A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Cv 2,14.22b-33
Cái chết không tài nào khống chế được Người mãi.
Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.
14 Trong ngày lễ Ngũ Tuần, ông Phê-rô đứng chung với Nhóm Mười Một lớn tiếng nói với dân chúng rằng : “Thưa anh em miền Giu-đê và tất cả những người đang cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem, xin biết cho điều này, và lắng nghe những lời tôi nói đây.
22b “Đức Giê-su Na-da-rét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mạng của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó. 23 Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giê-su ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. 24 Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. 25 Quả vậy, vua Đa-vít đã nói về Người rằng : Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu, để tôi chẳng nao lòng. 26 Bởi thế tâm hồn con mừng rỡ, và miệng lưỡi hân hoan, cả thân xác con cũng nghỉ ngơi trong niềm hy vọng. 27 Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. 28 Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước Thánh Nhan.
29 “Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đa-vít rằng : người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. 30 Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, 31 nên người đã thấy trước và loan báo sự Phục Sinh của Đức Ki-tô khi nói : Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. 32 Chính Đức Giê-su đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại ; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. 33 Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống : đó là điều anh em đang thấy đang nghe.”
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 15,1-2a và 5.7-8.9-10.11 (Đ. c.11a)
Đ. Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống.
Hoặc :
Đ. Ha-lê-lui-a.
1 Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu.
2a Con thưa cùng Chúa : “Ngài là Chúa con thờ.
5 Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con ;
số mạng con, chính Ngài nắm giữ. Đ.
7 Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy, ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.
8 Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,
được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Đ.
9 Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn.
10 Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty,
không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Đ.
11 Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống : trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,
ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi ! Đ.
Bài đọc 2 : 1 Pr 1,17-21
Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn là Đức Ki-tô.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.
17 Anh em thân mến, Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử. Vậy nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này. 18 Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. 19 Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô. 20 Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này. 21 Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : x. Lc 24,32
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Chúa Giê-su, xin mở trí cho chúng con hiểu lời Kinh Thánh. Và khi Chúa phán dạy, xin đốt lòng chúng con cháy lửa nồng nàn. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Lc 24,13-35
Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.
18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi : “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”
25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng : “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau : “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”
33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông : “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
* Tin Mừng Chúa nhật thứ ba Phục Sinh kể cho chúng ta về việc Đức Giê-su hiện ra với hai môn đệ đi làng Em-mau. Câu chuyện này cho ta thấy những sự hoán cải khác nhau mà Đức Giê-su Phục Sinh đã thực hiện trong tâm hồn hai môn đệ ; hoán cải từ chỗ buồn phiền thành niềm vui, hoán cải từ chỗ tối tăm đến ánh sáng của đức tin và cũng là hoán cải hướng đến đời sống cộng đoàn. Đó là những cuộc hoán cải tích cực. Thông thường, khi nói đến hoán cải, người ta thường chỉ nhắm đến khía cạnh từ bỏ. Thật ra, việc hoán cái Ki-tô giáo là nguồn mạch của niềm vui, hy vọng và tình yêu. Việc hoán cải luôn là công việc của Đức Ki-tô Phục Sinh, Đấng đã ban cho chúng ta ân huệ này qua cuộc Thương Khó của Người vì Người là Đấng Phục Sinh.
* Hai môn đệ mà bài Tin Mừng đề cập đang sống trong buồn phiền, thất vọng và đang xa cộng đoàn. Các ông rời Giê-ru-sa-lem và đi về phía Em-mau, một ngôi làng nhỏ bé. Họ đang trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra mà lòng buồn rười rượi vì những gì đã xảy ra không phù hợp chút nào với những gì các ông đang chờ đợi. Họ nói : “Chúng ta đã hy vọng.” Sự hy vọng ở thì quá khứ, biểu lộ sự thất vọng não nề và bây giờ họ có thể nói với nhau ! “Bây giờ chúng ta chẳng còn hy vọng gì nữa.”
