|
1. Bối cảnh lịch sử của bài vãn 3. Xác định thời điểm sáng tác bài vãn II. CÁC KHÍA CẠNH VĂN HỌC VÀ LỊCH SỬ 1. Sự hiện diện của Công giáo trong văn học dân tộc |
I. NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU
Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng từ khởi thủy công cuộc truyền giáo ở Việt Nam cho đến giữa thế kỷ 17, các tác phẩm thuộc văn học Công giáo Việt Nam đều là văn bản truyền miệng và văn bản Nôm.
Từ năm 1651 trở đi, các tác phẩm của cha Alexandre de Rhodes (1595-1660) đã gợi hứng và mở đường cho nền văn chương quốc ngữ. Một trong những tác phẩm đầu tiên này là Inê Tử Đạo Vãn, một bài vãn tự sự dài 561 câu kể lại cuộc tử đạo của Anê vào năm 1700 theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1723).
Thật khó để xác định tác giả và thời điểm sáng tác bài vãn này, hay đúng hơn là tìm được bản gốc. Bốn phiên bản bằng tiếng Việt, tiếng Latinh, tiếng Pháp và tiếng Anh mà chúng ta hiện biết được là nhờ Giám mục Taberd (1794-1840), in trong phần phụ lục của cuốn từ điển Latinh-Việt của ngài được xuất bản tại Bengal năm 1838.
1. Bối cảnh lịch sử của bài vãn
Các nhà nghiên cứu đã cho rằng Giám mục Taberd đã sử dụng bản thảo từ điển Anamitico – Latinum của Giám mục Pigneau de Béhaine (1771-1779) để hoàn thành quyển Dictionaire Anamitico – Latinum. Bản gốc của bản thảo này đã bị cháy vào năm 1778 trong vụ hỏa hoạn tại Chủng viện Truyền giáo Đàng Trong. Đức cha Taberd sử dụng một bản sao có niên đại 1772. Bản sao này được lưu giữ tại Văn khố Hội truyền giáo Nước ngoài Paris (MEP). A. Launay cho rằng Giám mục Taberd đã thay đổi rất ít trong tác phẩm gốc.[1] Điều này cho thấy bài vãn về cuộc tử đạo của Anê nằm trong số những tài liệu mà Giám mục Pigneau de Béhaine thu thập được. Dù sao đi nữa, khi Giám mục Taberd rời Việt Nam vào năm 1833, hẳn ngài đã mang theo trong hành trang văn chương của mình bản chép lại bài vãn bằng chữ Quốc ngữ, và điều này, nếu không phải nhờ công lao của Giám mục Pigneau de Béhaine, thì ít nhất cũng nhờ công lao của chính ngài hoặc của những cộng sự thân cận.
2. Đi tìm tác giả bài vãn
Cha Louvet cho rằng phiên bản gốc của bài vãn về cuộc tử đạo của Anê là tiếng Việt. Cha viết: “’Trong số những chứng nhân anh hùng này, không ai để lại ký ức sống động như một phụ nữ tên là Anê, người đã dũng cảm chịu đựng thử thách cùng với một số người thân của mình. Một nhà thơ Kitô giáo đã viết về nỗi khổ đau của Bà bằng những vần thơ tuyệt đẹp, và ngay cả ngày nay, chúng ta vẫn có thể nghe câu chuyện cảm động về cái chết của Bà Anê và những người cùng đau khổ với Bà được đọc trong các trường học hoặc hát trong các giờ kinh gia đình vào buổi tối“.[2]
Phải chăng nhà thơ Kitô giáo này là một trong những thầy giảng hay linh mục Việt Nam đã chứng kiến biến cố thương đau này trong lịch sử Giáo hội Việt Nam? Dù sao đi nữa, tác giả hẳn phải là một Kitô hữu cùng thế hệ với Bà Anê và cùng sinh sống ở vùng Đàng Trong như Bà, tức là vùng đất phía Nam do chúa Nguyễn cai quản.
Giả định này dựa trên những cân nhắc về mặt xã hội học và văn học. Theo một truyền thống tốt đẹp, các nhà thơ không bao giờ ngừng sáng tác những tác phẩm văn học lấy cảm hứng từ những sự kiện thời sự mà họ quan tâm. Cuộc tử đạo của Bà Anê quả thực là một chủ đề tuyệt vời cho văn học khai sáng. Tính xác thực của câu chuyện và sức mạnh kịch tính của nó khẳng định rằng bài vãn là sự ngưỡng mộ của một tác giả Kitô giáo được truyền cảm hứng mạnh mẽ bởi danh hiệu tử đạo vinh quang này.
Thuật ngữ tôn giáo được sử dụng trong bài vãn là thuật ngữ của những thế hệ Công giáo Việt Nam đầu tiên. Thử xem thuật ngữ Phapha (đức giáo hoàng) được sử dụng trong lá thư mà Đức giám mục gửi cho cha Laurent:
Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt,
Pha pha chính tước, Thầy cả Vít vồ, (221-222)
Thuật ngữ “Pha pha” cũng được tìm thấy trong một bài dân ca ngắn có niên đại từ thời cha Alexandre de Rhodes, một trong những người truyền giáo thành công thuộc thế hệ đầu tiên ở Đàng Ngoài. Cùng với Pierre Marquez, ngài đã cập bến Cửa Bạng, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19 tháng 3 năm 1627, ngày lễ Thánh Giuse. Trong hai tháng rao giảng, ngài đã thành công trong việc thành lập một cộng đồng Kitô giáo gồm 200 người bản xứ ở vùng cảng này và cũng từ vùng An Vực, nơi nhà thờ đầu tiên của vùng truyền giáo được xây dựng, nằm rất gần cửa biển Thần Phù. Những dữ liệu lịch sử này là cần thiết để hiểu câu dân ca phổ biến của giáo dân Đàng Ngoài: Thứ nhất đền Thánh Phapha, Thứ nhì Cửa Bạng, Thứ ba Thần Phù.[3]
Những thuật ngữ cổ xưa đó chứng minh rằng tác giả là thế hệ của Bà Anê. Ví dụ, động từ thìn (tự chủ, giữ) được sử dụng trong những câu thơ này:
Anh thì ở lại chớ sờn,
Thìn lòng giữ đạo chẳng hơn cũng tày, (Câu 283-284).
