A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 6,1-7

Đáp ca : Tv 32,1-2.4-5.18-19 (Đ. c.22)

Bài đọc 2 : 1 Pr 2,4-9

Tung hô Tin Mừng : Ga 14,6

Tin Mừng : Ga 14,1-12

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Cv 6,1-7

2. Đáp ca : Tv 32

3. Bài đọc 2 : 1 Pr 2,4-9

4. Bài Tin Mừng : Ga 14,1-12

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Thiên Chúa thật gần

2. Hoàn cảnh của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giê-su và ngày Người trở lại

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 6,1-7

Họ chọn bảy người đầy Thánh Thần.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

1 Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên. 2 Bởi thế, Nhóm Mười Hai triệu tập toàn thể các môn đệ và nói : “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. 3 Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. 4 Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.” 5 Đề nghị trên được mọi người tán thành. Họ chọn ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do-thái. 6 Họ đưa các ông ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.

7 Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giê-ru-sa-lem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 32,1-2.4-5.18-19 (Đ. c.22)

Đ. Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.

Hoặc :

Đ. Ha-lê-lui-a.

1 Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa,
kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen.
2 Tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn cầm,
kính mừng Người, gảy muôn cung đàn sắt. Đ.

4 Vì lời Chúa phán quả là ngay thẳng,
mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin.
5 Chúa yêu thích điều công minh chính trực,
tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Đ.

18 Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa,
kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương,
19 hầu cứu họ khỏi tay thần chết
và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Pr 2,4-9

Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.

4 Anh em thân mến, anh em hãy tiến lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. 5 Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa đặt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người nhờ Đức Giê-su Ki-tô. 6 Quả thật, có lời Kinh Thánh chép : Này đây Ta đặt tại Xi-on một viên đá quý được lựa chọn, làm đá tảng góc tường : kẻ tin vào đó sẽ không phải thất vọng.

7 Vậy vinh dự cho anh em là những người tin, còn đối với những kẻ không tin, thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, 8 và cũng là viên đá làm cho vấp, tảng đá làm cho ngã. Họ đã vấp ngã vì không tin vào Lời Chúa. Số phận của họ là như vậy.

9 Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Ga 14,6

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Ga 14,1-12

Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. 2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. 3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. 4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

5 Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” 6 Đức Giê-su đáp : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. 7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.”

8 Ông Phi-líp-phê nói : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” 9 Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’ ? 10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. 11 Anh em hãy tin Thầy : Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy ; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. 12 Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Cv 6,1-7

Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những tín hữu Do-thái bản xứ : “Vấn đề xảy ra trong cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ xem ra là một vấn đề nghịch lý so với sự thành công rực rỡ lúc bấy giờ.” Khi số các môn đệ thêm đông, thì sự hiệp nhất trở nên khó khăn ; tất cả các nhóm đang phát triển đều phải đương đầu với câu hỏi này : Làm thế nào để có thể hợp nhất khi số lượng tăng thêm, nghĩa là số người gia nhập ngày càng đông thêm, do có nhiều khuynh hướng khác nhau.

Thật ra, nếu suy nghĩ cho kỹ, thì chúng ta thấy khó khăn này đã xuất hiện vào buổi sáng ngày lễ Ngũ Tuần. Chúng ta đọc lại đoạn sách Công vụ Tông Đồ : “Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về.” Từ buổi sáng sớm ấy, có ba ngàn người trở lại sau bài giảng của thánh Phê-rô, rồi những năm tháng tiếp theo, số người trở lại càng nhiều hơn nữa, những người mới trở lại tất cả đều là người Do-thái, và có lẽ trong số đó là những người Do-thái đang sinh sống trong đế quốc Rô-ma, về Giê-ru-sa-lem để hành hương, mà tiếng mẹ đẻ của họ không phải là tiếng Do-thái hoặc A-ram, nhưng là Hy-lạp, ngôn ngữ phổ biến cho toàn vùng Địa Trung Hải. Cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ này sắp phải đương đầu với “một thách đố về ngôn ngữ”. Đây là một trở ngại rất lớn cho việc hợp nhất trong bất cứ cộng đoàn nào, vì tiếng mẹ đẻ luôn kèm theo cách suy nghĩ, cách ứng xử, tập quán khác nhau, quan niệm sống khác nhau, giải quyết vấn đề cũng khác nhau, nên tìm được sự hoà hợp giữa hai nhóm nói hai thứ tiếng khác nhau Do-thái và Hy-lạp là vô cùng khó khăn, mặc dầu đều là người Do-thái. Làm thế nào đây ? Và giọt nước tràn ly khi những người Do-thái theo văn hoá Hy-lạp kêu trách những người Do-thái bản xứ, khi phân phát lương thực hằng ngày, đã bỏ quên những bà goá trong nhóm họ (ở đây là vấn đề thiên vị). Sự bất hoà này ngày càng trầm trọng hơn và tới tai các Tông Ðồ. Phản ứng của các Tông Ðồ gồm 3 điểm :