* Đức Giê-su đến gần họ, cùng đi với họ, và hoán cải họ qua nhiều giai đoạn khác nhau. Người bắt đầu bằng việc lắng nghe hai môn đệ đang buồn rầu. Người làm cho họ nói, Người hỏi họ : “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Hai môn đệ ngạc nhiên, và một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời : “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Những biến cố đó thật kinh khủng đối với các môn đệ của Đức Giê-su. Sau đó họ kể tiếp : “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét, Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như trong lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc dân Ít-ra-en.”
* Các môn đệ cũng kể lại các tin tức do các bà trong nhóm cho biết. “Các bà ấy ra mộ lúc sáng sớm, không thấy xác Người đâu cả, và còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống.” Tuy nhiên lời nói của các phụ nữ không được quan tâm và các môn đệ bán tín bán nghi vì không có ai xác nhận tin tức này. Ngôi mộ trống không chứng minh cho việc Đức Giê-su đang sống.
* Giai đoạn hai của cuộc hoán cải do Đức Giê-su thực hiện hệ tại việc Người nghiêm khắc nhắc lại với các môn đệ, nghiêm khắc nhưng dịu dàng chứ không gay gắt. Người nói với hai ông : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ.” Để có thể hiểu được những gì đã xảy ra, cần phải đọc lại lời các ngôn sứ, lời của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Con đường đức tin phải đi qua lời sấm của các ngôn sứ. Phải lắng nghe lời của Thiên Chúa và sẵn sàng đón nhận ánh sáng đức tin. Đức Giê-su nói với hai môn đệ : “Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.”
* Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su là một chặng đường cần thiết tiến đến vinh quang. Đối với Đức Giê-su, phải qua đau khổ rồi mới bước vào vinh quang. Thực tế này không dễ được chấp nhận, nhưng là điều căn bản, nền tảng trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Tại sao cuộc Thương Khó lại cần thiết ? Thưa bởi vì vinh quang của Đức Ki-tô là vinh quang của “Đấng Cứu Độ”, vinh quang của Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết. Đó là chiến thắng hận thù, ích kỷ, sự chiến thắng hoàn toàn những cám dỗ từ khước hay nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Điều cần thiết là Đức Ki-tô phải chịu đau khổ đến chết trên thập giá để lan toả tình yêu của Người đến toàn thể thụ tạo và biến đổi toàn thể thành một dịp thuận lợi để chiến thắng tội lỗi và sự chết.
Trong bài đọc 2, thánh Phê-rô nhắc cho các tín hữu nhớ rằng họ đã được cứu thoát không phải “nhờ vàng hay bạc, vì những thứ đó chóng hư nát” nhưng rõ ràng là nhờ “bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn”. Đối với Đức Ki-tô, cuộc Thương Khó là con đường dẫn đến vinh quang và cho thấy Người yêu thương các môn đệ đến cùng (x. Ga 13,1). Chúng ta phải ghi lòng tạc dạ điều giáo lý vô cùng quan trọng này. Chúng ta chỉ trở nên Ki-tô hữu thật sự nếu chúng ta đón nhận lời giáo huấn sau đây của Đức Giê-su : “Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang của Người.” Thế gian bị đau khổ và tội lỗi khống chế. Công việc của Con Người hệ tại việc chịu đau khổ để huỷ diệt tội lỗi và như thế là huỷ diệt nguyên nhân sâu xa khiến con người bị đau khổ.
* Lời giáo huấn của Đức Ki-tô Phục Sinh dành cho hai môn đệ đi làng Em-mau, việc giải thích lời các ngôn sứ là một mặc khải bất ngờ nhưng soi sáng và nâng đỡ hai môn đệ rất nhiều. Hai ông nói : “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta ?” Khi Đức Giê-su giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, không phải chỉ là soi sáng trí khôn chúng ta, nhưng còn là một sự mặc khải chạm đến con tim của chúng ta. Về điểm này, hai môn đệ đã bước vào con đường hoán cải, vì họ hiểu rằng những biến cố đã xảy ra không hoàn toàn vô ích như họ nghĩ, nhưng giúp họ hiểu rõ hơn kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch đem lại lợi ích lớn lao cho nhân loại : đó là chiến thắng của Thiên Chúa và Con của Người.