Trong ngôn ngữ hiện đại, từ thìn đã biến mất. Từ thìn được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm trước thế kỷ 19, ví dụ như trong Quốc âm thi tập (Tuyển tập thơ bằng chữ Nôm) của Nguyễn Trãi (1380-1442): Lòng xuân nhẫn động ắt không thìn (Làm sao giữ được cảm xúc mùa xuân?).
Về nguồn gốc Đàng Trong của tác giả, chúng ta có thể chứng minh điều đó thông qua những từ ngữ và cách diễn đạt đặc trưng của phương ngữ phổ thông vùng phía Nam Đàng Trong. Trong những câu thơ sau, đam, dưng và nhơn đoan lần lượt là các biến thể ngôn ngữ Đàng Trong của đem/đam (apporter), dâng/dưng (offrir), và nhân duyên/nhơn duyên (lien d’amour):
Sáu người huynh đệ mới toan,
Đồng Nai tới rước tài quan đam về. (71-72)
Hạnh nầy thì đã phân minh,
Xem cho tường tận dưng kinh nguyện cầu. (553-554)
Kể từ định chốn nhơn đoan,
Mát cô là hiệu phụng loan kết nghì. (35-36)
Bên cạnh tất cả những lập luận rút ra từ nghiên cứu ngữ văn của bài vãn, cần bổ sung những lập luận liên quan đến cấu trúc tác phẩm và nhịp điệu của nó. Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du (1765-1820) đánh dấu thành tựu đỉnh cao của thể thơ lục bát. Trong các tác phẩm ở giai đoạn trước kiệt tác này, chúng ta nhận thấy việc sử dụng một số phương thức làm thơ và liên quan đến thể thơ lục bát, những điểm không hoàn hảo trong cách sắp xếp nhịp điệu và cách sắp xếp vần điệu. Những nhận xét này áp dụng cho bài vãn về Bà Anê và cho phép chúng ta đặt nó vào giai đoạn trước kiệt tác của Nguyễn Du.
Thật vậy, trong số 561 câu thơ, có 458 câu được viết theo nhịp điệu được gọi là “lục bát”. Bốn đoạn văn được viết theo quy tắc văn xuôi nhịp điệu (nói lối) chiếm 103 câu. Đây là bản cáo trạng kết tội Bà Anê, được viết bằng chữ Hán (văn bản hành chính) theo cấu trúc của qui định pháp lý cũ; bức thư của Giám mục gửi cho cha Laurent và hai bức thư của Bà Anê gửi cho các thành viên trong gia đình. Mặt khác, bài vãn bắt đầu bằng hai câu thơ dài theo thể song thất lục bát:
Tượng điềm lành từ Canh thân Hán,
Chúa ra đời giáng đản chúng dân. (1-2)
Sự hiện diện khác thường của cặp thơ bảy chữ này thường thấy trong các bài vãn tự sự mà nhịp thơ được gọi là “lục bát” vẫn chưa đạt đến sự hoàn hảo, chẳng hạn như Gia huấn ca (Bài ca giáo dục gia đình) của Nguyễn Trãi (1380-1442), Bài hát mừng làng (Bài ca ngợi làng) của Lê Đức Mao (1462-1527), đó chỉ là một vài ví dụ nổi tiếng nhất.
Về nhịp điệu của bài vãn theo cấu trúc gọi là “lục bát”, nó được tạo ra theo cách này: hai âm bình kế sau là hai âm trắc và tiếp theo hai âm bình (BB-TT-BB). Một sự dung sai cũng cho phép nhấn mạnh âm vần thứ nhất, thứ ba và thứ năm một cách không đáng kể. Tuy nhiên, trong các bài thơ ở giai đoạn trước kiệt tác của Nguyễn Du, những quy tắc này không phải lúc nào cũng được tôn trọng, chẳng hạn câu thơ sau đây trích từ truyện ngụ ngôn “Truyện Trê Cóc”:
Được kiện cóc trở ra về
Trong bài vãn về Bà Anê:
Này đoạn trong ngục đã chày (482)
Các từ kiện và đoạn là từ mang âm không chuẩn theo cấu trúc, nên chúng có thể được thay thế bằng các từ có âm bình nếu chúng ta muốn giữ quy tắc âm điệu thông thường. Chúng ta cũng có thể rút ra kết luận tương tự bằng cách xem xét sơ đồ vần. Theo cái gọi là vần “lục bát”, từ cuối của câu lục phải vần với từ thứ sáu của câu bát tiếp theo. Từ quy tắc này, được áp dụng chặt chẽ trong kiệt tác của Nguyễn Du, suy ra rằng câu bát có hai vần, một vần được gọi là yêu vận, vần còn lại ở cuối dòng được gọi là cước vận. Quy tắc này không được áp dụng chặt chẽ trong các bài vãn giai đoạn trước tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh của Nguyễn-Du. Trong câu đối của Tứ thời khúc vịnh (Thơ biến tấu về Bốn mùa) của Hoàng Sĩ Khải, người nhận bằng tiến sĩ năm 1544, phụ âm được đặt ở vần thứ tư chứ không phải ở vần thứ sáu:
Đông thì tin lệnh mùa đông
Đã có lạnh lùng lại có dương xuân[4]
Những trường hợp giống hệt nhau về sự dịch chuyển âm phụ được ghi nhận trong vãn về Anê:
Vợ hiệu Sa ve là tên,
Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin. (9-10)
Táng cha thôi mới khởi trình
Mọi nỗi tâm tình dặn bảo I-nê (75-76)
Cuối cùng, từ “vãn” gắn liền với nhan đề bài vãn cho thấy nguồn gốc Đàng Trong của tác giả và thuộc cộng đoàn Công giáo. Trong văn chương truyền khẩu, các câu chuyện bằng thơ được gọi là “vè” hoặc “vãn” không nhất thiết được viết theo nhịp thơ được gọi là “lục bát”. Đào Duy Từ (1572-1634) đã làm cho thể loại thơ truyền khẩu này trở nên cao quý với các bài vãn Ngọa long cương vãn (Bài ca trên đồi rồng nằm) và Tư dung vãn (Bài ca ở cảng Tư-dung) được sáng tác hoàn toàn theo nhịp thơ được gọi là “lục bát”. Bài vãn đầu tiên, dài 136 câu, là một tác phẩm trữ tình mà ông sáng tác khi còn là một người chăn trâu ở làng Tùng Châu, phủ Hoài nhơn, nay là huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, trước khi ông phục vụ cho các chúa Nguyễn. Bài vãn thứ hai, dài 336 câu, ca ngợi vẻ đẹp kỳ diệu của cảng Tư Dung, nay là cảng Tư Hiền, Huế.
