử và cơ cấu cộng đoàn.
Quan trọng hơn, cần có huấn luyện về phân định cộng đoàn, đặc biệt là các phương pháp đối thoại thiêng liêng (như Spiritual Conversation), để mọi người có thể tham gia với thái độ và kỹ năng phù hợp.
g. Cầu nguyện cộng đoàn
Cuối cùng, tiến trình hoạch định cần được đặt trọn trong đời sống cầu nguyện của cộng đoàn. Có thể soạn một lời cầu nguyện chung và sử dụng xuyên suốt tiến trình, để xin ơn:
– chân thành,
– tự do nội tâm,
– can đảm và quảng đại,
– cởi mở với Chúa Thánh Thần và với nhau,
– và sinh hoa trái trong sứ vụ.
Kết luận mục vụ
Giai đoạn chuẩn bị giúp cộng đoàn đặt nền móng vững chắc cho toàn bộ tiến trình hoạch định mục vụ. Khi được chuẩn bị kỹ lưỡng trong cầu nguyện, lắng nghe và phân định, cộng đoàn không chỉ lập được một kế hoạch tốt, nhưng còn được biến đổi trong hiệp thông và sứ vụ.
3. Bảy bước tiến hành khi lập kế hoạch mục vụ
Bước 1 – Nhận diện hoàn cảnh hiện tại
Khởi đi từ thực tại với cái nhìn đức tin
Tiến trình lập kế hoạch mục vụ không bắt đầu bằng các bảng thống kê hay phân tích kỹ thuật, nhưng khởi đi từ một cái nhìn trung thực, lắng nghe và đầy yêu thương về thực tại mà cộng đoàn đang sống. Theo linh đạo I-nhã, đây là việc “chiêm ngắm thực tại với một cái nhìn dài lâu và yêu thương”.
Thực tại của một cộng đoàn hay một tổ chức không chỉ là những con số. Đó còn là con người, các mối tương quan, bầu khí tinh thần, những niềm vui và nỗi buồn, các thao thức, trực giác thiêng liêng, những chuyển động nội tâm của Thánh Thần. Vì thế, phân định cộng đoàn khởi đi bằng việc lắng nghe kinh nghiệm sống của từng người, để cùng nhau nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện và hoạt động thế nào trong đời sống chung.
Ở bước đầu này, mỗi thành viên được mời gọi quay vào nội tâm, nhìn lại kinh nghiệm gần đây của mình trong cộng đoàn:
– Tôi đã sống và cảm nhận cộng đoàn ra sao?
– Những điều gì đem lại an ủi, niềm vui, lòng biết ơn?
– Những điều gì gây nặng nề, mệt mỏi, bất an?
– Đâu là những ánh sáng và đâu là những bóng tối cần được chú ý?
Những cảm xúc, thao thức và kinh nghiệm cá nhân ấy không phải là yếu tố phụ, nhưng là những dấu chỉ quan trọng giúp cộng đoàn nhận ra điều Thiên Chúa đang mời gọi hoán cải, chữa lành hoặc canh tân.
Sau thời gian cầu nguyện và suy tư cá nhân, các thành viên chia sẻ trong những nhóm nhỏ, theo phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần, để lắng nghe nhau trong bầu khí tôn trọng, khiêm tốn và mở ra cho Thánh Thần. Việc chia sẻ sớm những cảm xúc và kinh nghiệm giúp giải tỏa những căng thẳng tiềm ẩn, tạo nên tự do nội tâm, và giúp cộng đoàn sẵn sàng bước vào các bước phân định tiếp theo.
Các hoa trái của việc chia sẻ được tổng hợp và phổ biến lại cho toàn thể cộng đoàn, không như những kết luận đóng kín, nhưng như một bức tranh chung về thực tại đang dần hiện ra. Chính từ bức tranh này, tiến trình phân định mục vụ sẽ tiếp tục được triển khai cách sâu xa và trung thực hơn.
Như Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở, phân định đích thực không nhằm tránh né khác biệt hay xung đột, nhưng can đảm đi xuyên qua thực tại, để Thánh Thần dẫn đưa cộng đoàn đến một sự hiệp nhất mới, sâu hơn và trưởng thành hơn.