* Hai môn đệ hoàn toàn bị những lời của Đức Giê-su thuyết phục. Họ xin Người ở lại với họ : “Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng : ‘Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.’” “Mời ông ở lại với chúng tôi”, lời cầu xin này sẽ phát sinh trong tâm hồn chúng ta khi chúng ta suy niệm Lời Chúa trong Kinh Thánh. Đó là lời khẩn cầu Đức Ki-tô luôn ở với chúng ta, để chúng ta luôn tiếp xúc thân mật với Người, nhờ đó chúng ta có thể sống trong ánh sáng, trong hy vọng và trong tình yêu.
* “Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ.” Những cử chỉ này mặc khải Đức Giê-su, mặc khải tình yêu của Người, cho thấy rằng Người đã chấp nhận mọi đau khổ vì tình yêu, Người đã chấp nhận trở thành tấm bánh hằng sống ban sự sống để chiến thắng hận thù, ích kỷ, bạo lực, để con người ở mọi nơi có thể hiệp thông với nhau.
* “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất.” Đức Giê-su kết thúc công việc hoán cải của Người : không chỉ bằng những lời nói nhưng bằng những cử chỉ ban ơn và hiệp thông. Khi bẻ bánh, Người nhắc cho các môn đệ nhớ đến cuộc Thương Khó của Người. Khi trao bánh cho hai môn đệ, Người cho họ thấy cuộc Thương Khó là một quà tặng tình yêu.
* “Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó.” Đó là một chặng khác của cuộc hoán cải. Hai môn đệ đã tìm thấy lại ý nghĩa của sự hiệp thông. Việc hoán cải hoàn toàn khi các ông tái hoà nhập vào cộng đoàn các môn đệ của Đức Giê-su, gặp lại các Tông Đồ và ở lại với các ông. Ở đó các ông hiểu rằng Đức Giê-su đã hiện ra với ông Phê-rô. Quả thật, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc lại rằng Đức Giê-su Phục Sinh đã hiện ra đầu tiên với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai (1 Cr 15,5). Phần kết của câu chuyện này tràn ngập niềm vui, hy vọng và yêu thương. Đức Ki-tô đã phục sinh. Cuộc Thương Khó của Người không phải là một thất bại, nhưng là một chiến thắng cho phần rỗi của chúng ta.
* Sứ điệp này cũng được thánh Phê-rô đặc biệt nhấn mạnh trong bài đọc 2, ngài chứng minh cho chúng ta thấy cái chết không thể giam hãm Người. Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những âu lo của tử thần, vì cái chết không thể giữ Người trong quyền lực của nó. Chiến thắng của Đức Giê-su trên thập giá là chiến thắng vĩnh viễn tử thần khi Người sống lại từ cõi chết. Thánh Phê-rô trích thánh vịnh, một lời sấm, trong đó vua Đa-vít nói về Đấng Mê-si-a : “Con luôn nhớ có Ngài trước mặt, được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ” (Tv 15,8-10). Khi sử dụng đoạn thánh vịnh này, thánh Phê-rô đem lại cho thánh vịnh một ý nghĩa to tát nhờ lời giáo huấn của Đức Ki-tô Phục Sinh. Chiến thắng của Đức Giê-su trên tội lỗi và sự chết quả thật rất hữu ích cho tất cả chúng ta : Đức Ki-tô Phục Sinh đã biến đổi nỗi buồn thành niềm vui, thất vọng thành hy vọng, sự cô lập thành sự hiệp thông. Chúng ta hãy mở rộng tâm hồn đón TIN MỪNG này để sống hiệp thông với Đấng Phục Sinh và tất cả anh chị em Ki-tô hữu khác.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho mỗi người chúng con biết chăm chỉ lắng nghe, nghiền ngẫm Lời Chúa và đem ra thực hành trong cuộc sống đức tin thường ngày. Nhờ đó, chúng con trở nên những chứng nhân cho Thiên Chúa Tình Yêu giữa biết bao người chưa nhận biết Chúa.
