KINH TRUYỀN TIN VỚI ĐỨC THÁNH CHA
Chúa nhật 27 Thường niên năm A
Chúa nhật, 05.10.2008
CON NGƯỜI MUỐN GẠT BỎ THIÊN CHÚA RA KHỎI ĐỜI SỐNG
Bình Hòa
Vào lúc 9 giỡ rưỡi sáng Chúa nhật hôm 05.10.2008, Đức Thánh Cha đã chủ sự Thánh lễ tại đền thờ thánh Phaolô ngoại thành để khai mạc khóa họp thường lệ lần thứ 9 của Thượng hội đồng giám mục, bàn về Lời Chúa trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội. Đây là lần đầu tiên mà Thượng hội đồng giám mục được khai mạc tại đền thánh Phaolô, và có lý do của nó: một đàng vì chúng ta đang trong năm thánh kỷ niệm 2000 năm sinh nhật của ngài, và đàng khác, vị thánh tông đồ đã hiến trót cuộc đời cho việc rao giảng Lời Chúa, và trở nên tấm gương cho Giáo hội. Cùng đồng tế với đức Bênêđictô XVI là các nghị phụ và các cộng sự viên: 52 hồng y, 14 giám mục thuộc các Giáo hội Đông phương, 45 tổng giám mục, 130 giám mục, 85 linh mục (gồm các nghị phụ cũng như các chuyên viên). Các lời nguyện và bài đọc Sách thánh trích từ bài lễ Chúa Nhựt XXVII Thường niên. Thánh lễ kết thúc lúc 11 giờ rưỡi, và đức thánh cha trở về Vatican để chủ sự buổi đọc kinh Truyền tin. Trong bài huấn dụ, ngài đã giải thích ý nghĩa của cơ quan Thượng hội đồng giám mục, được thành lập năm 1965, nhằm thắt chặt sự thông hiệp giữa hàng giám mục thế giới với vị kế nhiệm thánh Phêrô, qua việc thông tin và bàn luận về những vấn đề quan trọng của Giáo hội. Bên thềm phiên họp lần này bàn về Lời Chúa, Đức Thánh Cha cũng nói đến một dự án do đài truyền hình RAI của Italia khởi xưóng với nhan đề “đọc Kinh Thánh ngày đêm”, bắt đầu từ 7 giờ chiều chúa nhựt hôm qua, với chương đầu tiên của sách Sáng thế do chính ngài đọc, và kéo dài trong vòng 139 giờ, cho đến 1 giờ 25 trưa thứ bảy sắp tới, với sự tham gia của gần 1200 người, thuộc 50 quốc gia. Nhờ đài truyền hình, truyền thanh cũng như internet, Kinh thánh sẽ được mang đến các gia đình.
Trước hết, chúng tôi xin dịch nguyên văn bài huấn dụ trước khi đọc kinh Truyền tin, và tiếp đến, chúng tôi sẽ tóm lược bài giảng Thánh lễ.
Anh chị em thân mến,
Sáng nay, với Thánh lễ tại đền thánh Phaolô ngoại thành, khóa họp thường lệ lần thứ Chín cua Thượng hội đồng Giám mục đã được khai mạc. Thượng hội đồng sẽ tiếp diễn ở Vatican trong vòng 3 tuần lễ, bàn về đề tài: “Lời Chúa trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội”. Anh chị em đã biết giá trị và chức năng của Thượng hội đồng các giám mục, gồm các đại biểu của toàn thể hàng giám mục, và được triệu tập để mang lại cho vị kế nhiệm thánh Phêrô sự trợ giúp hữu hiệu, qua việc biểu lộ và củng cố dây thông hiệp của Giáo hội. Đây là một cơ quan quan trọng, do vị tiền nhiệm của tôi là đức Phaolô VI thiết lập vào tháng 9 năm 1965 (Tự sắc Apostolica sollicitudo), trong giai đoạn chót của công đồng Vaticanô II, nhằm thực thi một quyết nghị hàm chứa trong sắc lệnh về tác vụ Giám mục (Christus Dominus, số 5). Mục tiêu của Thượng hội đồng giám mục là: cỗ võ sự hợp nhất và hợp tác giữa giáo hoàng và các giám mục trên khắp thế giới; cung cấp những thông tin trực tiếp và chính xác về tình hình và những vấn đề của Giáo hội; đẩy mạnh sự hoà hợp về đạo lý và hoạt động mục vụ; đối diện với những đề tài có tầm quan trọng và hiện đại. Những chức năng này được phối hợp nhờ Văn phòng Tổng thư ký, đặt dưới sự điều hành trực tiếp của giám mục Rôma.