Bước 1, vì thế, không chỉ là một bước kỹ thuật, nhưng là một kinh nghiệm thiêng liêng nền tảng: học nhìn thực tại bằng con mắt đức tin, lắng nghe nhau bằng trái tim mục tử, và cùng nhau mở ra cho hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cụ thể của cộng đoàn hôm nay.
Bước 2 – Đọc lại lịch sử của nhóm dưới ánh sáng hồng ân
Nhận ra Thiên Chúa đã và đang đồng hành
Sau khi cộng đoàn đã can đảm nhìn thẳng vào hoàn cảnh hiện tại, bước kế tiếp của tiến trình phân định là quay nhìn quá khứ, không phải với thái độ hoài niệm hay phê phán, nhưng với con mắt đức tin và lòng biết ơn. Đây là bước đọc lại lịch sử dưới ánh sáng hồng ân.
Trong linh đạo I-nhã, việc nhớ lại lịch sử đời mình hay lịch sử cộng đoàn luôn gắn liền với câu hỏi nền tảng: Thiên Chúa đã hiện diện ở đâu? Ngài đã dẫn dắt chúng ta như thế nào?
Lịch sử của một giáo phận, một giáo xứ hay một cộng đoàn không chỉ là chuỗi các biến cố, nhưng là một lịch sử cứu độ cụ thể, nơi Thiên Chúa kiên nhẫn gieo hạt, nâng đỡ, sửa dạy và mở đường, ngay cả qua những giai đoạn khó khăn, khủng hoảng hay đổ vỡ.
Ở bước này, cộng đoàn được mời gọi nhớ lại những cột mốc quan trọng:
– những khởi đầu đầy nhiệt huyết,
– những giai đoạn tăng trưởng và sinh hoa trái,
– những thử thách, khủng hoảng, mất mát,
– những quyết định lớn đã định hình căn tính và hướng đi hôm nay.
Điều quan trọng không phải là kể lại lịch sử một cách đầy đủ, nhưng là nhận diện những kinh nghiệm đã mang lại sự sống, những khoảnh khắc mà cộng đoàn cảm nhận rõ ràng: “Chúa đã ở đó”.
Việc đọc lại lịch sử này được thực hiện trong bầu khí cầu nguyện và chia sẻ, thường qua các phương thế như:
– chia sẻ ký ức cá nhân gắn với cộng đoàn,
– lắng nghe những chứng từ của các thế hệ khác nhau,
– nhận ra những giá trị, trực giác và chọn lựa đã làm nên căn tính chung.
Qua việc chia sẻ, cộng đoàn dần nhận ra những dòng chảy ân sủng xuyên suốt lịch sử mình: những giá trị cốt lõi, những cách thế phục vụ đặc thù, những nhạy bén mục vụ mà Thánh Thần đã âm thầm hình thành qua thời gian.
Đồng thời, bước này cũng giúp cộng đoàn hòa giải với quá khứ: những sai lầm, những vết thương chưa được gọi tên, những giai đoạn bị gián đoạn. Khi được đặt trong ánh sáng hồng ân, quá khứ không còn là gánh nặng, nhưng trở thành nguồn khôn ngoan cho hiện tại và tương lai.
Hoa trái lớn nhất của Bước 2 là lòng biết ơn và sự khiêm tốn: biết ơn vì tất cả những gì đã được lãnh nhận, và khiêm tốn nhận ra rằng cộng đoàn không tự tạo nên chính mình, nhưng đã được Thiên Chúa dẫn dắt từng bước.
Chính từ nền tảng này, cộng đoàn mới có thể bước sang bước kế tiếp với một xác tín sâu xa hơn: Chúng ta không bắt đầu từ con số không, nhưng từ một lịch sử đã được Thánh Thần dệt nên.
Bước 3 – Tái khám phá căn tính và sứ mạng
Nhận ra chúng ta là ai và được sai đi để làm gì
Sau khi cộng đoàn đã nhìn thẳng vào hoàn cảnh hiện tại (Bước 1) và đọc lại lịch sử dưới ánh sáng hồng ân (Bước 2), tiến trình phân định bước sang một câu hỏi trung tâm và quyết định: Chúng ta là ai trước mặt Thiên Chúa, và Ngài đang sai chúng ta đi để làm gì hôm nay?