Trong văn học Công giáo Việt Nam, đôi khi vãn là những bài thánh ca đạo đức bình dân tôn vinh Đức Trinh Nữ (Vãn Đức Bà), đôi khi là những bài vãn tự sự dài. Các học giả, đặc biệt là những người ở miền Bắc, ít chuộng thuật ngữ vãn, nhưng chuộng thuật ngữ truyện có nguồn gốc học thuật. Các chuyên luận về thơ ca nghiên cứu cụ thể về thể loại vãn là tác phẩm của những người Công giáo. Đó là Compendium versificationis anamiticae – Lược bày niêm luật làm vãn làm thơ của Giám mục Taber[5] và Văn chương Annam – Litérature Annamite của Giám mục Hồ Ngọc Cẩn.[6] Cần lưu ý rằng thể “lục-bát” với sự hoàn hảo của nó, đó là kết quả của một quá trình tiến triển lâu dài.
3. Xác định thời điểm sáng tác bài vãn
Từ những điều trên, chúng ta thấy rằng bài vãn phải được sáng tác vào thế kỷ 18. Nếu người ca ngợi sự tử đạo của Anê thuộc thế hệ thế kỷ 19, tác giả sẽ không đề cập trong tác phẩm của mình những địa danh đã biến mất khỏi danh pháp địa lý và hành chánh chính thức và dĩ nhiên cũng không có trong ngôn ngữ của đời sống cư dân, cụ thể là các địa danh Diên Ninh và Bình Khương (Bình Khang), bị thay đổi lần lượt vào năm 1742 và 1803, và danh hiệu trấn thủ (nhà cầm quyền một trấn), chỉ được sử dụng cho đến năm 1832. Thực tế, trong bài vãn có viết rằng cha của Anê, được gọi là Charles, trong tôn giáo (tiếng Việt: Carôlô), xuất thân từ phủ Diên Ninh và thi hài của ông đã được đưa về đây để an táng:
Ca rô lô hiệu là người.
Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền. (câu 7-8)
Sáu người huynh đệ mới toan,
Đồng Nai tới rước tài quan đam về.
Dần dà cõi nọ xứ kia,
Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh, (câu 71-74)
Mặt khác, sau tang lễ, cha Laurent (tiếng Việt là Loren) rời khỏi nhà cha mình và đi thi hành sứ vụ ở vùng Bình Khương:
Anê bịn rịn dùng dằng,
Loren từ giã phăng phăng lại dời.
Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi. (câu 99-101)
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: “Bản triều, năm Quí Tị Thái tông thứ 5 (Nguyễn Phúc Tần) (1653), vua Chiêm Thành là Bà Bật lấn biên giới, bản triều sai Cai cơ Hùng Lộc Hầu (không rõ tên họ) đi đánh. Người Chiêm hàng, do đấy chiếm lấy đất từ sông Phan Rang trở về phía đông đến địa giới Phú Yên, đặt 2 phủ (Thái Khang và Diên Ninh) và 5 huyện (Thái Khang lãnh 2 huyện Quảng Phúc và Tân Định, Diên Ninh lãnh 3 huyện Phúc Điền, Vĩnh Xươngx Hoa Châu); lại đặt dinh Thái Khang. Năm Canh Ngọ Anh Tông thứ 3 (1690), đổi phủ Thái Khang làm phủ Bình Khang. Năm Nhâm Tuất Thế Tông thứ 4 (1742), đổi phủ Diên Ninh làm phủ Diên Khánh, lại đem đất 2 phủ Bình Khang và Diên Khánh đặt dinh Bình Khang. Năm Quí Tị Duệ Tông thứ 9 (1773) bị Tây Sơn chiếm cứ. Năm Quí Sửu (1783) Thế Tổ Cao Hoàng Đế lấy lại được đất này, lại gọi là dinh Bình Khang, đặt các chức lưu thủ, cai bạ và kí lục, lại đắp thành Diên Khánh, sai đại thần trấn thủ. Năm Gia Long thứ 2 (1803) đổi dinh Bình Khang làm dinh Bình Hoà, đổi phủ Bình Khang làm phủ Bình Hoà. Năm thứ 7, đổi dinh Bình Hoà làm trấn Bình Hoà. Năm Minh Mệnh thứ 12, đổi phủ Bình Hòa làm phủ Ninh Hòa. Năm thứ 13 chia tỉnh hạt gọi là tỉnh Khánh Hòa; đặt hai ti bố chánh, án sát, dưới quyền tuần phủ Thuận – Khánh, lại gồm huyện Hoa Châu vào huyện Phúc Điền. Nay lãnh 2 phủ, 4 huyện.”[7]
Những chỉ dẫn từ dữ liệu lịch sử vùng đất này cho thấy sự trùng khớp lịch sử tên gọi hành chính được đề cập trong bài vãn. Tác giả chỉ rõ rằng phiên tòa xét xử Bà Anê được quyết định theo lệnh của một vị quan gọi là trấn thủ (nhà cầm quyền một trấn), và được hỗ trợ bởi một vị quan tòa gọi là Ông Nghè (nghĩa đen là Tiến sĩ, một danh hiệu dành riêng cho các quan lại dân sự có học thức).
