|
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 27 Thường niên năm A (04/10/2020) – Quyền bính thật sự là phục vụ |
Đức Lêô XIV, Huấn dụ Chúa nhật 27 Thường niên năm A (04/10/2026) - Thiên Chúa dẫn dắt lịch sử, biến sự dữ thành ơn cứu độ
Anh chị em thân mến, chúc Chúa nhật tốt lành!
Dụ ngôn Tin mừng được công bố trong phụng vụ Chúa nhật này nói về cuộc đời Chúa Giêsu và soi sáng ý nghĩa sứ mạng của Người (x. Mt 21,33-43). Người là Con Thiên Chúa được sai đến thế gian, nhưng lại bị chính những người lẽ ra phải dang rộng vòng tay đón tiếp Người khước từ. Đấng đến để mang ơn cứu độ lại bị kết án; Đấng muốn trao ban sự sống lại bị giết chết. Khi giúp chúng ta suy ngẫm về biết bao hành vi tàn ác đang tàn phá thế giới và lịch sử các dân tộc, giáo huấn của Chúa Kitô cho thấy lòng thương xót của Chúa Cha luôn lớn lao hơn mọi sự.
Thật vậy, sự khước từ đầy bạo lực ấy không phá vỡ được ý muốn của Thiên Chúa, Đấng, trong sự công chính vô biên của mình, biến sự dữ thành ơn cứu chuộc: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (Mt 21,42; x. Tv 118,22). Chính Chúa Giêsu nhắc lại những lời Thánh vịnh này, những lời ca ngợi công trình kỳ diệu Chúa đã thực hiện: chính điều bị loại bỏ trở thành nền tảng nâng đỡ tất cả. Đó là cách Đấng Toàn Năng dẫn dắt lịch sử, cứu giúp chúng ta trong mọi lần sa ngã: Thiên Chúa không bao giờ vứt bỏ chúng ta!
Theo hình ảnh được sử dụng trong dụ ngôn, vườn nho cần được vun trồng theo lẽ công chính chính là Giáo hội mà chúng ta xây dựng hoặc làm tổn hại bằng những chọn lựa của mình. Về điều này, đúng hôm nay, kỷ niệm 800 năm ngày qua đời của ngài, tôi muốn nhắc đến một người thợ đã làm việc và mang lại nhiều hoa trái trong vườn nho của Chúa: thánh Phanxicô Assisi, người được chính Chúa Giêsu yêu cầu sửa chữa Giáo hội của Người. Được Đấng chịu đóng đinh soi sáng, thánh Phanxicô trước hết đã xây dựng đời mình trên nền tảng là Chúa Kitô, chia sẻ sự nghèo khó, niềm hân hoan và những đau khổ của Người, cho đến việc mang nơi mình dấu chỉ huyền nhiệm là năm dấu thánh. Thánh Phanxicô, là con người cầu nguyện sốt mến, đầy lòng bác ái đối với mọi người, ngài đã trở nên gương mẫu cho những anh em đầu tiên cùng chia sẻ đời sống khổ chế của ngài như một điều kiện đích thực để canh tân Giáo hội. Thánh Phanxicô đã sửa chữa Giáo hội nhờ đức tin vào Chúa Giêsu, hàn gắn những rạn nứt do bất hòa bằng chứng tá của tình huynh đệ.
Anh chị em rất thân mến, sau tám thế kỷ, đặc sủng của thánh Phanxicô vẫn sinh hoa trái hôm nay: điều đó được minh chứng không chỉ nơi gia đình Phan sinh đông đảo và đầy sức sống, mà còn nơi biết bao ân huệ được di sản thiêng liêng của ngài lan tỏa trong Dân Thiên Chúa. Vì thế, trong khi cử hành Năm Thánh Phanxicô, chúng ta hãy kiên trì cầu xin ơn hòa bình, và chân thành dấn thân xây dựng sự hòa hợp giữa các dân tộc.
Trong công cuộc này, ước gì lời chuyển cầu của Đức Maria rất thánh, Mẹ chúng ta, luôn đồng hành với chúng ta. Giờ đây, chúng ta hướng về Mẹ, hiệp thông thiêng liêng với các tín hữu đang quy tụ tại Đền thánh Pompei để dâng lên Đức Trinh Nữ Mân Côi lời kinh cầu khẩn.
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 27 Thường niên năm A (08/10/2023) – Sống kinh nghiệm biết ơn với Chúa và với người khác
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Hôm nay Tin Mừng trình bày cho chúng ta một dụ ngôn bi kịch, với một cái kết buồn (x. Mt 21:33-43). Người chủ kia trồng một vườn nho và chăm sóc nó rất cẩn thận; sau đó, ông đi xa nên giao vườn nho lại cho các tá điện. Đến mùa gặt, ông sai đầy tớ đến thu hoa lợi. Nhưng các tá điền ngược đãi và giết chết họ; sau đó ông chủ sai chính con trai mình đi, và họ thậm chí còn giết cả người con ấy. Chuyện ấy xảy ra thế nào được? Điều gì đã xảy ra? Có một sứ điệp của Chúa Giêsu trong dụ ngôn này.
Người chủ làm mọi việc tốt đẹp, hết lòng: chính ông làm việc chăm chỉ, trồng vườn nho, rào giậu bao quanh để bảo vệ, khoét bồn đạp nho và xây tháp canh (xem c. 33). Sau đó, ông giao vườn nho cho các tá điền, cho họ thuê tài sản quý giá của mình và do đó đối xử công bằng với họ, để vườn nho được chăm sóc tốt và sinh hoa trái. Với những chuẩn bị như thế, vụ thu hoạch lẽ ra phải kết thúc cách vui vẻ có hậu, trong không khí lễ hội, với việc chia sẻ hoa lợi một cách công bằng để mọi người đều hài lòng.