Tự vấn :
Chúng ta có ý thức rằng Kinh Thánh có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống đức tin của chúng ta không ? Chúng ta nghĩ gì về lời nói của thánh Giê-rô-ni-mô : “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô” ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
Câu chuyện này là bản lược đồ hay khuôn mẫu chính xác của nền Phụng vụ Công Giáo
(H.Denis,“100từđểtuyên xưng niềm tin”, Desclée de Brouwer, tr. 145-146).
Câu chuyện sống động này chính là bản lược đồ hay khuôn mẫu xác thực của tất cả nền Phụng vụ Công Giáo, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Hãy đọc lại sẽ thấy. Phụng vụ, luôn bắt đầu bằng việc tập họp. Đây là điều không thể thiếu được. Các bạn đang đồng hành trên con đường sự sống. Có lẽ đã quá quen nhau nên không nhận ra Đức Ki-tô, người bạn đồng hành vừa gia nhập vào nhóm của các bạn. Một cộng đoàn Phụng vụ tự cơ bản là một cộng đoàn được hình thành, gắn bó với Đức Ki-tô, trở nên thân thể của Đức Ki-tô, Hội Thánh … Nhưng rồi, người ta sao nhãng, người ta có những mối quan tâm khác, thế là bạn nói chuyện ngay ngoài cửa nhà thờ, bạn kể cho nhau vài tin tức trước khi bước vào hay khi đã ngồi vào ghế … cho đến lúc bạn tự hỏi xem đời mình có thể nối kết với đời sống của Đức Ki-tô và đời sống của Đức Ki-tô có thể nối kết với đời mình không. “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay …”
Cộng đoàn là một tập thể có khả năng lắng nghe Đức Giê-su. Đó chính là Phụng vụ Lời Chúa, trong đó, dù là ngày nào đi nữa thì cũng vẫn là Đức Giê-su cho biết mình đã kiện toàn lề luật và các ngôn sứ ra sao.
Bây giờ, ta có thể bước vào trong thâm cung nhà Chúa. “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4), nhà của những người đồng hành trên đường Em-mau đã biến thành nơi chia sẻ tấm bánh. Kỳ diệu thay, chính trong việc bẻ ra, chia sẻ, việc Thiên Chúa tự hiến mà người ta nhận biết nhau. Những con mắt mở ra để khám phá, không phải sự trần trụi của thân xác hay chết như trong vườn Ê-đen xưa kia, mà là vẻ rực rỡ huy hoàng của Đấng Phục Sinh đã tự nguyện mặc lấy thân xác mọn hèn phải chết của chúng ta. Sự nhận biết đầy kính tin, cấm người ta chạm đến Đấng Phục Sinh. Hiện diện trong xa vắng. Đức Giê-su đã xa khuất tầm nhìn của họ …
Thế cũng đã đủ để họ ra đi, hợp nhất niềm tin với các Tông Đồ, hãy ra đi trong bình an của Đức Ki-tô. Hãy ra đi loan báo cho các anh em : Đức Ki-tô đã sống lại. Ha-lê-lui-a.
Câu chuyện tuyệt đẹp và xác thực dành cho các tín hữu mọi thời
(M. Sevin, trong “Hồ sơ Kinh Thánh”, số 41, tr. 22).
Mong sao độc giả Tin Mừng hiểu được rằng câu chuyện này nhắm đến họ. Đến lượt mình, họ tự hỏi làm sao thấy được Đấng Phục Sinh ? Câu trả lời là : Mắt trần hoàn toàn vô dụng, sự hiện diện của Đấng Phục Sinh khác hẳn sự hiện diện của Đức Giê-su tại Na-da-rét. Đây là một sự hiện diện mới mẻ, chỉ tỏ hiện với con mắt đức tin được nuôi bằng Kinh Thánh và việc chia sẻ bữa ăn với Đức Giê-su.
Nếu muốn thấy và sống sự hiện diện của Đấng Phục Sinh, các tín hữu phải trang bị cho mình hai điều kiện ấy vì họ luôn có sẵn trong tay Kinh Thánh và Thánh Thể.
Ở đây, thánh Lu-ca, đã viết nên một câu chuyện tuyệt đẹp và xác thực cho các tín hữu mọi thời.