Lên Dinh trấn thủ chường thưa,
Trạng Bày sau trước, trình thưa cáo rằng. (câu 115-116)
Ông nghè mới hỏi vân vi (141)
Quan trên trấn thủ truyền ra,
Ông nghè mới dạy chớ tha loài nầy. (356-357)
Trước cuộc cải cách hành chính do vua Minh Mạng ban hành, chức Trấn thủ được hỗ trợ bởi hai vị quan, lần lượt là Cai bạ (người kiểm soát sổ địa chính) và Ký lục (người phụ trách thư ký). Tổ chức này được chính thức thiết lập vào năm 1744 bởi chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Dưới thời Tây Sơn (1788-1802), Trấn thủ được tăng cường bởi một Hiệp trấn (phó quan trấn thủ). Dưới triều vua Gia Long (1802-1820) và cho đến năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng (1820-1840), Trấn thủ còn được gọi là Lưu trấn (chức quan trông coi trấn biên cương) và được hỗ trợ bởi một Cai bạ và một Ký lục như thời các chúa Nguyễn.[8]
Chúng ta còn phải xác định vị quan tòa được gọi là Ông nghè trong bài vãn. Trong tác phẩm Người chứng thứ nhất (Vị Tử Đạo Đầu Tiên), Phạm Đình Khiêm đã chứng minh một cách hoàn hảo rằng vị quan được cha Alexandre de Rhodes gọi là “Onghebo” và chịu trách nhiệm về việc kết án Thầy giảng Anrê Phú Yên năm 1644, chính là Cai bạ, phó thứ nhất của thống đốc Quảng Nam. Lập luận của Phạm Đình Khiêm có giá trị tương tự đối với trường hợp Ông nghè, người đã kết án Bà Anê chết đói vào năm 1700.[9]
Cách viết “Ông nghè” được thay đổi tùy theo cách ký âm mà các nhà truyền giáo đã tạo ra hoặc áp dụng: Cha Christoforo Borri, (1583-1632), người đã sống tại Cư sở Nước Mặn, Đàng Trong, từ năm 1618 đến năm 1622, ký âm “Omgne“; Cha Alexandre de Rhodes, người đã chứng kiến tận mắt cuộc tử đạo của Thầy giảng André Phú Yên, ký âm “Ounghé, Onghebo“; “Oũ nghe Bo” là ký âm của cha Philippe Bỉnh, Dòng Tên người Việt Nam, vào năm 1822, người đã biên soạn quyển lịch sử quý giá về Việt Nam có tựa đề Truyện nước Annam Đàng Ngoài chí Đàng Trão (Trong), trong thời gian cha ở tại Lisbon. Vì Cai bạ cũng được phát âm là Cai bộ và thông tin do cha Alexandre de Rhodes cung cấp cho thấy rằng đó không phải là Trấn thủ hay Ký lục, mà chính Cai bạ, nhân vật chính thứ hai của Dinh Quảng Nam, nhân danh Trấn thủ và thay cho Ký lục đã chủ tọa phiên tòa xét xử Thầy Anrê Phú Yên.
Trở lại với bài vãn của chúng ta, ta có thể kết luận rằng tác giả đã dùng danh xưng Ông nghè, thịnh hành thời bấy giờ, để chỉ Cai bạ, người thực hiện chức năng thẩm phán theo lệnh của Trấn thủ. Việc xem xét các danh xưng chính thức này và các địa danh Diên Ninh và Bình Khang cho phép ta xác định được giai đoạn sáng tác của bài vãn. Giai đoạn từ cuộc bách hại năm 1700 đến việc đổi tên Bình Khang thành Bình Hòa năm 1803.
II. CÁC KHÍA CẠNH VĂN HỌC VÀ LỊCH SỬ
Như chúng ta đã thấy, cuộc bách hại năm 1700 là nguồn gốc của một tác phẩm nghệ thuật được phổ biến rộng rãi vào thế kỷ 18 trong cộng đồng Công giáo Việt Nam trước khi được in ấn vào thế kỷ sau. Vào thời điểm mà ảnh hưởng của văn học nhân sinh quan Trung Hoa chiếm ưu thế nhưng không làm giảm đi tính độc đáo của văn học và tư tưởng Việt Nam. Bài vãn về cuộc tử đạo của Bà Anê đã chứng tỏ một định hướng văn học mới. Do đó, việc làm nổi bật sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một thời điểm và khía cạnh văn học của nó là điều thích hợp.
1. Sự hiện diện của Công giáo trong văn học dân tộc
Từ góc nhìn lịch sử, chúng ta thử làm sáng tỏ thông điệp của tác phẩm được sáng tác này. Cùng với rất nhiều tác phẩm khác, nó chứng minh rằng người Công giáo Việt Nam đã và đang nỗ lực thúc đẩy một nền văn học Công giáo vừa mang tính dân tộc vừa cởi mở với các giá trị phổ quát của đạo Chúa Kitô. Giáo hội không bị ràng buộc với bất kỳ nền văn hóa nào nhưng phải hoạt động thông qua sự trung gian của mỗi nền văn hóa để truyền tải thông điệp yêu thương và hòa bình. Sự hiệp nhất của con người trong Chúa Kitô không phải là sự đồng nhất làm lu mờ tính độc đáo văn hóa của các dân tộc. Mỗi ngôn ngữ đều sở hữu độc đáo riêng và thể hiện thông điệp của Chúa Kitô theo cách riêng của mình. Tác giả của Bài vãn đã tái hiện điều đó trong phạm vi đặc thù của chữ Quốc ngữ.