Ngược lại, những suy nghĩ vô ơn và tham lam lại len lỏi vào tâm trí các tá điền. Chúng ta thấy nơi gốc rễ của những xung đột luôn có những sự vô ơn và suy nghĩ tham lam, muốn sở hữu nhiều thứ. Những tá điền bàn với nhau: “Chúng ta chẳng cần đưa gì cho ông chủ cả. Sản phẩm lao động của chúng ta là của riêng chúng ta. Chúng ta không cần phải trả cho bất kỳ ai cả!”. Điều này không đúng: họ cần phải biết ơn những gì họ đã nhận được và cách họ được đối xử. Trái lại, sự vô ơn đã khơi dậy lòng tham và ý thức nổi loạn ngày càng lớn dần trong họ, khiến họ nhìn thực tế một cách méo mó, cảm thấy rằng họ có công hơn là mắc nợ ông chủ, người đã cho họ việc để làm. Khi nhìn thấy người con trai, họ thậm chí còn đi xa hơn khi nói: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!” (câu 38). Và từ những tá điền, họ trở thành những kẻ giết người. Tất cả là một tiến trình, và tiến trình này nhiều khi xảy ra trong trái tim con người, và cả trong trái tim chúng ta.
Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta điều gì sẽ xảy ra khi con người tự lừa dối mình rằng mình tự làm mọi sự và quên đi lòng biết ơn, quên mất thực tại nền tảng của cuộc sống: rằng điều tốt lành đến từ ân sủng của Thiên Chúa, từ món quà vô vị lợi của Người. Khi chúng ta quên đi điều này, quên đi sự vô vị lợi của Thiên Chúa, thì cuối cùng chúng ta kết thúc trong chính tình trạng và giới hạn của mình, không còn niềm vui cảm thấy được yêu thương và được cứu, mà với ảo tưởng buồn bã là chẳng cần tình yêu cũng chẳng cần cứu độ. Chúng ta không còn để mình được yêu thương và tự thấy mình bị giam cầm trong lòng tham của chính mình, bởi nhu cầu có điều gì đó hơn người khác, muốn nổi bật hơn người khác. Điều này thật xấu, và nhiều khi xảy ra đối với chúng ta. Chúng ta hãy nghiêm túc suy nghĩ về nó. Đây là nơi bắt nguồn của rất nhiều sự bất mãn và chỉ trích, rất nhiều hiểu lầm và đố kỵ; và bị thúc đẩy bởi sự oán giận, người ta có thể rơi vào vòng xoáy bạo lực. Vâng, anh chị em thân mến, sự vô ơn tạo ra bạo lực, trong khi một lời “cám ơn” đơn sơ có thể mang lại hòa bình!
Vậy chúng ta hãy tự hỏi: tôi có để ý mình đã nhận được sự sống và đức tin như một món quà, và chính tôi cũng là một món quà không? Tôi có tin rằng mọi sự đều bắt đầu từ ân sủng của Chúa không? Tôi có hiểu rằng tôi là người nhận được điều tốt lành mà chẳng phải vì xứng đáng không, được yêu thương và được cứu một cách vô điều kiện không? Và trên hết, để đáp lại ân sủng, tôi có biết nói lời “cám ơn” không? Có ba lời là bí quyết của cuộc sống chung: cảm ơn, xin phép và xin lỗi. Đây là một lời nhỏ bé, “cảm ơn”, một lời nhỏ bé “xin phép” và “xin lỗi”, được mong đợi hằng ngày từ Thiên Chúa và từ anh chị em chúng ta. Chúng ta hãy tự hỏi liệu lời nhỏ bé “cảm ơn”, “xin phép”, “xin lỗi” này có hiện diện trong cuộc sống của chúng ta không.
Xin Mẹ Maria, người dâng lời ngợi khen Chúa, giúp chúng ta biến lòng biết ơn thành ánh sáng bừng lên từ trái tim mỗi ngày.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 27 Thường niên năm A (04/10/2020) – Quyền bính thật sự là phục vụ
Anh chị em thân mến,
Trong bài Tin Mừng hôm nay (x. Mt 21, 33-43), thấy trước cuộc khổ nạn và cái chết của Người, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn về những tá điền sát nhân, để cảnh báo các thượng tế và các kỳ lão, những người sắp sửa đi sai đường. Trên thực tế, những người này đang có mưu đồ đối với Chúa và tìm mọi cách để loại bỏ Người.
Câu chuyện ngụ ngôn mô tả một ông chủ, sau khi đã chăm sóc rất kỹ vườn nho của mình (x. c. 33), vì phải đi xa nên đã giao nó lại cho các tá điền. Sau đó, đến kỳ thu hoạch, ông sai các đầy tớ đến thu hoa lợi; nhưng những tá điền đó dùng gậy đánh các đầy tớ và một số người thậm chí còn giết các đầy tớ. Ông chủ sai các đầy tớ khác đến, đông hơn, nhưng họ cũng bị đối xử tương tự (x. cc. 34-36). Đỉnh điểm là khi ông chủ quyết định sai con của mình đến: những người thợ làm vườn nho nhưng không tôn trọng anh ta chút nào, ngược lại, họ nghĩ rằng bằng cách loại bỏ anh ta, họ sẽ có thể chiếm vườn nho, và do đó họ giết luôn anh ta (x. cc. 37-39).
Hình ảnh của vườn nho tượng trưng cho dân tộc mà Chúa đã chọn và hết lòng chăm sóc tạo dựng; các đầy tớ được chủ sai đi là các ngôn sứ, được Thiên Chúa gửi đến, trong khi người con chính là hình bóng của Chúa Giêsu. Và cũng như các ngôn sứ đã bị từ chối, Chúa Ki-tô cũng bị chối từ và sát hại.