Căn tính không phải là một khẩu hiệu hay một định nghĩa trừu tượng, nhưng là cách một cộng đoàn hiểu chính mình trong mối tương quan sống động với Thiên Chúa, với nhau và với thế giới. Khi căn tính bị mờ nhạt, cộng đoàn dễ rơi vào tình trạng hoạt động nhiều nhưng thiếu định hướng; khi căn tính được tái khám phá, sứ mạng trở nên rõ ràng và sinh hoa trái.
Ở bước này, cộng đoàn được mời gọi lắng nghe lại những trực giác căn bản đã làm nên chính mình:
– Những giá trị nào đã luôn được trân trọng và bảo vệ?
– Điều gì đã khiến cộng đoàn tồn tại và gắn bó qua bao thăng trầm?
– Đâu là “linh hồn” của cộng đoàn mà nếu đánh mất, cộng đoàn không còn là chính mình?
Việc tái khám phá căn tính luôn gắn liền với sứ mạng, bởi căn tính Kitô giáo không bao giờ khép kín nơi chính mình, nhưng luôn mang chiều kích được sai đi. Sứ mạng không chỉ là những công việc đang làm, nhưng là lý do sâu xa khiến cộng đoàn hiện diện trong bối cảnh cụ thể hôm nay.
Trong bầu khí cầu nguyện và chia sẻ theo phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần, cộng đoàn được mời gọi lắng nghe:
– Lời Chúa soi sáng căn tính và sứ mạng như thế nào?
– Những kinh nghiệm mục vụ nào trong quá khứ đã bộc lộ rõ nhất “chúng ta là ai”?
– Trước những thách đố hiện nay, đâu là sứ mạng mà nếu không thực hiện, cộng đoàn sẽ phản bội chính căn tính của mình?
Điều quan trọng ở bước này không phải là viết ra một tuyên bố thật hay, nhưng là đạt tới một cảm thức chung (common spiritual sense) về căn tính và sứ mạng. Khi Thánh Thần hoạt động, cộng đoàn thường nhận ra:
– một số ưu tiên cần được giữ vững,
– một số hoạt động tuy tốt nhưng không còn phản ánh căn tính cốt lõi,
– và những hướng đi mới đang dần hé mở.
Hoa trái của Bước 3 là sự hội tụ nội tâm: các thành viên bắt đầu nhìn cùng một hướng, nói cùng một ngôn ngữ thiêng liêng, và chia sẻ cùng một thao thức truyền giáo. Chính sự hội tụ này tạo nên nền tảng vững chắc để cộng đoàn bước sang bước kế tiếp: đọc các dấu chỉ của thời đại và phân định xem sứ mạng ấy cần được sống cụ thể ra sao trong hoàn cảnh hôm nay.
Nói cách khác, Bước 3 giúp cộng đoàn có thể xác tín: Chúng ta biết mình là ai – và vì thế, chúng ta biết mình không thể làm mọi sự, nhưng phải làm điều Thiên Chúa mời gọi.
Bước 4 – Suy xét các dấu chỉ của thời đại
Nhận ra Thiên Chúa đang nói gì với cộng đoàn qua bối cảnh hôm nay
Sau khi cộng đoàn đã ý thức rõ hoàn cảnh hiện tại (Bước 1), nhận ra lịch sử hồng ân (Bước 2), và tái khám phá căn tính cùng sứ mạng (Bước 3), tiến trình phân định bước vào một chiều kích hướng ngoại quan trọng: lắng nghe thế giới hôm nay như nơi Thiên Chúa đang lên tiếng.
“Suy xét các dấu chỉ của thời đại” không phải là phân tích xã hội thuần túy, cũng không phải là chạy theo xu hướng hay dư luận, nhưng là đọc thực tại bằng con mắt đức tin, với xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang hoạt động trong lịch sử, trong những biến chuyển của xã hội, văn hóa và con người.
Ở bước này, cộng đoàn được mời gọi nhìn thẳng vào bối cảnh cụ thể mà mình đang hiện diện và phục vụ:
– Những thay đổi xã hội, kinh tế, văn hóa nào đang tác động mạnh đến đời sống con người?