Vấn đề thuật ngữ Công giáo Việt Nam đã phát sinh từ thế kỷ 17.[10] Phiên âm các thuật ngữ trong các ngôn ngữ phương Tây là giải pháp chấp nhận được cho tên riêng. Hiện nay, cũng giống như trong bài vãn về cuộc tử đạo của Bà Anê, viết Inê (Anê), Loren (Laurent), Mátcô (Marc), Save (Elisabeth), Duminh (Dominique).
Nhưng phương pháp này tỏ ra không đủ khi nói đến các khái niệm liên quan đến khoa học tôn giáo. Các thuật ngữ Phapha (Giáo hoàng) và Thầy cả Vitvồ (Đại diện Tông tòa) mà tác giả bài vãn sử dụng đã không còn tồn tại và đã được thay thế bằng Đức Thánh Cha và Giám mục đại diện Tông tòa.
Công lao của tác giả nằm ở nỗ lực tạo ra các thuật ngữ diễn đạt thông qua hình ảnh, theo đúng tinh hoa của tiếng Việt những gì thể hiện rõ ràng trong đời sống Kitô giáo ở phương Tây. Việc truyền chức Linh mục là bí tích ban cho người Kitô hữu danh hiệu bậc thầy, như lời diễn đạt chức đang nên thầy đã nói theo nghĩa đen:
Phú dâng cho Chúa mặc làm.
Học hành thông suốt, chức đang nên thầy; (15-16)
Linh mục, với tư cách là mục tử của các linh hồn, ngày nay được gọi là linh mục. Vì không tìm được thuật ngữ này, tác giả đành bằng lòng với một lời giải thích tuy không súc tích như mong muốn nhưng vẫn diễn đạt chính xác nội dung của nó:
Cậu là Loren cha linh hồn thật (381)
Tác giả dịch Giám mục là Thầy cả và Đức Thầy:
Nầy lời thầy cả gởi khuyên, (219)
Xin cha nghe lịnh Đức thầy bề trên. (246)
Đức thầy đã vượt qua thử thách của thời gian, trong khi thầy cả ngày nay có nghĩa là linh mục. Ngược lại, từ cha cả được may mắn tác giả dùng với nghĩa là Đại diện Tông tòa:
Nầy lời cha cả khuyên sao. (205)
Theo nghĩa văn tự, cha cả là người cha đáng kính. Ý nghĩa nguyên thủy của định danh này theo ý tác giả dùng, đã sớm bị thay thế. Vào năm 1771 khi cha Pigneau de Béhaine được tấn phong giám mục và được gọi là Cha cả. Danh xưng này cũng được ghi nhận trong cụm từ Lăng Cha cả, chỉ ngôi mộ của vị Giám mục, tọa lạc ở Sài Gòn.[11] Điều này khẳng định rằng Bài vãn được viết trước khi từ Cha cả được thay đổi là Giám mục.
Đóng góp của Bài vãn cho thuật ngữ tôn giáo có vẻ nhỏ bé, nhưng nó là một tài liệu lịch sử cho các nhà ngữ văn và đánh dấu một giai đoạn phát triển của tiếng Việt. Cốt lõi trong nỗ lực của tác giả nằm ở cái cách ông đề cập đến Thiên Quốc và vinh quang của sự tử đạo. Ông đã vượt ra ngoài ý nghĩa vật lý của từ Trời và từ Hán Việt tương đương của nó là thiên. Trong các câu thơ sau, cõi trời (nghĩa là trên trời) có nghĩa là thánh và thượng thiên là vương quốc nước trời:
Đêm ngày cầu nguyện dưới Bàn,
Xin hai em đặng làm quan cõi trời. (259-260)
Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên.(44)
Ân huệ của sự tử đạo được ví như niềm hạnh phúc được ghi vào sổ vàng của những người thắng cuộc trong các cuộc thi theo hệ thống giáo dục nhân văn cổ đại của Trung Quốc:
Khoa nầy chẳng gặp bảng vàng,
Ngày nào cho đặng hiển vang cõi trời ? (243-244)
Nói về Thiên đường, tác giả nói về sự tinh khiết của pha lê và không coi thường biểu hiện thanh nhàn (hòa bình và thanh thản) mang âm hưởng Đạo giáo:
Linh hồn tới chốn lưu li,
Thanh nhàn tự tại oai nghi rỡ ràng. (240-241)
Việc lồng ghép các giá trị văn hóa truyền thống vào bài vãn chứng tỏ văn học Công giáo được xây dựng trên nền tảng tôn trọng hồn cốt văn hóa Việt Nam, đúng như những đòi hỏi của đức tin. Tác giả đã có những đóng góp khiêm tốn vào việc quảng bá Quốc ngữ, vốn được quan phòng để thay thế chữ Nôm vào thế kỷ 19 như một công cụ tạo nên sự độc lập văn hóa. Sáng tạo văn học bằng chữ Quốc ngữ là con đường lịch sử mà tác giả đã tham gia vào cộng đồng dân tộc.