1) Các Tông Đồ triệu tập toàn thể các môn đệ và đưa ra quyết định nhằm giải quyết vấn đề rắc rối trong cộng đoàn.

2) Các ngài cho cộng đoàn biết là các ngài chỉ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời của Thiên Chúa, chứ không thể bỏ việc rao giảng Lời Chúa mà lo việc ăn uống được.

3) Các ngài không hề do dự khi quyết định thành lập một tổ chức mới để phục vụ cộng đoàn, đó là các phó tế : những người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, đó là ông Tê-pha-nô, một người đầy lòng tin và đầy Thánh Thần, cùng với các ông Phi-líp-phê, Pơ-rô-khô-rô, Ni-ca-no, Ti-môn, Pác-mê-na và ông Ni-cô-la, một người ngoại quê An-ti-ô-khi-a đã theo đạo Do-thái. Đây là những người do dân bình chọn và đưa ra trước mặt các Tông Đồ. Sau khi cầu nguyện, các Tông Đồ đặt tay trên các ông.

Hãy luôn vững tin vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Trong mỗi hoàn cảnh cụ thể khác nhau, Chúa sẽ liệu cách nào tốt nhất và hữu ích nhất để giúp chúng ta.


2. Đáp ca : Tv 32

Thánh vịnh 32 là thánh vịnh ca ngợi Chúa Quan Phòng. Chúng ta cùng suy niệm thánh vịnh này : “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương.” Ở đây chúng ta khám phá ra một định nghĩa tuyệt đẹp về kiểu nói “kính sợ Chúa”. Theo nghĩa Kinh Thánh, kính sợ Chúa đơn giản là đặt tất cả niềm hy vọng của chúng ta vào tình thương của Người. Người tín hữu theo nghĩa Kinh Thánh là người luôn đầy tràn hy vọng ; vì đầy tràn hy vọng, nên dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, họ cũng bình an vì biết rằng “tình thương Chúa chan hoà mặt đất”.

Câu “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa” giúp ta hiểu câu tiếp theo “hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn” ám chỉ đến việc Chúa cứu dân Ít-ra-en thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập khi cho họ vượt qua Biển Đỏ mà vẫn ráo chân, rồi cho họ man-na và chim cút, nước uống thoả thuê lúc họ đói khát trong sa mạc. Lúc bấy giờ lời ca tụng phát xuất từ con tim của những người cảm nhận rõ nét sự quan tâm của Thiên Chúa dành cho họ : “Người công chính, hãy reo hò mừng Chúa, kẻ ngay lành, nào cất tiếng ngợi khen.” Lời mời gọi ở đây là lời ca mở đầu của một nghi thức Phụng vụ tạ ơn. Trong thánh vịnh vừa nghe, ta biết được những nhạc cụ thường được sử dụng tại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vào các dịp lễ.


3. Bài đọc 2 : 1 Pr 2,4-9

* Chúa Giê-su, viên đá sống động

Thư thánh Phê-rô mời gọi chúng ta, các Ki-tô hữu hãy tiến lại gần Đức Ki-tô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Bức thư đề cập đến “ngôi Đền Thờ thiêng liêng” và một dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người. Trọng tâm của bức thư đề cập đến hành động của Thiên Chúa được Kinh Thánh nhắc lại : Thiên Chúa đã biến Đức Ki-tô thành viên đá góc để thực hiện ý định cứu độ của Người.