– Những đau khổ, khát vọng, bất an hay hy vọng nào đang nổi bật nơi dân chúng, đặc biệt nơi người trẻ, gia đình, người nghèo và những người bên lề?
– Đâu là những thách đố mới đặt ra cho đời sống đức tin và sứ vụ của Giáo hội?
Việc suy xét các dấu chỉ của thời đại đòi hỏi một thái độ khiêm tốn và lắng nghe, bởi cộng đoàn không đến để phán xét thế giới, nhưng để nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa đang vang lên qua chính những thực tại phức tạp và đôi khi đầy mâu thuẫn ấy.
Trong phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần, cộng đoàn không vội đưa ra giải pháp, nhưng dành thời gian:
– lắng nghe kinh nghiệm sống của các thành viên,
– lắng nghe tiếng nói của những người trực tiếp chịu tác động của hoàn cảnh,
– và lắng nghe những chuyển động nội tâm phát sinh khi đối diện với các thực tại ấy trong ánh sáng Lời Chúa.
Qua tiến trình này, cộng đoàn dần nhận ra rằng các dấu chỉ của thời đại vừa là thách đố, vừa là cơ hội. Nơi đó có thể xuất hiện:
– những lời mời gọi hoán cải (điều gì cần thay đổi trong cách sống và phục vụ?),
– những lời mời gọi dấn thân mới (điều gì đang bị bỏ quên?),
– và cả những lời cảnh báo (điều gì có nguy cơ làm lệch hướng sứ mạng?).
Hoa trái của Bước 4 không phải là một bản báo cáo xã hội, nhưng là một cái nhìn chung được soi sáng bởi Thánh Thần, giúp cộng đoàn hiểu rõ hơn nơi nào đang cần sự hiện diện và chứng tá của mình hôm nay.
Chỉ khi lắng nghe nghiêm túc các dấu chỉ của thời đại, cộng đoàn mới có thể bước sang bước kế tiếp với sự tự do nội tâm: nhận diện lời mời gọi cụ thể của Thiên Chúa cho thời điểm hiện tại, thay vì chỉ tiếp tục những gì đã quen làm trong quá khứ.
Bước 5 – Nhận diện lời mời gọi của Thiên Chúa cho hoàn cảnh hiện tại
Phân định điều Thiên Chúa đang mời gọi cộng đoàn thực hiện hôm nay
Sau khi cộng đoàn đã lắng nghe thực tại hiện tại, lịch sử hồng ân, căn tính và sứ mạng, cũng như các dấu chỉ của thời đại, tiến trình lập kế hoạch mục vụ đi vào trung tâm của phân định thiêng liêng: nhận ra Thiên Chúa đang mời gọi cộng đoàn làm gì – vào lúc này – trong hoàn cảnh cụ thể này.
Đây không phải là bước “đề ra kế hoạch” theo nghĩa kỹ thuật, nhưng là một hành vi đức tin. Cộng đoàn tin rằng Thiên Chúa không chỉ hiện diện trong quá khứ hay lý tưởng, nhưng đang sống động và lên tiếng trong hiện tại, qua Thánh Thần.
Ở bước này, cộng đoàn được mời gọi quy tụ tất cả những gì đã được lắng nghe ở các bước trước, và đặt chúng trước mặt Chúa trong cầu nguyện và thinh lặng. Câu hỏi trung tâm không còn là:
– Chúng ta muốn làm gì? hay Chúng ta có khả năng làm gì?
mà là:
– “Thiên Chúa đang mời gọi chúng ta điều gì, cho thời điểm này?”
Việc nhận diện lời mời gọi của Thiên Chúa đòi hỏi một tự do nội tâm sâu xa. Cộng đoàn cần can đảm:
– buông bỏ những dự án quen thuộc nhưng không còn sinh hoa trái,
– vượt qua những nỗi sợ thay đổi,
– và sẵn sàng đón nhận những lời mời gọi mới mẻ, dù chưa hoàn toàn rõ ràng hay chắc chắn.