2. Lịch sử Văn học về cuộc bách hại
Do tính xác thực của lời chứng, bài vãn về cuộc tử đạo của Bà Anê có thể được coi là lịch sử văn học về cuộc bách hại năm 1700. Tình hình tôn giáo vào đầu thế kỷ 18 được trình Bày một cách khái quát, nhưng hành vi và tâm lý của các nhân vật chính trong câu chuyện đã phản ánh đúng bản chất của nó. Cuộc bách hại bắt đầu bằng một chiếu chỉ do chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu ban hành vào năm Canh Thìn (1700):
Canh thìn vừa thuở thiên khai,
Nguyễn chúa trị đời hiệu lịnh cả ra: (105-106)
Cha Louvet đã cho biết chi tiết sắc lệnh này: “Nhà vua ra lệnh phá hủy các nhà thờ mới trên khắp vương quốc, đốt cháy tất cả sách vở và vật dụng tôn giáo tìm thấy, bắt giữ các nhà truyền giáo, và thay vì lưu đày như những người tiền nhiệm, họ bị giam giữ nghiêm ngặt trong tù; buộc tất cả những người đã theo Kitô giáo phải từ bỏ đức tin, và để đảm bảo mọi người đều tuân thủ, triệu tập tất cả cư dân của mỗi làng đến chung một nơi để bước qua cây thánh giá; những ai từ chối sẽ bị xử tử”.[12]
Cuộc bách hại năm 1700 đã giáng một đòn mạnh vào các nhà truyền giáo và cộng đồng Kitô hữu. May mắn thay, thừa sai Arnédo, một nhà toán học, cố vấn của chúa Nguyễn Phúc Chu, đã được thả sau ba ngày ngồi tù. Nhờ ảnh hưởng của nhà truyền giáo này và trên hết là lòng kiên nhẫn anh hùng của các Kitô hữu, chúa Nguyễn Phúc Chu đã khoan dung bãi lệnh vào năm 1704.[13]
Ngay từ đầu cuộc bách hại, Đức cha François Pérez, Đại diện Tông tòa giáo phận Đàng Trong lúc bấy giờ, đã sống ẩn dật, chờ đợi thời cơ tốt đẹp hơn, đầu tiên là trên thuyền, sau đó là trong một hang động rất hẻo lánh ven biển, cùng với một vài thầy giảng.[14] Từ đó, ngài gửi một lá thư cho cha Laurent, anh trai của Bà Anê, dặn dò cha phải cố gắng sống sót bằng mọi giá:
Khuyên thầy ở lại sớm khuya,
Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm,
Giúp hạn mưa rào trợ hiểm,
Khỏi chưng thì hoạn nạn bổn dân.
Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ. (235-239)
Vì lòng vâng phục, cha Laurent đã phải từ bỏ quyết tâm chịu tử đạo. Hơn nữa, thừa sai René Forget, với tư cách là Giám quản miền Truyền giáo, đã gửi cho ngài một lá thư có nội dung tương tự như lá thư của vị Giám mục. Các Kitô hữu, bao gồm cả em gái Anê và em trai Dominique, cũng khuyên ngài theo hướng đó. Nhờ Tổng đốc Dinh Cát,[15] ngài được trả tự do và rời khỏi nhà tù, không khỏi tiếc nuối:
Thầy bèn lã chã châu rơi:
Anê em hỡi, anh ngồi sao an?
Một mai mặc lịnh nhà quan,
Em chớ phàn nàn, anh lại buồn thêm,
Em về anh ở sao an?
Khoa nầy chẳng liệu, mà toan khoa nào ? (199-204)
Trong số tất cả những nạn nhân của cuộc bách hại năm 1700, Bà Anê nổi bật với tính cách kiên định và đức tin mãnh liệt. Được chết vì vinh quang của Chúa là ước nguyện của Bà, và Bà đã chia sẻ ước nguyện này với anh trai Laurent sau khi chôn cất cha mình:
Thấy cha dặn bảo mọi lời,
Công lòng bát ngát ước nơi cõi lành,
Xin cho gặp hội cầu danh,
Ta sẽ liệu mình họa đặng cùng chăng? (95-98)
Đối với vị thẩm phán ra lệnh Bà phải từ bỏ đạo, Bà đã trả lời bằng một lời tuyên xưng đức tin:
Anê đặt gối trình qua:
Chúng tôi giữ đạo Chúa Cha nhân từ,
Thật đàng công chính chẳng tư
Tôi đâu dám bỏ công phu ngãi người.
Mặc ông tha giết hai lời;
Tôi thà chịu chết, cõi trời nên công.
Giết tha thì mặc lượng ông,
Kim thạch là lòng chẳng chậy mỗ phân; (153-160)[16]
Di chúc thiêng liêng của Bà được tìm thấy trong hai lá thư Bà viết trong tù. Trong thư thứ nhất, Bà nhắc lại với chồng mình về tình yêu của Bà dành cho Chúa:
Chúa cả cao quang phù trì tiểu tử;
Thiếp nay nhi nữ cám đức phu quân.
Ngãi sắt cầm những ước thiên xuân,
Đoan kim cải trọn bề tứ đức.
Đạo chính giúp tôi bền sức,
Ơn trên Chúa cả mở lòng.
Xảy gặp hội mây rồng,
Phải lìa đoan cá nước. (300-307)
Trong thư thứ hai, Bà dặn con mình chu toàn sốt sắng đời kitô hữu:
Chúa cả xây vần càn khôn phúc tái,
Sở sinh là ngãi, dưỡng giục bào thai.
Trước kính tin một Chúa chớ nài,
Sau thảo kính hai bên cha mẹ. (373-376)
Những giây phút cuối đời của Bà Anê đặc biệt xúc động. Bất chấp nỗi đau đớn vì đói khát, đức tin của Bà vẫn kiên định và đáng ca ngợi:
Gượng mà kêu Chúa hơi don,
Mượn em kêu giúp kẻo non hơi rày,
Làm thinh thôi mới chắp tay,
Để qua trên ngực Chúa rày rước đi. (512-515)
III. TẠM KẾT
Giáo sư Võ Long Tê bận tâm làm sáng tỏ một số khía cạnh chưa được biết đến hoặc bị một số tác giả khác bỏ qua về nội dung và giá trị văn học của bài vãn. Sau khi phân tích văn hình sử, thời điểm lịch sử sự kiện…, Giáo sư xác định tác giả là người trong cuộc, đương thời với nhân vật chính của bài vãn nhưng Giáo sư chưa xác định danh tính của tác giả bài vãn. Chúng tôi dựa vào những nghiên cứu sâu sắc của Giáo sư đã được nêu trên cùng với những sử liệu khác, chúng tôi xin được nêu lên danh tính của tác giả:
Theo “Inê Tử đạo Vãn”, gia đình của Bà Anê có 12 người con: bảy trai, năm gái, cha Laurent là con trai đầu lòng.