Khi đến gần viên đá “sống động” này mà các Ki-tô hữu, “những viên đá sống động” được tháp nhập vào việc xây dựng một ngôi đền thờ thiêng liêng. Đấng mà các Ki-tô hữu đến gần bị người đời loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa làm đá góc. Thiên Chúa đi tìm cái gì người đời vứt bỏ làm mái vòm cho công trình của Người. “Này đây Ta sẽ đặt ở Xi-on một phiến đá, phiến đá hoa cương, phiến đá góc vô giá làm nền móng vững bền.” Chúng ta đừng bối rối hoặc lo lắng vì Đức Giê-su Ki-tô bị loại bỏ, vì khi đến gần Người, chúng ta tham gia vào việc xây dựng mà chính Thiên Chúa làm kiến trúc sư.

Trong ngôi đền thiêng liêng này, không còn dâng hy tế như thời Cựu Ước nữa, nhưng dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Giống như dân Ít-ra-en xưa thực thi chức vụ tư tế vì ích lợi cho nhân loại : “Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,6) thì người Ki-tô hữu chúng ta thực hiện chức tư tế cộng đồng, trong Giáo Hội là một “cộng đoàn tư tế thánh, tư tế vương giả”.

Phần trọng tâm của đoạn này trích dẫn vài câu thánh vịnh. Chính ngày hôm nay mà Thiên Chúa đặt tại Xi-on một viên đá góc, đó là Đức Ki-tô chịu đóng đinh và phục sinh, cho nên những ai đặt niềm tin vào Người sẽ không phải thất vọng. Đối với các tín hữu, thánh Phê-rô đối chọi những người không tin với những người vâng theo lời Thiên Chúa. Những người không tin, thì viên đá thợ xây loại bỏ đã trở nên đá tảng góc tường, và cũng là viên đá làm cho họ vấp ngã. Còn đối với những người tin là chúng ta đây, chúng ta “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã kêu gọi chúng ta ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền”.


4. Bài Tin Mừng : Ga 14,1-12

1) Những lời loan báo liên tiếp về việc ông Giu-đa phản bội : “Có một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Ga 13,21), về cuộc ra đi dứt khoát của riêng Người : “Thầy còn ở với anh em một ít lâu nữa thôi” (Ga 13,33) và về việc ông Phê-rô chối thầy : “Thầy bảo thật cho anh biết : gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần” (Ga 13,38). Do đó mới có lời Chúa Giê-su kêu gọi : “Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” Tác giả Dufour viết : “Chúa Giê-su dựa trên niềm tin của người Do-thái là những người không bao giờ tự coi mình độc lập trong mối liên hệ với Thiên Chúa, Đấng ban cho mọi loài thụ tạo sự bền vững của đá tảng. Chúa cũng dựa trên niềm tin vào chính mình Người, nếu các môn đệ còn có thể theo Người, các ông phải dựa vào Chúa Giê-su như dựa vào chính Thiên Chúa. Vì thế, nếu Người có ra đi thì cũng chính là để trở lại nhà Cha, nơi Người sẽ dọn chỗ sẵn cho họ.”

2) Từ chủ đề “ra đi”, bài diễn từ sau Bữa Tiệc Ly của Chúa Giê-su chuyển sang “đường đi” : “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” Chúa Giê-su nói với các môn đệ như thế, nên Tô-ma mới đặt vấn đề : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” Chúa Giê-su long trọng đáp lời : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Chúa Giê-su là con đường, bởi vì Người là sự thật và là sự sống, Chúa Giê-su là sự thật. Quả vậy, Người mặc khải về mầu nhiệm Thiên Chúa, về Chúa Cha (12,45 ; 14,9) ; Người chỉ đường cho các tín hữu tới gặp Chúa Cha, Người cho thấy phải sống thế nào cho hợp ý Thiên Chúa. Chúa Giê-su còn mặc khải về chính mình và sứ mạng của Người đối với nhân loại. Con người ta đến, tin vào Đức Giê-su, lãnh nhận lời Người, giáo huấn của Người, rồi được thúc đẩy và được hướng dẫn đến với Chúa Cha. Đức Giê-su là con đường duy nhất dẫn tới Chúa Cha (14,6b). Đức Giê-su cũng là con đường, bởi vì Người là sự sống. Đường phải dẫn tới mục tiêu cuối cùng là sự sống sung mãn với Chúa Cha. Chúa Cha đã ban sự sống cho Đức Giê-su (5,26) và chỉ có Đức Giê-su mới có thể ban sự sống vĩnh cửu ngay ở đời này cho những ai tin vào Người (10,28). Người tín hữu mang nơi mình sự sống vĩnh cửu phải liên tục nhận sự sống đó từ Đức Ki-tô và cố gắng góp phần làm phát triển sự sống đó nơi mình cho đến khi đạt tới sự sống sung mãn nơi Chúa Cha.