Cuối câu chuyện, Chúa Giê-su hỏi các nhà lãnh đạo của dân chúng: "Khi chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì những tá điền này?" (c. 40). Và dựa trên trình tự và lý luận của câu chuyện, các nhà lãnh đạo đã đưa ra lời lên án chính họ: họ nói rằng người chủ sẽ trừng phạt nghiêm khắc những kẻ gian ác và sẽ giao vườn nho "cho các tá điền khác, những người sẽ nộp hoa lợi vào đúng thời hạn" (c. 41).
Với dụ ngôn rất mạnh mẽ này, Chúa Giêsu đặt những người đối thoại đứng trước trách nhiệm của họ, và Chúa làm như vậy hết sức rõ ràng. Nhưng Chúng ta đừng nghĩ rằng lời cảnh báo này chỉ áp dụng cho những người đã từ chối Chúa Giê-su vào thời đó. Nó có giá trị mọi thời, ngay cả cho thời đại của chúng ta. Ngay cả ngày nay, Thiên Chúa cũng mong đợi hoa trái trong vườn nho của Chúa từ những người Chúa đã sai đến làm việc ở đó. Chúa mong đợi từ tất cả chúng ta.
Trong mọi thời đại, những người có quyền, bất cứ quyền hành nào, cả trong Giáo hội, trong Dân Chúa, có thể bị cám dỗ phục vụ lợi ích của họ thay vì của Chúa. Chúa Giêsu nói rằng quyền bính thật sự là khi phục vụ, trong phục vụ, chứ không trong việc bóc lột người khác. Vườn nho thuộc về Chúa, không phải của chúng ta. Quyền bính là một công việc phục vụ, và như vậy nó phải được thực thi, vì lợi ích của tất cả mọi người và cho việc truyền bá Phúc Âm. Thật là tồi tệ khi thấy trong Giáo hội có những người có quyền tìm kiếm lợi lộc riêng.
Thánh Phaolô, trong bài đọc thứ hai phụng vụ hôm nay, dạy chúng ta cách trở thành người làm vườn tốt trong vườn nho của Chúa: đó là người chân thật, cao quý, chính trực, tinh tuyền, đáng mến, có danh thơm tiếng tốt, đức hạnh, đáng khen, tất cả điều này là điều chúng ta phải dấn thân tìm kiếm hàng ngày (x. Pl 4, 8). Tôi xin lặp lại: đó là người chân thật, cao quý, chính trực, tinh tuyền, đáng mến, có danh thơm tiếng tốt, đức hạnh, đáng khen, tất cả điều này là điều chúng ta phải dấn thân tìm kiếm hàng ngày (x. Pl 4, 8). Những đức tính này là cách hành xử của người có quyền và của mỗi người chúng ta, bởi vì mỗi chúng ta đều có một tí quyền hành nào đó. Bằng cách này, chúng ta sẽ trở thành một Giáo hội ngày càng phong phú với hoa trái thánh thiện, chúng ta sẽ vinh danh Chúa Cha, Đấng yêu thương chúng ta với lòng dịu dàng vô hạn, vinh danh Chúa Con, Đấng tiếp tục ban cho chúng ta ơn cứu độ, vinh danh Chúa Thánh Thần, Đấng mở rộng tâm hồn chúng ta và thúc đẩy chúng ta hướng tới sự tốt lành viên mãn.
Bây giờ chúng ta hãy hướng về Đức Maria Rất Thánh, hiệp nhất thiêng liêng với các tín hữu tụ tập tại Đền thờ Pompeii để cầu nguyện, và trong tháng 10, chúng ta hãy tiếp tục cam kết cầu nguyện lần chuỗi Mân Côi.
Nguồn: vaticannews.va/vi
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 27 Thường niên năm A (08/10/2017) – Thiên Chúa không báo thù nhưng xót thương
Anh chị em thân mến!
Phụng vụ Chúa nhật hôm nay kể cho chúng ta nghe dụ ngôn về những người làm thuê vườn nho cho ông chủ (Mt 21,33-43). Để kiểm chứng lòng trung thành của các tá điền, ông chủ đã trao cho họ vườn nho, để họ chăm sóc, bảo vệ và làm sinh lợi hoa màu. Khi vụ mùa đến, ông chủ sai các đầy tớ đến thu hoạch. Nhưng các tá điền muốn chiếm lấy vườn nho và hoa màu. Họ đánh người này, giết người nọ. Ông chủ tỏ ra kiên nhẫn và tiếp tục sai các người khác đến với những kẻ thuê vườn nho, và kết cục vẫn tệ hại như thế. Cuối cùng, ông chủ quyết định sai chính con trai của mình đến, nhưng bọn tá điền đã giết đứa con thừa tự ấy để mong chiếm lấy gia tài.
Thiên Chúa không báo thù
Dụ ngôn này trách cứ cách đối xử mà dân đã làm với các ngôn sứ trong lịch sử của Israel. Đây cũng là câu chuyện của chúng ta trong giao ước Thiên Chúa muốn thiết lập với loài người. Thiên Chúa mời gọi tất cả chúng ta tham gia giao ước ấy. Dụ ngôn này cũng là câu chuyện tình yêu, có khoảnh khắc tích cực diễn tả cách phản ứng khi đứng trước sự phản bội. Để hiểu cách hành xử của Thiên Chúa Cha trước những kẻ từ chối tình yêu của Ngài, chúng ta hãy nghe câu hỏi được đặt ra: “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì với bọn tá điền?” (c.40). Câu hỏi này nhấn mạnh rằng, dù Thiên Chúa thất vọng trước tội ác của con người, nhưng đó vẫn chưa phải là câu trả lời cuối cùng. Đây là sự vĩ đại của Thiên Chúa: cho dù con người phản bội, cho dù con người sai lầm, cho dù con người tội lỗi, nhưng Thiên Chúa vẫn một lòng giữ giao ước, Thiên Chúa không tìm cách báo thù!
Anh chị em thân mến, Thiên Chúa không trả thù! Thiên Chúa là Đấng yêu thương, Ngài không trả thù, nhưng chờ đợi chúng ta để tha thứ, để cứu vớt chúng ta. Nhờ tảng đá bị loại bỏ, nhờ Chúa Kitô, Thiên Chúa cứu chúng ta, cho dù chúng ta yếu đuối và tội lỗi. Thiên Chúa tiếp tục sản xuất ra rượu mới từ vườn nho của Ngài. Rượu mới ấy là lòng thương xót. Rượu mới của Thiên Chúa là lòng từ bi xót thương. Đứng trước sức mạnh và lòng từ nhân của Chúa, chỉ có một điều ngăn trở chúng ta, đó là lòng ngạo mạn và hay xét đoán, ngay cả đôi khi biến thành bạo lực! Khi đối diện với sự cứng lòng của những kẻ đang nghe, Chúa Giêsu đã nói cách mạnh mẽ rằng: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (c. 43).
Ra đi sinh nhiều hoa trái
Trước lời mời gọi của Chúa, mời gọi chúng ta trở thành vườn nho của Chúa, chúng ta cần đáp lại bằng đời sống sinh nhiều hoa trái. Tính khẩn thiết của hành vi đáp lại ấy giúp chúng ta hiểu được đức tin Kitô cách mới mẻ và tinh tuyền. Đức tin ấy không phải là một bộ những quy luật luân lý, nhưng trên hết, đó là tình yêu của Thiên Chúa tỏ hiện nơi Chúa Giêsu, diễn tả nơi những gì Chúa đã làm và tiếp tục làm cho con người. Đó là lời mời gọi đi vào câu chuyện tình yêu, trở thành trái nho tươi đẹp tốt lành cởi mở, sinh ích lợi và hy vọng cho mọi người. Một trái nho khép kín có thể bị biến thành trái nho hoang dại và cũng có thể nảy sinh những trái nho dại khác. Chúng ta cũng được mời gọi ra khỏi vườn nho của mình, để đặt mình vào việc phục vụ những anh chị em không giống chúng ta, để chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau, khuyến khích nhau trở thành vườn nho của Chúa trong mọi hoàn cảnh, cho dù có những hoàn cảnh xa xôi và khó khăn nhất.
Anh chị em thân mến! Xin Đức Maria rất thánh cầu thay nguyện giúp chúng ta, xin Mẹ nâng đỡ chúng ta trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt tại các vùng ngoại biên của xã hội, tại những vườn nho mà Chúa đã trồng, để sinh ích lợi cho mọi người, và để mang lại “rượu mới” là lòng Chúa xót thương.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 27 Thường niên năm A (05/10/2014) – Vườn nho của Thiên Chúa là “giấc mơ” của Ngài
(Thánh lễ khai mạc Đại hội đặc biệt lần thứ III của Thượng Hội đồng Giám mục về chủ đề gia đình)
Anh chị em thân mến,
Hôm nay, ngôn sứ I-sai-a và bài Tin Mừng đã vận dụng hình ảnh vườn nho của Thiên Chúa. Vườn nho của Thiên Chúa là “giấc mơ” của Ngài, là dự phóng mà Ngài ấp ủ với tất cả tình yêu của mình, hệt như một người tá điền quan tâm đến vườn nho của mình. Nho là một loài cây vốn đòi hỏi nhiều sự chăm sóc.
Giấc mơ của Thiên Chúa là dân của Người: Người đã gieo trồng và nuôi dưỡng họ với một tình yêu tín trung và kiên nhẫn, để họ có thể trở thành một dân thánh, một dân sản sinh nhiều hoa trái thơm ngọt của sự công chính.
Nhưng trong thời các ngôn sứ ngày xưa cũng như trong dụ ngôn của Đức Giêsu, giấc mơ của Thiên Chúa đã bị hủy hoại. I-sai-a nói rằng vườn nho mà ông đã hết mực yêu mến và chăm sóc “lại sản sinh toàn nho dại”; còn Thiên Chúa thì những mong họ “sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than” (c.7), Trong bài Tin Mừng, trái lại, chính các tá điền đã phá hủy dự phóng của Thiên Chúa: họ không thực thi bổn phận của họ, nhưng chỉ suy nghĩ đến lợi ích của chính mình.
Đức Giêsu trong dụ ngôn của mình, đã nhắm đến các thượng tế và bậc lão thành ở trong dân, đó là những người tự cho mình là “thông thái”, là tầng lớp lãnh đạo dân. Họ là những người được Thiên Chúa, gửi gắm cho “giấc mơ của Người” một cách cụ thể, đó là dân của Người, để họ nuôi dưỡng, chăm sóc, gìn giữ dân khỏi những thú dữ. Đây là nghĩa vụ của những thủ lãnh của dân: chăm sóc vườn nho với sự tự do, sáng tạo và cần mẫn.
Nhưng Đức Giêsu nói rằng những tá điền đã chiếm đoạt vườn nho; bởi tính tham lam và sự ngạo mạn, họ đã muốn làm với vườn nho điều họ muốn, và như thế họ đã không cho Thiên Chúa khả năng hiện thực hóa giấc mơ của Ngài trên dân mà Ngài chọn.
Cám dỗ của tính tham lam luôn luôn có đó. Chúng ta có thể nhận ra nó ngay cả trong lời tiên báo của Ê-dê-ki-en dành cho các mục tử, mà thánh Âu-gút-ti-nô đã giải thích trong một bài giảng trứ danh của mình mà chúng ta vẫn hay đọc trong Các giờ kinh Phụng vụ. Tính tham lam tiền bạc và quyền lực. Và để thỏa mãn sự tham lam này những mục tử xấu xa bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, còn họ chẳng buồn động ngón tay vào. (x.Mt 23,4)
Chúng ta cũng vậy, trong khóa họp này, chúng ta được kêu gọi để lao tác cho vườn nho của Thiên chúa. Thượng Hội đồng Giám mục thế giới không phải để thảo luận những ý tưởng hay ho và cấp tiến, hay để xem ai là người thông minh hơn… nhưng để nuôi dưỡng và chăm nom vườn nho của Thiên Chúa được tốt hơn, để cộng tác với giấc mơ của Người, nhắm đến dự phóng tình yêu trên dân của Thiên Chúa. Trong trường hợp này, Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải quan tâm đến gia đình, vốn ngay từ khởi đầu đã là một phần thiết yếu trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cho nhân loại.
Tất cả chúng ta đều là tội nhân và chúng ta có thể rơi vào cám dỗ “tự chiếm đoạt” vườn nho, bởi lòng tham luôn ngự trị nơi những con người như chúng ta. Giấc mơ của Thiên Chúa thường xung đột với thói đạo đức giả của một vài tôi tớ của Người. Chúng ta có thể “phá tan” giấc mơ của Thiên Chúa nếu chúng ta không để Thánh Thần hướng dẫn. Thánh Thần sẽ ban cho chúng ta sự khôn ngoan vượt quá sự hiểu biết, để lao tác một cách quảng đại cùng với sự tự do đích thực và sự sáng tạo khiêm nhường.
Anh em nghị phụ thân mến, để nuôi dưỡng và chăm sóc vườn nho một cách tốt đẹp, con tim và tâm trí của chúng ta cần phải được gìn giữ ở trong Đức Giêsu Kitô bởi sự “bình an của Thiên Chúa vốn vượt lên trên mọi hiểu biết của con người", như thánh Phaolô đã nói (Phil 4,7). Như thế những suy tư và dự phóng của chúng ta có thể thích ứng với giấc mơ của Thiên Chúa: kiến tạo một dân thánh thuộc riêng về Người và sản sinh những hoa trái của Nước Trời (Mt 21,43).
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 27 Thường niên năm A (02/10/2011) – Trách nhiệm lớn của những ai làm việc trong vườn nho của Chúa
Anh chị em thân mến,
Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kết thúc với lời Chúa Giêsu cảnh cáo một đặc biệt nghiêm khắc các mgười lãnh đạo giới tư tế và kỳ mục trong dân: ”Nước Thiện Chúa sẽ bị cất khỏi các ông và sẽ được ban cho một dân tộc sinh hoa trái” (Mt 21,43). Đó là các lời khiến chúng ta nghĩ tới trách nhiệm lớn của con người trong mọi thời đại được mời gọi làm việc trong vườn nho của Chúa, đặc biệt là những người nắm vai quyền bính, và chúng thúc đẩy canh tân lòng trung thành trọn vẹn với Chúa Kitô. Người là ”hòn đá mà các thợ xây đã loại bỏ” (x. Mt 21,42), bởi vì họ xét đoán Người là kẻ thù của lề luật và nguy hiểm cho trật tự cộng cộng. Bị khước từ và đóng đanh, nhưng chính Người đã sống lại và trở thành ”hòn đá góc”, trên đó có thể đặt các nền móng của mọi cuộc sống con người và của toàn thế giới một cách tuyệt đối vững chắc. Dụ ngôn các người làm vườn nho bất trung nói về sự thật này. Họ được một người giao pho cho vườn nho của ông để vun trồng và thu hoa trái. Chủ vườn nho là chính Thiên Chúa, trong khi vườn nho biểu tượng cho dân Người cũng như sự sống mà Chúa trao ban cho chúng ta, để chúng ta làm việc thiện với ơn thánh của Người và sự dấn thân của chúng ta. Thánh Agostino chú giải rằng: “Thiên Chúa vun trồng chúng ta như một cánh đồng để khiến cho chúng ta trở nên tốt lành hơn” (Sermo 87,1,2: PL 38,531).
Thiên Chúa có một dự án cho các bạn hữu của Người, nhưng rất tiếc câu trả lời của con người thường hướng tới sự bất trung, được diễn tả ra bằng sự khước từ. Sự kiêu căng và tính ích kỷ ngăn cản con người nhận ra và tiếp nhận ơn cao trọng nhất của Thiên Chúa: đó là Con Một của Người. Thật thế, thánh sử Mátthêu viết: ”Ông chủ sai con mình đến với các tá điền... nhưng họ bắt lấy anh, đuổi anh ra khỏi vườn nho và giết đi” (Mt 21,37). Thiên Chúa tự nộp mình trong tay chúng ta, chấp nhận trở thành mầu nhiệm khôn dò của sự yếu đuối và bầy tỏ quyền năng của Người trong sự trung thành với chương trình tình yêu, mà sau cùng cũng thấy trước cả việc trừng phạt công bằng đối với các kẻ gian ác nữa (x. Mt
21,41).
Cắm neo một cách vững vàng trong niềm tin nơi đá góc là Chúa Kitô, chúng ta hãy ở lại trong Người như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái nếu không ở lại trong cây nho. Chỉ trong Người, cho Người và với Người Giáo Hội dân của Giáo Ước mới, mới được xây dựng. Đức Phaolô VI, vị Tôi tớ Chúa đã viết về điểm này như sau: ”Hoa trái đầu tiên của ý thức được đào sâu của Giáo Hội về chính mình là việc canh tân khám phá ra tương quan sinh động của mình với Chúa Kitô. Đây là điều rất được biết tới, nhưng nền tảng, cần thiết, và không bao giờ được hiểu biết, suy niệm và cử hành đủ” (Enc. Ecclesiam suam, 6-8-1964: AAS 56 (1964) 622).
Các bạn thân mến, Thiên Chúa luôn luôn gần gữi và hoật động trong lịch sử nhân loại, và Người đồng hành với chúng ta bằng cả sự hiện diện đặc biệt của Người nơi các Thiên thần, mà hôm nay Giáo Hội tôn kính như ”các Thiên thần Bản mệnh”, nghĩa là các thừa tác sự lo lắng của Thiên Chúa đối với từng người. Từ khởi đầu cho tới giờ chết, cuộc sống con người được bao bọc bởi sư che chở liên lỉ của các ngài. Và các Thiên thần làm thành triều thiên của Nữ Vương oai nghiêm chiến thắng, là Đức Trinh Nữ Maria Mân Côi, Đấng trong ngày Chúa Nhật đầu tháng mười, và chính trong lúc này đây, từ Đền Thánh Pompei và từ toàn thế giới tiếp nhận lời Khẩn cầu sốt mến, để sự dữ bị đánh bại và lòng lành của Thiên Chúa được vén mở trọn vẹn.
Nguồn: archivioradiovaticana.va
Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 27 Thường niên năm A (05/10/2008) – Con người muốn gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi đời sống
(Thánh lễ khai mạc Đại hội thường lệ lần thứ IX của Thượng Hội đồng Giám mục về chủ đề Lời Chúa)
Kính thưa quý Đức Cha và quý Cha,
Anh chị em thân mến,
Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Isaia, cũng như đoạn Tin mừng theo Thánh Matthêu, đã trình bày trước cộng đoàn phụng vụ chúng ta một hình ảnh ẩn dụ có sức đánh động của Thánh Kinh: hình ảnh vườn nho mà chúng ta đã nghe nhắc đến trong những Chúa nhật vừa qua. Phần mở đầu của trình thuật Tin mừng quy chiếu đến “bài ca vườn nho” mà chúng ta gặp thấy trong sách Isaia. Đây là một bài ca được đặt trong khung cảnh mùa thu hoạch nho vào mùa thu: một kiệt tác thu nhỏ của thi ca Do Thái, hẳn rất quen thuộc với những người đang lắng nghe Đức Giêsu. Từ bài ca này, cũng như từ những quy chiếu khác nơi các ngôn sứ (x. Hs 10,1; Gr 2,21; Ed 17,3-10; 19,10-14; Tv 79,9-17), người ta dễ dàng hiểu rằng vườn nho tượng trưng cho Israel. Thiên Chúa dành cho vườn nho của Người, tức Dân mà Người đã tuyển chọn, sự chăm sóc ân cần như một người chồng thủy chung dành cho người vợ của mình (x. Ed 16,1-14; Ep 5,25-33).
Vì thế, hình ảnh vườn nho, cùng với hình ảnh tiệc cưới, diễn tả kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và được trình bày như một ẩn dụ cảm động về Giao ước giữa Thiên Chúa với Dân Người. Trong Tin mừng, Đức Giêsu lấy lại bài ca của Isaia, nhưng điều chỉnh cho phù hợp với thính giả đang nghe Người và với giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ. Trọng tâm không còn đặt nhiều nơi vườn nho, nhưng nơi những tá điền canh tác vườn nho, những người mà các “đầy tớ” của chủ vườn thay chủ đến yêu cầu họ nộp hoa lợi cho chủ. Thế nhưng, các đầy tớ lại bị hành hung, thậm chí bị sát hại. Làm sao chúng ta lại không nghĩ đến những thăng trầm của Dân được tuyển chọn và số phận dành cho các ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến?
Cuối cùng, chủ vườn nho thực hiện một nỗ lực sau hết: ông sai chính con trai mình đến, tin rằng ít nhất họ sẽ kính trọng người con ấy. Nhưng điều ngược lại đã xảy ra: những tá điền vườn nho giết người con ấy chính vì anh là con của chủ vườn, nghĩa là người thừa kế, vì nghĩ rằng nhờ đó họ có thể dễ dàng chiếm lấy vườn nho. Như vậy, so với lời tố cáo về sự vi phạm công bằng xã hội xuất hiện trong bài ca của Isaia, ở đây chúng ta chứng kiến một bước chuyển mang tính quyết định. Chúng ta thấy rõ rằng sự khinh thường mệnh lệnh của chủ vườn trở thành sự khinh thường chính người chủ: đây không còn chỉ là sự bất tuân một giới răn của Thiên Chúa, nhưng là sự khước từ Thiên Chúa thực sự và đúng nghĩa: mầu nhiệm Thập giá xuất hiện.
Những gì đoạn Tin mừng thuật lại chất vấn cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Đoạn Tin mừng không chỉ nói về “giờ” của Đức Kitô, về mầu nhiệm Thập giá vào thời điểm ấy, nhưng còn nói đến sự hiện diện của Thập giá trong mọi thời đại. Đặc biệt, đoạn Tin mừng chất vấn những dân tộc đã đón nhận lời loan báo Tin mừng.
Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta thường buộc phải ghi nhận sự nguội lạnh và nổi loạn của những Kitô hữu sống thiếu nhất quán. Hệ quả là, mặc dù Thiên Chúa không bao giờ thất tín với lời hứa cứu độ của Người, Người thường phải dùng đến hình phạt. Trong bối cảnh này, chúng ta tự nhiên nghĩ đến những nơi đầu tiên Tin mừng được loan báo, từ đó phát sinh những cộng đoàn Kitô hữu ban đầu rất hưng thịnh, nhưng rồi đã biến mất và ngày nay chỉ còn được nhắc đến trong các sách lịch sử. Liệu điều tương tự có thể xảy ra trong thời đại chúng ta không? Những quốc gia từng phong phú về đức tin và ơn gọi nay đang đánh mất căn tính của mình dưới ảnh hưởng tai hại và hủy hoại của một thứ văn hóa hiện đại nào đó. Có những người, sau khi quyết định rằng “Thiên Chúa đã chết”, lại tự tuyên bố mình là “thượng đế”, coi mình là người duy nhất kiến tạo vận mệnh của chính mình, là chủ nhân tuyệt đối của thế giới. Khi loại bỏ Thiên Chúa và không còn mong đợi ơn cứu độ từ Người, con người tin rằng mình có thể làm bất cứ điều gì mình muốn và có thể tự đặt mình làm vị thẩm phán duy nhất xét xử chính mình và các hành vi của mình. Tuy nhiên, khi loại Thiên Chúa ra khỏi chân trời của mình, tuyên bố Thiên Chúa “đã chết”, liệu con người có thực sự hạnh phúc không? Liệu họ có thực sự trở nên tự do hơn không? Khi con người tự tuyên bố mình là chủ nhân tuyệt đối của chính mình và là chủ duy nhất của công trình tạo dựng, liệu họ có thực sự có thể xây dựng một xã hội trong đó tự do, công lý và hòa bình ngự trị không? Hay trái lại – như tin tức hằng ngày cho chúng ta thấy quá rõ – quyền lực độc đoán, những lợi ích ích kỷ, bất công, bóc lột và bạo lực dưới mọi hình thức lại ngày càng lan rộng? Cuối cùng, con người đi đến chỗ thấy mình cô đơn hơn, còn xã hội thì ngày càng chia rẽ và mất phương hướng.
Tuy nhiên, trong những lời của Đức Giêsu có một lời hứa: vườn nho sẽ không bị phá hủy. Trong khi những tá điền bất trung từ bỏ vận mệnh của mình, thì chủ vườn nho lại không từ bỏ vườn nho của mình, nhưng trao nó cho những đầy tớ trung tín khác. Điều này có nghĩa là, mặc dù tại một số miền, đức tin đang suy giảm đến mức gần như mai một, vẫn luôn có những dân tộc khác sẵn sàng đón nhận đức tin.
Chính vì thế, khi Đức Giêsu trích dẫn Thánh vịnh 118 [117]: “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường” (c. 22), Người bảo đảm rằng cái chết của Người sẽ không đồng nghĩa với thất bại của Thiên Chúa. Sau khi bị giết, Người sẽ không ở lại trong mồ; trái lại, chính điều tưởng như là một thất bại hoàn toàn sẽ đánh dấu khởi đầu của một chiến thắng chung cuộc. Sau cuộc Thương khó đau thương và cái chết trên Thập giá sẽ là vinh quang Phục sinh của Người. Vì thế, vườn nho sẽ tiếp tục sinh hoa trái và sẽ được chủ vườn trao cho “những tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông” (Mt 21,41).
Hình ảnh vườn nho, với những hàm ý luân lý, tín lý và thiêng liêng, sẽ lại xuất hiện trong diễn từ tại bữa Tiệc Ly, khi từ biệt các Tông đồ, Chúa nói: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15,1-2).
Như thế, khởi đi từ cuộc Vượt qua, lịch sử cứu độ đạt đến một bước ngoặt quyết định, và những “tá điền khác” ấy sẽ đảm nhận vai trò chủ đạo như những chồi được tuyển chọn, được tháp nhập vào Đức Kitô là cây nho thật, và sinh nhiều hoa trái cho sự sống đời đời (x. Lời nguyện nhập lễ). Chúng ta cũng thuộc về số những “tá điền” ấy, được tháp nhập vào Đức Kitô, Đấng đã muốn chính mình trở thành “cây nho thật”. Chúng ta hãy cầu xin Chúa, trong Bí tích Thánh Thể, ban cho chúng ta Máu của Người, ban chính Mình Người, để Người giúp chúng ta “sinh hoa trái” cho sự sống đời đời và cho thời đại của chúng ta.
Sứ điệp đầy an ủi mà chúng ta nhận được từ các bản văn Kinh thánh này là niềm xác tín rằng sự dữ và sự chết không có tiếng nói cuối cùng, mà chính Đức Kitô mới là Đấng chiến thắng sau cùng. Luôn luôn là như thế! Giáo hội không bao giờ mệt mỏi loan báo Tin mừng này, như đang diễn ra hôm nay tại chính Vương cung thánh đường này, được dâng kính vị Tông đồ dân ngoại, người đầu tiên đã đem Tin mừng đến những miền rộng lớn của Tiểu Á và châu Âu. Chúng ta sẽ long trọng làm mới lại lời loan báo này trong Đại hội Thường lệ lần thứ XII của Thượng Hội đồng Giám mục, với chủ đề: “Lời Thiên Chúa trong đời sống và sứ mạng của Giáo hội”. Tại đây, tôi muốn thân ái chào tất cả quý nghị phụ đáng kính của Thượng Hội đồng, cũng như tất cả những ai tham dự cuộc họp này với tư cách chuyên viên, dự thính viên và khách mời đặc biệt. Tôi cũng vui mừng chào đón các Đại biểu Huynh đệ của các Giáo hội và Cộng đoàn Giáo hội khác. Thay mặt tất cả, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục và các cộng sự viên vì công việc vất vả họ đã thực hiện trong những tháng vừa qua, đồng thời cầu chúc họ hoàn thành tốt những công việc đang chờ đợi trong những tuần sắp tới.
Khi Thiên Chúa phán, Người luôn đòi hỏi một lời đáp trả. Hành động cứu độ của Người đòi hỏi sự cộng tác của con người; tình yêu của Người phải được đáp lại. Anh chị em thân mến, ước gì điều bản văn Kinh thánh thuật lại về vườn nho sẽ không bao giờ xảy ra: “Ông những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại” (Is 5,2). Chỉ Lời Thiên Chúa mới có thể biến đổi sâu xa tâm hồn con người. Vì thế, điều quan trọng là mỗi tín hữu cũng như các cộng đoàn phải ngày càng đi vào mối tương quan mật thiết hơn với Lời Người. Đại hội Thượng Hội đồng sẽ tập trung sự chú ý vào chân lý nền tảng này đối với đời sống và sứ mạng của Giáo hội. Kín múc dưỡng chất từ Lời Thiên Chúa là nhiệm vụ đầu tiên và căn bản của Giáo hội. Quả thật, nếu việc loan báo Tin mừng là lý do hiện hữu và là sứ mạng của Giáo hội, thì điều không thể thiếu là Giáo hội phải biết và sống điều mình loan báo, để lời rao giảng của Giáo hội có sức thuyết phục, bất chấp những yếu đuối và nghèo nàn của những con người làm nên Giáo hội. Hơn nữa, chúng ta biết rằng lời loan báo Lời Chúa, theo trường học của Đức Kitô, có nội dung là Nước Thiên Chúa (x. Mc 1,14-15); nhưng Nước Thiên Chúa chính là con người của Đức Giêsu, Đấng bằng lời nói và hành động của mình trao ban ơn cứu độ cho con người thuộc mọi thời đại. Về điểm này, suy tư của Thánh Giêrônimô thật đáng chú ý: “Ai không biết Kinh thánh thì không biết quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa; vì thế, không biết Kinh thánh là không biết Đức Kitô” (Lời tựa Chú giải sách Isaia, số 1, CCL 73, 1).
Trong Năm Thánh Phaolô này, chúng ta nghe tiếng khóc của vị Tông đồ dân ngoại vang lên với một sự khẩn thiết đặc biệt: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng!” (1 Cr 9,16); một tiếng khóc trở thành lời mời gọi cấp thiết đối với mọi Kitô hữu hãy phục vụ Đức Kitô. “Lúa chín đầy đồng” (Mt 9,37), vị Thầy thần linh hôm nay vẫn nhắc lại như thế: biết bao người vẫn chưa nhận biết Người và đang chờ đợi lời loan báo Tin mừng đầu tiên; những người khác, mặc dù đã được giáo dục Kitô giáo, nhưng nhiệt huyết đã nguội lạnh và chỉ còn duy trì một mối liên hệ hời hợt với Lời Thiên Chúa; lại có những người đã xa rời việc thực hành đức tin và cần một cuộc tân Phúc âm hóa. Bên cạnh đó, có rất nhiều người thiện chí và có lý trí ngay thẳng đang tự đặt ra những câu hỏi thiết yếu về ý nghĩa của sự sống và cái chết, những câu hỏi mà chỉ Đức Kitô mới có thể mang lại câu trả lời thỏa đáng. Vì thế, điều không thể thiếu là các Kitô hữu trên mọi châu lục phải sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng đang có nơi mình (x. 1 Pr 3,15), vui mừng loan báo Lời Thiên Chúa và sống Tin mừng không thỏa hiệp.
Quý chư huynh đệ đáng kính và thân mến, xin Chúa giúp chúng ta, trong những tuần làm việc sắp tới của Thượng Hội đồng, cùng nhau tự vấn xem phải làm thế nào để việc loan báo Tin mừng ngày càng hữu hiệu hơn trong thời đại chúng ta. Tất cả chúng ta đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc đặt Lời Thiên Chúa vào trung tâm đời sống, đón nhận Đức Kitô như Đấng Cứu Chuộc duy nhất của chúng ta, như chính Nước Thiên Chúa hiện thân, để ánh sáng của Người có thể soi chiếu mọi môi trường của đời sống nhân loại: từ gia đình đến trường học, văn hóa, công việc, thời gian nghỉ ngơi và mọi lãnh vực khác của xã hội cũng như đời sống chúng ta. Khi tham dự cử hành Thánh Thể, chúng ta luôn ý thức mối liên hệ mật thiết giữa việc công bố Lời Thiên Chúa và hy tế Thánh Thể: chính một Mầu nhiệm được trao ban để chúng ta chiêm ngắm. Chính vì thế, như Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh, “Giáo hội luôn tôn kính Thánh kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng vụ thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Mình Chúa Kitô để trao ban cho các tín hữu” (Dei Verbum, số 21).
Công đồng đã kết luận thật xác đáng: “Cũng như đời sống Giáo hội được tăng triển nhờ năng tham dự mầu nhiệm Thánh Thể, thì cũng thế, chúng ta có thể hy vọng đời sống thiêng liêng được đổi mới nhờ việc gia tăng lòng tôn kính Lời Thiên Chúa, lời ‘tồn tại đến muôn đời’” (Dei Verbum, số 26).
Xin Chúa ban cho chúng ta biết tiến đến trước bàn tiệc kép của Lời Chúa và Mình Máu Đức Kitô bằng đức tin. Xin Đức Maria Rất Thánh, Đấng “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19), chuyển cầu cho chúng ta được ân huệ này. Xin Mẹ dạy chúng ta biết lắng nghe Thánh kinh và suy niệm Lời Chúa trong một tiến trình trưởng thành nội tâm, không bao giờ tách rời trí tuệ khỏi con tim. Xin các thánh trợ giúp chúng ta, đặc biệt là thánh Phaolô Tông đồ, Đấng mà trong năm nay chúng ta ngày càng khám phá như một chứng nhân can trường và người loan báo không mệt mỏi Lời Thiên Chúa. Amen.
Nguồn: archivioradiovaticana.va