Trong phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần, cộng đoàn không tìm kiếm thật nhiều ý tưởng, nhưng chú ý đến:
– những chuyển động nội tâm chung (bình an, ánh sáng, niềm vui, hy vọng),
– những xác tín lặp đi lặp lại trong lời chia sẻ của nhiều người,
– và sự hội tụ dần dần quanh một vài hướng đi nổi bật.
Lời mời gọi của Thiên Chúa thường mang những đặc điểm sau:
– phù hợp với căn tính và sứ mạng của cộng đoàn,
– đáp lại một nhu cầu thực sự của con người và xã hội,
– khơi dậy sự sống và hy vọng, dù có thể đòi hỏi hy sinh,
– và mời gọi cộng đoàn bước đi cùng nhau, chứ không chia rẽ.
Hoa trái của Bước 5 không phải là một bản kế hoạch chi tiết, nhưng là một sự đồng thuận thiêng liêng: cộng đoàn cùng cảm nhận rằng “đây là con đường Chúa đang mở ra cho chúng ta lúc này.” Sự đồng thuận này không nhất thiết là sự đồng ý tuyệt đối, nhưng là một sự hiệp nhất đủ sâu để có thể cùng nhau bước tiếp trong tín thác.
Chỉ khi lời mời gọi của Thiên Chúa được nhận diện rõ ràng, cộng đoàn mới có thể bước sang bước kế tiếp: đáp lại bằng những hành động cụ thể, không phải như một chiến lược thuần túy, nhưng như một hành trình vâng phục trong đức tin.
Bước 6 – Đáp ứng bằng hành động cụ thể
Từ phân định thiêng liêng đến dấn thân mục vụ
Sau khi cộng đoàn đã nhận diện được lời mời gọi của Thiên Chúa cho hoàn cảnh hiện tại, tiến trình lập kế hoạch mục vụ bước sang một giai đoạn quyết định: đáp lại lời mời gọi ấy bằng những hành động cụ thể, khả thi và hiệp hành.
Bước này không nhằm biến phân định thành một bản kế hoạch nặng tính kỹ thuật, nhưng giúp cộng đoàn diễn tả sự vâng phục trong đức tin bằng những chọn lựa thực tế. Nói cách khác, đây là bước chuyển từ “nghe Chúa nói” sang “bước đi theo điều Chúa mời gọi”.
Trong linh đạo hiệp hành, hành động mục vụ không xuất phát từ áp lực phải “làm cho nhiều”, nhưng từ một xác tín nội tâm chung: chúng ta đang cùng nhau đáp lại điều Thiên Chúa muốn. Vì thế, điều quan trọng không phải là số lượng hoạt động, mà là sự trung thành với hướng đi đã được phân định.
Ở Bước 6, cộng đoàn được mời gọi trả lời một cách đơn giản nhưng rõ ràng các câu hỏi:
– Chúng ta được mời gọi làm điều gì cụ thể trong thời gian sắp tới?
– Đâu là 2–3 ưu tiên mục vụ phản ánh trung thực lời mời gọi của Chúa?
– Ai sẽ cùng chịu trách nhiệm, và bằng cách nào chúng ta bước đi với nhau?
Các hành động được chọn nên mang những đặc điểm sau:
– Phù hợp với căn tính và sứ mạng của cộng đoàn;
– Khả thi, tương xứng với nhân sự và nguồn lực hiện có;
– Mang tính hiệp hành, nghĩa là khuyến khích sự tham gia và đồng trách nhiệm;
– Hướng ra sứ vụ, đặc biệt chú ý đến những người yếu thế, bị lãng quên, hoặc những nhu cầu cấp thiết của thời đại.
Phương pháp Đối thoại trong Thánh Thần tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong bước này. Các quyết định không được đưa ra bằng tranh luận hay bỏ phiếu vội vã, nhưng qua:
– cầu nguyện chung,
– thinh lặng,
– lắng nghe nhau,
– và tìm kiếm sự đồng thuận thiêng liêng.
Nhờ đó, cộng đoàn tránh được hai cám dỗ thường gặp:
– một là hoạt động quá nhiều nhưng thiếu định hướng thiêng liêng,
– hai là phân định rất sâu nhưng không dám hành động.
Hoa trái của Bước 6 là một hướng hành động rõ ràng, được cộng đoàn đón nhận trong bình an và tín thác. Những hành động này không phải là điểm kết thúc, nhưng là những bước đầu tiên trên con đường mà Thiên Chúa đang mở ra, luôn cần được theo dõi, lượng giá và điều chỉnh trong ánh sáng của Thánh Thần.
Chính vì thế, tiến trình hiệp hành không khép lại ở hành động, nhưng tiếp tục với Bước 7: duyệt lại và lượng giá hành trình, để cộng đoàn không ngừng học cách bước đi với Chúa và với nhau.
Bước 7 – Duyệt lại tiến trình
Duyệt lại tiến trình để phân định và tiếp tục bước đi theo sự hướng dẫn của Thánh Thần
Bước cuối cùng của tiến trình lập kế hoạch mục vụ không phải là kết thúc, nhưng là mở ra một chu kỳ phân định mới. Việc duyệt lại tiến trình giúp cộng đoàn nhìn lại hành trình đã đi qua với ánh mắt đức tin, để nhận ra Thánh Thần đã hoạt động thế nào, và cộng đoàn đã đáp lại ra sao.
1) Duyệt lại không chỉ là đánh giá kỹ thuật
Việc duyệt lại không đơn thuần là kiểm tra xem các mục tiêu đã hoàn thành hay chưa, nhưng trước hết là một hành vi thiêng liêng. Cộng đoàn được mời gọi tự hỏi:
– Chúng ta có thực sự trung thành với căn tính và sứ mạng đã phân định không?
– Các chọn lựa mục vụ có dẫn chúng ta đến sự hiệp thông sâu xa hơn và sứ vụ rõ nét hơn không?
– Chúng ta có để Thánh Thần tiếp tục hướng dẫn hay đã rơi vào thói quen máy móc?
2) Duyệt lại trong tinh thần tạ ơn và khiêm tốn
Tiến trình duyệt lại cần được thực hiện trong bầu khí cầu nguyện, với thái độ tạ ơn vì những hoa trái đã sinh ra, đồng thời khiêm tốn nhìn nhận những giới hạn, thiếu sót và những điều chưa thực hiện được. Chính trong sự thật và khiêm nhường ấy, Thánh Thần tiếp tục thanh luyện và uốn nắn cộng đoàn.
3) Những câu hỏi phân định cốt lõi
Việc duyệt lại tiến trình thường xoay quanh một số câu hỏi đơn giản nhưng sâu sắc:
– Điều gì trong kế hoạch đã thực sự mang lại sự sống cho cộng đoàn?
– Điều gì chưa phù hợp với hoàn cảnh hoặc khả năng hiện tại?
– Có những dấu chỉ mới nào của thời đại hoặc của Thánh Thần mà chúng ta cần lưu ý?
4) Duyệt lại để tiếp tục lên đường
Kết quả của việc duyệt lại không nhằm kết luận hay khép lại, nhưng giúp cộng đoàn điều chỉnh hướng đi, làm mới các ưu tiên, và bước vào giai đoạn kế tiếp với sự tự do nội tâm lớn hơn. Nhờ đó, tiến trình lập kế hoạch mục vụ trở thành một hành trình hiệp hành liên tục, chứ không phải một dự án ngắn hạn.
5) Một tiến trình luôn mở
Bước 7 nhắc nhớ rằng Hội thánh luôn là Dân lữ hành. Mỗi lần duyệt lại là một cơ hội để cộng đoàn học cách lắng nghe Thánh Thần sâu xa hơn, bước đi với nhau trung thực hơn, và trung thành hơn với sứ mạng Chúa trao phó trong từng hoàn cảnh cụ thể.
LỜI KẾT
Qua việc giới thiệu và tóm lược Phần II – Tiến trình hoạch định mục vụ của tập sách Welcoming the Spirit, Phần Tư liệu của Hiệp Thông số 152 không nhằm cung cấp một mô hình kỹ thuật hay một “công thức” mục vụ có sẵn, nhưng mong muốn gợi mở một lộ trình phân định cộng đoàn trong Thánh Thần, phù hợp với tinh thần của Hội thánh hiệp hành hôm nay.
Bảy bước của tiến trình hoạch định mục vụ được trình bày ở trên cho thấy: lập kế hoạch, trong nhãn quan Kitô giáo, trước hết là một hành trình thiêng liêng, trong đó cộng đoàn cùng nhau lắng nghe thực tại, đọc lại lịch sử dưới ánh sáng hồng ân, tái khám phá căn tính và sứ mạng, nhận diện các dấu chỉ của thời đại, và can đảm đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa bằng những chọn lựa cụ thể.
Trong bối cảnh Giáo hội Việt Nam đang bước vào giai đoạn thực hiện Thượng Hội đồng về Hiệp hành (2025–2028), lộ trình này có thể trở thành một khung tham chiếu mục vụ hữu ích, giúp các giáo phận, giáo xứ, hội dòng và cộng đoàn học cách bước đi với nhau, phân định với nhau và hành động với nhau trong Thánh Thần.
Phần Tư liệu này không khép lại một tiến trình, nhưng mở ra một lời mời gọi: mỗi cộng đoàn, tùy hoàn cảnh và nhịp sống riêng, hãy can đảm khởi sự hoặc canh tân việc hoạch định mục vụ của mình như một hành trình hiệp hành liên lỉ, trong cầu nguyện, đối thoại và lắng nghe.
Ước mong rằng, với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, tiến trình này sẽ góp phần giúp Hội thánh tại Việt Nam ngày càng trở nên hiệp thông hơn, phân định sâu hơn và dấn thân thừa sai mạnh mẽ hơn, để trung thành với Tin Mừng và đáp lại những thao thức của con người hôm nay.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 152 (tháng 3 & 4 năm 2026)
[1] Giáo lý Hội thánh Công giáo (Vatican City: Vatican Press, 2003), 1.
[2] Louis J. Puhl, The Spiritual Exercises of St. Ignatius: Based on Studies in the Language of the Autograph (Chicago: Loyola Press,1951).
[3] Eckhart Tolle, Practicing the Power of Now (Novato, CA: New World Library, 1999), 2.
[4] C. Otto Scharmer, Theory U: Leading from the Future as it Emerges (San Francisco: Berrett-Koehler, 2009), 10.
[5] Charles Taylor, A Secular Age (Cambridge: Belknap, Harvard University Press, 2007), 5-6.
[6] Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Novo Millenio Ineunte (Vatican City: Vatican Press, 2001), 29.
[7] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông huấn Niềm vui của Tin mừng - Evangelii Gaudium (hereafter EG) (Vatican City: Vatican Press, 2013), 279, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-niem-vui-cua-tin-mung-evangelii-gaudium-46656
[8] Rev. Fr. Arturo Sosa S.J., Letter to the Whole Society on Discernment in Common, 2017/11.
[9] Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay - Gaudium et spes (Vatican City: Vatican Press, 1965) (hereafter GS), 32, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hien-che-muc-vu-ve-giao-hoi-trong-the-gioi-ngay-nay--gaudium-et-spes-cua-cong-dong-vaticano-ii
[10] Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Caritas in Veritate (Vatican City: Vatican Press, 2009), 1.
[11] Rev. Fr. Arturo Sosa S.J., On Discernment in Common, 2017/11
[12] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Bài giảng tại Casa Santa Marta, ngày 07/5/2020.
[13] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (Vatican City: Vatican Press, 2015) (hereafter LS), 84, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thong-diep-laudato-si-cua-duc-giao-hoang-phanxico-ve-viec-cham-soc-ngoi-nha-chung-cua-chung-ta
[14] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông huấn Gaudete Exsultate (Vatican City: Vatican Press, 2018), 14, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-hay-vui-mung-hoan-hi-gaudete-et-exsultate-ve-on-goi-nen-thanh-trong-the-gioi-ngay-nay-51169
[15] Pontifical Council for Justice and Peace, Compendium of the Social Doctrine of the Church (Washington DC: USCCB Publishing, 2005), 38.
[16] Công đồng Vatican II, Hiến chế Tín lý về Giáo hội - Lumen gentium (Vatican City: Vatican Press, 1965) (hereafter LG), 5, 48, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hien-che-tin-ly-ve-giao-hoi--lumen-gentium-cua-cong-dong-vaticano-ii
[17] Xem “The Daily Examen,” https://www.ignatianspirituality.com/ignatianprayer/the-examen/.