3) Đức Giê-su bày tỏ Chúa Cha

Thấy vậy, ông Phi-líp-phê lên tiếng thưa : “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giê-su trả lời : “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha rồi.” Trọn cuộc đời, mọi lời nói và mọi việc làm của Đức Giê-su là một biểu hiện hoàn hảo hình ảnh Chúa Cha vì Người kết hợp mật thiết với Chúa Cha : “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ?”

Chúa Giê-su tiếp tục hoạt động qua các môn đệ

Khi nhắc lại lời mời gọi tin tưởng trên, Chúa Giê-su bắt đầu mặc khải cho các môn đệ biết cuộc sống mới của các ông sẽ như thế nào : “Ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha.”

Ta thử nhìn vào đức tin gương mẫu của các tổ phụ để nhìn lại đời sống đức tin của tất cả chúng ta.

* Nhờ đức tin, ông A-ben đã dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quý hơn hy lễ của ông Ca-in : nhờ tin như vậy, ông A-ben đã được chứng nhận là người công chính (Hr 11,4).

* Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết, và người ta không tìm thấy ông nữa, bởi vì Thiên Chúa đã đem ông đi. Quả thật, Kinh Thánh chứng nhận rằng : trước khi được đem đi, ông đã làm đẹp lòng Thiên Chúa, mà không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa được (St 5,22-24).

* Nhờ đức tin, ông Nô-ê được Thiên Chúa báo cho biết những gì người ta chưa thấy ; vì có lòng kính sợ Thiên Chúa, ông đã đóng một chiếc tàu để cứu gia đình ông.

* Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu.

* Nhờ đức tin, khi nhìn về tương lai, ông I-xa-ác đã chúc phúc cho hai con là Gia-cóp và Ê-xau. Nhờ đức tin, khi sắp chết, ông Gia-cóp (Ít-ra-en) đã chúc phúc cho mỗi người con của ông Giu-se. Nhờ đức tin, ông Giu-se khi sắp lìa đời, đã nhắc lại cuộc Xuất hành của con cái Ít-ra-en và ra chỉ thị liên quan đến hài cốt của ông.

* Nhờ đức tin, lúc chào đời, ông Mô-sê đã được cha mẹ giấu trong ba tháng. Nhờ đức tin, ông Mô-sê, khi lớn lên, đã từ chối không chịu cho người ta gọi là con của công chúa Pha-ra-ô.

* Nhờ đức tin, tường thành Giê-ri-khô đã sụp đổ, sau khi dân Ít-ra-en đi vòng quanh trong bảy ngày. Nhờ đức tin, cô kỹ nữ Ra-kháp đã không phải chết, vì cô đã cứu các người lính trinh sát của Ít-ra-en.

* Cuối cùng, các thủ lãnh Ghít-ôn, Ba-rắc, Sam-sôn, Gíp-tác, Đa-vít, Sa-mu-en và các ngôn sứ, nhờ đức tin, các vị đó đã chinh phục các nước, thực thi công lý, đạt được những gì Thiên Chúa đã hứa.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con.

Tự vấn :

Khi gặp vô vàn khó khăn, khi phải đương đầu với những thử thách gian nan, chúng ta đã sống đức tin của mình như thế nào ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Thiên Chúa thật gần

(H. Vulliez, Desclée de Brouwer, 1992, tr. 61-62).