Chiều kích “Hội đồng” là một yếu tố cấu thành của Giáo hội, được quy tụ từ khắp mọi dân tộc và văn hóa để trở nên một trong Chúa Kitô, và đi theo Người là “đường, sự thật, sự sống” (Ga 14,6). Thực vậy, danh từ synodos gốc hy lạp gồm bởi giới từ syn (nghĩa là cùng nhau) và odos (nghĩa là đường), gợi lên ý tưởng là “cùng đi, đồng hành”, và đây là kinh nghiệm của Dân Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ. Ở khóa họp thường lệ khai diễn hôm nay, sau khi đón nhận ý kiến của nhiều người, tôi đã chọn đề tài “Lời Chúa” để đào sâu trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội, dưới viễn tuợng mục vụ. Công cuộc chuẩn bị đã được tham gia rất là sâu rộng từ các Giáo hội điạ phương trên khắp thế giới. Họ đã gửi những góp ý về Văn phòng Tổng thư ký, và Văn phòng đã soạn thảo Tài liệu làm việc, dụa theo đó, 253 nghị phụ (51 Phi châu, 62 Mỹ châu, 41 Á châu, 90 Âu châu, 9 Đại dương châu) sẽ trao đổi ý kiến, với sự góp phần của nhiều chuyên viên và dự thính viên, nam nữ, cũng như những “đại biểu huynh đệ” của các Giáo hội và vài thượng khách.
Anh chị em thân mến, tôi xin mời tất cả hãy nâng đỡ các công việc của Thượng hội đồng bằng lời cầu nguyện, cách riêng qua việc nài xin sự chuyển cầu của đức Trinh nữ Maria, người môn sinh tuyệt hảo của Lời Chúa.
* * *
Như đã nói trên, các bài đọc Sách Thánh của Thánh lễ khai mạc Thượng hội đồng được trích từ bài lễ Chúa nhật 27 mùa Thường niên, với bài Phúc âm thuật lại dụ ngôn về những tá điền bất nhân. Phần chính của bài giảng đã dựa trên dụ ngôn đó.
THÁNH LỄ KHAI MẠC
ĐẠI HỘI THƯỜNG LỆ LẦN THỨ XII
CỦA THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI
Vương cung thánh đường Thánh Phaolô Ngoại thành
Chúa nhật, ngày 05 tháng 10 năm 2008
Kính thưa quý Đức Cha và quý Cha,
Anh chị em thân mến,
Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Isaia, cũng như đoạn Tin mừng theo Thánh Matthêu, đã trình bày trước cộng đoàn phụng vụ chúng ta một hình ảnh ẩn dụ có sức đánh động của Thánh Kinh: hình ảnh vườn nho mà chúng ta đã nghe nhắc đến trong những Chúa nhật vừa qua. Phần mở đầu của trình thuật Tin mừng quy chiếu đến “bài ca vườn nho” mà chúng ta gặp thấy trong sách Isaia. Đây là một bài ca được đặt trong khung cảnh mùa thu hoạch nho vào mùa thu: một kiệt tác thu nhỏ của thi ca Do Thái, hẳn rất quen thuộc với những người đang lắng nghe Đức Giêsu. Từ bài ca này, cũng như từ những quy chiếu khác nơi các ngôn sứ (x. Hs 10,1; Gr 2,21; Ed 17,3-10; 19,10-14; Tv 79,9-17), người ta dễ dàng hiểu rằng vườn nho tượng trưng cho Israel. Thiên Chúa dành cho vườn nho của Người, tức Dân mà Người đã tuyển chọn, sự chăm sóc ân cần như một người chồng thủy chung dành cho người vợ của mình (x. Ed 16,1-14; Ep 5,25-33).
Vì thế, hình ảnh vườn nho, cùng với hình ảnh tiệc cưới, diễn tả kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và được trình bày như một ẩn dụ cảm động về Giao ước giữa Thiên Chúa với Dân Người. Trong Tin mừng, Đức Giêsu lấy lại bài ca của Isaia, nhưng điều chỉnh cho phù hợp với thính giả đang nghe Người và với giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ. Trọng tâm không còn đặt nhiều nơi vườn nho, nhưng nơi những tá điền canh tác vườn nho, những người mà các “đầy tớ” của chủ vườn thay chủ đến yêu cầu họ nộp hoa lợi cho chủ. Thế nhưng, các đầy tớ lại bị hành hung, thậm chí bị sát hại. Làm sao chúng ta lại không nghĩ đến những thăng trầm của Dân được tuyển chọn và số phận dành cho các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến?
Cuối cùng, chủ vườn nho thực hiện một nỗ lực sau hết: ông sai chính con trai mình đến, tin rằng ít nhất họ sẽ kính trọng người con ấy. Nhưng điều ngược lại đã xảy ra: những tá điền vườn nho giết người con ấy chính vì anh là con của chủ vườn, nghĩa là người thừa kế, vì nghĩ rằng nhờ đó họ có thể dễ dàng chiếm lấy vườn nho. Như vậy, so với lời tố cáo về sự vi phạm công bằng xã hội xuất hiện trong bài ca của Isaia, ở đây chúng ta chứng kiến một bước chuyển mang tính quyết định. Chúng ta thấy rõ rằng sự khinh thường mệnh lệnh của chủ vườn trở thành sự khinh thường chính người chủ: đây không còn chỉ là sự bất tuân một giới răn của Thiên Chúa, nhưng là sự khước từ Thiên Chúa thực sự và đúng nghĩa: mầu nhiệm Thập giá xuất hiện.
Những gì đoạn Tin mừng thuật lại chất vấn cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Đoạn Tin mừng không chỉ nói về “giờ” của Đức Kitô, về mầu nhiệm Thập giá vào thời điểm ấy, nhưng còn nói đến sự hiện diện của Thập giá trong mọi thời đại. Đặc biệt, đoạn Tin mừng chất vấn những dân tộc đã đón nhận lời loan báo Tin mừng.
Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta thường buộc phải ghi nhận sự nguội lạnh và nổi loạn của những Kitô hữu sống thiếu nhất quán. Hệ quả là, mặc dù Thiên Chúa không bao giờ thất tín với lời hứa cứu độ của Người, Người thường phải dùng đến hình phạt. Trong bối cảnh này, chúng ta tự nhiên nghĩ đến những nơi đầu tiên Tin mừng được loan báo, từ đó phát sinh những cộng đoàn Kitô hữu ban đầu rất hưng thịnh, nhưng rồi đã biến mất và ngày nay chỉ còn được nhắc đến trong các sách lịch sử. Liệu điều tương tự có thể xảy ra trong thời đại chúng ta không? Những quốc gia từng phong phú về đức tin và ơn gọi nay đang đánh mất căn tính của mình dưới ảnh hưởng tai hại và hủy hoại của một thứ văn hóa hiện đại nào đó. Có những người, sau khi quyết định rằng “Thiên Chúa đã chết”, lại tự tuyên bố mình là “thượng đế”, coi mình là người duy nhất kiến tạo vận mệnh của chính mình, là chủ nhân tuyệt đối của thế giới. Khi loại bỏ Thiên Chúa và không còn mong đợi ơn cứu độ từ Người, con người tin rằng mình có thể làm bất cứ điều gì mình muốn và có thể tự đặt mình làm vị thẩm phán duy nhất xét xử chính mình và các hành vi của mình. Tuy nhiên, khi loại Thiên Chúa ra khỏi chân trời của mình, tuyên bố Thiên Chúa “đã chết”, liệu con người có thực sự hạnh phúc không? Liệu họ có thực sự trở nên tự do hơn không? Khi con người tự tuyên bố mình là chủ nhân tuyệt đối của chính mình và là chủ duy nhất của công trình tạo dựng, liệu họ có thực sự có thể xây dựng một xã hội trong đó tự do, công lý và hòa bình ngự trị không? Hay trái lại – như tin tức hằng ngày cho chúng ta thấy quá rõ – quyền lực độc đoán, những lợi ích ích kỷ, bất công, bóc lột và bạo lực dưới mọi hình thức lại ngày càng lan rộng? Cuối cùng, con người đi đến chỗ thấy mình cô đơn hơn, còn xã hội thì ngày càng chia rẽ và mất phương hướng.
Tuy nhiên, trong những lời của Đức Giêsu có một lời hứa: vườn nho sẽ không bị phá hủy. Trong khi những tá điền bất trung từ bỏ vận mệnh của mình, thì chủ vườn nho lại không từ bỏ vườn nho của mình, nhưng trao nó cho những đầy tớ trung tín khác. Điều này có nghĩa là, mặc dù tại một số miền, đức tin đang suy giảm đến mức gần như mai một, vẫn luôn có những dân tộc khác sẵn sàng đón nhận đức tin.
Chính vì thế, khi Đức Giêsu trích dẫn Thánh vịnh 118 [117]: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (c. 22), Người bảo đảm rằng cái chết của Người sẽ không đồng nghĩa với thất bại của Thiên Chúa. Sau khi bị giết, Người sẽ không ở lại trong mồ; trái lại, chính điều tưởng như là một thất bại hoàn toàn sẽ đánh dấu khởi đầu của một chiến thắng chung cuộc. Sau cuộc Thương khó đau thương và cái chết trên Thập giá sẽ là vinh quang Phục sinh của Người. Vì thế, vườn nho sẽ tiếp tục sinh hoa trái và sẽ được chủ vườn trao cho “những tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông” (Mt 21,41).
Hình ảnh vườn nho, với những hàm ý luân lý, tín lý và thiêng liêng, sẽ lại xuất hiện trong diễn từ tại bữa Tiệc Ly, khi từ biệt các Tông đồ, Chúa nói: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15,1-2).
Như thế, khởi đi từ cuộc Vượt qua, lịch sử cứu độ đạt đến một bước ngoặt quyết định, và những “tá điền khác” ấy sẽ đảm nhận vai trò chủ đạo như những chồi được tuyển chọn, được tháp nhập vào Đức Kitô là cây nho thật, và sinh nhiều hoa trái cho sự sống đời đời (x. Lời nguyện nhập lễ). Chúng ta cũng thuộc về số những “tá điền” ấy, được tháp nhập vào Đức Kitô, Đấng đã muốn chính mình trở thành “cây nho thật”. Chúng ta hãy cầu xin Chúa, trong Bí tích Thánh Thể, ban cho chúng ta Máu của Người, ban chính Mình Người, để Người giúp chúng ta “sinh hoa trái” cho sự sống đời đời và cho thời đại của chúng ta.
Sứ điệp đầy an ủi mà chúng ta nhận được từ các bản văn Kinh thánh này là niềm xác tín rằng sự dữ và sự chết không có tiếng nói cuối cùng, mà chính Đức Kitô mới là Đấng chiến thắng sau cùng. Luôn luôn là như thế! Giáo hội không bao giờ mệt mỏi loan báo Tin mừng này, như đang diễn ra hôm nay tại chính Vương cung thánh đường này, được dâng kính vị Tông đồ dân ngoại, người đầu tiên đã đem Tin mừng đến những miền rộng lớn của Tiểu Á và châu Âu. Chúng ta sẽ long trọng làm mới lại lời loan báo này trong Đại hội Thường lệ lần thứ XII của Thượng Hội đồng Giám mục, với chủ đề: “Lời Thiên Chúa trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội”. Tại đây, tôi muốn thân ái chào tất cả quý nghị phụ đáng kính của Thượng Hội đồng, cũng như tất cả những ai tham dự cuộc họp này với tư cách chuyên viên, dự thính viên và khách mời đặc biệt. Tôi cũng vui mừng chào đón các Đại biểu Huynh đệ của các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác. Thay mặt tất cả, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục và các cộng sự viên vì công việc vất vả họ đã thực hiện trong những tháng vừa qua, đồng thời cầu chúc họ hoàn thành tốt những công việc đang chờ đợi trong những tuần sắp tới.
Khi Thiên Chúa phán, Người luôn đòi hỏi một lời đáp trả. Hành động cứu độ của Người đòi hỏi sự cộng tác của con người; tình yêu của Người phải được đáp lại. Anh chị em thân mến, ước gì điều bản văn Kinh thánh thuật lại về vườn nho sẽ không bao giờ xảy ra: “Ông những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại” (Is 5,2). Chỉ Lời Thiên Chúa mới có thể biến đổi sâu xa tâm hồn con người. Vì thế, điều quan trọng là mỗi tín hữu cũng như các cộng đoàn phải ngày càng đi vào mối tương quan mật thiết hơn với Lời Người. Đại hội Thượng Hội đồng sẽ tập trung sự chú ý vào chân lý nền tảng này đối với đời sống và sứ mạng của Giáo hội. Kín múc dưỡng chất từ Lời Thiên Chúa là nhiệm vụ đầu tiên và căn bản của Giáo hội. Quả thật, nếu việc loan báo Tin mừng là lý do hiện hữu và là sứ mạng của Giáo hội, thì điều không thể thiếu là Giáo hội phải biết và sống điều mình loan báo, để lời rao giảng của Giáo hội có sức thuyết phục, bất chấp những yếu đuối và nghèo nàn của những con người làm nên Giáo hội. Hơn nữa, chúng ta biết rằng lời loan báo Lời Chúa, theo trường học của Đức Kitô, có nội dung là Nước Thiên Chúa (x. Mc 1,14-15); nhưng Nước Thiên Chúa chính là con người của Đức Giêsu, Đấng bằng lời nói và hành động của mình trao ban ơn cứu độ cho con người thuộc mọi thời đại. Về điểm này, suy tư của Thánh Giêrônimô thật đáng chú ý: “Ai không biết Kinh thánh thì không biết quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa; vì thế, không biết Kinh thánh là không biết Đức Kitô” (Lời tựa Chú giải sách Isaia, số 1, CCL 73, 1).
Trong Năm Thánh Phaolô này, chúng ta nghe tiếng khóc của vị Tông đồ dân ngoại vang lên với một sự khẩn thiết đặc biệt: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng!” (1 Cr 9,16); một tiếng khóc trở thành lời mời gọi cấp thiết đối với mọi Kitô hữu hãy phục vụ Đức Kitô. “Lúa chín đầy đồng” (Mt 9,37), vị Thầy thần linh hôm nay vẫn nhắc lại như thế: biết bao người vẫn chưa nhận biết Người và đang chờ đợi lời loan báo Tin mừng đầu tiên; những người khác, mặc dù đã được giáo dục Kitô giáo, nhưng nhiệt huyết đã nguội lạnh và chỉ còn duy trì một mối liên hệ hời hợt với Lời Thiên Chúa; lại có những người đã xa rời việc thực hành đức tin và cần một cuộc tân Phúc âm hóa. Bên cạnh đó, có rất nhiều người thiện chí và có lý trí ngay thẳng đang tự đặt ra những câu hỏi thiết yếu về ý nghĩa của sự sống và cái chết, những câu hỏi mà chỉ Đức Kitô mới có thể mang lại câu trả lời thỏa đáng. Vì thế, điều không thể thiếu là các Kitô hữu trên mọi châu lục phải sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng đang có nơi mình (x. 1 Pr 3,15), vui mừng loan báo Lời Thiên Chúa và sống Tin mừng không thỏa hiệp.
Quý chư huynh đệ đáng kính và thân mến, xin Chúa giúp chúng ta, trong những tuần làm việc sắp tới của Thượng Hội đồng, cùng nhau tự vấn xem phải làm thế nào để việc loan báo Tin mừng ngày càng hữu hiệu hơn trong thời đại chúng ta. Tất cả chúng ta đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc đặt Lời Thiên Chúa vào trung tâm đời sống, đón nhận Đức Kitô như Đấng Cứu Chuộc duy nhất của chúng ta, như chính Nước Thiên Chúa hiện thân, để ánh sáng của Người có thể soi chiếu mọi môi trường của đời sống nhân loại: từ gia đình đến trường học, văn hóa, công việc, thời gian nghỉ ngơi và mọi lãnh vực khác của xã hội cũng như đời sống chúng ta. Khi tham dự cử hành Thánh Thể, chúng ta luôn ý thức mối liên hệ mật thiết giữa việc công bố Lời Thiên Chúa và hy tế Thánh Thể: chính một Mầu nhiệm được trao ban để chúng ta chiêm ngắm. Chính vì thế, như Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh, “Giáo hội luôn tôn kính Thánh kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng vụ thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô để trao ban cho các tín hữu” (Dei Verbum, số 21).
Công đồng đã kết luận thật xác đáng: “Cũng như đời sống Giáo hội được tăng triển nhờ năng tham dự mầu nhiệm Thánh Thể, thì cũng thế, chúng ta có thể hy vọng đời sống thiêng liêng được đổi mới nhờ việc gia tăng lòng tôn kính Lời Thiên Chúa, lời ‘tồn tại đến muôn đời’” (Dei Verbum, số 26).
Xin Chúa ban cho chúng ta biết tiến đến trước bàn tiệc kép của Lời Chúa và Mình Máu Đức Kitô bằng đức tin. Xin Đức Maria Rất Thánh, Đấng “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19), chuyển cầu cho chúng ta được ân huệ này. Xin Mẹ dạy chúng ta biết lắng nghe Thánh kinh và suy niệm Lời Chúa trong một tiến trình trưởng thành nội tâm, không bao giờ tách rời trí tuệ khỏi con tim. Xin các thánh trợ giúp chúng ta, đặc biệt là thánh Phaolô Tông đồ, Đấng mà trong năm nay chúng ta ngày càng khám phá như một chứng nhân can trường và người loan báo không mệt mỏi Lời Thiên Chúa. Amen.
Nguồn: archivioradiovaticana.va