Ca rô lô hiệu là người.
Diên ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền.
Vợ hiệu Sa ve là tên,
Giai lão kết nguyền, đạo đức kính tin.
Sinh đặng mười hai con hiền,
Bảy trai, năm gái, đã nên phước nhà!
Trọn bề trung hiếu thảo hòa.
Lo ren thứ nhứt thật là trưởng nam, (7-14)
Cuộc tử đạo của Bà Anê Huỳnh Thị Thanh, em gái cha Laurent đã được các thừa sai đương thời thuật lại.[17] Phần phụ lục (trang 110-135) trong pho tự điển Dictionarium Latino – Anamiticum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 có in bài vãn về cuộc tử đạo của Bà Anê, gồm các ngôn ngữ: Quốc ngữ, Anh, Pháp, và Latinh. Bài vãn không đề tác giả và thời điểm ra đời, ở đây thử nêu lên vài ý:
– Trong pho tự điển Dictionarium Anamitico – Latinum của Đức cha Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838,[18] phần mở đầu trang XLIII có giải thích cách thức làm vãn khi người ta qua đời, lương dân gọi là văn tế, Kitô hữu gọi là đức tính. Trong cách thức làm vãn, mà kể công nghiệp cùng nhơn đức người nào đã qua đời, thì phải đặt thế nầy; trước hết thì phải biết mỗi bài vãn có ba lúc, lúc thứ nhứt gọi là lúc mở, lúc thứ hai gọi là lúc đức tính, lúc thứ ba gọi là lúc ôi. Căn cứ vào hướng dẫn như thế, bài Inê Tử đạo vãn tạm có thể được phân chia cấu trúc như sau:
* Lúc mở: từ câu 01 đến câu 105
* Lúc đức tính: từ câu 106 đến câu 531
* Lúc ôi: từ câu 532 đến hết bài.
Bài vãn được viết ra để vừa nên gương cho thiên hạ
“Chép làm một bổn để đời,
Truyền cho thiên hạ người người học theo” (câu 544 và 545)
Vừa để nên gương cho con cháu trong dòng tộc:
“Để truyền sách ấy nối dòng đời sau,
Anê là hiệu làm đầu”. (câu 557 và 558)
Những chi tiết về gia thế và tình tiết cuộc tử đạo của Bà Anê trong bài vãn phải là người trong gia đình, người trong cuộc, người chứng kiến sự việc từ đầu đến cuối.[19] Do đó, theo chúng tôi, cha Laurent Huỳnh Văn Lâu, người sống trong hoàn cảnh lịch sử, người anh cả trong gia đình, người kề cận với em mình, Bà Anê, từ khi Bà bị bắt cho đến khi nhận xác của Bà, với tư cách là linh mục, cha viết bài vãn nầy trước hết để “Truyền cho thiên hạ người người học theo”, với tư cách người con cả, là để truyền lại cho con cháu trong dòng tộc. Mục đích chung để trước, mục đích riêng để sau và cuối cùng không đề tên tác giả mà chỉ để A.M.D.G. [Ad Majorem Dei Gloriam – Để Vinh Danh Chúa Hơn]. Hẳn đó là tính cách của một linh mục thông thái và khiêm nhường. Ở đây thử nêu lên vài chi tiết:
Cha Laurent là một linh mục tinh thông các ngôn ngữ Latinh, Pháp, Anh. Cha từng nói chuyện bằng tiếng Latinh với Cha Charles-Marin Labbé, Bề trên Đàng Trong lúc bấy giờ.[20] Cha viết các thư báo cáo bằng tiếng Latinh:
– Thư báo cáo gởi cho Đức cha Laneau, đề ngày 17/02/1691 (06 trang rưỡi, khổ 15×24)[21]
– Thư báo cáo gởi cho Tòa thánh, đề ngày 16/02/1692 (02 trang rưởi, khổ 15×24)[22]
– Thư báo cáo gởi cho Đức cha Laneau, đề ngày 07/02/1693 (05 trang, khổ 15×24)[23]
– 02 Thư báo cáo gởi cho Tòa thánh, đề ngày 07/02/1694 và 20/3/1697.[24]
Ngoài tiếng Latinh, cha thông thạo tiếng Pháp vì cha được các thừa sai Pháp đào tạo tại Chủng viện truyền giáo ở Thái Lan – Collège de Siam. Cha đã từng tham gia làm thông dịch tiếng Anh cho chúa Nguyễn Phúc Chu với phái bộ Anh (1695-1696).[25]
Trong bản Việt ngữ không xác định chủ từ “Tôi” nhưng trong bản Anh, Pháp, Latinh đều xác định chủ từ “Tôi”, chẳng hạn:
Câu 544 “Chép làm một bổn để đời” :
* I have written her life to preserve it to posterity,
* J’ai écrit sa vie pour la conserver à la postérité,
* Descriptam ejus vitam posteris nuncupo
Câu 546 “Thấy thì hầu đả cheo leo,”- [thấy trước những ngày khó khăn sẽ đến]:
* I foresee that troublous times will come,
* Je prévois que les jours à venir seront mauvais,
* Durissima tempora nobis iminere prævideo
Từ những gì hiện biết đã được nêu trên cho chúng ta biết cha Laurent, anh ruột của Bà Anê chính là tác giả của của bài vãn cả 04 ngôn ngữ: Quốc ngữ, Latinh, Pháp và Anh.
Trong Dictionarium Latino – Anamiticum (1838), phần phụ lục trang VII có chép: “Hầu hết phần dịch tiếng Anh là nhờ thiện ý của ông James Princep, Tổng thư ký Hiệp hội châu Á ở Bengal, người mà chúng tôi cũng vô cùng biết ơn nhờ sự nhiệt tình của ông đã làm cho công trình này được thành công“. Louis Malleret, tác giả “Note sur Les Dictionaires de Mgr. Taberd publiés au Bengale en 1838″ cho biết: …Đức cha Taberd đã ghi nhận những nguyện vọng của ngài Thư ký Toàn quyền Ấn Độ … nhằm làm cho sách (Tự điển) dễ hiểu đối với các thủy thủ và thương nhân, bằng cách đưa vào đây những giải thích một số từ vựng tiếng Anh thông dụng bằng tiếng Anh, cũng như bằng tiếng Latinh, tiếng Việt và các ngôn ngữ khác. Tác giả tự điển chấp thuận nguyện vọng ấy bằng cách thêm vào một bản tóm lược phong phú các danh từ, động từ, mẫu đối thoại, ngữ pháp…đối chiếu các ngôn ngữ Anh, Pháp, Latinh và Việt Nam.[26] Như thế, Lời “phi lộ” ở phụ lục Latino – Anamiticum nhằm nhắc đến công khó của ông James Princep về bản dịch một số từ vựng tiếng Anh thông dụng được in trong phần phụ lục của tự điển Latino – Anamiticum.[27] Do đó, Lời “phi lộ” không xác nhận ông M. James Princep là dịch giả bản dịch tiếng Anh của bài Inê Vãn.

Tác giả: Lm. Gioan Võ Đình Đệ
Nguồn: gpquinhon.net
-------------------------
[1] A. LAUNAY, Mémorial de la Société des Missions Étrangères, 2e partie, Paris 1916, trang 589.
[2] LOUIS LOUVET, La Cochinchine religieuse, tome I, Challamel éditeur, Paris 1914, trang 336.
[3] Đền thánh Pha pha tức đền thánh Phêrô ở Rôma. Thần Phù xưa là cửa biển hiểm yếu, ở giữa Nga Sơn, Thanh Hóa và Yên Lâm, Ninh Bình, nay đã bị bồi lấp nằm sâu trong đất liền cả chục kilômet. Cửa Bạng nằm ở xã Hải Thanh, Tĩnh Gia, Thanh Hóa là mảnh đất mà Tin mừng được đón sớm nhất ở Đàng Ngoài ngày 19/3/1627 do cha Đắc Lộ đến rao giảng.
[4] Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toản, Thi văn Viêt Nam, Sông Nhị, Hà nội 1951, trang 149.
[5] J.L. TABERD, Dictionarium anamitico-latinum, Nxb. Văn Học, 2018, trang 41-48.
[6] R.P. DOMINIQUE HỒ NGỌC CẨN, Văn chương An Nam, Imprimerie de la Société des Missions Étrangères, Hongkong 1933, trang 81-92.
[7] Quốc sử Quán, Đại Nam Nhất Thống Chí, Viện sử học, tập 3, tái bản lần thứ hai, Thuận Hóa 2006, trang 102-105.
[8] Xem TRẦN THANH TÂM, Tìm hiểu Quan chức nhà Nguyễn, tái bản lần thứ nhất, Thuận Hóa 1996.
[9] ADRIEN LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, Paris 2000, T.I, trang 480.
[10] Gia phả họ Đỗ ở làng Bồng Trung, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa được viết thế kỷ 17, có cụ Đỗ Hưng Viễn theo đạo Công giáo, gọi là Hoa Lang đạo (…tùng Hoa lang đạo).
[11] Ngày 02 tháng 3 năm 1983, lăng được cải táng. Khu lăng cải táng được làm Vòng xoay (phường 4, quận Tân Bình, TP HCM) cho nút giao các trục đường như Cộng Hòa, Hoàng Văn Thụ, Trần Quốc Hoàn, Lê Văn Sỹ, Bùi Thị Xuân. Do đó, vòng xoay này được gọi là vòng xoay Lăng Cha Cả.
[12] L.E. LOUVET, La Cochinchine Religieuse ,Paris 1885, tome I, trang 323.
[13] L.E. LOUVET, Sđd, trang 324 và 339.
[14] L.E. LOUVET, Sđd, trang 328-329.
[15] Khi cha Laurent làm việc mục vụ ở Dinh Cát (1690-1732), cha có làm phiên dịch tiếng Anh cho chúa Nguyễn Phúc Chu với phái bộ Anh (1695-1696). Nhờ đó chúa Nguyễn ưu ái.
[16] Trong tình yêu, kim thạch là lòng trung kiên, gắn bó bền vững. Mỗ: tôi = Ý nghĩa: Lòng tôi vẫn kiên định, không phân ly, chia lìa.
[17] ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 465-466, 468.
[18] Bộ tự điển của Đức cha Taberd xuất bản năm 1838 có hai quyển, Quyển I: Dictionarium Anamitico – Latinum; Quyển II: Dictionarium Latino – Anamiticum.
[19] ADRIEN LAUNAY, Histoire de la mission de Cochinchine, Paris 2000, T.I, trang 465.
[20] ADRIEN LAUNAY, Sđd, Paris 2000, T.I, trang 536.
[21] ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 415-421.
[22] ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 422-424.
[23] ADRIEN LAUNAY, sđd, 425-429.
[24] ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 429-430.
[25] ADRIEN LAUNAY, sđd, trang 536.
[26] Bulletin de la Société des Études Indochinoises (BSEI) 1948 –Tome XXIII – Nouvelle série – N° 1, trang 84.
[27] Xem thêm S. KARPELÈS, réf. aux Public Général Letters, 17 Janvier 1838, n° 4.