Khi Tin Mừng thứ tư được viết ra, chắc chắn “những biến cố” đã xảy ra hơn 60 năm, các cộng đoàn tín hữu ở Pa-lét-tin, Tiểu Á, và các nơi khác đã chịu rất nhiều đau khổ. Họ phải chịu những cuộc tấn công dai dẳng trong các vùng có người Do-thái. Họ đã bị chính quyền Rô-ma bách hại triền miên. Đặc biệt niềm tin của các Giáo Hội Tiểu Á lúc ấy đã rúng động trước những luồng tư tưởng cho rằng mình khiến người ta quá tin vào trời cao mà khinh chê trần thế, chỉ để ý đến tâm hồn mà coi thường thân xác, nhưng cuộc sống thế trần và sự Phục Sinh có đối nghịch đến độ phải khước từ cuộc sống này để sống cuộc sống kia không ? Chẳng lẽ cứ phải trải qua cái chết mới được phục sinh hay sao ?

Tác giả Tin Mừng nhấn mạnh : Người tín hữu đã sống cuộc sống phục sinh ngay trên trần thế này. Niềm tin vào Đức Ki-tô hằng sống đã xoá bỏ khoảng cách giữa những sự dưới đất và trên trời. Niềm tin ấy giúp người ta sống ngay trên trần thế cuộc sống vĩnh hằng của Thiên Chúa …

Chân lý thật khó hiểu và khó chấp nhận, cũng thế, Đức Giê-su, nhà sư phạm đại tài, để dẫn đưa người nghe vào trong ánh sáng của Thiên Chúa, đã lợi dụng sự cứng tin của các ông Tô-ma và Phi-líp-phê : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường ?” Lầm lớn ! Đây không phải con đường tính được bằng ki-lô-mét. Khoảng cách giữa cuộc sống trần thế và cuộc sống phục sinh không lớn hơn khoảng cách giữa Chúa Cha và Chúa Con : “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy.”

Niềm hy vọng về điều đã có và chưa có sẽ triển nở và đâm bông trong lòng người tín hữu như vậy đó.


2. Hoàn cảnh của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giê-su và ngày Người trở lại

(“Célébrer”, số 258, tr. 34, tháng 3.1996).

Đâu là vị trí của cộng đoàn tín hữu giữa cuộc sống trần gian của Đức Giê-su và ngày Người trở lại ?

Trước tiên, cộng đoàn tín hữu sống trong niềm hy vọng vô bờ một ngày kia sẽ được sống với Đức Giê-su trong nhà Cha Người : “Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”, sau đó, họ biết được đường đi : “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”, hơn thế nữa, họ còn biết được Chúa Cha, họ đã “thấy” Người : “Ai thấy Thầy, là thấy Chúa Cha.” Thấy Đức Giê-su, dĩ nhiên là biết được Người bằng niềm tin, là “nhận ra” Người là Con duy nhất, là lời sáng tạo vĩnh hằng đến độ khi Đức Giê-su nói, tôi biết rằng Người nói những lời của Chúa Cha. Khi Đức Giê-su hành động, chữa lành, tha tội, phó mình cho đao phủ, tôi biết rằng Người làm theo ý Chúa Cha và Chúa Cha đã chữa lành, tha tội, tự hiến hoàn toàn qua Người, tôi biết Cha và Con là “một”.

Như vậy, cộng đoàn tín hữu đã thật sự biết Đức Giê-su bằng đức tin, đến lượt mình có thể nhận biết Chúa Cha và hoàn thành những công việc của Người được không ? Được, Đức Giê-su nói thế và còn hơn thế nữa, “vì Thầy đến cùng Chúa Cha”. Qua những lời này, ta có thể hiểu rằng Đức Giê-su Phục Sinh đã mặc lại trọn vẹn sức mạnh siêu nhiên mà Người đã tự giới hạn khi mặc lấy thân phận tôi đòi, mặc lấy nhân tính. Cũng vậy, một khi đã được mời gọi tiếp tục sự nghiệp của Chúa Giê-su trên trần gian, cộng đoàn các Tông Đồ, bằng đức tin của mình, thật sự thông phần với Thiên Chúa. Họ là cộng đoà;n những người con trong Đức Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa.